Những chặng đường chiến đấu_Phần 1 PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Tuesday, 29 April 2008
Tác giả: Trung tướng Vương Thừa Vũ
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2005
Số hoá: ptlinh


Những chặng đường chiến đấu


LỜI GIỚI THIỆU



Gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam là những danh tướng quân sự tài ba, những tên tuổi của họ được ghi vào lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam như những huyền thoại về những trận đánh và chiến công.


Trung tướng Vương Thừa Vũ là một trong những danh tướng như vậy - Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã gắn liền với lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng.

Ngay từ năm 1941, khi tham gia phong trào cứu nước, ông đã bị thực dân. Pháp bắt giam và tù đày. Dù ở trong tù, ông vẫn nêu cao chí khí chiến đấu, không chịu khuất phục trước đòn roi tra tấn của quân thù. Ngày 3 tháng 7 năm 1945, ông tham gia bạo động giành chính quyền ở Nghĩa Lộ nhưlng không thành, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng huấn luyện quân sự. Với tài năng của mình, ông cược cấp trên giao giữ nhiều trọng trách trong quân đội: Năm 1946 - Chỉ huy trưởng bộ đội Hà Nội; Khu trưởng Khu 11 (Hà Nội); chỉ huy quân sự Khu 2 bảo vệ Hà Nội; 194 7-1948 - Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình - Trị - Thiên. Tháng 4 năm 1949, ông được giao nhiệm vụ tổ chức Đại đoàn 308 ở Việt Bắc; 1949-1954 ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 308 và kiêm Chính ủy Đại đoàn (1949-1951). Từ năm 1949 đến năm 1954, ông đã chỉ huy chiến đấu tham gia nhiều chiến dịch, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Tháng 10 năm 1954 ông là Chủ tịch ủy ban quân chính Hà Nội; từ 1955-1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn.
Từ 1964-1980, ông được giao giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và một số chức vụ khác.


Với những công lao to lớn của ông đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Trung tướng Vương Thừa Vũ đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các loại.


Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thông nhất đất nước, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân sưu tầm, tuyển chọn những nội dung trong Hồi ký và một số tác phẩm quân sự của Trung tuớng Vương Thừa Vũ thành cuốn sách “Những chặng đường chiến đấu”. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp.

Phần một
Vượt khỏi nanh vuốt quân thù trở về với cách mạng



Một số anh em tù chính trị chúng tôi đang bị giam ở nhà "pha" Hỏa Lò - Hà Nội thì bọn đế quốc lại lôi chúng tôi ra, đẩy lên Nghĩa Lộ.


Cũng như khi mới bị sa vào tay chúng và những ngày ở các nhà giam khác, bữa ấy, vừa qua khỏi mấy lần cửa sắt, ý nghĩ "nhất định phen này phải thoát khỏi xiềng xích của quân thù, tiếp tục trở về hoạt động cách mạng" lại đến với tôi.


Phải trở về với đội ngũ của những người cách mạng! Ý nghĩ ấy làm tôi bồn chồn, náo nức. Và cho tới khi bắt đầu đặt chân vào cửa ngõ "mạn ngược", thì ý nghĩ đó lại càng sôi sục trong lòng tôi. Lợi dụng lúc tên lính áp giải vừa sơ ý nhìn cái gì đó, mình đạp cho hắn một cái ngã quay lơ, rồi phóng vào rừng có mà trời tìm!...; hay là, bằng cách nào đó, gỡ đượm tay ra, thoi luôn cho hắn một quả vào giữa mặt, hắn gục xuống, mình sẽ tha hồ vùng vẫy?... Nghĩ thế, thỉnh thoảng tôi liếc nhìn tên lính đi bên, lại nhìn địa hình, địa vật xung quanh. Chà! Rừng rậm, núi cao, suối sâu, lao vút vào đó, quặt ngược trở lại, gặp Đảng, gặp đồng chí, đồng bào, đời của người chiến sĩ cách mạng thênh thang biết mấy!...


Đang triền miên trong suy nghĩ, ước mơ, một báng súng thúc xói vào lưng tôi, kèm theo tiếng quát: "Đi! Mau lên" của tên lính áp giải. Tôi quay phắt lại, nghiến răng, ưỡn ngực và trừng mắt nhìn hắn. Có lẽ hắn cũng thấy được sự phẫn nộ của tôi, hắn vội cúi đầu xuống. Tuy vậy, hắn vẫn cố làm ra vẻ bình tĩnh, cất giọng hơi run, quát tiếp: "Đi đi! Mau... lê...ênl", và mũi súng của hắn vẫn tì vào sau lưng tôi.


Nỗi căm giận của tôi vẫn không tan. Nó càng bốc mạnh lên khi tôi nghĩ tới bọn đế quốc Pháp thống trị. Những ước vọng phải thoát khỏi ngục tù đế quốc mỗi lúc một thêm thôi thúc trong tôi. Nhưng ngẫm lại: mọi hoạt động của chúng tôi đều phải tuân theo sự lãnh đạo chặt chẽ của chi bộ Đảng, mà chi bộ Đảng chúng tôi lại trực thuộc dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy. Làm một việc gì, dù lớn hay nhỏ đều phải nhìn vào lợi ích chung, phục tùng cái chung. Nghĩ thế, nên tôi nén căm hờn, chờ ý kiến của trên và đợi thời cơ thích hợp nhất.


Nhớ lại, thời kỳ ở căng Bá Vân - Thái Nguyên, sau cuộc đấu tranh của tù chính trị, bọn thống trị Pháp đem hơn một chục anh em chúng tôi ra giam ở nhà lao Thái Nguyên. Chúng cho là bọn chúng tôi cầm đầu cuộc đấu tranh đó.


Sau cuộc đấu tranh thắng lợi đó, Xứ ủy chỉ thị chi bộ căng Bá Vân phải tổ chức cho một số đồng chí vượt ra hoạt động trong phong trào công nhân, nông dân. Chi bộ đã quyết định tám đồng chí vượt trại giam.


Cuộc vượt trại giam đã thành công. Trong số ra được có bốn đồng chí là chi ủy viên, kể cả bí thư chi bộ là đồng chí Hà Kế Tấn. Chi bộ đặc biệt ở căng Bá Vân, lúc đầu có 11 đồng chí: Tấn, Trành, Voi, Liên, Khoan, Thử, Thẩm, Đồi, Nho, Hách (giáo Hách), Viên. Khi thoát khỏi trại giam Bá Vân, đồng chí Hà Kế Tấn giao lại cho chúng tôi toàn bộ cơ sở cách mạng.


Trước đó, tôi cũng đã có ý nghĩ phá ngục. Nhân lúc chuyển "căng", phần lớn lính tráng về nhà để chuẩn bị đồ đạc về xuôi chỉ còn thằng đồn trưởng và mấy tên gác trại giam, tôi nảy ra ý định nên nắm lấy thời cơ này, lãnh đạo quần chúng (trại giam lúc đó có trên 200 người) nổi dậy cướp súng, khử luôn tên đồn trưởng, rồi mau chóng vượt ra rừng, đi một đêm là tới chiến khu của đội du kích Bắc Sơn, nơi mà chúng tôi hằng mơ ước từ lâu.


Tôi đem ý định ấy ra bàn với mấy đồng chí, có một vài đồng chí tán thành. Nhưng có một số đồng chí cho rằng, thời cơ chưa chín muồi.


Hai ý kiến này được đem ra trao đổi hồi lâu, cuối cùng đi đến kết luận là tình hình lúc đó chưa nên phá ngục, phải xin chỉ thị Xứ ủy và đón thời cơ khác.

Ngày tháng trôi qua...

Cuối năm 1944, đế quốc Pháp chuyển chúng tôi về nhà pha Hỏa Lò - Hà Nội. Ý định vượt ngục trở về với cách mạng vẫn lởn vởn trong tâm trí tôi - Thuyết phục binh lính? Đục tường, đào đường ngầm, nhảy qua hàng rào dây dẫn điện - Bằng một trong những phương pháp đó, tôi tin nhất định sẽ thoát được.


Tôi lại đưa ý định này ra bàn bạc. Nhưng chưa kịp ngã ngũ ra sao thì bọn thống trị Pháp đã xích tay từng người chúng tôi và đẩy lên chỗ mà bọn chúng nghĩ rằng đến một thời gian nào đó, chúng tôi sẽ chết dần chết mòn vì đói, rét, bệnh tật.


“Nhưng chúng mày đem hổ về rừng, không sớm thì muộn, chúng ông cũng sẽ "tếch" cho mà xem...". Nghĩ vậy, nên chúng tôi không có gì lo ngại cả. Bọn tay sai đế quốc xích hai tay của hai người chúng tôi vào một còng rồi luồn dây thừng từ hàng đầu đến hàng cuối thành một chuỗi, dòng người cứ dắt dây nhau mà đi, trên đường đi, mặc dầu tay bị chằng trói, chân tê tấy phát cước lên, nhưng chúng tôi vẫn nuôi ý nghĩ: nhất định phải vượt ngục thành công để tiếp tục hoạt động cách mạng...

Gần tới Nghĩa Lộ, bọn lính áp giải đột nhiên quát tháo chúng tôi ầm ĩ:
- Cúi mặt xuống?
- Người sau nhìn vào gáy người trước, không được nhìn hai bên đường!

Nhưng bỗng từ phía dưới, tôi không nhớ rõ có tiếng đồng chí nào nói vọng lên:
- Nhớ đấy, các "thày quyền" bảo chúng ta nhìn vào gáy nhau đấy.

Biết ý, chẳng ai cúi đầu xuống cả. Vì cúi đầu chỉ có thể nhìn được gót chân người đi trước, nhìn sao được gáy. Và đã ngửng mặt lên thì chúng cấm làm sao nổi đôi mắt của mỗi người chúng tôi không được nhìn những người và cảnh xung quanh.

Vào phố Nghĩa Lộ.

Tôi được biết, nhân dân ở quanh những vùng có giam tù chính trị, do được các đồng chí tuyên truyền, giác ngộ, hoặc qua thái độ và tinh thẩn bất khuất của các đồng chí, nên có nhiều cảm tình với cách mạng, nhất là ở tầng lớp lao động. Ở đây cũng vậy, thấy chúng tôi đến, mặc dầu bị chằng trói, nhưng nét mặt vẫn nghiêm trang, bước đi vẫn đường hoàng, rắn rỏi, nhân dân đã đoán được chúng tôi là hạng người nào rồi. Hai dãy nhà bên đường phố bị chúng cấm dân chúng không được mở cửa. Người đứng trong nhà chỉ ghé qua khẽ hở nhìn đoàn tù chính trị. Chúng tôi vừa đi vào đến đầu phố, đều đồng thanh cất tiếng hát những bài ca cách mạng: “Nào anh em nghèo đâu!...”, "Cùng nhau ta đi hồng binh...". Tiếng hát rất to, nhịp đi đều rầm rập, hùng tráng như đoàn quân chiến thắng xuất trận.


Bọn lính áp giải đã được lệnh từ trước là phải hết sức ngăn cấm không cho tù chính trị liên hệ với nhân dân bằng bất cứ cách nào. Do đó, chúng tiếp tục hò hét chúng tôi: "Người sau nhìn gót người trước" và dậm dọa dân phố.

- Muốn rũ tù hay sao mà khỏe nhìn thế!
- Vào hết trong nhà, đóng cửa lại.

Không một người dân nào nhúc nhích. Bọn lính có thằng sấn sổ giơ báng súng lên định giở trò đàn áp.
Chúng tôi không ai bảo ai, nhất loạt cất tiếng hô lớn:
- Đánh Pháp, đuổi Nhật?
- Phản đối khủng bố.

Rồi mọi người đồng thanh hát vang:
“Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian.
Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn.
Sục sôi…”

Đoàn tù đi đều hùng dũng. Tiếng hát vang vọng núi rừng. Thấy thế, bọn lính vội bỏ dân, quay lại hầm hè chúng tôi.

Mặc, chúng tôi vẫn cứ hát, tiếng hát mỗi lúc một hùng tráng, bước chân mỗi lúc một mạnh mẽ. Và bà con dân phố vẫn cứ ghé mắt qua khe cửa nhìn theo...

Sau này được biết, nhiều bà con hàng phố đã rơi nước mắt trước cảnh xúc động ấy.

Tình cảm giữa chúng tôi với bà con không phải chỉ biểu lộ một cách lặng lẽ như vậy. Tôi còn nhớ hồi ấy, đoàn tù chính trị tới Nghĩa Lộ được ít ngày thì vừa đúng năm hết, tết đến. Chi bộ chúng tôi họp nhau lại bàn bạc một số công việc cần lãnh đạo, trong đó có mục Tết.


Theo nghị quyết của chi bộ, chúng tôi cần tổ chức ăn Tết cho ra trò để một là tỏ thái độ bất khuất và dũng khí cách mạng của mình; hai là làm cho cuộc sống của anh em thêm tươi vui, thêm chí khí đấu tranh. Kế hoạch chuẩn bị chu đáo, trong đó có việc trang trí khẩu hiệu, cờ, đèn, biểu diễn ca kịch và cả việc đấu tranh đòi ra làm lễ truy điệu một số đồng chí của ta vì địch đánh đập, đày đọa và bị cơn sốt ác tính đã yên nghỉ ở vườn ổi, đòi trại nọ thăm trại kia, thăm trại giam chị em phụ nữ. Cuộc thảo luận hết sức hào hứng và sôi nổi.


Chỉ còn vấn đề vật chất, tính đi tính lại với nhau, tiền nong góp lại chẳng được là bao. Nhưng rồi tập thể cũng đi đến quyết nghị: có chừng nào, sắm chừng ấy, vật chất nghèo nàn, tinh thần phong phú, càng áp đảo được địch...

Ngày 28 Tết (hay ngày 29 Tết, tôi không còn nhớ rõ), tôi và mấy anh em nữa được phân công đi chợ. Với số tiền ít ỏi trong tay, chúng tôi dự định là cũng chả mua được "sơn hào, hải vị" gì ngoài mấy thứ chuối, cam, bánh, gọi là cho đúng với phong vị dân tộc. Việc đi chợ sắm Tết này, tuy trong lúc đấu tranh, chúng tôi đề lên hàng chủ tếu buột bọn địch phải nhượng bộ, nhưng kỳ thực khi ra đến chợ, việc mua bán lại trở thành vấn đề thứ yếu, mà cái chính là để nhân cơ hội này, chúng tôi tranh thủ tiếp xúc với nhân dân. Và quả nhiên, chúng tôi đã đạt được yêu cầu.


Thấy chúng tôi, nhân dân tự động chạy lại, đứng chật xung quanh, thăm hỏi, chuyện trò tíu tít như người thân lâu ngày xa cách, nay mới có dịp gặp nhau. Một tên lính áp giải, trước quang cảnh ấy, hốt hoảng thúc giục, dọa nạt:

- Mua gì thì mua, không được nói chuyện. Mau lên!

Nhưng chúng tôi cứ phớt lờ, giả vờ như không nghe thấy, vẫn nói chuyện để đồng bào hiểu rõ thêm: Vì sao chúng tôi bị đế quốc cầm tù? Vì sao nhân dân bị áp bức, bóc lột và đói khổ v.v... Chúng không thể cầm tù mãi chúng tôi và thống trị, bóc lột, áp bức mãi đồng bào ta được. Chúng tôi không quên cảm ơn tấm lòng của đồng bào từ lâu đã giúp đỡ các đồng chí cán bộ, giúp đỡ cách mạng.


Mấy tên lính thấy không ngăn được tình cảm giữa nhân dân với những người cách mạng, bọn hắn lảng dần và bỏ đi mua bán loanh quanh gần đó. Giữa lúc câu chuyện đang rôm rả thì vòng người tự nhiên giãn ra, nhường lối cho một số bà con đem vào cho chúng tôi đủ thứ. Nào là bánh chưng luộc sẵn, nào chè, thuốc lá, hoa quả, hương trầm...


Tôi nhìn những món quà lòng đầy xúc động, vừa mừng lại vừa lo. Lo làm thế nào mượn được nhân dân bát đũa để dùng trong ba ngày Tết? Nhưng rồi, việc đó đã được nhanh chóng giải quyết. Khi ra tới chợ, ghé qua một số nhà để hỏi mua các thứ lặt vặt, qua chuyện trò, chúng tôi ngỏ ý mượn ít bát đũa để ăn Tết, mấy gia đình đều vui vẻ nhận lời:

- Vâng, các ông cứ đi mua gì thì mua, xong quay lại đây sẽ có?

Mua xong, chúng tôi quay lại thì thấy nào mâm đồng, nào bát to, bát nhỏ, đĩa, đũa son mới, lại thấy cả mấy gói chè to và mấy chục gói thuốc lá bao tím nữa. Đồng bào nói nhỏ với chúng tôi: Tết cổ truyền của dân tộc! Biết rằng các ông còn đang khó khăn, chúng tôi gọi là của ít lòng nhiều góp nhau ít bát đũa để các ông dùng trong mấy ngày Tết, mong các ông nhận cho. Cảm động trước tấm lòng của đồng bào, một đồng chí trong chúng tôi đỡ lời:

- Cảm ơn bà con đã dành cho chúng tôi món quà quý giá này.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên với bà con Nghĩa Lộ làm tôi nảy sinh những suy nghĩ về những điều kiện để thoát khỏi nhà tù. Rừng núi thiên nhiên cũng là một thuận lợi, nhưng lòng dân còn là một thuận lợi quan trọng hơn nhiều.


Chúng tôi nhất trí với nghị quyết của ban tổ chức Tết cho làm một kỳ đài, dựng lên một chiếc cột thật cao, trên ngọn làm một ngôi sao vàng năm cánh thật lớn để nhân dân ở xa cũng nhìn thấy. Theo tôi nghĩ, chẳng những nhân dân thấy chúng tôi tổ chức ăn Tết vui vẻ mà còn thấy một ngôi sao cách mạng tỏa khắp nơi nơi tượng trưng sự soi đường, chỉ lối của Đảng cho toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi ách thống trị, áp bức của thực dân đế quốc.


Nhân dịp mấy ngày Tết được tiếp xúc với nhân dân, hiểu được lòng dân ở đây, nên quyết tâm khởi nghĩa, phá ngục của chúng tôi càng cao. Các đồng chí đảng viên tranh thủ họp, cùng nhau nhớ lại tinh thần chỉ thị "Về sửa soạn khởi nghĩa" của Tổng bộ Việt Minh (ngày 7 tháng 5 năm 1944) để vận dụng sao cho thích hợp với hoàn cảnh của mình.


Qua nhiều buổi hội họp, tranh luận, chúng tôi đều thấy cần phải giải quyết một vấn đề quan trọng được xem như là điều kiện tiên quyết, đó là ai xông ra đánh quân thù?

Ở đây khác với thời kỳ ở Bá Vân, anh em tù chính trị bí trói buộc, giam hãm rất khắt khe, rất hiếm có điều kiện tiếp xúc với cơ sở quần chúng bên ngoài: mặt khác, việc liên lạc với Xứ ủy và Trung ương cũng vô cùng khó khăn. Vì vậy, chúng tôi phải lấy lực lượng chủ yếu nhất, quyết định nhất là các chiến sĩ cách mạng trong nhà tù. Đội thanh niên xung phong đã được tổ chức từ trước, bây giờ phải tích cực nâng cao chất lượng huấn luyện thiết thực với nhiệm vụ sắp tới và mạnh dạn phát triển số lượng.


Còn một lực lượng nữa cũng cần phải ra sức tranh thủ, đó là anh em binh lính địch đang ngày đêm canh gác chúng tôi. Công tác binh vận, các đồng chí trước đây đã có làm, nhưng trong cuộc hội nghị này, việc đó được đưa ra xem xét kỹ thì thấy chưa đạt yêu cầu. Cho nên, hội nghị đã có kế hoạch đẩy mạnh công tác binh vận lên một bước nữa. Lúc này, mọi người đều nhận thấy rằng: Nếu công tác binh vận không làm, hoặc làm ít kết quả, thì công việc khởi nghĩa ở trại giam này sẽ gặp nhiều khó khăn... Bởi thế, chúng tôi quyết tâm làm, thận trọng mà làm, và khi cần phải táo bạo mà làm.

Để tiến hành được nhanh, được tốt nhiệm vụ này, một đội công tác binh vận gồm những đồng chí vừa có khả năng tuyên truyền, thuyết phục, vừa được anh em binh lính địch trọng nể nhất, được thành lập.

Nhân đây, xin kể một câu chuyện vui, ít nhiều có liên quan đến công tác binh vận trong nhà tù Nghĩa Lộ. Theo sự phân công của ban chỉ huy, tôi chuyên trách về tổ chức, huấn luyện quân sự và rèn đúc vũ khí. Có một hôm, một đồng chí trong đội công tác binh vận đến gặp tôi, cười, nói:
- Ông Đồi1(Tên tôi hồi ở nhà) ơi, từ nay trở đi ông làm đội viên danh dự đội chúng tôi đấy nhé!
Tôi ngạc nhiên, hỏi:
- Cái gì mà lạ vậy?
Đồng chí vẫn cười và nói lấp lửng:
- Có được một "võ sĩ” cùng hoạt động, còn gì hay bằng nữa!


Tôi gặng hỏi, đồng chí này tươi cười kể cho tôi nghe: Trong chuyến áp giải chúng tôi từ căng Bá Vân về Hà Nội và từ Hà Nội lên đây, có một vài người lính được bọn mật thám Pháp cho biết tôi là một "tay lợi hại", cần phải hết sức chú ý kẻo tôi trốn. Muốn để mấy người lính đó làm ăn cẩn thận hơn, bọn mật thám còn rỉ tai cho họ biết thêm tôi là một thày dạy võ, dạy quân sự, thập bát ban võ nghệ đều tinh thông, và theo họ thì tôi còn rất cứng đầu cứng cổ. Nhưng sau một chặng đường dài, lên tới đây, họ lại kể cho anh em binh lính ở Nghĩa Lộ biết rằng họ thấy nhà võ sĩ ấy rất hiền và còn nói cho họ nghe nhiều điều rất hay. Họ bảo là, chính do cái bọn mật thám Pháp cho họ biết về anh. Chúng đã vô tình gây cho họ lòng kính phục anh, và anh cũng đã chẳng làm gì cho họ phải sợ cả. Hiện giờ, anh em binh binh ở Nghĩa Lộ đây, đang rất tiếc mấy người áp giải kia chưa kịp chỉ mặt anh cho anh em biết thì họ đã phải về xuôi mất rồi. Đến nay, anh em muốn các đồng chí trong đội binh vận giới thiệu anh cho anh em được rõ. Nhưng các đồng chí ta lại lấy chuyện này làm "vốn”, nên chúng tôi không những đã nói với anh em rằng: Đúng, có "ông võ sĩ" thật, nhưng ông ấy chỉ xuất đầu lộ diện khi nào thật cần thiết, mà còn tô vẽ thêm:
- Ông ấy, ngoài thập bát ban võ nghệ tinh thông, lại biết cả gồng, cả điểm huyệt nữa. Thịt da ông ấy, dao chém không đứt. Đánh ai, ông ấy chỉ đặt ngón tay đúng chỗ hiểm là người đó chết tươi... Còn về tính tình, các đồng chí ta giới thiệu là: ông ấy rất thương người nghèo, rất ghét kẻ bóc lột thống trị và lũ tay sai... Nghe vậy, anh em binh lính đều tấm tắc khen ông võ sĩ.


Tôi đoán là số anh em binh lính áp giải tôi đã được chứng kiến một lần tôi đấu võ với tù thường phạm ở Hỏa Lò - Hà Nội. Tôi nhớ có một lần trong sân Hỏa Lò, các tù chính trị, tù kinh tế1 (Pháp phân loại: Tù chính trị là những người hoạt động đảng phái; tù kinh tế là những kẻ ăn cắp, trộm cướp), nam nữ ngồi riêng từng đám quây vòng quanh sân.


Một người cao to ra đứng giữa thách thức. Mấy anh em tù chinh trị hăng hái nhảy ra đấu, bị hắn quật ngã lăn ra sân. Thấy vậy, tôi xót không chịu nổi. Quan sát kỹ chỗ mạnh, chỗ yếu của hắn, thấy các đồng chí ra trước đã không làm được hai nguyên tắc cơ bản của võ tay không là bám địch đánh địch và lấy sức địch đánh địch. Nó to khỏe, đấm một quả đấm 50 ki-lô-gam, ta chỉ cần thêm vào 20 ki-lô-gam là hắn sẽ phải chịu 70 ki-lô-gam, to khỏe mấy cũng đổ. Tôi nhảy ra, hắn thấy tôi gầy gò mảnh khảnh hắn càng chủ quan kiêu ngạo. Tôi vừa tránh né hắn, tạo cho hắn chủ quan thêm, hắn sấn tới lao vào túm vai tôi. Tôi né người, nắm lấy tay hắn giật mạnh, lỡ đà, lại bị kéo, hắn nhoài người ra. Tôi cứng bàn tay xỉa nhẹ vào nách hắn, hự! Cả thân hình cao to ấy đổ vật xuống sân…

Anh em tù chính trị nhảy lên reo hò hả dạ.

Rõ ràng lực lao rất mạnh của hắn cộng với lực vuốt và lực xỉa nhẹ của tôi, ba lực ấy cộng lại, hắn chịu cả, nên hắn phải đổ.

Có lẽ từ chuyện biểu diễn võ ở căng Bá Vân đến chuyện đấu võ ở Hỏa Lò - Hà Nội, mà anh em binh lính đặt tên tôi là "võ sĩ đạo".

Tuy nhiên, khi đồng chí trong đội binh vận thuật lại cho huyền bí, thì tôi không bằng lòng.
- Sao cậu lại dựng thêm chuyện huyền hoặc để lòe anh em như vậy? Mình không bằng lòng đâu. Lúc nào cần thiết thì cậu ra mà xuất đầu lộ diện thay "ông võ sĩ" ấy.
Đồng chí ấy lại cười và bảo tôi:
- Anh không tuỳ cơ ứng biến rồi. Anh em binh lính đã bao năm bị bọn đế quốc nhồi vào đầu óc tính "phục tùng cá nhân", mình cũng phải lựa theo trình độ của anh em mà công tác chứ. Về sau anh em dần dần tiến bộ thì anh em sẽ tự hủy cái ý nghĩ "mê tín" ông "võ sĩ đạo" đi và sẽ thay vào đó đồng chí Đồi, cán bộ cách mạng Việt Nam thì đã sao nào?


Thế là tôi đành chịu. Và cũng từ đó, tôi nghiễm nhiên trở thành "nhà võ sĩ" bí mật. Đồng thời, tôi cũng tự nhủ phải làm sao cho xứng với sự hâm mộ của anh em để khi tổ chức cần nhà võ sĩ ra mắt sẽ không phụ lòng một ai...

Xin trở lại công tác binh vận. Đối với công tác này, chúng tôi chia thành nhiều bước. Việc trước tiên là phân loại, kẻ nào xảo quyệt, nham hiểm, phản động thật sự, ai là người hăng hái nhưng thiếu chín chắn, ai là người biết thương người nghèo khổ nhưng nhút nhát... Theo đó mà đặt ra phương hướng xử trí, tuyên truyền, giáo dục cụ thể.


Sau khi đã chọn được đối tượng, việc quan trọng là gây cảm tình cá nhân. Trong công tác binh vận, có gây cảm tình cá nhân thì mới dễ gần gũi, giáo dục được. Có những anh em binh lính tuy chưa được giác ngộ, nhưng họ đối với những đồng chí của ta vẫn thân thiết, kể hết mọi chuyện về đời mình, chuyện sinh hoạt hàng ngày của sĩ quan, binh lính cho đồng chí của ta nghe.


Sau khi đã chọn được đối tượng, gây được cảm tình cá nhân từ đó mới bắt đầu tuyên truyền khêu gợi tinh thần tự cường dân tộc, lòng yêu mến quê hương, đất nước của mỗi người. Nhân câu chuyện anh em binh lính khâm phục "nhà võ sĩ", các đồng chí của ta đã đem một phần sự thật của đời tôi gắn cho "nhà võ sĩ" nọ để thuật lại cho họ nghe. Các đồng chí nói: "nhà võ sĩ” cũng xuất thân là một người dân cùng đinh, tấc đất cắm dùi không có, đi làm thuê làm mướn không đủ ăn, bị bọn hương lý cướp đất, cướp nhà, gia đình sống nheo nhóc trong túp lều vịt, rồi lang thang kiếm sống. Chuyện võ sĩ từ anh cùng đinh đến chỗ biết làm bao nhiêu nghề: nề, một, nguội, thợ đầu máy xe lửa trên con đường xe lửa Hà Nội - Vân Nam mà vẫn cùng cực. Chuyện võ sĩ vì căm thù bọn đế quốc, phong kiến bóc lột gia đình mình, áp bức nhân dân Việt Nam mình mà quyết chí đi tìm thầy, học đạo, học các môn võ nghệ từ năm 13 - 14 tuổi... Qua đó, các đồng chí ta gợi chuyện nghèo khổ của anh em và dần dần vạch ra con đường để anh em thấy cần phải đi.


Các đồng chí ta còn đặt nhiều câu hỏi cho anh em tự suy nghĩ như: Các bạn cầm súng trong tay để bắn giết ai, làm lợi cho ai? Các vị Đội Cấn, Đội Cung là ai, và đã cùng ai nổi lên ở Thái Nguyên, Đô Lương làm những việc muôn người ca ngợi? Các vị đó nghĩ gì mà có hành động như vậy, để lại tiếng thơm muôn đời về sau? v.v.


Đến giai đoạn này, anh em binh lính mới thổ lộ rõ tâm tư, hoàn cảnh của mình hơn. Nhìn chung, trong lòng mỗi người đều ít nhiều vẫn có tình yêu mến quê hương xứ sở, yêu mến Tổ quốc. Nhưng trong từng người lại có những nguyên nhân khác nhau dẫn họ đến con đường cầm súng, chết thay cho giặc. Có người vì cầu an, có người vì tiền, vì quyền lợi gia đình, có người vì bị lừa phỉnh hoặc bị bắt buộc, v.v. Và đến khi được tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước thì từng người cũng có những nguyên nhân khác nhau dẫn đến ủng hộ hoặc đi theo cách mạng với mức độ khác nhau.


Sau bước này, là đến bước giao việc, thử thách: Từ việc dễ đến việc khó, từ việc thường tới việc nguy hiểm. Công việc lúc đầu có khi chỉ là nhờ anh em mua giúp hộ cái kim, cuộn chỉ, gói thuốc lào, rồi dần dần mua bút mực, sách vở. Và phải một thời gian khá lâu mới tiến tới giao công việc khó khăn như: nghe ngóng tin tức và lấy báo chí, tài liệu... Mỗi khi nâng công việc của người nào lên một bước, tập thể đều có thảo luận nhận xét về người đó rất cẩn thận. Cho đến lúc đánh giá xem một người nào đó đã đạt đầy đủ tiêu chuẩn làm nòng cốt nhân mối thực sự chưa thì lại càng phải hết sức tỉ mỉ, thận trọng. Đến khi một người nào đó có đầy đủ tiêu chuẩn rồi, đều phải trải qua các bước: Được đội phụ trách binh vận nhất trí tán thành; được ban lãnh đạo chung và chi bộ nhà tù quyết định cuối cùng thì người đó mới được công nhận là nòng cất, nhân mối thật sự.


Song song với vấn đề ai xông ra đánh quân thù, nghĩa là tổ chức, chuẩn bị lực lượng, còn phải giải quyết vấn đề lấy gì mà đánh?

Ở vào hoàn cảnh của những người tù chính trị trong trại giam đế quốc lúc đó thì dù chỉ có khúc gỗ, đoạn tre cũng rất quý và cũng đã liệt vào loại có khả năng dùng nó làm vũ khí tiêu diệt quân thù. Nhưng tất nhiên, chưa ai cho rằng gỗ, tre đã đủ dùng khi khởi sự được. Cho nên, có hai việc rất lớn được chi bộ nhà tù đặt ra, đó là việc tự rèn đúc vũ khí và việc tổ chức lấy súng đạn của giặc.


Việc rèn đúc vũ khí, anh em trao cho tôi, vì trước đây tôi là thợ nguội. Có nhiều đồng chí vui tính đã gọi tôi là "giám đốc công binh xưởng".

"Công binh xưởng" đã được chuẩn bị đặt ở trong căn buồng nhỏ, ở một phía góc nhà tù, có phên nứa ngăn riêng. Ở đấy tôi đào và đắp đất thành một lò rèn, lấy búa tạ thường ngày đập đá, chôn xuống làm đe. Hàng ngày, bộ phận anh em làm ở nhà bếp có trách nhiệm dấm than để dành và chuyển dần lên cho.


Đến việc làm bễ, anh em thảo luận mất khá nhiều thời gian. Nếu làm hai ống thụt đàng hoàng thì cồng kềnh, lúc động dụng phải cất giấu sẽ gặp nhiều khó khăn, dễ bị lộ. Có ý kiến bảo: nên lấy ống bương làm cái bơm, nhưng cũng chưa tiện, cuối cùng có một sáng kiến được chấp nhận là mua một con chó, lấy thịt ăn, còn bộ da khâu lại thành một cái bao, vặn hai đầu làm cái bễ xếp, hơi cũng nhiều, khi cần thiết có thể tẩu tán mau chóng được.


Về nguyên liệu, dựa vào đội binh vận. Các đồng chí giao cho các anh em binh lính đang thời kỳ thử thách hoặc các nhân mối để lượm lặt sắt vụn, dao kéo cũ hỏng đưa về, chôn cất cẩn thận vào một chỗ, dùng đến đâu, đào lên đến đấy.


Ngày nào muốn "quật búa, khai đe", chúng tôi nhằm vào lúc cai đội, binh lính đi tập, đi ăn cơm và phải nhờ anh em nhân mối canh gác giúp. Để bảo đảm tốt hơn, chúng tôi phải tổ chức các đồng chí ta ở các trại hò hét, gảy đàn, kéo nhị, có khi còn giả vờ cãi cọ nhau loạn xị để át tiếng búa, tiếng đe. Sản xuất được con dao, chiếc mã tấu nào, chúng tôi chuyển ngay sang trại giam các nữ đồng chí chôn giấu ở bên đó.

Quanh cái "công binh xưởng" đó, đã xảy ra nhiều chuyện lý thú. Một hôm, có ám hiệu báo có nguy hiểm rất gấp ở ngoài sân. Tôi vội cất giấu mọi dụng cụ, san bằng bếp, rồi chạy ra, chuẩn bị ứng phó nếu bị khám xét. Nhưng khi nhìn ra, tôi chỉ thấy hai anh lính, tay đang giằng co nhau vật gì không rõ, miệng thì sỉ vả nhau thậm tệ. Mấy đồng chí ta cũng đang sấn vào can ngăn. Khi đã đẩy được mỗi người sang một bên, tôi mới ra tận nơi xem. Thì ra, cả hai người lính đều là nhân mối của ta, nhưng lại không biết nhau. Một anh đi tìm sắt vụn để cho "công binh xưởng" làm vũ khí. Anh ta nghĩ, nếu chỉ có sắt không có thép, dao không sắc. Anh có tìm được mấy thỏi sắt tròn mà anh cho là thép, giấu kín trong người, định đem đến trại giao cho tôi. Một anh làm nhiệm vụ canh gác, thấy anh kia xống xộc đi vào, liền ngăn lại. Thế là hai bên đã sinh sự với nhau... Có điều đáng buồn cười là cả hai bên đều dùng những câu chẳng ra đâu vào đâu để căn vặn, đối đáp nhau, cho nên cuộc đấu khẩu có lúc rất căng.


Biết sự tình không có gì đáng lo ngại, tôi lặng lẽ trở vào tiếp tục lôi bễ da chó, nổi lửa, bắt tay vào việc. Tiếng búa đập trên đe chan chát, lửa tóe lên như những chùm hoa. Trong phòng bừng sáng lên một màu hồng rất đẹp.


Mặc dầu việc tổ chức rèn dao, đánh mã tấu có đôi chút thuận lợi, nhưng chúng tôi cũng quyết định làm gấp rút trong một thời gian ngắn cho hoàn thành kế hoạch để sớm xóa bỏ vết tích lò rèn, đề phòng địch phát hiện.


Còn việc lấy súng của địch, các đồng chí có lắm ý kiến, nhưng cuối cùng mọi người đều nhất trí, nếu lấy sớm, hàng tuần bọn chỉ huy kiểm tra thấy thiếu, sẽ tổ chức khám xét gắt gao, việc chôn giấu chỉ loanh quanh ở mấy cái buồng nhỏ trong nhà tù cũng gặp nhiều khó khăn, dễ bị chúng lùng sục, phát hiện ra. Mà đã để đến "nước" ấy thì rất có thể vỡ lở cả các kế hoạch khác. Nhất là đối với anh em binh lính đang được ta giáo dục, thử thách, nếu sớm bị khủng bố gay gắt sẽ dễ dao động, xao xuyến. Do đó, chúng tôi giữ bí mật ý định này và càng ra sức làm tốt công tác binh vận. Đến khi nào được đông đảo anh em binh lính theo ta và sắp sửa hành động, thì súng đạn trên tay anh em cũng là của ta cả. Đẩy mạnh công tác binh vận trong hoàn cảnh ấy, không những chỉ phát triển lực lượng, giải đáp được một phần quan trọng của vấn đề ai xông ra đánh quân thù, mà còn "chôn giấu” được vũ khí vào những nơi kín đáo nhất, chắc chắn nhất, đó là "chôn giấu” ngay "trong lòng" các binh sĩ đang được chúng tôi mang hết tâm trí ra hun đúc lòng yêu nước, chí căm thù giặc của họ, khi thời cơ đến là có ngay, có đủ vũ khí dùng vào việc vượt ngục, khởi nghĩa.


Có lực lượng, có vũ khí rồi, phải giải quyết đánh địch bằng cách nào để giành thắng lợi hoàn toàn?

Đây lại là một vấn đề rất gay go đối với kế hoạch khởi nghĩa trong nhà tù, rồi từ trong nhà tù phát triển rộng ra bên ngoài.


Đã có rất nhiều cuộc bàn bạc, tranh luận diễn ra. Mặc dù đều chung một mục đích vượt ngục trở về với Đảng để hoạt động cách mạng, nhưng chúng tôi vẫn chưa thể nào nhất trí được với nhau về cách đánh. Người thì chủ trương dùng cách biểu tình phản đối đi đôi với đấu tranh bằng thương lượng. Người thì cho rằng chỉ có cách bắt cóc những tên chỉ huy đầu sỏ, buộc không phải hạ lệnh cho toàn bộ cấp dưới của chúng đầu hàng ta... là êm ả nhất, dễ thành công nhất. Hoặc là êm ả bí mật rút ra ngoài rồi tản đi các nơi, xây dựng cơ sở... Người thì thấy cần phải vận động quần chúng, tổ chức lực lượng tiên phong, huấn luyện quân sự vũ trang chiến đấu, chớp lấy thời cơ thuận lợi, tiêu diệt địch, vượt ra với quần chúng, tổ chức chiến khu cách mạng, bắt liên lạc với các căn cứ xung quanh thành khu căn cứ cách mạng rộng lớn. Đó mới là cách chắc chắn nhất, v.v.


Biết là vấn đề rất quan trọng và có tác dụng quyết định đến thành bại của cuộc khởi nghĩa, nên chúng tôi càng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, không thể vội vã, hấp tấp được.

Nhưng dù đánh bằng cách nào cũng đều yêu cầu mỗi chiến sĩ cách mạng phải hiểu biết về quân sự, phải rèn luyện bản lính chiến đấu. Điều này tất cả mọi người đều nhất trí.


Vậy đã ở trong tù, làm thế nào luyện tập được? Đi một bước, lưỡi lê kèm một bước. Và mặc dầu được anh em binh lính cảm tình với cách mạng giúp đỡ che giấu, nhưng anh em cũng không dám để chúng tôi quá tự do, muốn sao nên vậy được. Thế thì đi đâu? Tập như thế nào cho thích hợp? Nếu lộ một chút, rất có thể dẫn đến những hậu quả tai hại không lường được.

Tôi nhớ lại hồi đầu năm 1941, khi còn bị giam ở sở mật thám Hà Nội, lúc đó bị địch kiểm soát rất gắt gao, nhưng được tổ chức phân công, tôi vẫn tranh thủ huấn luyện quân sự cho các anh Nghĩa, anh An... bằng cách ngồi chuyện trò, vẽ xuống sàn nhà. Nhưng đến thời kỳ ở căng Bá Vân - Thái Nguyên, việc huấn luyện quân sự thật là say mê, thích thú làm sao. Đối với các chiến sĩ cách mạng, nhà tù là nơi tiếp tục đấu tranh với kẻ thù và là trường học đào tạo cán bộ cách mạng. Những năm ở trong nhà tù của đế quốc, Đảng đã giáo dục, bồi dưỡng chúng tôi toàn diện như học văn hóa, ngoại ngữ, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối cách mạng của Đảng, công tác chi bộ, công tác vận động quần chúng và một nội dung quan trọng nổi bật nữa là rèn luyện thể lực, huấn luyện quân sự.


Ở căng Bá Vân, chi bộ Đảng lãnh đạo việc học quân sự cho các đảng viên và quần chúng thanh niên nòng cốt rất tập trung và rất kiên quyết: mặt khác, chúng tôi tranh thủ được sự ủng hộ của một số anh em binh lính có cảm tình với cách mạng, tổ chức hội binh sĩ cứu quốc.


Nhân dịp những ngày kỷ niệm 1 tháng 5 hoặc kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi tổ chức ngày hội điền kinh, biểu diễn một số môn điền kinh và võ dân tộc, có mời quần chúng vùng xung quanh và thị xã Thái Nguyên tới xem.


Chúng tôi thi các môn nhảy cao, nhảy xa, xà đơn, xà kép, chạy, bơi, võ, đánh bốc, đấu quyền, đấu kiếm, v.v. Anh Phạm Quang Thân biểu diễn môn đánh gậy; anh Nho nổi tiếng về bơi ngược dòng sông Kông 9 ki-lô-mét - một con sông nhỏ men theo triền núi Tam Đảo, nước chảy mạnh; tôi biểu diễn các môn võ tay không, đại đao; các anh khác biểu diễn và thi nhiều môn võ dân tộc rất hấp dẫn thanh niên.


Khán giả là những anh em trong tù, vỗ tay reo hò cổ vũ nhiệt liệt, lôi cuốn cả số đông binh lính và thanh niên trong vùng kéo đến mỗi lúc một đông.

Sau mỗi lần tổ chức như vậy, nhân dân lại hỏi: Lần sau dự định tổ chức vào ngày nào? Nhớ báo cho bà con biết nhé!

Các môn thể thao và võ được thanh niên rất ưa thích, dần dần thành phong trào tập luyện sôi nổi. Từ phong trào ấy, bước vào học quân sự, thanh niên tiếp thụ rất nhanh. Đầu tiên, chúng tôi chú trọng rèn luyện tác phong quân sự và kỷ luật quân sự: ăn, ở, đi, đứng, làm lao động, học tập... đều nghiêm túc, khẩn trương. Trước khi làm gì, đều có chuẩn bị kỹ và kiểm tra; sau khi làm, bao giờ cũng có kiểm điểm rút kinh nghiệm và nhận xét. Lệnh đã ban ra thì trăm người như một, nhất nhất chấp hành. Trong tù, đồng chí nào bị kỷ luật thì rất khổ tâm, phải đem khẩu phần ăn của mình ra ngồi ăn riêng, không được chuyện trò với ai, bất cứ đi đâu, kể cả đi tiểu, đại tiện cũng phải xin phép. Nhưng trên tinh thần tự giác rèn luyện, mọi người đều phấn đấu cố gắng giữ gìn kỷ luật tốt.


Chúng tôi học từ các động tác đội ngũ, sử dụng vũ khí, đến các kỹ thuật chiến đấu cá nhân, dần dần nâng lên trình độ chiến thuật, kỹ thuật, công tác tham mưu và học chỉ huy... Những nội dung bồi dưỡng, huấn luyện đều sát với yêu cầu nhiệm vụ trước mắt là khi có thời cơ thì nổi dậy, phá ngục vượt ra chiến đấu, đồng thời cũng chú ý yêu cầu đào tạo cán bộ chuẩn bị xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, xây dựng quân đội sau này. Những vấn đề về cách xem xét, phân tích địa hình, phân tích địch, suy nghĩ tính toán làm kế hoạch tác chiến, và một số hình thức chiến thuật cần thiết đều được chú trọng.


Những buổi học tập ban đầu, thường được tiến hành ở trong nhà - bây giờ trong các trường quân sự của ta gọi là tập bài chiến thuật trên bản đồ, trên sa bàn.

Ở trong ngôi nhà nuôi gà khá lớn của căng Bá Vân, nơi ấy, anh Linh thường ngồi sao chép lại các chỉ thị, tài liệu của Xứ ủy từ bên ngoài gửi vào, được đắp lên một bàn cát có núi rừng, làng mạc, sông ngòi, đường sá, v.v. Ở ngoài nhà, bố trí người lao động, tưới rau, làm vườn để canh gác. Các quân cờ được dùng để vừa thay cho quân của hai bên và tượng trưng cho trang bị vũ khí, vừa để đề phòng nếu bị khám xét thì giả vờ chơi đánh cờ. Ở giữa bàn cát ngăn bằng một tấm liếp. Một tốp được tạm ghép từ bốn đến năm người, thay nhau tập làm một ban chỉ huy và tham mưu. Huấn luyện viên đứng giữa làm trọng tài điều khiển, nêu tình huống cho bên phòng ngự, nêu tình huống cho bên tiến công. Để cho hai bên nghiên cứu bố trí thế trận trong một thời gian nhất định, huấn luyện viên ra lệnh hết thời gian chuẩn bị và nhấc tấm liếp ở giữa ra để “Bộ chỉ huy" của hai bên phân tích thế trận của mình và của đối phương. Cuối cùng huấn luyện viên nhận xét, kết luận đúng, sai, mạnh, yếu của từng bên... Sau đó, anh em nhận xét, bổ sung là xong, kết thúc khoa mục huấn luyện.

Sau khi học tập nguyên tắc lý luận và tập chỉ huy trên bàn cát, chúng tôi bắt đầu ra thực địa tập chỉ huy có "thực binh".

Anh Trịnh Tam Tỉnh lúc đó được chi bộ giao nhiệm vụ trong nội bộ, phụ trách binh vận và cải thiện đời sống, nhưng công khai phụ trách trật tự điều khiển mọi mặt.

Hàng thần anh Tỉnh cắt cử người vào rừng lấy củi đều dựa vào ý định sắp xếp các bộ phận và ý định luyện tập chiến thuật. Bộ phận nào đi trước, bộ phận nào đi sau, ai ốm nghỉ ở nhà thì hôm khác tập bù. Tổ này tập xong một thương trình, lại thay tổ khác.

Những ngày đầu tuần, chúng tôi lao động rất khẩn trương, lấy thật nhiều củi, tập trung giấu kín một chỗ; dùng thời gian những ngày sau để tập quân sự, tập xong, đem củi về dần.

Nội dung luyện tập rất phong phú: tập đánh tháo1 (Đánh giải vây), đánh úp đánh tỉa, mai phục, đánh bảo vệ căn cứ địa, v.v. Những bài tập ở sa bàn trong chuồng gà, bây giờ được ứng dụng vào thực địa. Dòng sông Kông vào mùa mưa lũ, nước đục ngầu, ào ào cuộn chảy, chúng tôi hăng hái vượt qua, vào rừng rậm, núi cao bắt đầu phân chia bên ta, bên địch, trước tập chậm theo kiểu “xếp quân cờ" vài lần, sau khi đã quen quen, mới bắt đầu diễn tập gần như thật. Khẩu lệnh đã phát ra, mọi người phải nhất loạt xông lên, không kể gì gai góc, khó khăn, ẩn hiện thoăn thoắt trong rừng cây, tiến thoái mau lẹ. Có những lần anh em binh lính là nhân mối của ta áp giải chúng tôi đi lấy củi hoặc anh em binh lính có cảm tình với cách mạng còn cho chúng tôi mượn súng để luyện tập. Trường hợp gặp người lính chưa có cảm tình với ta đi theo, thì chúng tôi tìm mọi cách giữ lại uống rượu, đánh bạc ở nhà cơ sở của ta bên bờ sông Kông. Những ngày tập luyện trong rừng, điều kiện để trốn thoát tuy có phần nào thuận lợi, nhưng tổ chức vượt ngục phải cân nhắc kỹ, phải có quyết định của cấp ủy, của chi bộ và phải xin chỉ thị của Xứ ủy...

Vì vậy, mọi người phải tuyệt đối phục tùng kỷ luật về việc vượt ngục. Không một ai tự động thoát tù khi chưa có chỉ thị của tổ chức. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi đi lấy củi, đi mua lợn, gà, rau giống, có điều kiện cho phép là chúng tôi tranh thủ tuyên truyền cách mạng trong quần chúng, tổ chức thanh niên cứu quốc, huấn luyện quân sự cho số thanh niên nòng cốt.


Lúc đầu, chúng tôi tổ chức quần chúng ở xung quanh Bá Vân, dần dần phát triển đến Phúc Thuận, Bình Định, Tân Cương và xung quanh thị xã Thái Nguyên... Nội dung huấn luyện cũng từ thể thao, vũ thuật đến quân sự, tiến tới giao nhiệm vụ canh gác, bảo vệ cơ sở, bảo vệ đường dây, trị an, trấn áp bọn đầu sỏ các toán cướp, v.v. Sau một thời gian thẩm tra, thử thách và xét có thể tin cậy được, chúng tôi huấn luyện thực sự về quân sự để làm nòng cốt trong quần chúng, chuẩn bị khởi nghĩa và phát triển lực lượng vũ trang sau này. Chẳng bao lâu, hàng trăm đồng chí ta và thanh niên yêu nước đã nắm được một số điểm cơ bản về kỹ thuật, chiến thuật quân sự... thuận lợi biết bao nhiêu khi quyết định khởi nghĩa trong tù, xây dựng khu căn cứ du kích và làm nòng cốt cho lực lượng quân sự ở vùng tây nam thị xã Thái Nguyên.


Ở Nghĩa Lộ có nhiều khó khăn hơn ở căng Bá Vân, nhưng lại có những thuận lợi khác. Ở đấy chúng tôi không được đi ra ngoài nhiều như ở Bá Vân, nên chi bộ nhất trí thay đổi cách học, lấy địa điểm học tập ở trong trại giam là chính. Và tất cả các khoa mục kỹ thuật, chiến thuật đều phải nhằm phục vụ cho nhiệm vụ khởi nghĩa, tiêu diệt quân địch và đánh chiếm các trại giam, vượt tù, ra lập chiến khu du kích.


Để chuẩn bị luyện tập có kết quả, chúng tôi lại họp nhiều lần để cùng nhau đóng góp ý kiến. Một số anh em thắc mắc: Tập quân sự mà súng ống chả có thì khó có kết quả?

Đồng chí Nhu và đồng chí Nho nói với anh em:
- Các đồng chí cứ yên tâm, vài ngày nữa chúng ta sẽ có súng để luyện tập.


Các đồng chí ấy đã tìm cách gần lính gác, miệng tán những chuyện thần thoại, chuyện "Trung - Nhật chiến tranh", nhưng mắt vẫn để ý quan sát khẩu súng, để nhập tâm đầy đủ các bộ phận và kích thước của khẩu súng. Mấy ngày sau, các đồng chí ấy đã đem đến cho anh em khẩu súng gỗ mà thoạt nhìn ai cũng tưởng là súng thật. Nòng, báng, đầu ngắm, khoá nòng, hộp tiếp đạn, v.v. đều có cả, giúp cho việc giảng dạy về cấu tạo và sử dụng vũ khí có nhiều thuận lợi.


Chúng tôi quý nó lắm. Ai cầm lấy cũng gượng nhẹ, nâng niu.

Để chuẩn bị vượt ngục thành công, hoạt động gây cơ sở, chuẩn bị lực lượng ở núi rừng hiểm trở được thuận lợi, chúng tôi còn chú ý huấn luyện cách sử dụng địa bàn và tìm biện pháp "chế tạo" địa bàn trang bị cho anh em.


Trong không khí tự hào về khả năng sáng tạo của quần chúng, sau khi đã tự chế được khẩu súng gỗ, đồng chí Nhu lại nhận nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo loại sản phẩm mới này, rất vui vẻ và tự tin:
- Mình đảm nhận làm món ấy cho.
- Nhưng lấy đâu ra nam châm, lấy đâu ra máy móc mà đòi chế địa bàn? - Một đồng chí băn khoăn hỏi lại.
Vẫn đầy lòng tin tưởng, đồng chí Nhu đáp:
- Tay trắng làm nên mới hay chứ. Cách mạng là ở chỗ đó.
Chỉ vài hôm sau, đồng chí Nhu đã đưa cho chúng tôi chiếc địa bàn rất xinh. Anh em cầm xoay thử, thấy rất chính xác ngạc nhiên hỏi:
- Làm thế nào mà giỏi vậy, Nhu?
Đồng chí Nhu cười:
- Có công mài sắt có ngày nên kim, đúng là mình mài sắt thật. Lấy những mảnh sắt nhỏ, cắt, giọt, giũa, mài... rồi đục, khoét, chắp nối mãi cũng thành. Còn nam châm, mình lấy ở mũi con dao có chất ấy cho truyền sang kim địa bàn là được thôi.


Trong nhà tù làm được như vậy là một công trình sáng chế lớn, rất quý đối với chúng tôi lúc ấy. Có nó, vừa để học tập vừa để sau này vượt ngục, chiến đấu. Ngoài ra, chúng tôi tiếp tục chuẩn bị các dụng cụ khác để tập quân sự và sẵn sàng hành động.


Rút kinh nghiệm huấn luyện quân sự ở căng Bá Vân, trong hoàn cảnh mới có khó khăn hơn, chương trình, nội dung huấn luyện của chúng tôi càng được chọn lọc ngắn gọn, sát với yêu cầu nhiệm vụ hơn.


Ngoài việc ôn luyện kỹ thuật, rèn luyện tác phong chiến đấu khẩn trương, chúng tôi tập báo động chiến đấu tập đánh giáp lá cà, tập vượt ngục, tập đánh tháo, tập đánh úp, tập đánh du kích, xây dựng chiến khu du kích, v.v.


Nhưng bao trùm lên tất cả những công việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa là vấn đề tư tưởng. Ở bất cứ nhà tù nào, dù bị bọn chúa ngục đối xử tàn bạo đến đâu, kiểm tra, sục sạo gay gắt đến mức độ nào, các đồng chí ta vẫn tiếp tục tổ chức các lớp huấn luyện chính trị để nâng cao tư tưởng, giữ vững khí tiết cách mạng cho nhau. Và đây cũng là một việc trang bị "vốn liếng" trau dồi thêm trình độ chính trị quân sự... cho từng người để mai mốt thoát khỏi nhà tù đế quốc, về phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân đắc lực hơn.


Vì chúng tôi quan niệm nhà tù đế quốc đối với người cách mạng là nơi tiếp tục đấu tranh cách mạng, là trường học đào tạo cán bộ cách mạng, chứ không phải là nơi nằm chờ thụ động.

Đứng trước nhiệm vụ mới và cụ thể của chúng tôi ngay cuộc họp bàn trong dịp mấy ngày Tết ấy, đồng chí Trần Huy Liệu đã được chi bộ ủy nhiệm thảo ra một phương trình huấn luyện lý luận cách mạng, giáo dục chính trị cho các đồng chí ta. Tất cả những bài giảng đều nhằm bồi dưỡng thêm cho nhau lòng tin tưởng vững chắc vào tiền đồ tất thắng của cách mạng, nâng cao tinh thần đấu tranh, bền bỉ, dũng cảm hy sinh khi cách mạng cần đến.


Với tinh thần náo nức đợi ngày nổi dậy, các buổi học tập quân sự, học tập chính trị, các đồng chí ta hết sức tập trung tư tưởng theo dõi thuyết trình viên và cùng nhau thảo luận rất sôi nổi.

Nhờ đó mà không khí chuẩn bị mọi mặt cho cuộc nổi dậy vượt ngục khẩn trương hẳn lên.

Một buổi sớm thượng tuần tháng 3 năm 1945, binh lính trong trại nhốn nháo khác thường. Các anh em nhân mối lần lượt báo cho chúng tôi biết tin: Nhật đã đảo chính Pháp... Nhật đã chiếm toàn bộ Hà Nội... Pháp, Nhật còn đang đánh nhau ở Vĩnh Yên, Việt Trì, Yên Bái.


Giữa lúc ấy, chúng tôi vẫn chưa liên lạc được với Trung ương. Phải chăng thời cơ đã đến? Nhà tù Nghĩa Lộ vùng dậy được chưa? v.v.


Phần đông trong chúng tôi đều có chung một câu hỏi như thế và đều hướng sự suy nghĩ của mình để tìm lời giải đáp.


… Pháp thua bỏ cả Sơn Tây, Phú Thọ, Việt Trì, Yên Bái rồi! Pháp từ các ngả, người, ngựa, xe cộ lê thê, lốc thốt chạy qua Nghĩa Lộ đi Sơn La, Lai Châu tháo sang Thượng Lào, sang Trung Quốc rồi?... Hết tin này, tin khác đến với chúng tôi. Hỏi đến tình hình binh lính Pháp ở Nghĩa Lộ ra sao, anh em nhân mối cho biết: chúng vẫn huênh hoang nào là quân Đồng minh sắp vào Trung Kỳ, nào là tướng Lơ-cléc đang ở biên giới Trung - Việt. Ngoài ra chúng còn chống chế, xuyên tạc, đánh lạc hướng, nói rằng bọn tàn quân Pháp chạy qua Nghĩa Lộ là để trở lại quyết chiến với Nhật? v.v. Khi chúng tôi gặng hỏi tình hình bên trong của bọn Pháp ở Nghĩa Lộ thực tế ra sao, thì anh em nhân mối bảo: chúng ra sức mua chuộc quản Nhượng, đội Mai để hai đứa dọa nạt binh lính, mặt khác, chúng thu vén hòm xiểng khóa gọn ghẽ rồi!...


Qua tình hình nói trên, chúng tôi nhận định: rõ ràng nhìn trên toàn quốc, Pháp đã thua Nhật hoàn toàn, quân đội chúng đang tan rã. Nhưng chỗ nào Nhật chưa đụng đến là chúng còn tiếp tục thi hành những thủ đoạn xảo quyệt đối với ta.


Tiếp đó, một sự việc mới xảy ra đã giúp chúng tôi xác minh nhận định của mình là đúng.

Một hôm tên Xi-vê, đồn trưởng Nghĩa Lộ đích thân dẫn hai tên Pháp lạ mặt - một tên đeo lon quan ba, vào trại gặp chúng tôi và hắn giới thiệu đó là đại biểu phái Đờ-gôn ở Bắc Kỳ muốn nói chuyện với "các ông tù chính trị”. Đồng chí Trần Huy Liệu và một đồng chí nữa đảm nhiệm công tác ngoại giao của nhà tù chúng tôi, được cử ra nói chuyện với mấy tên đó. Thoạt đầu, chúng báo tin đại biểu của phái Đờ-gôn đã gặp đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương để họp bàn và đồng ý hợp tác với nhau theo ba điều kiện:
- Một, cơ quan tối cao của bộ máy Nhà nước sau này sẽ có đại biểu của người Việt Nam.
- Hai, nước Việt Nam sẽ có nghị viện như các nước.
- Ba, dân Việt Nam sẽ được hưởng quyền tự do, dân chủ.


Mới nghe có chừng ấy câu, chúng tôi đã biết ngay bọn này bịa đặt láo lếu hòng lừa bịp chúng tôi để lợi dụng điều gì đây. Quả nhiên, chỉ qua mấy câu nói, dã tâm của chúng đã phơi bày ra ánh sáng:
- Trước hết, các ông hãy lựa cho chính phủ Pháp hai mươi người, giả cách vượt ngục, chia làm bốn toán. Một toán sang Hồ Khẩu (nước Trung Hoa) liên lạc với viên quan năm Pháp ở đó. Còn ba toán khác tìm cách đến những nơi đồn trú của Nhật tại Sơn Tây, Phú Thọ, Yên Bái nói là phần tử bài Pháp vừa trốn khỏi nhà tù chạy về với quân Nhật, rồi nhân đó dò xét tình hình báo cho Pháp biết.


Đồng chí Trần Huy Liệu thay mặt chúng tôi trả lời:
- Muốn hợp tác chống Nhật, trước hết phải thả ngay toàn bộ tù chính trì ra. Trong công cuộc chống Nhật chỉ có chúng tôi, những người cộng sản mới động viên được nhân dân Việt Nam đồng lòng đứng lên bảo vệ Tổ quốc mình.

Chung tôi đồng thanh ủng hộ ý kiến của đồng chí Trần Huy Liệu và đòi thêm không những phải thả toàn bộ tù chính trị mà còn phải được vũ trang. Tên quan ba mắt nheo, mồm nhếch, cất tiếng đểu giả nói luôn:
- Cứ làm đi, được việc sẽ tha.

Tất nhiên, chúng tôi không bao giờ chịu làm gián điệp cho chúng. Và cuộc "thương lượng" ấy cũng tất nhiên không đưa đến kết quả gì. Tên quan ba còn vớt vát đề nghị sẽ tiếp tục nói chuyện với nhau vào một buổi khác, rồi cả bọn kéo nhau chuồn mất.

Sự thật về tình hình và âm mưu của kẻ địch đã phơi bày ra rõ rệt. Trước âm mưu của kẻ thù và trước tình hình vô cùng thuận lợi cho cách mạng, chúng tôi càng ra sức chuẩn bị cho ngày nổi dậy phá ngục để mau chóng trở về phục vụ cách mạng. Một ban chỉ huy tối cao (tức ủy ban hành động) được củng cố, gồm: đồng chí Trần Huy Liệu phụ trách chính trị và lãnh đạo; tôi quân sự; đồng chí Phạm Quang Thẩm - tham mưu; đồng chí Nguyễn Sỹ Nghiêm - tài chính; đồng chí Trần Đức Sắc - ngoại giao. Ban chỉ huy tối cao có hai ủy ban chính trị và quân sự giúp việc. Ủy ban chính trị do đồng chí Trần Huy Liệu trực tiếp phụ trách, xung quanh có ban chính trị, ban tuyên truyền, ban ấn loát, v.v. Ủy ban quân sự, tôi được phân công phụ trách, trong đó có ban binh lương, ban y tế do đồng chí Phúc phụ trách, và ban chiến cụ1 (Lo việc sản xuất và trang bị vũ khí), do đồng chí Nhu phụ trách...


Lực lượng chiến đấu nòng cốt có đội thanh niên xung phong, do đồng chí Nho (tức đồng chí Lương Nhân) làm trung đội trưởng, đồng chí Thạch là tiểu đội trưởng tiểu đội một, đồng chí Bảy, đồng chí Côn là tiểu đội trưởng tiểu đội hai và ba.


Chúng tôi ráo riết hoạt động. Ban tuyên truyền thảo lời kêu gọi. Ban ấn loát in truyền đơn bằng chữ quốc ngữ, chữ Pháp, chữ nho. Khi viết truyền đơn, chúng tôi lại nhớ đến các lớp học văn hóa, các lớp học ngoại ngữ Anh, Pháp, Hán được tổ chức có nền nếp từ căng Bá Vân. Do đó, trình độ văn hóa của chúng tôi được nâng dần lên cũng bắt đầu từ đó và kiên trì đều đặn hết năm này qua năm khác. Đó là cái vốn văn hóa giúp cho chúng tôi trong học tập và công tác sau này.


Ủy viên chính trị phụ trách binh vận, đi sâu vào việc củng cố nhân mối, phân loại đối tượng, đặt kế hoạch khẩn trương giáo dục hoặc biện pháp xù lý. Theo nhận định chung thì trong số binh lính người Việt có ba xu hướng cụ thể. Phản động nhất, xảo quyệt nhất vẫn là tên quản Nhượng. Hắn một mực chống phá cách mạng và ra mặt đe dọa binh lính. Đội Mai thì lừng chừng, do dự. Một số anh em binh lính hoang mang dao động, sợ cứ bám theo Pháp thì có ngày làm tù binh cho Nhật, mà theo cách mạng, thắng đã vậy, nhỡ cách mạng thất bại thì tránh sao khói tù tội, thậm chí có khi mất đầu. Một số chỉ muốn có dịp nào đó, chuồn về quê làm ăn với vợ con. Số đông còn lại, chiếm tới hai phần ba, thì ngả theo cách mạng, sẵn sàng hành động khi cách mạng cần đến, trong đó có viên cai Sinh và viên cai mang số hai ngàn, anh em thường gọi là cai "Đơ-min”.


Ủy ban quân sự cũng sôi nổi đẩy mạnh công tác của mình. Ngoài việc chuẩn bị chu đáo trang bị cá nhân, khâu ba lô, vá quần áo, làm túi thuốc, bông băng, tất cả các đồng chí ta, nhất là các đồng chí trong đội thanh mến xung phong đều ra sức ôn luyện quân sự. Đồng chí Phúc đôn đốc việc rang gạo làm lương khô, làm bánh chè lam. Riêng tôi vẫn đặc trách cái “công binh xưởng" bí mật kia. Sắt vụn được các nhân mối chuyển tới, số lượng khá nhiều nhưng “công binh xưởng” cũng chỉ sản xuất đến mức đủ cung cấp cho mỗi đồng chí một thứ vũ khí, rồi phá lò, tránh bị địch phát hiện.


Mọi việc chuẩn bị do Ủy ban chỉ huy tối cao đề ra, coi như đã hoàn thành khá chu đáo. Nhìn lại, sở dĩ được như vậy vì tất cả mọi người đều hiểu rằng: có thời cơ mà chưa có lực lượng thì không sao hành động được; ngược lại, có lực lượng mà bỏ lỡ thời cơ cũng hỏng việc.


Nhưng có một vấn đề cơ bản nhất, mấu chốt nhất vẫn chưa được quyết định dứt khoát, đó là vấn đề đánh địch bằng cách nào đế giành thắng lợi hoàn toàn? Đã bao nhiêu lần thảo luận rồi, trong anh em chúng tôi vẫn chưa nhất trí với nhau về cách đánh địch. Có ý kiến cho rằng không nên bạo động, bạo động sẽ đổ máu mà nên tìm cách thuyết phục bọn quản Nhượng, gây áp lực với tên đồn trưởng Xi-vê, bắt nó nhượng bộ thả anh em ra; được vậy, ta sẽ phân tán vào rừng, dựa vào nhân dân, lập chiến khu kháng Nhật, bắt liên lạc với Trung ương, chuẩn bị tham gia Tổng khởi nghĩa toàn quốc. Có ý kiến ngược lại thì cho rằng, kẻ thù sẽ không bao giờ nhượng bộ ta; tình hình chuẩn bị mọi mặt hiện nay là tốt, ta tranh thủ được sự đồng tình của anh em binh lính, thời cơ đến, ta phải vùng lên diệt bọn đầu sỏ gian ác, phá nhà tù... nhất định sẽ giành được thắng lợi. Có như thế mọi việc tiếp theo mới làm được. Tóm lại, mọi người đều nhất trí là phải thoát ra khỏi nhà tù để tiếp tục hoạt động trong phong trào cách mạng của quần chúng để phồl hợp hành động chung, nhưng về phương pháp thì có hai cách khác nhau: bạo động hay hòa bình thuyết phục đối phương nhượng bộ?

Trong khi cuộc bàn cãi còn đang tiếp diễn thì tàn quân Pháp từ các nơi vẫn cứ hớt hải chạy qua Nghĩa Lộ. Tên Xi-vê phải cho một tiểu đội ra đóng ở Cửa Nhì, trên con đường Yên Bái vào, cách Nghĩa Lộ 12 ki-lô-mét, đề phòng quân Nhật bất ngờ đánh úp.


Anh em nhân mối còn cho biết, tên Xi-vê, mặc dù có bố trí này nọ nhưng chính hắn cũng sửa soạn rút chạy. Suốt ngày hắn bối rối, đi ra đi vào thu xếp đồ đạc và luôn mồm hỏi tin tức Nhật đã tiến đến đâu. Cơ sở chính quyền tay sai của Pháp bên ngoài cũng hoang mang cao độ. Trừ một số gian ác, xu thời, chuẩn bị đón tiếp Nhật, còn một số binh lính thì thấy thực tế cuộc sống dưới ách thực dân Pháp đã vô cùng cực khổ, lầm than, rất mong được "các đồng chí cách mạng" dìu dắt vùng lên giành tự do, hạnh phúc, bình đẳng, bình quyền. Nay được tin Pháp thua Nhật, lại tận mắt trông thấy Pháp từ các ngả chạy qua và được biết Pháp ở Nghĩa Lộ sắp cuốn gói chuồn để Nhật lên thống trị... mà Nhật thì không ai lạ gì tội ác của chúng, nên anh em càng lo cho cuộc sống mai đây; càng lo càng mong muốn cách mạng sớm có hành động để sân sàng hưởng ứng...


Trước tình hình đó, chúng tôi lại họp bàn bạc, đặc biệt lần này do thời cuộc khá khẩn trương, không cho phép chúng tôi chậm trễ được nữa. Về phía địch, thì từ tên Xi-vê trở xuống đã rất hoang mang, chỉ còn ngày một ngày hai Nhật sẽ kéo lên. Về phía ta, các đồng chí và đội thanh niên xung phong đã sẵn sàng quyết tâm chiến đấu. Nhân mối và phần lớn binh lính mong chờ ngày khởi sự, đồng tình ủng hộ cách mạng. Nhân dân bên ngoài đang khao khát được cách mạng chỉ đường... Tất cả những yếu tố cần thiết cho cuộc khởi nghĩa ở đây được coi như đã đầy đủ. Ấy thế mà chỉ còn một yếu tố cơ bản nhất vẫn chưa giải quyết xong, đó là sự nhất trí của nội bộ lực lượng nổi dậy về vấn đề cách đánh định. Đánh bằng cách nào? Bạo động hay thuyết phục? Lực lượng có, thời cơ nắm đúng, nhưng chủ trương hành động sai cũng rất khó thành công. Vì vậy, dù có cấp bách về thời gian, nhưng chúng tôi cũng quyết bàn cho ra lẽ. Mà có xác định được vấn đề này thì mới đồng thời xác định được quyết tâm của Ban chỉ huy tối cao của cuộc nổi dậy.


Sau một buổi thảo luận, chúng tôi đã nhất trí được với nhau chủ trương dùng lực lượng các đảng viên và đội thanh niên xung phong làm nòng cốt chủ yếu, vận động anh em binh lính theo ta, bất ngờ nổi dậy vào đêm 15 tháng 3 năm 1945. Kế hoạch tóm tắt như sau:


Đêm đó, đúng phiên anh cai Sinh đến chỉ huy anh em binh lính canh gác chúng tôi. Đợi cho tên quản Nhượng phản động ngủ say, anh Sinh sẽ khóa chặt cửa buồng hắn, nhốt hắn lại. Sau đó, anh nhanh chóng mở cửa nhà tù cho chúng tôi ra nhận súng đạn do anh em binh lính lấy ở kho vận chuyển đến, đồng thời chúng tôi cũng trang bị đầy đủ vũ khí tự chế tạo. Mọi việc xong xuôi, chúng tôi tiến sang chiếm đồn, có anh em nhân mối ở đấy làm nội ứng.


Để khích lệ tinh thần anh em binh lính tham gia khởi nghĩa, đồng thời cũng để anh em nắm vững kế hoạch, nhân một buổi tối, tên quản Nhượng lên gặp tên Xi-vê trên đồn, các đồng chí trong ban lãnh đạo tổ chức cho tôi tới nói chuyện với một số anh em binh lính theo yêu cầu của anh em. Đề phòng bất trắc, mấy đồng chí nữa được cử đi cùng tôi. Trời vừa nhá nhem, chúng tôi đàng hoàng ra cổng, đi sang trại lính. Một đồng chí nói đùa:

- Cẩn thận nhé, có kẻ làm phản thì gay go đấy.

Đồng chí khác nói ngay:

- Yên trí, một sẽ đánh đổ mười.

Tới trại, anh em đã tề tựu đầy đủ, một đồng chí ta đưa tay về phía tôi, trịnh trọng giới thiệu đấy chính là "nhà võ sĩ" mà bấy lâu anh em hằng ngưỡng mộ. Vừa dứt lời giới thiệu, anh em dường như tròn cả mắt nhìn tôi và như cố tìm xem diện mạo tôi có gì khác thường. Tôi thấy có cả một anh trước đây đã có lần nói với tôi muốn gặp “nhà võ sĩ". Trong giây phút người nào cũng hớn hở vui mừng xúm lại quanh tôi hỏi han tình hình và đề nghị điều này, điều khác.


Vào chuyện, tôi nhắc lại những tấm gương tốt đẹp của anh em binh lính trong hàng ngũ quân đội đế quốc Pháp từ trước tới nay đã vì sự sống còn của đất nước, của giống nòi mà quay súng bắn vào đầu bọn chỉ huy hung ác, trở về con đường chính nghĩa, cứu nước, cứu nhà. Sau khi nắm chắc được tinh thần thái độ của anh em, tôi phổ biến kế hoạch hành động. Nói xong, tôi đề nghị anh em góp ý kiến. Một người đội đề nghị cho anh em binh lính bắt quản Nhượng và chiếm đồn của tên Xi-vê trước, tiếp đó sẽ mở cửa nhà tù cho chúng tôi để công việc được nhanh gọn hơn. Và người đội đó tình nguyện xin tự mình chỉ huy anh em làm nhiệm vụ này. Có người lại xung phong dẫn một tiểu đội đóng giả Nhật vào bắt Xi-vê...


Không khí thảo luận tuy bí mật nhưng rất sôi nổi. Với đề nghị của người đội, tôi thấy nếu để anh em binh lính hành động trước sẽ không có lợi nhiều mặt. Làm vậy, chúng tôi sẽ trở thành bị động, nếu tình hình thay đổi hoặc có gì bất trắc xảy ra thì cả anh em lẫn chúng tôi đều lúng túng. Cho nên, về cơ bản, tôi vẫn giữ vững kế hoạch của Ban chỉ huy tối cao đã vạch ra.

Đang khi trò chuyện, bỗng có lệnh gọi anh cai Sinh về gặp ngay quản Nhượng.

Và cũng ngay tối đó, chúng tôi được tin quản Nhượng lệnh điều anh cai Sinh đi nơi khác nhận nhiệm vụ mới.

Sao vậy, đây là chuyện tình cờ hay có ý định gì bên trong, hay đã có người làm phản? Cảnh giác với âm mưu xảo quyệt của tên quản Nhượng, chúng tôi cùng nhau nghiên cứu, tìm nguyên nhân. Rút kinh nghiệm lần trước, tuy lần này Ban chỉ huy tối cao không cho biết thời gian khởi sự vào ngày, giờ nào, nhưng mọi người đều sẵn sàng đợi lệnh. Nhiều anh đêm ngủ gối đầu lên hành trang để có lệnh là vùng dậy chiến đấu ngay được. Muốn kiểm tra công tác chuẩn bị về tinh thần, tư tưởng, quyết tâm của từng người, ngay đêm 15 tháng 3 ấy, tôi ra ám hiệu mật, báo động, tập họp gấp, giả cách báo động. Ám hiệu vừa phát ra, chỉ vài phút sau, mọi người đều có mặt với đầy đủ những thứ cần thiết đã được quy định. Anh em rất cảm động khi thấy mình sắp sửa được làm một nhiệm vụ thiêng liêng. Đến khi biết là tập thử, anh em cười tỏ vẻ thích thú, nhưng cũng hơi tiếc. Nhiều anh chạy lại gặp tôi, khẩn khoản đề nghị:

- Anh ạ, hành động được rồi đấy!

- Tình hình đang rối ren thế này, không khởi sự đi còn chờ gì nữa?

- Thời cơ đến rồi, chậm trễ thì sẽ lọt vào tay Nhật mất!

Tôi khuyên anh em bình tĩnh, dù sao cũng phải chuẩn bị chu đáo, đón thời cơ có lợi hơn, đỡ tốn xương máu. Quyết tâm khởi nghĩa phá ngục nhất định không thay đổi.

Sáng 16 tháng 3 năm 1945, chúng tôi gọi quản Nhượng vào nói cho hắn biết, đại ý: Pháp đã bại, dẫu có trung thành với chúng cũng vô ích, các anh nên nghĩ đến đồng bào, đến đất nước. Nếu không, cũng cần có thái độ ủng hộ những người, những việc mưu độc lập cho Tổ quốc, không nên cản trở.


Quản Nhượng đảo đôi mắt gian giảo nhìn trộm chúng tôi, rồi nói lấp lửng rằng hắn không bao giờ dám chống đối cách mạng, song còn nặng đầu óc gia đình và vì ngu muội nên hắn không biết nghĩ khác hơn.

Sự thực, làm việc này chúng tôi cũng không hy vọng thuyết phục hắn theo mình mà cốt để hắn dè chừng, hạn chế sự phá hoại của hắn, đồng thời nâng cao tinh thần anh em binh lính.

Nhưng trong chúng tôi còn có đồng chí mặc dầu cũng quyết tâm thoát khỏi ngục tù để hoạt động trong phong trào quần chúng, lập chiến khu du kích, nhưng vẫn muốn dùng cách thuyết phục, lôi kéo quản Nhượng và tên Xi-vê, đòi chúng phải nhượng bộ.


Đa số anh em, trong đó có tôi kiên trì giữ vững ý kiến đã được tập thể thống nhất, vẫn quyết định nổi dậy phá ngục vào đêm 16 tháng 3. Hôm ấy, đội Mai - một tên không có chút cảm tình nào với cách mạng, được quản Nhượng phái tới thay anh cai Sinh từ đêm trước và anh cai "Đơ-min" đến gác chúng tôi. Sau khi bàn bạc, anh "Đơ-min" nhận trách nhiệm sẽ mở cửa trại giam cho chúng tôi ra và lập cách trói đội Mai trước khi tiến sang bên đồn của tên Xi-vê; còn anh em binh lính bên trong vẫn chuẩn bị sẵn sàng nổi dậy như kế hoạch cũ.

Trời đã tối từ lâu.

Theo thường lệ, trước khi chúng tôi đi ngủ, những người canh gác phải vào điểm mặt và đóng cửa nhà giam. Bữa ấy, đến lượt đội Mai. Nhưng đội Mai không chịu vào, hắn đùn cho anh cai “Đơ-min" và bảo:

- Tôi vào bây giờ để người ta thịt tôi à, tối nay thế nào cũng có chuyện.

Nói xong, hắn bỏ đi luôn.

Lộ kế hoạch rồi hay sao? Nếu lộ thì ai làm lộ? Chúng tôi lại hội ý tập thể ban lãnh đạo và ban lãnh đạo quyết định trao quyền cho tôi nắm thời cơ và phát lệnh khởi sự hành động.

Kế hoạch nổi dậy phá nghe lần thứ ba căn bản vẫn như cũ nhưng được bổ sung tỉ mỉ, chu đáo hơn. Chúng tôi lại tiếp tục trao đổi sôi nổi về thiên thời, địa lợi, nhân hòa, Nhật hất cẳng pháp, Pháp thua bỏ chạy, chính quyền Nhật chưa ổn định, đó là thời cơ mà ta hành động.


Vùng Tam Tổng Nghĩa Lộ ở vào một thung lũng, là một vựa thóc, địa hình chung quanh rất hiểm trở, chỉ có ba con đường vào: đường tên Bái, Cửa Nhì, đường đi Tú Lệ và Than Uyên; đường nữa là Trạm Tấu - Sơn La. Ba con đường đó bị chẹt thì Nhật khó lòng mà vào được. Như vậy là địa hình rất lợi cho ta xây dựng căn cứ du kích.


Nhân dân mong mỏi cách mạng, và sẽ ủng hộ cách mạng. Anh em binh lính địch thì nhiều người đã ngả theo cách mạng. Như vậy là yếu tố nhân hòa đã có. Còn nói rằng chưa bắt được liên lạc với Đảng, và chưa được chủ trương của Đảng, nhưng thời cơ đến và xét thấy có đủ điều kiện thì có thể từng bộ phận khởi sự rồi ta sẽ tìm đến Đảng và chắc chắn là Đảng cũng sẽ tìm đến ta, không sợ bị cô lập. Chúng tôi tin chắc rằng không nhiều thì ít, Đảng cũng đã có cơ sở ở bên ngoài rồi, đã bắt rễ ở trong quần chúng Nghĩa Lộ rồi.


Được phân tích kỹ lưỡng, chủ động sắp đặt kế hoạch cụ thể chúng tôi tin rằng cuộn nổi dậy phá nhà giam nhất định thắng lợi. Dù chúng bố trí cai đội nào gác cũng có anh em binh lính mở cửa. Ai cản trở, phá hoại sẽ bị trừ ngay tức khắc. Để tạo thêm điều kiện thuận lợi, chúng tôi bố trí mấy anh em binh lính có cảm tình với cách mạng gác tại đầu cầu (từ phía Yên Bái về Nghĩa Lộ) đến giờ hành động sẽ nổ súng và hô hoán lên là quân Nhật đã kéo đến, nhằm làm cho bọn Pháp hoảng loạn tinh thần, rối ren hàng ngũ. Và lúc đó, dù chúng rút chạy hay chưa, chúng tôi cũng lập tức cùng với sự hưởng ứng của anh em binh lính tiến lên nhanh chóng chiếm đồn, thu vũ khí, đạn dược, tổ chức quần chúng, lập chiến khu kháng Nhật. Chúng tôi còn bàn tới cách đánh chẹn bọn Nhật cướp vũ khí để đẩy mạnh công việc xây dựng lực lượng, củng cố căn cứ địa sau này.

Cuối cùng, chúng tôi lại xác định một lần nữa: Chỉ có một con đường tốt nhất là đêm nay vẫn hành động theo chủ trương đã đề ra, quyết không thể thương lượng, thuyết phục kẻ địch trong hoàn cảnh hiện tại được. Chiều hôm đó, vào khoảng bốn giờ ngày 17 tháng 3 năm 1945, tôi đang sửa dao trong góc nhà tù, bỗng có một đồng chí trong Ban chỉ huy tối cao đến gặp tôi, bảo:

- Lát nữa tên Xi-vê cùng tên phó sứ Pen-li-ê sẽ vào nói chuyện với chúng ta. Tất cả chúng tôi đã thảo luận nhất trí sẽ chuyển sang kế hoạch bắt cóc hết và vừa thuyết phục vừa buộc chúng phải nhận điều kiện trao súng, trao đồn cho mình. Vì quá gấp không kịp mời anh, và không kịp họp tập thể ban chỉ huy, tôi vội đến báo với anh để anh chuẩn bị hành động theo kế hoạch mới.

Tôi ngạc nhiên, hỏi:

- Đã có kế hoạch rồi, sao lại thay đổi đột ngột thế, và bây giờ làm sao phổ biến kịp cho anh em ta và một số binh lính theo ta? Liệu có bắt cóc được chúng giữa ban ngày hay không? Chúng nó đi đâu phải có linh hậu vệ chứ? Thay đổi kế hoạch thế này thì gay go lắm?

Đồng chí này, sau khì phân tích cho tôi nghe khả năng chắc chắn thành công bằng bắt cóc và thuyết phục, đã động viên tôi:

- Làm vậy nhất định được đấy anh ạ. Thế nào chúng cũng rơi vào tay ta và phải nghe ta thôi.

Tôi vẫn phân vân, đáp:

- Để nghiên cứu xem sao đã.

Tôi vội lên hỏi đồng chí Thẩm, phụ trách tham mưu cho rõ hơn.

Đồng chí Thẩm bàn với tôi, tình hình hiện tại là rất cấp bách, sự việc đã như vậy rồi thì ta phải làm thôi, ngay bây giờ nên phân công một người chạy đi phổ biến cho anh em binh lính; còn tôi về gặp trung đội thanh niên xung phong. Khi đi qua chỗ ban tuyên truyền, tôi thấy khẩu hiệu đã viết xong, nhưng toàn là chữ Pháp, tôi không hiểu nghĩa nó ra sao, một đồng chí giảng cho tôi nghe: "Hãy vũ trang cho chúng tôi chống phát xít Nhật!", "Thả ngay chúng tôi ra!". Nhìn khẩu hiệu đó, tôi áy náy, hoài nghi... và rất tiếc kế hoạch vũ trang khởi nghĩa đã được chuẩn bị đầy đủ.


Tôi vội chạy đi báo cho đồng chí Nho. Lúc này đồng chí Nho đang ngủ để lấy sức đề phòng đêm khởi sự. Đồng chí Nho choàng dậy ngơ ngác. Tôi phổ biến vắn tắt "các anh ấy quyết định rồi, bắt sống bọn Tây". Tôi phân công đồng chí Nho cùng đồng chí Thẩm chịu trách nhiệm bắt thằng đồn trưởng Xi-vê; Lý Hồ, Côn bắt thằng phó sứ; Bảy, Thạnh bắt thằng quan ba Pen-li-ê. Rồi tôi tiếp tục chạy đi, chỉ kịp phổ biến cho các đồng chí Bảy, Hồ. Một đồng chí được phân công đi phổ biến cho anh em binh linh, nhưng chưa kịp giáp mặt một ai thì hai tên Pen-li-ê và Xi-vê cùng bọn lính hộ vệ đã kéo tới. Chúng tôi xếp hàng ngang trong sân, đón bọn chúng.


Nhìn dòng chừ khẩu hiệu căng ở phía trước, tên Pen-li-ê ba hoa nói, nào là: Các anh, người An Nam không phải là những tay quân sự lành nghề, không thể chống được Nhật; nào là: quân Pháp sẽ trở lại Yên Bái trong vòng nửa tháng nữa... Rồi hắn dịu giọng "khuyên nhủ” chúng tôi: Cứ việc ăn no ngủ kỹ, không phải lo lắng gì... Đứng sau hắn, chừng bảy tám mét là tên Xi-vê. Tiếp nữa là một thằng Tây cao, to, tay cầm ba-toong, chúng tôi không biết tên và chức vụ hắn là gì. Tên quản Nhượng đứng ngoài cổng. Anh em binh linh đứng bao vây ngoài hàng rào.


Tên Pen-li-ê vẫn nói. Mọi người nhích dần lại. Tôi biết giờ phút quyết liệt sắp đến. Đồng chí Thẩm và đồng chí Bảy đang để ý vào tên Xi-vê. Tôi đi lén ra phía thằng Tây béo cao lớn để khi khởi sự sẽ túm lấy hắn mà quật, nhưng trong bụng vẫn băn khoăn, liệu tình hình này có thể bắt cóc được chúng một cách êm thấm không? Nếu gặp điều trắc trở thì tình hình sẽ đi đến đâu?

Thằng Tây đứng cách tôi vài bước, mắt còn đang lơ láo nhìn chúng tôi, thì bỗng huỵch một tiếng, tên Pen-li-ê đã nằm sóng soài xuống đất. Các đồng chí Nho, Côn, Hồ... đã quật ngã nó. Hắn vùng dậy, đánh lại, bảy tám đồng chí của ta xô vào đấm đá hắn túi bụi. Cùng lúc ấy, tôi lập tức lao tới thằng Tây cao lớn. Nó vung ba-toong đánh lại, tôi gạt văng đi, rồi nhảy xổ vào vật nó. Nó vùng chạy. Tôi đuổi theo. Anh em binh lính đứng ngoài không hiểu sự tình ra sao chạy toán loạn. Tiếng hò hét, tiếng kêu la ầm ĩ trong sân trại. Tôi thoáng tiếc lúc này trong tay chúng tôi không có lấy một mảnh gỗ, một tấc sắt nào, và ai cũng ốm yếu, gầy guộc, có anh gần như kiệt sức...


Tôi đè gí được thằng Tây xuống, nghiến răng bóp cổ nó. Nó giãy giụa đấm đá lung tung. Tôi dang thẳng tay đấm vào mặt thằng Tây thì tên Xi-vê chạy lao ra vấp phải tôi, ngã nhào xuống. Đồng chí Thẩm và đồng chí Nho nhảy theo túm lấy hắn. Bỗng đoàng, đoàng... hai tiếng súng từ tay tên quản Nhượng bắn ra, nổ inh tai. Tôi liếc nhìn thấy đồng chí Thẩm và đồng chí Bảy ngã lăn ra ngay bên cạnh. Tôi dằn đầu thằng Tây xuống. Đoàng, lại phát súng thứ ba của tên quản Nhượng nổ vang tai, đạn bay sạt qua mắt trái, hất tung cả chiếc mũ lưỡi trai của tôi...


Từ bên đồn, bọn tàn binh Pháp và nhưng tên lính khác thấy có biến đã chạy sang ứng cứu. Chúng xả súng vào trong trại. Tên quản Nhượng cũng thúc giục binh lính tiến hành đàn áp chung tôi. Nhưng anh em, miệng thì hò hét dữ dội, còn súng cứ chĩa lên trời nhả đạn...


Tình hình đã lâm vào giây phút gay go, quyết liệt. Trong sân không còn một ai nứa, trù đồng chí Thẩm, đồng chí Bảy và một số đồng chí khác nứa đang nằm trên vũng máu. Một anh lính nhảy từ trên chòi gác xuống. Anh lao theo các đồng chí của ta.


Thằng Tây cao to vẫn còn nằm dưới tôi. Tên quản Nhượng tống đạn giương súng... biết nó sắp sửa bắn tôi, tôi rạp người tập trung toàn lực giáng một quả đấm cuốl cùng vào mặt thằng Tây, rồi vùng dậy, phóng vào sân. Một phát súng bắn theo rít qua tải, tôi chạy vòng qua đầu nhà bếp, nơi tôi rèn vũ khí, rồi lao thẳng ra phía hàng rào nứa vót nhọn, cắm chéo cánh sẻ, cao hơn ba thước. Nhưng lúc đó, có một sức mạnh lạ thường, tôi đu người nhảy vọt ra. Nào chông, nào cọc, nào dây thép gai... tất cả sáu tầng hàng rào, tôi đều vượt bằng hết. Ngay sát lối tôi chạy, có một chòi gác. Người lính ở đây giục tôi chạy mau, rồi giương súng nổ liền mấy phát lên trời.


Đồng chí Nho vượt ra một phía khác. Thoáng nhìn thấy trên chòi không có lính, đồng chí leo lên lấy đà nhảy lao ra ngoài, lúc đang trèo không rõ một viên đạn từ đâu bắn tới xuyên từ mông qua đùi làm đồng chí khuỵu xuống. Phía ấy có ba đồng chí nữ vượt ra. Một chị bị bắn ngã ngay tại hàng rào. Đồng chí Nho đã lợi dụng địa hình đánh lừa sự quan sát của chúng, mới tiếp tục vượt ra được.


Bọn lính Pháp cũng sợ, nên hồi lâu mới dám tràn vào trại giam, vòng sang phía rừng bắn đuổi theo, đạn nổ như ngô rang. Chúng tôi tỏa rộng vào rừng, không biết ai sống, ai chết, ai bị bắt?

Một chặng đường khúc khuỷu, gập ghềnh lại một lần nữa đặt ra trước mắt từng người chúng tôi.

Qua mấy lần tổ chức khởi nghĩa bị lộ, chúng tôi phải suy nghĩ rất căng thẳng, mấy đêm liền không ngủ trong hoàn cảnh tù đày qua hết trại giam này đến trại giam khác, người gày gò, ốm yếu; mặt khác, tôi vừa phải vật lộn với thằng Tây cao to khỏe hơn mình... nên sau khi thoát khỏi lớp hàng rào cuối cùng của trại giam độ hơn một trăm mét, toàn thân tôi rã rời, hơi thở rất đuối, gần như chỉ còn thoi thóp.

Những tiếng súng nổ lúc dồn dập từng tràng, lúc ngắt ngắt từng phát một, tiếng bọn lính Pháp gọi nhau ồm ồm, xen lẫn tiếng kêu ăng ẳng của bầy chó săn... như thúc tôi phải gấp rút thoát khỏi nơi này. Giận quá! Vừa nhấc chân lên, nó đã bủn rủn, khuỵu xuống và tự nó duỗi dài ra, không chút động đậy nửa. Tôi đành phải cố lết mình tới bụi cây rậm rịt, tạm nghỉ lấy sức.

Lại hàng loạt súng nổ xói vào rừng bên phải. Nguy rồi! Một đồng chí nào đã bị chúng giết rồi? Ruột gan tôi đau quặn. Thương xót, trách nhiệm... xáo trộn trong đầu óc tôi!

Trời đã tối.

Phía rừng, bọn lính Pháp vẫn không ngừng sục sạo. Chúng đốt đèn, đốt đuốc soi rộng ra ngoài. Bầy chó săn vẫn kêu hỗn loạn. Chúng đã không ngờ tôi còn nằm ngay cạnh sào huyệt của chúng.


Dù sao cũng không thể nằm đây để chờ chết, hoặc sa vào tay giặc một lần nữa? Phải sống, trở về với Đảng? Phải sống, để tiếp tục sự nghiệp cách mạng! Tôi vùng dậy lần thứ nhất, chưa được. Mảnh đất tôi đứng như lỏng ra. Tôi té nhào xuống. Trong giây phút, từ đầu đến chân tôi đẫm mồ hôi, lạnh toát. Nghỉ một lúc cho tim đập trở lại bình thường tôi vùng dậy lần thứ hai. Vẫn đổ. Ánh đuốc của bọn Pháp, tôi vừa thấy bập bùng, lúc này hầu như tắt hết. Cả tiếng của chúng lẫn tiếng chó sủa cũng im bặt. Cuộc săn lùng chấm dứt chăng? Không phải mắt tôi đã tối sầm, tai tôi ù đặc cả rồi? Đi chẳng được thì bò, thì lết chứ sao!

Tôi tỉnh dần. Tôi bắt đầu lết mình từng tí một.

Mấy nấm mồ của các đồng chí ta nằm ở bãi ổi còn đó, lút dưới đárn cỏ. một vùng lân tinh, một bày đom đóm lập lòe... mỗi thứ gây cho tôi một xúc cảm riêng. Lúc tôi ngồi lại, nhìn về hướng đồn Nghĩa Lộ, dường như tức thở. Lúc tôi nhớ tới những làng mạc xa xôi cũng mùa này đom đóm đỗ từng chòm trên mặt ao bèo. Lúc tôi tưởng tượng mình sắp được sống trong một đội du kích, đêm đêm đi đánh úp quân giặc, cướp vũ khí của giặc, trang bị cho mình... Rồi tôi nhỏm dậy, bò, bò mãi, tới một ngọn núi cao (núi Pú Chạng), chợt nghe thấy tiếng người rên khe khẽ, tôi dừng lại, áp tai xuống đất. Đúng rồi! Có đồng chí ta bị thương! Tôi bò đến nơi nhận ra ngay là đồng chí Nho, phụ trách trung đội thanh niên xung phong. Thấy đồng chí bị thương ở háng, tôi gỡ ra đắp vào một nắm thuốc lào, rồi lấy chiếc khăn quàng do vợ tôi gửi cho băng lại cho đồng chí. Sau khi bàn bạc cách ứng phó với mọi trường hợp có thể gặp phải, tôi đứng dậy và cả hai cùng lẩy bẩy dìu nhau đi. Đi một lúc nghỉ, rồi lại tiếp tục đi. Đồng chí Nho bám vào vai tôi lê từng bước, miệng thì thầm kể lại cho tôi nghe những quãng đường vượt trại rất nguy hiểm của đồng chí vừa rồi...


Hôm sau, lúc đang đói cồn cào ruột gan thì bỗng đồng chí Nho bấm mạnh vào vai tôi, reo lên:

- Lương tươi kia kìa?

- À may quá? - Tôi cũng reo lên, dìu vội đồng chí tới.

Hai người cùng nghiêng đầu, cắn vào thân cây chuối, tước lấy bẹ, nhai ngấu nghiến một lúc, bụng căng, người tỉnh táo, chân tay khỏe hẳn lên.

Trời đổ mưa, chúng tôi ướt sũng, nước tràn qua mắt, qua mũi, không kịp vuốt.

- Đi mau lên!

- Nào, đi mau lên - Chúng tôi bảo nhau như vậy.

- Nhưng đi đâu bây giờ? Bọn lính dõng, hào lý các địa phương chắc đã nhận được lệnh truy nã, đón bắt tù chính trị vượt ngục rồi!

- Các ngả đường làm gì chả có mấy thằng phục sẵn. Chúng tôi rì rầm nói chuyện. Tối như bưng lấy mắt. Húc vào bụi, lại lùi ra, lại đi, lại húc vào bụi. Lá khô lẫn bùn ướt lép nhép dưới chân. Có đến hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi vẫn chưa đi thêm được bao nhiêu.

Lò dò dẫm đi từng bước tới một vách núi đá, nhìn xuống thấy lấp lánh có nước, chúng tôi đoán là suối. Tôi vít cành cây cong thả người rơi xuống suối. Nhưng may quá, suối sâu nên không gãy chân. Đồng chí Nho xuống sau, yếu sức lúc bơi bị trôi giạt xa hơn. Sang bờ bên kia, lo quá, người nọ cứ tưởng người kia bị nước cuốn đi rồi, ra mật hiệu tặc lưỡi một lúc mới tìm thấy nhau, mừng quá.

Chúng tôi bàn nhau ngủ tạm ở đây để lấy sức.

- Nằm vũng bùn à? - Đồng chí Nho hỏi.

Nhưng rồi mệt quá chẳng còn đủ sức rời đi chỗ khác, đành cứ nằm xuống, ôm chặt lấy nhau. Nước bùn thấm lên lưng, nhớp nháp, lá rừng lao xao rũ nước đầy mặt, đầy người.

Một lát sau, chúng tôi thiếp đi, mặc cho lũ vắt quấy rầy, tha hồ hút máu.

… Chiều ngày thứ ba, chúng tôi tới chân núi gần đến chỗ ngoặt, thì dừng lại quan sát.

- Lính dõng! - Đồng chí Nho kéo tay tôi, kêu lên.

Chúng tôi chưa kịp tránh, tên dõng đã chạy xộc đến chĩa mũi súng vào nghe tôi, quát:

- Tù, tù Nghĩa Lộ phải không?

Chúng tôi làm vẻ thản nhiên, đáp:

- Anh em với nhau cả, làm gì nóng nảy thế!

Giọng nó càng to hơn:

- Anh em cái gì?

Dứt lời, nó dấn lên mấy bước nhìn chúng tôi từ đầu đến chân. Nắm chắc đặc điểm bọn này, tôi liền cởi chiếc áo vải kẻ ô vuông của tôi, đưa cho hắn và bảo:

- Đây, biếu anh làm quà. - Tên dõng cầm lấy chiếc áo, ngắm nghía một lúc rồi vẫn ra điều oai vệ, nói xẵng:

- Thôi đi? - Hắn chỉ tay và giọng thấp hẳn - Rẽ đường này, ngả kia cũng có người đấy.

Xẩm tối, chúng tôi men theo chân ngọn núi cao, đi về phía nam. Nhìn lên đỉnh núi, tôi thấy có những mái nhà lụp xụp, khói xanh bay tỏa. Ở nhiều nơi những mái nhà lá nghèo nàn ấy thường là những nơi êm ấm đã che giấu, đùm bọc chúng tôi. Tôi nói với đồng chí Nho:

- Ở đây nhá! Mình lên xem sao, nếu gặp người tốt thì nghỉ lại, mai đi tiếp - Tôi còn dặn thêm - Khi nào mình gọi, cậu hãy lên. Nếu có động, cậu lủi ngay lập tức, mặc tớ xử trí.

Đồng chí Nho ngồi dưới chân núi. Tôi hướng theo đám khói leo lên. Tôi hăm hở đi về phía căn nhà sàn. Thấy tiếng động, một thanh niên mặc quần áo chàm từ trong đi ra, cặp mắt có vẻ xoi mói nhìn tôi, hỏi gọn:

- Đi đâu? Thấy thái độ hắn thiếu thiện cảm, tôi giả làm người lỡ đường, đáp:

- Tôi về quê thăm nhà, hết tiền, lên xin anh bát cơm.

Người thanh niên tò mò nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi gật đầu đáp:

- Được ngồi chờ đây, tao đi lấy cho.

Tôi ngồi xuống một hòn đá, hai chân buông thõng, bề ngoài nom tự nhiên, nhưng đã chuẩn bị tư thế nhảy vọt, mắt vẫn chăm chú nhìn vào ngôi nhà. Mãi không thấy anh ta ra, tôi sinh nghi, tự hỏi: Lấy cơm sao lâu thế? Tôi toan đứng lên xem xét tình hình, thì thấy tiếng chân nhiều người rậm rịch bên trong. Rồi anh thanh niên kia bước ra, tay cầm giỏ đầy xôi giơ lên gọi tôi; phía sau thấp thoáng có bóng người.

Không xong rồi, nó đánh bẫy mình đây! Tôi chỉ mới kịp nghĩ có thế thì hai, ba tên cầm súng kíp xồ ra. Một tên giương luôn súng lên nhằm thẳng vào tôi. Lập tức, tôi nhảy lao xuống khe núi. Người và đá lăn rào rào. Đoàng! Một tiếng đạn nổ xé tai sạt sau gáy, mùi khét lẹt. Đoàng, đoàng, tiếp theo vài phát súng nữa.


Lăn được vài chục vòng, tôi mắc kẹt vào một lùm gai rất rậm. Tôi nằm yên không nhúc nhích. Năm, sáu tên tay cầm đuốc, tay cầm súng chạy xuống chân núi, hò nhau lùng sục. Chẳng thấy gì, bọn chúng lại ra đường mòn, cắm đầu, cắm cổ rượt tôi.


Nghĩ đến đồng chí Nho, tôi chắc khi nghe súng nổ, đồng chí đã lẩn đi rồi. Nhưng tôi lại lo, không khéo vì vết thương, đồng chí chậm chân, chúng tóm được thì thật khổ. Tôi lắng nghe, vẫn thấy bọn chúng ì ới dưới chân núi, còn tôi vẫn nằm trong bụi gai dưới vực sâu ở gần nhà hắn. Bài học ẩn náu ngay cạnh sào huyệt của địch khi vượt khỏi nhà tù Nghĩa Lộ đã có tác dụng đối với tôi lúc này. Đến khuya, bọn chúng quay về, đứa lèm bèm, đứa đay nghiến chửi bới nhau. Biết đồng chí Nho cũng thoát, mừng quá, tôi chui khỏi bụi rậm, nhưng gai kéo sau lưng, gai chằng trước mắt, nhùng nhằng như chim sa lưới, tôi không thể nào gỡ được. Chân tay, mặt mũi, gai cào toạc hết. (Sau này, tôi thường ví chiến tranh du kích như gai mây giằng co lôi kéo địch, nhùng nhằng, đi không được, ở không xong, rồi lúc nào đó, ta ập đến chĩa súng vào mặt chúng, hỏi chúng còn chạy đường nào cho thoát? Hình ảnh ấy một phần cũng do cảm giác thực tiễn của cuộc "vật lộn" trước kia để lại).


Phải vất vả lắm tôi mới tách ra khỏi bụi gai. Tôi bò xuống núi, đi khắp ngả tìm đồng chí Nho. Trong bụng tin là đồng chí đã thoát, nhưng tôi vẫn tiếp tục đi tìm. Tôi đoán đồng chí vẫn lẩn khuất gần đây và có lẽ cùng cảnh ngộ, cùng chí hướng, nhạy cảm ý định của nhau, nên khi tới một cái cống, tôi cho rằng ẩn dưới đó rất tốt, kẻ địch chạy qua, rất có thể không chú ý sục sạo, chắc rằng đồng chí Nho ẩn ở dưới này. Phán đoán vậy, tôi cúi xuống khẽ gọi:

- Nho đâu?

Có tiếng hỏi lại:

- Vẫn còn sống đấy à?

- Sống chứ?

Mừng quá, chúng tôi lại bám vai nhau đi về phía nam.

Mờ sáng, vừa bước ra khỏi rừng, chúng tôi lại thấy những mái nhà sàn cao cao hiện ra trước mặt. Đó là những căn nhà thuộc vùng Trạm Tấu, Bản Ny giáp Ngòi Thia - một nhánh suối lớn chảy về Nghĩa Lộ. Chúng tôi nửa mừng, nửa ngại!


Trong khó khăn phải dựa vào quần chúng cách mạng, nhưng liệu có gặp được người tốt hay không, giống như buổi tối hôm qua thì thật là nguy hiểm. Quay trở lại, lỡ gặp bọn kia, nhất định chúng nó sẽ "thịt”. Cứ nhịn đói, nhịn khát và kéo dài mãi tình trạng không cơm, không cháo thế này liệu còn đi được bao nhiêu đường đất nữa?... Nên vào hay thôi, nếu vào, cần ứng phó, phối hợp ra sao... sau khi bàn bạc kỹ, tôi bảo vời đồng chí Nho:

- Lại để mình vào xem sao nhé.

- Ừ thì đi nhưng phải cẩn thận đấy - Đồng chí Nho dặn tôi.

Tôi thản nhiên vào bản. Một người đàn bà chạc ngoài năm mươi tuổi, còn khỏe, áo chàm, đang thái rau trên căn nhà sàn nhỏ ở ngoài cùng, thấy tôi, hỏi ngay:

- Mày đi đâu?

- Đi tìm chỗ ở - Tôi trả lời lấp lửng như vậy với ý định để bà có thể hiểu tôi là người làm mướn, đang cần người thuê, hoặc có thể hiểu tôi từ xa mới đến, đang đi chọn đất dựng nhà. Rồi tuỳ theo ý thức nhận xét và thái độ đầu tiên của bà, tôi sẽ liệu bề xử trí. Bà lão đăm đăm nhìn tôi một lúc mới bảo:

- Khổ! Đây nghèo, không ai thuê đâu. Ở xuôi không đủ ăn à? Lên uống nước đã.

Qua nhà cửa đơn sơ, phong thái giản dị, lời nói có tình nghĩa ấy, tuy đã phần nào tôi tin ở bà nhưng vẫn phải cảnh giác. Sau khi từ chối không lên nhà, tôi đem chuyện vùng xuôi cũng đói khổ như ở trên này ra kể bà nghe. Mặc dầu thời gian ngắn ngủi, tôi kể không dài, không kỹ, nghe xong, bà thở dài, nói:

- Chết thôi! Đâu cũng như con trâu, con ngựa cả thôi?-Rồi bà bần thần một lúc, nói tiếp - Tao không nhớ ngày nữa, nhưng tao nhớ có hôm một anh "cách mạng" ở Nghĩa Lộ ra đây cũng nói như mày đấy - Và tôi không ngờ bà đột ngột hỏi tôi - Hay là mày cũng là người cách mạng phải không?

Tôi chưa kịp trả lời câu gì, bà lại bảo thêm:

- Người cách mạng tốt bụng lắm, nhưng khổ lắm. Mày lên uống nước đi. Nhà tao nghèo, không đứa nào đến đâu, đừng sợ.

Tôi không dám nhận mình là "người cách mạng" và vẫn tiếp tục cảnh giác, tôi nói:

- Cụ để tôi ra ngoài cất mấy thứ đồ vặt đã nhé.

Bà cụ gật đầu. Thật ra, tôi chạy đi gặp đồng chí Nho để nói cho đồng chí biết tình hình. Sau khi bàn bạc, đồng chí Nho nhất trí để tôi lên nhà bà cụ, còn đồng chí vẫn ở ngoài sẵn sàng phối hợp nếu xảy ra bất trắc.

Khi tôi vừa bước lên cầu thang đã thấy bà cụ đang đem nước và một ông cụ - được bà cụ giới thiệu là "ông nhà" đã ngồi ở trước cửa sổ có ý chờ tôi. Nhưng ông rất ít nói. Tôi còn nhớ, từ lúc tôi vào đến lúc tôi chào gia đình ra đi, ông chỉ trả lời tôi có một câu “không có” khi tôi hỏi "hai cụ sinh được mấy anh chị?". Còn bà cụ vẫn là người tiếp chuyện chính với tôi. Bà cụ cho tôi biết, ông cụ trước đây cũng hay nói chuyện nhưng từ ngày bị "tạo bản"1 (Một cấp chính quyền cơ sở ở miền núi, tay sai cho đế quốc - phong kiến) bắt lên đồn Nghĩa Lộ cho Tây đánh, vì để anh "cách mạng" ngủ trong nhà không báo, nên mới "dại người" như thế.

Tôi mới uống chưa hết một bát nước chè tươi nóng, thì bà cụ đã đưa ra bát xôi sắn, bảo:

- Mày ăn đi! Tạo bản nó mới nói có tù Nghĩa Lộ trốn, ai giết một đứa được thưởng một tạ muối, chúng tao không thèm.

Nhưng tôi chưa kịp tỏ thái độ ra sao đối với cử chỉ ân cần và thực tế đó, thì bỗng bà cụ bưng bát xôi lên, nói vội:

- Thôi!

Tôi lạ quá! Có lẽ bà cụ đã nghĩ về tôi mà sợ tôi? Hoặc có kẻ nào đang đứng ở đâu đây theo dõi gia đình và tôi, khiến bà cụ không dám tiếp tôi nữa. Tôi đưa mắt nhìn quanh nhà, nhìn ra phía cửa sổ, chân co lên, tay ấn mạnh xuống sàn, chuẩn bị đối phó...

Nhưng không phải, những điều tôi dự đoán đều không đúng. Bà cụ đã đặt trước mặt tôi một bát cháo và gói xôi. Bà dặn tôi:

- Bây giờ ăn cháo. Đi đường ăn xôi.

Khi đưa xôi về cho đồng chí Nho ăn, tôi thuật lại câu chuyện, đồng chí Nho vừa đăm đăm hướng về căn nhà nhỏ bé ấy, vừa nói:

- Một hạt xôi là một hạt vàng ừ, có thể hạt vàng cũng không sánh nổi đâu.

Đêm đó trời mưa tầm tã thỉnh thoảng lại gặp một con đường mòn vắt ngang, vắt chéo. Suối lũ réo ầm ầm. Chúng tôi cứ nắm tay nhau mà đi, có lúc chẳng còn trông thấy gì cả, hệt như trò bịt mắt bắt dê, chúng tôi đi mãi, đi mãi, chẳng may bị lạc đường, vào giữa một cánh rừng rậm. Lại chui rúc. Mưa vuốt mặt không kịp. Lá rừng, gai góc cứa toạc cả người, chỗ nào cũng xót, ngứa. Tình hình này nếu cứ để đồng chí Nho lết từng bước loanh quanh trong rừng thì rất khổ cho đồng chí, chúng tôi bàn với nhau là, đồng chí Nho tạm ngồi một chỗ đợi, tôi đi tìm đường. Lúc đó tôi nhớ tới cái địa bàn và đồng chí Nhu – “người có công mài sắt nên kìm" ấy bây giờ ở đâu? Cả các đồng chí "sáng chế” ra khẩu súng gỗ nữa...! Tất cả các đồng chí sống gắn bó thân thiết với nhau từ căng Bá Vân, Hỏa Lò - Hà Nội đến nhà tù Nghĩa Lộ, ai còn, ai mất? Nhớ thương cứ xáo trộn trong lòng tôi và thúc giục tôi phải đạp bằng mọi khó khăn trở ngại. Toàn thân tôi đang bị giá lạnh vì mưa gió, phút chốc nóng lên bừng bừng. Và cũng trong phút chốc, tôi lao lên giằng xé tất cả cái gì cản trở trước mặt tôi. Bỗng có một thiếc gai rất cứng đâm vào tay tôi buốt nhói. Tôi dừng lại, nắm chặt lấy vết thương.


Không xong rồi! Giận dữ với thất bại, không xong rồi! Gặp thất bại càng phải tỉnh táo mới có thể chuyển bại thành thắng được... Nghĩ vậy, tôi mau chóng tập trung trí óc vào công việc trước mắt của mình. Và phải mất một thời gian khá lâu tôi mới tìm ra một con đường ở bìa rừng.


Tôi quay lại chỗ cũ đón đồng chí Nho, nhưng không thấy đồng chí đâu; hay đồng chí sa lưới địch một lần nữa hay cũng đi tìm đường như tôi? Trong hai ước đoán này, tôi vẫn đề phòng trường hợp xấu nhất. Nhưng dù xấu đến mức nào, cũng không thể một chốc thoát thân một mình được. Tôi vừa thận trọng náu mình, vừa chuyển đi từng chỗ và dùng hết mọi thứ mật hiệu, ký hiệu đã quy định với nhau từ trước vẫn không một lời, một tiếng động, một dấu vết đáp lại. Nhưng ngày chuẩn bị âm thầm mà sôi nổi, những giờ phút chiến đấu gay go, quyết liệt... không xa nhau, nay lỡ lại bị bắt hoặc bị lạc đường giữa lúc bị thương, thì thật là khổ!


Suốt đêm đó và cả buổi sáng hôm sau loanh quanh mãi, tôi vẫn không sao tìm thấy đồng chí Nho, trong lòng cứ ân hận, day dứt mãi! Thật không có tình cảm nào cao đẹp, gắn bó với nhau bằng tình cảm cách mạng. Lúc bình thường đã thương yêu nhau, lúc gian khổ, khó khăn lại càng gắn bó với nhau, đùm bọc nhau, quí mến nhau.


Qua sáu ngày đi ròng rã, tôi vẫn men theo một con đường mòn tới một chỗ, một bên vực sâu thăm thẳm, một bên vách núi đá dựng đứng, tôi thấy hơi rờn rợn. Bây giờ có điều gì bất trắc xảy ra, thì thật hết sức nguy hiểm. Nhưng tôi cứ phải đi, vì không còn con đường nào cả.


Vừa đi tôi vừa nghiêng ngó trước sau, vừa suy nghĩ mưu kế nếu gặp địch thì lợi dụng địa hình, địa vật cụ thể lẩn tránh hoặc buộc chúng bỏ chạy để mình thoát thân. Vạn bất đắc dĩ sẽ sử dụng tới những võ thuật nhanh chóng quật đổ từng tên xuống vực, dọn đường tiến lên.


Đi đến gần đỉnh núi, nhìn lên, tôi thấy có mấy nếp nhà, khói tỏa xanh lam rất ấm cúng (sau này tôi mới biết đó là đồng bào dân tộc vùng bản Bá Tàu, núi Pá Hu - một vùng rừng rậm, núi cao trên 1.200 mét). Tôi thoáng thấy bóng người lố nhố hiện ra trước mặt. Người nào, người nấy súng ống giương lên tua tủa và như sắp sửa đồng loạt nổ vào ngực tôi. Lúc này, tiến thoái lưỡng nan, con đường độc đạo, lùi cũng chết, mà lên cũng chết. Cuối cùng, tôi quyết định cứ bước dấn lên rồi tuỳ cơ ứng biến. Tôi lên gần và chú ý xem họ là ai. Hình như không phải bọn lính dõng, vì nhìn cách ăn mặc và bộ dạng của họ không có vẻ gì là "nhà binh” cả. Nhưng họ sẵn sàng tư thế đối phó với tôi. Người nào cũng nhìn thẳng vào tôi. Lạ làm sao, phía sau họ lại thập thò có những chú bé chín, mười tuổi.


Thấy tôi vẫn đi đứng đàng hoàng, toán người nọ bất thình lình xông lên, miệng thét lớn: bắt lấy nó, bắt lấy nó! Họ bảo nhau trói quặt tay tôi lại, đưa ra mép vực chuẩn bị bắn và cắt lấy đầu.

Rõ là tiếng nói của đồng bào dân tộc, tôi thoáng nghe rõ có người gọi nhau là Vương. Tôi vội dùng ngay tiếng dân tộc nói chuyện với các chú bé. Nghe tôi nói tiếng dân tộc địa phương, mọi người trố mắt nhìn tôi. Trong đó có một người đàn ông đứng tuổi bước sát lại chỗ tôi, hỏi:

- Mày họ gì?

- Họ Vương - Tôi đáp. Người đàn ông đứng tuổi đó ôm chầm lấy tôi, nhận là cùng dòng họ, cùng đồng bào của mình, rồi khoác tay tôi:

- Thôi vào đây! - Người đàn ông quay ra vui vẻ nói với bà con đứng xung quanh - Anh em, anh em ta đây. anh Vương cùng cảnh ngộ như bà con ta cả đấy. Người Việt Nam ta cả đấy!

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, anh Nguyễn Khang bảo tôi nên đổi tên khác để hoạt động công khai, để giao dịch với bọn sĩ quan của chính quyền cũ. Nhớ lại một kỷ niệm sâu sắc ở vùng núi Pá Hu, tôi báo cáo anh Khang xin đổi tên là Vương Thừa Vũ. Tên mới của tôi bắt đầu từ đấy.

Trở lại câu chuyện ở Pá Hu, khi thấy tôi nhận họ Vương, người lớn, trẻ em vỗ tay, cười nói tíu tít. Tôi đi theo vào nhà, vừa đi vừa kể chuyện, kết nghĩa anh em. Ngồi nói chuyện một lúc, bà con dọn ra một mâm cơm có những đĩa thịt gà đầy ú ụ và những bát rượu tràn miệng. Người có quyền cao nhất ở đó ngồi tiếp tôi. Ông uống rất nhiều rượu, nói chuyện rất tự nhiên:

- Các dân tộc Việt Nam đều là anh em, cùng một lòng chống bọn bóc lột, bọn xấu chia rẽ phá hoại. Gặp nhau là mừng rồi? Ăn đi! Uống đi!

Tôi đã từng được gặp những cảnh chân thật như thế này, nên tôi rất tin. Tôi ăn uống tự nhiên, ăn xong, trò chuyện một lúc, tôi xin phép đi ngủ ngay để mai có sức.

Sáng hôm sau, biết tôi sắp lên đường, bà con quây quần quanh tôi, khẩn khoản, thân thiết:

- Anh cứ ở đây cho thật khỏe đã.

- Nom anh gầy quá, chúng tôi muốn lưu anh lại để...

Tôi đã nghĩ kỹ. Tôi phải khẩn khoản nói mãi bà con mới để tôi đi. Để giúp tôi không bị bắt lần nữa, bà con đưa bộ quần áo địa phương cho tôi thay và cử một người cao tuổi đi theo, vừa tiễn chân, vừa chỉ giúp tôi đường về. Đến ngã ba đường rừng, ông chỉ đường cho tôi rồi quay lại. Lúc chia tay, tôi cảm ơn bà con và ông, nhưng ông cười đôn hậu, gạt đi:

- Có gì đâu, dân tộc Việt Nam ta cả mà!

Tôi lại theo đường mòn luồn rừng, leo núi mà đi, khác với mọi chặng trước, những chặng này phần vì sốt ruột ngày qua coi như bị bỏ phí, phần vì được ăn no, lại có vài tấm bánh của bà con cho mang theo, nên tôi đi nhanh và khá bền sức...


Một buổi, trời xẩm tối, vừa bước khỏi rừng, tôi lại nhìn thấy cánh đồng Nghĩa Lộ xa xa phía trước. Tôi suýt nữa kêu lên. Công lao đi không biết bao nhiêu ngày loanh quanh mãi, lại trở về nơi hang hùm, miệng rắn này ư?... Thì ra, tôi đã đi nửa vòng tròn về phía nam cánh đồng Nghĩa Lộ.


Từ bấy đến nay tình hình các nơi nói chung và ở đây nói riêng có gì biến đổi tốt, xấu? Tôi lặng nhìn Nghĩa Lộ chìm đắm trong đêm. Một thứ tĩnh mịch rất khó phân biệt giữa hai trạng thái: mọi sự đã bình yên hay tất cả vẫn còn đang trong gông cùm, kìm kẹp?...


Nhưng dù thế nào, tôi thấy cũng cần phải làm ngay hai việc: Một, nhanh chóng lánh khỏi nơi này kẻo không rơi vào tay giặt Pháp thì cũng sa lưới bọn Nhật. Hai, đến tận nơi điều tra rõ ràng, để định phương hướng hành động.


Tôi tiếp tục đi, thấy ở dưới phân đồi phía xa có một ngôi nhà còn le lói ánh đèn. Nhìn kỹ khu vực đó, tôi biết ở đấy phần lớn là đồng bào từ tỉnh Thái Bình, Nam Định di cư lên làm ăn và rất quý mến anh em tù chính trị. Tôi quên sao được nơi đây đã có đồng bào hy sinh cả thân mình để cứu lấy các đồng chí cán bộ cách mạng.


Tuy nhiên tôi vẫn phải cảnh giác đề phòng. Tôi thầm phác họa một kế hoạch đề phòng, rồi táo bạo lần sang. Ngó vào một nhà chỉ thấy hai ông bà già, tôi giả làm người bị lạc, bước vào lễ phép, nói:

- Chào hai cụ! Cháu bị lạc đường, đói quá, xin hai cụ giúp đỡ.

Ông cụ nhìn tôi, thoáng có vẻ ngạc nhiên, nhưng cụ trấn tĩnh ngay và ôn tồn, kín đáo, đáp:

- Bác, bác ngồi chơi, ngồi khuất vào trong này.

Rồi như đoán được nhưng điều gì tôi đang cần biết, cụ vừa đưa chén nước cho tôi, vừa nói ngay giọng hồ hởi hẳn lên.

- Bây giờ khác trước rồi bác ạ. Thật may? Anh em ta vượt ngục được hai ngày thì Nhật tràn đến, Tây bỏ cả việc lùng sục, cuốn gói chạy hết.

Đến đây, cụ chép miệng, chán chường:

- Đúng là hỗn quân, hỗn quan láo nha láo nháo!

Nhưng cụ chuyển ngay sang giọng hồ hởi như trước:

- Ấy thế cũng hay! Có vậy anh em ta mới có cơ hội mà thoát, nếu không thì còn khối cái trắc trở đấy.

Biết cụ có thiện cảm với cách mạng, tôi liền cùng cụ bàn chuyện thời sự. Cụ với tôi nhất trí với nhau là dù sao cũng phải đề phòng quân Nhật đến đàn áp, khủng bố khi bộ máy tay sai của chúng chưa được ổn định, và chỉ có đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi thì dân tộc Việt Nam ta mới hoàn toàn độc lập.


Đang trò chuyện thì bà cụ bưng từ trong bếp ra một mâm cơm. Bữa cơm đơn giản, có bát canh rau, vài con cá nướng nhưng tự tay hai cụ đơm xới, khiến tôi cảm động. Cơm nước xong, hai cụ giục tôi đi nghỉ sớm để mai còn có sức.


Tinh mơ hôm sau, ông cụ đã đánh thức tôi dậy. Vừa rửa mặt xong, tôi đã thấy ngay một bát xôi đầy đặt ở giữa giường. Ông cụ bảo tôi ăn để chắc dạ lên đường. Tôi mới ăn được vài đũa, bà cụ lại cho thêm một túi gạo nhỏ và hai đồng bạc. Cụ nói gọi là có tý chút để làm lộ phí cho được công được việc...

Miếng xôi tôi đang nuốt, bỗng như nghẹn lại.

Từ giã Nghĩa Lộ, những bà con nghèo, những người dân đã hết lòng với cách mạng, không quản nguy hiểm, đùm bọc người cán bộ cách mạng ở đây đã để lại cho chúng tôi biết bao ấn tượng sâu sắc. Tôi chân thành suốt đời nhớ ơn tấm lòng nhân nghĩa đó. Tôi kính trọng tất cả tấm lòng cao đẹp mà giản dị của đồng bào. Sau này tôi mới biết đó là vùng Na Khi, bản Món. Tôi đi suốt cả buổi, đến chiều thì ra đến đường cái ô tô. Khi vừa ở trong rừng đi ra, tôi thấy ba người từ hướng Nghĩa Lộ đi tới. Mỗi người đều đeo một cái túi dết bằng chăn dạ. Tôi nấp vào bụi sim, nhìn thật kỹ thấy không phải anh em ở Nghĩa Lộ. Nhưng sao họ lại có túi dết bằng chăn dạ được? Nếu không phải là binh lính ở đồn Nghĩa Lộ thì không thể có túi dết như thế được? Chỉ có anh em nhà tù mới có thứ ấy. Tôi tự mình khẳng định như vậy, là do khi còn ở Nghĩa Lộ chuẩn bị khởi nghĩa, chúng tôi có làm cho mỗi người một túi bằng chăn dạ để đựng lương khô và quần áo. Cuối cùng, tôi xác định chắc anh em tù với nhau cả thôi. Tôi bèn bước ra nói to: Mấy người kia đi đâu? Bị hỏi bất ngờ, ba anh như ba cái lò xo bật ngay vào rừng chạy. Tôi bèn hạ giọng, nói: Bọn ta cả đây mà? Nghe vậy, ba anh đi ra. Qua chuyện trò, chúng tôi nhận ra nhau là đồng chí. Mấy đồng chí kia ở Sơn La, bị bọn Pháp đưa về Tú Lệ.


Gặp thời cơ, các đồng chí trốn luôn và định về Yên Bái. Thấy tôi không có gì ăn đường, các đồng chí chia cho ít gạo rang và năm đồng bạc, rồi bảo nhau đi phân tán ra, không nên đi tập trung. Cầm tiền, tôi xúc động đến chảy nước mắt trước tình đồng chí. Trong khi líu tíu vội vã quên cả hỏi tên nhau, quên cả cảm ơn. Tôi lại lững thững đi một mình trên đường Cửa Nhì - Yên Bái, rồi lên tàu hỏa về xuôi. Về nhà được vài hôm, tôi lại tìm bắt được liên lạc với Đảng và lại được Đảng giao nhiệm vụ thoát ly đi hoạt động gây cơ sở cách mạng, chuẩn bị lực lượng đón thời cơ giành chính quyền.


Đã hơn 30 năm trôi qua, nhiều chi tiết của cuộc nổi dậy vượt ngục Nghĩa Lộ tôi đã quên, bởi vì trí nhớ con người là có hạn. Nhưng những bài học rút ra từ cuộc nổi dậy đó thì lại trở thành ký ức khó quên:

- Nổi dậy trong nhà tù đế quốc phải chuẩn bị rất công phu nhưng sẽ gặp phải những khó khăn, nguy hiểm khôn lường. Hồi đó, chúng tôi đã chuẩn bị cho kế hoạch nổi dậy - vượt ngục khá chu đáo, có được như vậy là nhờ chi bộ nhà tù lãnh đạo sát sao, biết dựa vào tập thể, phát huy trí tuệ của tập thể. Chi bộ đã coi trọng phát động tinh thần yêu nước của quần chúng binh sĩ địch, tranh thủ họ, vận động họ ngả theo cách mạng dưới nhiều hình thức.

- Tinh thần thương yêu, đùm bọc đồng chí của những người vượt ngục; tinh thần yêu nước, lòng yêu mến Đảng của đồng bào các dân tộc đã cho tôi thêm nghị lực đã giúp tôi sững, giúp tôi vượt qua bao nguy hiểm và khó khăn trở về với Đảng, với nhân dân, tiếp tục được góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng cho đến thắng lợi ngày nay. 

 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam