Những chặng đường chiến đấu_Phần 2 (tiếp) PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Tuesday, 29 April 2008

… Vào thời điểm này, Bộ chỉ huy đại đoàn nhận định: đánh chiếm cứ điểm 206 là giáng một đòn nặng nề vào tinh thần quân địch. Vì mất 206, sân bay của chúng bị cắt, càng đẩy chúng vào thế tuyệt vọng. Nhưng ta không thể vì thế mà vội vàng, chuẩn bị không tố, thiếu cụ thể. Trái lại phải kiên trì biện pháp đánh lấn, phải đưa trận địa tiến công vào sát địch, để khỏi bị phơi mình trước hoả lực địch. Tuy nhiên lại không được vin vào “đánh chắc, tiến chắc” mà kéo dài thời gian chuẩn bị, thiếu tích cực, khẩn trương, để mất thời cơ. Đc đại đoàn phó Cao Văn Khánh và các phái viên mặt trận xuống trung đoàn 36 kiểm tra, góp ý kiến cụ thể trong quá trình chuẩn bị… Xét thấy các điều kiện đã chín muồi, đại đoàn phát lệnh tiến công.


Đêm 22 tháng 4, chấp hành mệnh lệnh của đại đoàn trung đoàn 36 hoàn chỉnh chiến thuật đánh lấn bằng biện pháp kỹ thuật đào hầm “dũi” (đào hầm ngầm dưới đất) rất điêu luyện, đã tiêu diệt nhanh và rất “êm” cứ điểm 206, khiến De Castries mãi sau khi bị bắt làm tù binh vẫn còn thắc mắc về thất bại này. De Castries khai với cán bộ ta đến hỏi cung hắn: “Cho đến sáng 23 tháng 4, tôi chỉ có thể đoán rằng cái Huy-ghét 1 (tức cứ điểm 206) đã bị mất vào lúc nửa đêm gì đó. Không hiểu nó đã mất như thế nào. Không phải là một cuộc đầu hàng, tôi chắc thế. Nhưng các ông đã đánh bằng chiến thuật gì rất lạ!…”.


Trận địa vân lấy của các đơn vị thuộc đại đoàn có cao xạ pháo yểm hộ kẹp sát vào hai bên sườn sân bay Mường Thanh, sau khi trung đoàn 36 diệt cứ điểm 206. Nhưng cũng vào thời điểm này, trận địa sân bay trở nên sôi động. Sáng 23 tháng 4, tướng ba sao Cô-nhi, tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở bắc Đông Dương huy động một lực lượng lớn máy bay khu trục ném xuống khu vực sân bay Mường Thanh 600 quả bom. Chưa có trận ném bom nào dữ dội như vậy kể tù khi chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn. Đoạn đường băng giữa sân bay, qua hơn một tháng bị ta bắn pháo, ngổn ngang những xác máy bay cháy, những tấm sắt lát mặt đường băng bị lật cong lên, han gỉ nằm ngổn ngang, qua trận bom sáng nay biến dạng hẳn. Những hố bom sâu hoắm, những đống đất ùn lên, những tấm sắt bị xé toác ra, dựng ngược, v.v… Tiếp theo là những trận phản kích điên cuồng, tuyệt vọng vẫn do Bigeard chỉ huy đang tiến gần đến trận địa của đại đội 213 ở giữa đường băng trong sân bay.


Đại đội 213 do đồng chí đại đội trưởng Mai Viết Thiềng và chính trị viên Hữu Hiệp chỉ huy đã được thử thách nhiều qua các trận phòng ngự ở đồi Độc Lập, ở Bản Tén, v.v… giờ đây đang đương đầu lần thứ hai với đội quân phản kích Bigeard ngay tại sân bay này. Nếu đại đội 213 ghìm được quân Bigeard lại, tiêu hao một phần sinh lực của nó là tạo điều kiện cho trung đoàn chuẩn bị kỹ để mở đợt phản xung phong dự định vào lúc 15 giờ.


Từ sở chỉ huy đại đoàn, tôi gọi điện thẳng xuống đại đội 213, lệnh cho đồng chí đại đội trưởng phải tổ chức chiến đấu thật linh hoạt nhưng phải đảm bảo ghìm địch.


Tôi nói chưa hết, đầu dây bên kia, đồng chí đại đội trưởng đại đội 213 đã sôi nổi nói rất to như sợ tôi nghe không rõ:

-Báo cáo đại đoàn trưởng, chúng tôi đang tổ chức đánh bật nó ra… nhất định… nhất định thực hiện được…

-Phải tổ chức bắn tỉa cho tốt. Phải giữ lực lượng đánh liên tục. Ai không bắn tỉa phải ngồi trong hầm tránh pháo. Cán bộ luân phiên nhau đi kiểm tra trận địa. Cố ghim địch đến 15 giờ là thắng lợi.

-Rõ! Chúng tôi quyết tâm thực hiện bằng được lệnh của đại đoàn trưởng.


Tôi định dặn thêm đồng chí Thiềng cố tránh thương vong vô ích, thì đồng chí Thái Dũng đến xin tranh thủ nói chuyện với đồng chí Hữu Hiệp. Họ là hai anh em ruột sinh ra và lớn lên ở thị xã Cao Bằng, cùng chiến đấu với nhau từ hồi thành lập trung đoàn 88. Đến chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ chỉ huy mặt trận điều đồng chí Thái Dững lên làm phái viên tham mưu mặt trận, hôm nay đồng chí về công tác ở đại đoàn. Đã năm sáu, tháng nay, hai người chưa được gặp nhau, bây giờ họ gặp nhau trong một tình huống bất ngờ thật đẹp, trong chiến thắng và cũng rất khẩn trương, ác liệt.

Tôi nhường máy cho Thái Dũng nói;

-Anh đây! Thái Dũng đây… ừ phái viên mặt trận… Hiệp này, 213 của chú đánh mấy ngày hôm nay anh vẫn theo dõi chặt… ừ tốt lắm. Cả mặt trận đang theo dõi 213 đấy. Cố gắng đánh tốt nhé… đúng rồi, nhất định quét hết…


Không hiểu đầu dây bên kia Hữu Hiệp nói gì, chỉ nhìn nét mặt vui của đồng chí Thái Dũng là tôi hiểu anh em hết sức ý hợp tâm đầu, càng mang lại trong tôi một niềm phấn hứng, tin tưởng; và hôm đó ta đã thắng lớn, hoàn toàn cắt được sân bay Mường Thanh.

… Ở Điện Biên Phủ về cuối tháng 4 ngày nào cũng mưa lớn, bầu trời nặng trĩu những đám mây xám xịt. Cả cánh đồng Mường Thanh, nhìn đâu cũng thấy bùn và nước. Nước tràn xuống các đường hào trận địa, nhưng đường hào của ta vẫn cứ vươn dài ra. Toàn mặt trận nô nức chuẩn bị bước sang đợt ba chiến dịch được bắt đầu từ một ngày mang ý nghĩa quốc tế-Ngày 1 tháng 5.


Trong đợt này, đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ tiêu diệt ba cứ điểm 310, 311A và 311B ở ngay mạng sườn phía tây của khu trung tâm, trong khi các đại đoàn bạn tiêu diệt các cao điểm còn lại của địch ở dãy đồi phía đông. Tất cả những trận đánh này nhằm bóc hết cả hai mạng sườn địch, khiến chúng phải phơi bày ruột gan ra, và tất cả phải hoàn thành trong đêm 6 tháng 5, để hôm sau toàn bộ mặt trận chuyển sang tổng công kích, kết thúc nhiệm vụ lịch sử của chiến dịch này.


Đây là một tính toán rất khoa học và rất chính xác của Bộ chỉ huy mặt trận.


Đây là mệnh lệnh thật nghiêm túc, đòi hỏi mọi người phải triệt để chấp hành, chấp hành không điều kiện; chỉ được bàn tới, không được bàn lùi.


Ba tiếng Tổng công kích có sức thôi thúc lạ thường đối với chúng tôi. Còn ai nghĩ đến gội mưa tắm bừa nữa? Còn ai nghĩ đến khó khăn này, nguy hiểm nọ nữa? Không, tất cả chúng tôi, tất cả cán bộ, chiến sĩ đại đoàn Quân Tiên Phong chỉ nghĩ đến vinh dự, đến trách nhiệm, đến thắng lợi hoàn toàn của chiến dịch, thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Công tác chuẩn bị cho trận thử thách cuối cùng ở thung lũng Điện Biên Phủ thật là khẩn trương, ngày đêm bận rộn, ăn không ngon, quá bữa cũng chẳng thấy đói, vì ai nấy còn thấy việc này chưa xong, việc kia đã tới; vì dòng suy nghĩ của mình đang tiếp tục tìm một biện pháp, một kế hoạch cho trận thắng sắp tới mà mình được cấp trên vừa giao.


Lại nữa, mặt trận đấu tranh ngoại giao đang đòi hỏi một chiến thắng quân sự thực sự vang dội, tốt nhất là ở ngay Điện Biên Phủ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1954 phải thắng, vì ngày 8 tháng 5 năm 1954 phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẽ bước vào hội nghị quốc tế về Đông Dương họp ở Giơ-ne-vơ… Kẻ thù của chúng ta sẽ không nhượng bộ trên bàn hội nghị nếu chúng ta không giành thắng lợi quân sự trên chiến trường.


Sự thôi thúc, giục giã đối với chúng tôi là cụ thể. Đòi hỏi chúng tôi đáp lại cũng phải thật cụ thể. Không thể chung chung, vì chung chung là đồng nghĩa với hỏng việc, mất thời cơ, là thất bại.


Đêm 30 tháng 4 trận địa đánh lấn của trung đoàn 36 đã phát triển cách hàng rào cứ điểm 311B khoảng năm chục mét. Trận địa vây lấn của trung đoàn 88 cũng cách cứ điểm 311A một khoảng tương tự.


Trong đợt ba của chiến dịch, chiến thuật đánh lấn đã được đại đoàn hoàn chỉnh thêm một bước qua rút kinh nghiệm các trận thắng địch ở 206; ở quanh sân bay Mường Thanh và trên cả đường băng của sân bay này, theo những nguyên tắc kết hợp tích cực:

-Đưa hoả lực vào gần, dùng pháo 75mm, ĐKZ tiêu huỷ công sự địch ở các hướng đột phá;

-Đồng thời tổ chức cho xung kích bí mật gỡ mìn, cắt rào, rồi nhanh chóng xung phong vượt qua cửa mở, tiến vào diệt các mục tiêu còn lại trong cứ điểm.


Cắt rào trong chiến thuật vây lấn ở Điện Biên Phủ hoàn toàn khác với động tác cắt rào trong chiến thuật công kiên trong các chiến dịch Trung Du, Hà-Nam-Ninh, Tây Bắc mà đại đoàn đã thực hành. Ở đây ta cắt, địch đánh ra rào lại. Nhưng ta tìm cách không cho chúng rào lại. Ở những lớp rào ngoài cùng, cắt đoạn nào ta cuộn lại quăng ra xa (để địch không có dây thép gai rào lại). Đến lớp rào cuối cùng, cắt xong ta mắc lại như cũ để một là làm cho địch tưởng ta chưa cắt hết, chưa mở xong đường đột phá: hai là, không mở sẵn lối cho địch ra rào lại những đoạn ngoài bị ta cắt đứt.


Đợt ba chiến dịch diễn ra thật nhịp nhàng.

Đêm 1 tháng 5 là đêm Hội chiến thắng.

Đêm nay khi các đại đoàn 312, 316 nổ súng tiến công các cứ điểm đồi C1, 505A, 505B ở khu đông Mường Thanh và đồi C khu Hồng Cúm, thì ở phía tây, đại đoàn 308 cũng có những hoạt động phối hợp đúng lúc: đêm mồng 1 tháng 5, trung đoàn 88 diệt cứ điểm 311A; và đêm mồng 2 tháng 5, trung đoàn 36 diệt cứ điểm 311B; và đêm 6 tháng 5, trung đoàn 102 diệt cứ điểm 310, hoàn thành việc “đánh bóc sườn” phía tây. Trận địa vây lấn của đại đoàn chỉ còn cách sở chỉ huy của tướng De Castries khoảng 400 mét.


Với những trận đánh trong đêm 6 tháng 5, các cánh quân ta ở phía đông và phía tây đã hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn vây lấn, bề ngang trận địa địch bị ép chặt chỉ còn khoảng bảy, tám trăm mét. Và cũng đêm nay ta dã khoá được bầu trời Điện Biên Phủ, triệt nguồn tiếp tế độc nhất của địch từ trên máy bay thả xuống.


Đêm 6 rạng ngày 7 tháng 5, một đêm chúng tôi thao thức, hồi hộp chờ đón cái giờ phút phải đến sẽ đến. Trên tấm bản đồ căng ở vách hầm, đồng chí Vũ Yên, tham mưu trưởng đại đoàn, căn cứ vào quyết tâm của Bộ chỉ huy, đã vạch 3 mũi tên đỏ thể hiện ba mũi tham gia Tổng công kích của đại đoàn 308 nhằm bào khu vực trung tâm Mường Thanh: mũi thứ nhất từ cứ điểm 311B, mũi thứ hai từ cứ điểm 310, mũi thứ ba từ Nà Noọng đánh sang. Các bàn đạp tiến công lý tưởng này, đã có đủ hầm hào để bố trí các loại hoả lực, kể cả pháo 75 mm, chỉ cách tuyến phòng ngự ngoài cùng của trung tâm Mường Thanh hơn hai trăm mét, cách hầm De Castries năm, sáu trăm mét…

21 giờ ngày 6 tháng 5 1954, tiếng nổ của một tấn thuốc nổ TNT do công binh đào đường ngầm đặt giữa đồi A1 được coi là hiệu lệnh Tổng công kích.


Sáng ngày 7 tháng 5, vòng vây của ta xiết chặt, địch hết đường giãy giụa. Ta thực sự đã Tổng công kích-một trận Tổng công kích diễn ra rất “êm” nhưng thắng lợi thật giòn giã, thật to lớn.


… 15 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5, trung đoàn 209 (đại đoàn 312) đánh chiếm cứ điểm 507, đang phát triển thuận lợi về phía cầu Mường Thanh.


16 giờ, trên trận địa địch xuất hiện những lá cờ trắng, mới đầu lác đác, sau lan ra rất nhanh hàng trăm, hàng nghìn, đủ kiểu chờ hàng. Binh lính địch dùng tất cả những thứ gì có màu trắng-dù chỉ nhờ chờ để làm cờ báo hiệu đầu hàng. Khăn mặt, khăn mùi-xoa, áo may-ô, áo lót, mảnh dù, v.v… Có cái buộc vào gậy vào que giơ cao phất lia lịa; có cái từ dưới chiến hào ném ra vắt lên hàng rào thép gai; có những cái áo, cái khăn không có gậy làm cán cờ thì chúng tung lên cao rơi xuống rồi bắt lấy, lại tung lên, miễn là để ta thừa nhận là chúng đầu hàng.


17 giờ ngày 7 tháng 5, đại đoàn nhận được điện của Bộ chỉ huy mặt trận giao cho 308 tiếp quản tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với nhiệm vụ tiếp tục truy quét tàn quân địch, nhanh chóng ổn định để đón đồng bào về kịp sản xuất vụ mùa…


Ngược đường đi vào Mường Thanh, chúng tôi bắt gặp binh lính, sĩ quan địch vác cờ trắng xếp hàn hai, hàng ba kéo ra hàng, với thân hình tiều tuỵ, quần áo rách bươm, mặt mũi hốc hác xanh gầy, chán nản nhưng tên nào cũng tỏ rõ một niềm vui-thoát chết…


Tình hình biến chuyển thật mau lẹ. Một tháng sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, tất cả các đại đoàn tham gia chiến dịch đã có mặt ở quanh vùng châu thổ sông Hông, tạo áp lực uy hiếp địch để quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu.


Suốt tháng 7, đại đoàn được lệnh mở một đợt hoạt động mạnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, nhằm uy hiếp địch ở Hà Nội, thu hút quân cơ động của chúng lên đường số 13 và số 18 càng nhiều càng tốt, tạo điều kiện cho quân và dân đồng bằng mở rộng vùng giải phóng. Đại đoàn đã phố hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh bao vây, đánh lấn, bắn tỉa quân địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, đẩy địch càng bị động đối phó. Hơn 30 vị trí địch bị bao vây, đánh lấn, con đường số 13 trở nên vắng lặng, quân địch hoang mang, kêu thiếu nước, thiếu lương thực, v.v…


Trong lúc trung đoàn 88 gấp rút chuẩn bị tiêu diệt cứ điểm Thái Đào; trung đoàn 36 và 102 đang bao vây tiến công thị xã Bắc Giang… với không khí sôi nổi, khẩn trương, thì đại đoàn nhận được lệnh ngừng bắn. Với nhiều đơn vị khác, có lẽ lệnh này đã đến rất đột ngột, ngoài dự đoán của mọi người. Còn đối với đại đoàn 308 thì được coi như đã biết trước. Thật vậy, từ cuối tháng 6 sau khi ở Điện Biên Phủ trở về, một số đơn vị của đại đoàn được giao nhiệm vụ sửa chữa lại đường số 3-đoạn từ Thái Nguyên-Đa Phúc-Trung Giã. Đây là đoạn đường sắp tới sẽ có một phái đoàn quân sự của ta hàng ngày đáp xe từ Thái Nguyên xuống Trung Giã họp với phái đoàn quân sự Pháp thảo luận về những điều khoản ngừng bắn…


Đang phục vụ cho một công việc ngày mai sẽ có hoà bình, ngày mai chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam, thì đại đoàn nhận lệnh xuống Bắc Giang hoạt động.


Thật là tuyệt vời tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ đại đoàn Quân Tiên Phong, vì thắng lợi của Tổ quốc, đã vui vẻ lên đường. Ngày mai sẽ có ngừng bắn, hôm nay đại đoàn vẫn tiến công cứ điểm Thái Đào, vẫn vây hãm thị xã Bắc Giang, v.v… mặc dầu biết rằng sau trận đánh sẽ có hy sinh, mất mát.


Lệnh ngừng bắn đến với đại đoàn không có gì là đột ngột. Nhưng phút đầu tiên nhận được lệnh này không ai ghìm nổi niềm vui sướng. Vẫn biết cái ngày chiến thắng đó phải đến, nhưng khi đến rồi lại xúc động không nói nên lời. Tất cả cán bộ, chiến sĩ của đại đoàn Quân Tiên Phong luôn luôn hướng về Đảng, về Bác Hồ, tin tưởng ở người chèo lái vĩ đại đưa con thuyền kháng chiến Việt Nam tới bến chiến thắng vinh quang. Giờ đây-giờ phút vinh quang áy đã đến. Tất cả mọi người trong giờ phút đầu tiên của ngày chiến thắng-ngày hoà bình này lại nghĩ ngay đến Đảng vĩ đại, đến Bác Hồ kính yêu. Chiến công này trước hết thuộc về Đảng và Bác Hồ. Đảng và Bác đã dẫn dắt nhân dân ta, đã bồi dưỡng và giáo dục quân đội trong đó có đại đoàn 308 chúng ta chiến đấu và chiến thắng. Cả đại đoàn trong những ngày này đều tưởng nhớ những đồng đội của mình đã hy sih anh dũng trên các nẻo đường chiến đấu-ở mặt trận Hà Nội, mặt trận Biên Giới, mặt trận Trung Du, mặt trận Đồng Bằng, mặt trận Tây Bắc, mặt trận Điện Biên Phủ và mặt trận đường số 13-Bắc Giang mới đây. Các đồng chí đã hiến dâng cả đời mình cho truyền thống đại đoàn Quân Tiên Phong, cho truyền thống Quân đội nhân dân, cho sự nghiệp thắng lợi hôm nay của dân tộc.


Đại đoàn thu quân và cùng với nhân dân vùng trung du-Bắc Giang dựng cổng chào, dựng cờ kết hoa, tấp nập như ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công…

Ngày về chiến thắng


Tháng Tám năm 1954, lại một vinh dự lớn nữa đến với chúng tôi, Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ trao cho đại đoàn 308 nhiệm vụ vẻ vang, tiến về tiếp quản Thủ đô.

Nói sao cho hết niềm vui sướng này? Vui sướng nhất, cảm động nhất là những đồng chí từng chiến đấu ở Hà Nội những ngày đầu kháng chiến, rồi từ Hà Nội ra đi với lời nguyền “ta thề Thủ đô chiến thắng quân thù”. Những đồng chí chưa từng đến Hà Nội bao giờ cũng đều tha thiết với Hà Nội, đều náo nức với “ngày về”; về nơi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, nơi Người phát lệnh “Toàn quốc kháng chiến” và khẳng định kháng chiến nhất định thắng lợi.


Nhưng tiếp quả một thành phố hàng chục vạn dân, một nơi mà trong nhiều năm qua bọn xâm lược Pháp đã lấy làm trung tâm chống phá cách mạng thì đâu phải chỉ là một cuộc tiến quân về trong cờ hoa muôn sắc, kèn trống tưng bừng.


Từ tháng sau, tháng bảy, trong khi hội nghị Giơ-ne-vơ đang tiến triển còn chưa ngã ngũ, bọn đế quốc Pháp-Mỹ đã thúc đẩy các đảng phái chính trị phản động do chúng nặn ra, tiến hành hoạt động chống phá. Giữa tháng 7, tại Hà Nội, bọn Việt gian hô hào “quốc dân bình tĩnh”, chúng tung dư luận xảo trá “Việt Minh chia cắt đất nước, nhường Nam Việt cho Pháp để độc chiếm Bắc Việt”; chúng nặn ra cái gọi là “Uỷ ban bảo vệ Bắc Việt” và cái “trung đoàn thủ đô” để tập hợp lực lượng phản động. Tuy nhiên, trò hề chỉ là trò hề, những cái gọi là “Uỷ ban” và “trung đoàn” ấy không sống được mấy ngày trước không khí tràn đầy phấn khởi của đông đảo nhân dân Hà Nội đang từng ngày từng giờ mong ngóng “ngày về” của quân đội cách mạng, chiến đấu vì sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.


Cũng từ tháng 7, ở Hà Nội mọc lên những “trại di cư”. Cả bọn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng thống nhất với nhau trong âm mưu cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam. Báo chí của bọn Việt gian lại một dịp làm chiến tranh tâm lý, đưa ra luận điệu “Không thể sống được với cộng sản”. Kẻ địch ráo riết thực hiện âm mưu trao trả chúng ta một Hà Nội tan hoang, xơ xác, rỗng tuếch, một Hà Nội với đầy cạm bẫy của chúng gài lại.
Như vậy việc tiếp quản Hà Nội là một cuộc đấu tranh rất phức tạp trên nhiều mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế và phải có sự phòng bị về quân sự. Cuộc đấu tranh ấy không chỉ diễn ra khi ta đến, địch đi, mà từ ngày địch cuón gói từng bước; và một khi ta đến, phải tạo ngay được một không khí mới tin tưởng phấn khởi, vui tươi, xua tan những lo âu, mặc cảm. Trách nhiệm nặng nề đó, Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho quân đội. Chính vì thế mà Hồ Chủ tịch đã viết “Mấy lời căn dặn các đơn vị bộ đội vào thành”. Người dạy:

“Suốt tám năm kháng chiến, các chú đã làm kiểu mẫu anh dũng, do đó mà chúng ta đã thắng lợi. Nay chúng ta về thành thị, các chú cũng phải làm kiểu mẫu đúng đắn, để giành lấy thắng lợi trong hoà bình”.


Riêng đối với đại đoàn 308, Hồ Chủ tịch triệu tập cán bộ từ đại đội trở lên, đến Đất tổ, giành cho một giờ học tập mà sử sách còn ghi mãi mãi.

Tôi không được vinh dự có mặt trong buổi nghe Người chỉ giáo hôm đó vì đang cùng với các đồng chí Trần Quốc Hoàn, uỷ ivên Trung ương Đảng, bí thư Đảng uỷ tiếp quản Thủ đô, Nguyễn Văn Trân về gần Hà Nội nắm tình hình và tham gia chỉ đạo nhân dân đấu tranh. Khi về tôi được nghe đồng chí Song Hào, chính uỷ đại đoàn và các đồng chí trong phòng chính trị kể lại rất tỉ mỉ.

… Bác Hồ hồng hào khỏe mạnh lắm, trời thu lành lạnh mà vẫn phong phanh trong bộ quần áo phin màu nâu. Bác gặp cán bộ của đại đoàn ở sân Đền Giếng, dưới chân núi Nghĩa Lĩnh. Bác hỏi thăm “Các chú có mệt không?” rồi chỉ lên núi, phía Đền Thượng, thân mật hỏi:

-Các chú có biết đây là nơi nào không?

-Thưa Bắc, đây là Đền Hùng.

-Đúng, đền thờ vua Hùng-tổ tiên chúng ta. Bác cháu ta gặp nhau ở đây tuy tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa các vua Hùng dựng nước, nay Bác cháu ta là những người giành lại đất nước. Cá vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước. Trải qua bao nhiêu thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được Thủ đô. Tám chín năm nay do quân dân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi trở về Hà Nội. Vì thế các chú được Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô là được nhận một vinh dự rất lớn.


Bác nói về âm mưu và cuộc đấu tranh hiện nay của nhân dân Hà Nội cũng như ở các vung địch đang chuẩn bị rút; về sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đối với nhiệm vụ lần này của đại đoàn 308. Bác ân cần căn dặn: Khi vào tiếp quản Thủ đô, các chú phải hết sức đề phòng những âm mưu mà kẻ thù của hoà bình sẽ dùng để phá hoại hàng ngũ chúng ta. Các chú phải luôn luôn giữ gìn phẩm chất cách mạng, cán bộ sống gương mẫu, giản dị, bộ đội phải kỷ luật nghiêm minh. Nếu ai cũng giữ vững lập trường cách mạng và làm đúng chính sách thì không sợ một kẻ thù nào cả. Quân đội ta không được vì hoà bình mà lơi tay súng. Còn đế quốc ở miền Nam, còn đế quốc trên thế giới thì còn phải xây dựng quân đội mạnh mẽ…


Khi kết thúc buổi nói chuyện, Bác nhấn mạnh: Chính phủ đã đề ra mười điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ và nhân viên công tác khi vào thành phố mới giải phóng. Bác mong bộ đội nghiêm chỉnh chấp hành, phải gương mẫu đúng đắn. Được không? Anh em ta đứng dậy hứa với Bác hoàn thành nhiệm vụ và chúc Bác khỏe, sống lâu. Bác tươi cười hiền hậu đáp lại: Được, muốn Bác vui khỏe sống lâu, các chú hãy làm đúng những lời Bác căn dặn. Bộ đội vỗ tay ran ran tiễn Bác.

Trước khi lên xe, Bác quay lại vẫy tay chào tạm biệt…

Một cuộc họp Đảng uỷ đại đoàn được triệu tập bàn việc lãnh đạo bộ đội chấp hành chỉ thị của Bác Hồ về công tác tiếp quản Thủ đô. Cũng trong cuộc họp này, Đảng uỷ đã dành thời gian rút kinh nghiệm các lần tiếp quản trước đo để làm tốt hơn nữa khi vào Thủ đô lần này.


Chúng tôi không mấy ai quên những khuyết điểm đã mắc khi tiến vào giải phóng thị trấn Thất Khê hồi chiến dịch Biên Giới thu đông năm 1950. Hồi đó qua mười ngày liên tục vận động đánh viện binh địch ở vùnh Khau Luông-Cốc Xá, bộ đội thấm mệt, khi tiến về Thất Khê bắt gặp một thung lũng đẹp, có cánh đồng thoáng rộng, có nước suối trong, có phố xá buôn bán sầm uất, hàng hoá, thực phẩm nhiều, mọi người nảy sinh tư tưởng nghỉ xả hơi. Lúc này tuy địch đã rút chạy, nhưng trong thị trấn còn nhiều việc cần giải quyết: tiếp tục truy quét tàn quân địch, giữ gìn trật tự an ninh, tuyên truyền giải thích chính sách, tổ chức nhân dân mau chóng trở lại làm ăn bình thường, nhưng phải sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu địch. Tình hình khẩn trương đó đòi hỏi bộ đội phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững kỷ luật vùng giải phóng, phải thể hiện phong thái đàng hoàng, chững chạc của một đội quân cách mạng, thì một số cán bộ, chiến sĩ đã mắc sai lầm, kỷ luật không nghiêm, lơ là với nhiệm vụ tuyên truyền,giáo dục và tổ chức quần chúng sẵn sàng chiến đấu và trở lại làm ăn bình thường; chấp hành chính sách chiến lợi phẩm không tốt. Tất cả đều do lãnh đạo buông lỏng, gây nên ảnh hưởng xấu.


Tất nhiên những thiếu sót ấy đã được kịp thời ngăn chặn. Những ai vi phạm kỷ luật đều bị nghiêm trị, và sau đó các mặt công tác tiếp quản được tiến hành chu đáo. Nhưng chúng tôi vẫn coi đây là một lần không hoàn thành nhiệm vụ, một thất bại, phẩm chất của quân đội cách mạng bị vi phạm nghiêm trọng. Những bài học rút ra từ “vụ thất bại tiếp quản Thất Khê” được đem ra giáo dục cho tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn. Nhờ đó, qua các chiến dịch tiếp theo, xuống trung du, về đồng bằng, lên Tây Bắc, sang Thượng Lào, ai nấy đều cố gắng tẩy rửa “tiếng xấu” đó, duy trì kỷ luật chiến trường thật nghiêm, cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ gương mẫu trước chiến sĩ.


Do đó đến khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, đại đoàn 308 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp quản tập đoàn cứ điểm này, góp hần nhanh chóng trả lại màu xanh cho cánh đồng Mường Thanh.

Chúng tôi đã có một số kinh nghiệm tiếp quản.

Nhưng nhiệm vụ tiếp quản Hà Nội lại khác hẳn. Một mặt phải đề phòng âm mưu tráo trở và mọi hành động phá hoại của kẻ địch, bảo vệ tài sản của Nhà nước cũng như tính mạng và tài sản của nhân dân. Mặt khác phải mang về Thủ đô một luồng không khí phấn khởi tự hào với chiến thắng của dân tộc; một tinh thần đoàn kết, cách mạng; một phong cách sinh hoạt văn minh, lành mạnh, xua tan những uế khí của một thành phố đông dân đã qua nhiều năm bị địch sử dụng làm một trung tâm chống phá cách mạng, một nơi ăn chơi truỵ lạc phục vụ cho quân đội viễn chinh của chúng.


Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn xác định đây là một cuộc chiến đấu hết sức phức tạp giữa cách mạng và phản cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, ta quyết thắng và phải thẳng trọn vẹn.

Toàn đại đoàn phấn khởi triển khai thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này với một tinh thần khẩn trương, nghiêm túc và rất cụ thể.

Cơ quan tham mưu cử cán bộ đi trước, cùng với các đội công tác của Chính phủ vào thành phố nghiên cứu các cơ quan, công sở, nhà máy mà ta sẽ tiếp nhận, đồng thời nắm tình hình mọi mặt để đặt kế hoạch cho bộ đội tiến vào tiếp quản Thủ đô, luôn luôn giữ vững thế chủ động.


Cơ quan hậu cần lo chuẩn bị vật chất từ gạo củi, thức ăn đến các nhu cầu lặt vặt khác, đảm bảo cho hàng vạn con người trong một tháng không phải ra mua ở ngoài phố, ngoài chợ.

Cơ quan chính trị soạn thảo các tài liệu, in các điều quy định, các chính sách vùng mới giải phóng của Chính phủ để giáo dục sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần và động viên nhắc nhở bộ đội nghiêm chỉnh chấp hành. Công tác giáo dục tiến hành liên tục gần một tháng gồm nhiều nội dung: từ những vấn đề xây dựng quan điểm lập trường, phẩm chất đạo đức của ngườ quân nhân cách mạng, đến việc hướng dẫn bộ đội nhữg điều cụ thể trong sinh hoạt ở thành phố, v.v…


Trong khi theo dõi công tác giáo dục bộ đội, tôi đã đọc và nhớ mãi một đoạn trong tài liệu giáo dục nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ đề cao cảnh giác, tích cực rèn luyện giữ vững phẩm chất cách mạng: “Trong chiến tranh anh đã anh dũng xông pha lửa đạn, không ngã trước viên đạn bằng đồng, nhưng hãy cẩn thận trong hoà bình, nếu không giữ được phẩm chất cách mạng, anh có thể “chết” vì những viên đạn bọc đường. Trước kẻ thù hung dữ, trang bị đến tận răng, anh có thể là một anh hùng, nhưng đi vào một xã hội sa hoa, phù phiếm, nếu không giữ vững phẩm chất cách mạng chưa chắc anh đã có dũng khí vượt qua…”


Sự so ánh thật đối nghịch, tưởng như vô lý nhưng lại là một lời khuyên nhủ chí tình, rất thực tế. Phải tự tin, phải có bản lĩnh, nhưng tuyệt đối không lúc nào chủ quan cho mình là toàn thiện toàn mỹ cả. Phẩm chất con người không thể chỉ đánh giá bằng năm tháng tham gia đấu tranh cách mạng, mà còn là ở tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực liên tục của bản thân để vươn lên theo kịp với đòi hỏi không ngừng của cuộc sống, của nhiệm vụ cách mạng trong các giai đoạn khác nhau.


Đợt giáo dục tiến hành thật khẩn trương, chan hòa tình đồng chí. Anh em chỉ cho nhau những điều hơn lẽ thiệt và cũng xác định một thái độ nghiêm khắc với bất cứ sai lầm nào. Với kết quả của đợt giáo dục, Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn có thêm cơ sở để hạ quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để trong nhiệm vụ mới, thực hiện tốt chỉ thị của Bác Hồ về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô.


Những bài học trong các trận chiến đấu với kẻ địch bằng xương bằng thịt trước đây vẫn thích hợp với trận chiến đấu mới với kẻ địch vô hình (chiến đấu về tư tưởng). Một mặt tăng cường giáo dục, tăng cường tổ chức, động viên mọi người giữ vững phẩm chất đạo đức, nhưng cũng cần phải xử lý kỷ luật thật nghiêm khắc với nhưng ai vi phạm. Mọi thắng lợi khi vào tiếp quản sau này đã chứng tỏ giáo dục phải đi đôi với tổ chức kỷ luật, không được coi nhẹ mặt nào.

Chúng tôi phân công nhau xuống các đơn vị kiểm tra mọi mặt công tác chuẩn bị lần cuối cùng trước khi bước vào trận “chiến đấu đặc biệt”.

Và Ngày về mong đợi đã đến-Về trong chiến thắng!

Ngày 2 tháng 10 năm 1954, đồng chí Trần Danh Tuyên dẫn đầu một đoàn cán bộ hành chính vào Hà Nội ký nhận bàn giao mọi mặt với đại diện Bộ chỉ huy quân đội Pháp. Tiếp đó một số phân đội của đại đoàn 308 được lệnh vào trước để cùng canh gác với binh lính Pháp tại các địa điểm trọng yếu.


Ngày 8 tháng 10, gió mùa đông bắc tràn về. Trời u ám, mưa lất phất. Về chiều mưa càng nặng hạt. Phố xá cừa đóng im lìm. Tại thành phố Hà Nội, quân Pháp làm lễ cuốn cờ. Cũng kèn đồng rúc inh ỏi, cũng những đội lê dương xếp hành dọc thẳng tắp. Lá cờ ba sắc của đế quốc Pháp từ từ tuột xuống. Tướng Mát-xông, tư lệnh các đơn vị triệt thoái đứng dưới chân cột cờ sơn trắng, buồn rầ giơ hai tay đỡ lấy lá cờ, gấp lại làm tư rồi trịnh trọng giao cho viên quan năm Đắc-giăng-xơ, viên sĩ quan kỳ cự chuyên coi đám lính gác thành này từ ngày quân Pháp khởi hấn ở Thủ đô. Ngay tối ngày 8 tháng 10, quân Pháp đã chuyển các bộ phận nặng như pháo binh, xe tăng sang bên Gia Lâm, chỉ còn để lại trong Hà Nội hai tiểu đoàn bộ binh và một số xe thiết giáp, xe vận tải.

Hà Nội náo nức mong chờ đoàn quân chiến thắng trở về.

Không khí ngày hội khải hoàn bắt đầu đổ về vùng ngoại thành, bên ngoài các cửa ô.

Bộ đội tấp nập kéo về, người, xe xếp thành đội ngũ chỉnh tề, dọc các đường cái lớn đi vào Thủ đô.

Trong các làng, các thôn xã thuộc huyện Từ Liêm, Thanh Trì nhà nào nhà ấy sáng đen, đỏ lửa, quân dân hội họp ca hát, trò chuyện thâu đêm.

Ngày 9 tháng 10 năm 1954, tại sở chỉ huy đại đoàn đặt ở bên đường Hà Đông-Hà Nội, chúng tôi vui sướng, hồi hộp theo dõi từng bước đi của ba cánh quân tiến về Hà Nội theo kế hoạch đã được Bộ Tổng tư lệnh chuẩn y. Mỗi cánh quân là một tiểu đoàn:

Cánh thứ nhất, qua ô Cầu Giấy vào vườn hoa Cửa Nam rồi quành sang trái vào tiếp nhận Thành Hà Nội, nhà máy điện, nhà máy nước, phủ toàn quyền.

Cánh thứ hai, theo đường số 6 qua Cầu Mới vào đến Ngã Tư Sở rẽ phải vào tiếp quản sân bay Bạch Mai, bệnh viện Bạch Mai, khu ga Hà Nội.

Cánh thứ ba, tiếp nhận các công sở từ khu vực Việt Nam học xá, Đồn Thuỷ, khu hồ Hoàn Kiếm.


Đúng 16 giờ 30 phút, khi toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên cùng với viên đại tá Đắc-giăng-xơ sang Gia Lâm thì cả Hà Nội bừng lên, tràn ngập cờ hoa, sắc áo, như một vườn hoa gặp tiết xuân nở rộ. Băng vải các màu căng ngang đường với những khẩu hiệu cắt theo các kiểu chữ cầu kỳ: “Hồ Chí Minh muôn năm!”, “Hoan hô đoàn quân chiến thắng trở về!”, “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm!”, v.v… Cổng chào mọc lên san sát suốt dọc các phố lớn, phố nhỏ, lối vào một ngõ ngang khuất nẻo cũng có cổng chào, dăng đèn kết hoa.


Vẫn biết Hà Nội hướng về kháng chiến, vẫn biết Hà Nội ngày đem mong đoàn quân chiến thắng trở về, vẫn biết trong những ngày Hà Nội đang may cờ, sắm hoa đón ngày chiến thắng, nhưng những cái biết trước đó dẫu cho có mạnh đến đâu cũng không bằng sự thật sinh động đang diễn ra trước mắt đoàn quân trở về. Mới trước đó ít phút, Hà Nội còn là thành phố vắng tanh với những lo âu, mặc cảm, cửa từng nhà đóng kín, thì sau đó ít phút, cả Hà Nội bừng dậy, hồi sinh, sôi động, náo nhiệt.


Đêm hôm đó Hà Nội nghiêm chỉnh chấp hành lệnh giới nghiêm của Uỷ ban Quân chính thành phố. Nhưng cũng là một đêm giới nghiêm đặc biệt, ra ngoài khuôn khổ của từ này. Đường phố sáng rực những dây đèn kết hoa, cờ bay phấp phới, nhân dân không ai ra khỏi nhà, nhưng nhà cũng mở cửa đến khuya, nhiều nàh chong đèn đến sáng, mỗi lần có đội tuần tra đi qua, các cánh cửa sổ lai mở hé, bà con trìu mến nhìn bộ đội ta hiền lành giản dị, dễ thương. Đã hơn ba nghìn đêm, kể từ tháng 9 năm 1945 quân Tưởng vào, rồi tháng 3 năm 1946 quân Pháp đến, cho đến bây giờ, Hà Nội mới có một đêm sạch bóng quân xâm lược, nên ai cũng muốn thức thật khuya để hưởng không khí thanh bình, êm ả của đêm giải phóng, ai cũng mong có một đêm nay để làm kỷ niệm trong đời mình đã từng sống ở Thủ đô.

Ngày 10 tháng 10 năm 1954-một ngày lịch sử.

5 giờ sáng hết giờ giới nghiêm, cả Hà Nội nhộn nhịp, vừa có cái không khí thiêng liêng của ngày Tết, vừa có cái tưng bừng rạo rực của ngày hội lớn-Hội chiến thắng-Thủ đô hoàn toàn giải phóng. Nhân dân quần áo chỉnh tề, cờ hoa rực rỡ từng đoàn, từng đoàn đứng đông nghịt trên các hè phố, các con đường được báo trước là có bộ đội sẽ đi qua…


Sáng nay sở chỉ huy đại đoàn di chuyển vào sân bay Bạch Mai cùng với các đơn vị bộ binh cơ giới, pháo binh, pháo cao xạ. Phía tây, trung đoàn Thủ đô tập trung ở trại Quần Ngựa. Phía đông trung đoàn 36 và trung đoàn 88 tập trung ở Việt Nam học xá.


Đại đoàn tiến vào Hà Nội theo ba hướng, tất cả gặp nhau ở Hồ Gươm. Dẫn đầu là trung đoàn Thủ đô, tiếp theo là trung đoàn 36, trung đoàn 88.

Hôm qua Hà Nội rợp bóng cờ. Hôm nay Hà Nội là rừng cờ và hoa. Càng tiến sâu vào trong lòng Hà Nội, càng khó nén nỗi xúc động, mắt nhoà lệ vì niềm vui gặp mặt, niềm vui về lại Thủ đô. Nhất là các cán bộ, chiến sĩ năm xưa đã chiến đấu trên mảnh đất này khi được lệnh ra đi đã hứa với Hà Nội “sẽ trở về”, lời hứa đó hôm nay đã thành sự thật “ra đi hẹn một ngày về, Ba Đình còn đó, Người thề còn đây”. Từng đoàn thiếu nữ ôm hoa đổ ra đường tặng bộ đội, cài lên súng, tung lên xe.


Những tốp thiếu nhi tay vốc từng nắm hao giấy tung lên như thả những đàn bướm muôn mày nhỏ li ti bay sà vào những chiếc xe trận đang từ từ lăn bánh đi qua. Nhân dân hò reo phất cờ, vẫy hoa. Bộ đội đi giữa rừng cờ, rừng hao, rừng người tươi như hoa…


Từ Hồ Gươm, đoàn quân chiến thắng tiến qua các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Đồng Xuân lên Cửa Bắc, vào thành Hà Nội, tập trung tại sân vận động Cột Cờ Hà Nội. Cả Hà Nội dồn về Cột Cờ chờ đón giây phút lịch sử. Đã 70 năm kể từ ngày Hà thành thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết, cột cờ do nhà Nguyễn xây dựng nên phải đeo cờ Tây, cờ Nhật, cờ Tàu Tưởng rồi lại cờ Tây, giờ đây mới được mang cờ Tổ quốc. Tối qua, bộ đội công binh của đại đoàn đã lắp lên đó một ống thép nặng hai tạ, cao 12 mét, cao vút, nâng lá cờ Tổ quốc sừng sững hiên ngang.


15 giờ, còi nhà hát Thành phố nổi lên một hồi dài. Đoàn quân nhạc cử Quốc thiều theo sự điều khiển của đồng chí Đinh Ngọc Liên, người nhạc trưởng già rất quen thuộc với nhân dân Hà Nội.

Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng-cờ Tổ quốc tung bay trên đỉnh cột cờ Hà Nội.

Trong buổi lễ chào cờ lịch sử này, tôi được vinh dự đọc thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào Thủ đô:

“Tám năm qua, Chính phủ phải xa rời Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhau nhưng lòng Chính phủ luôn luôn gần cạnh đồng bào.


Ngày nay do quân và dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, kháng chiến đã thắng lợi, Chính phủ lại trở về Thủ đô với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui khôn xiết kể!”.


Lời Bác thân mật thiết tha. Nhiều người không nén được xúc động, nước mắt rưng rưng. Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm… Tôi cũng xúc động không cầm được nước mắt, phải dừng lại ít phút, vì những tiếng hô chứa chan lòng kính yêu lãnh tụ của nhân dân Thủ đô.


Tôi nén xúc động, đọc tiếp thư Bác. Người dặn dò nhân dân Thủ đô hãy “đồng tâm nhất trí góp sức với Chính phủ, thì chúng ta nhất định vượt mọi khó khăn và đạt mục đích chung: làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn thịnh”.


Thư Bác đọc vừa chấm dứt thì tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” lại đồng thanh vang động trong sân vận động, qua loa truyền thanh lan qua các đường phố, mang lại trong lòng mỗi người dân Thủ đô một luồng gió mới, một không khí mới, thanh thản, tươi vui, tin tưởng, ấm áp tình người để ngày mai bắt tay vào xây dựng lại Thủ đô to đẹp, xứng đáng là vị trí trung tâm chính trị và văn hóa của cả nước.

Những ngày này với cương vị Chủ tịch Uỷ ban Quân chính thành phố, hàng ngày tôi được tiếp nhiều đoàn khách trong nước và ngoài nước, phải cùng với các ngành, các giới giải quyết công việc sản xuất và đời sống của Thủ đô. Qua các cuộc tiếp xúc và bàn bạc công việc đó, đại diện các cơ quan, đoàn thể luôn luôn tỏ lời khen bộ đội ta vào Thủ đô đã nghiêm chỉnh chấp hành mọi chính sách của Đảng và Chính phủ. Toàn bộ tài sản của Nhà nước đã được cán bộ, chiến sĩ quý trọng và giữ gìn chu đáo, khi bộ đội bàn giao lại các công sở cho các cơ quan Nhà nước không thiếu một vật nhỏ, thậm chí cái bàn, cái ghế trong đó lúc vào đặt ở đâu, lúc ra vẫn ở nguyên đó.


Một ngày cuối tháng 12 năm 1954, các đại biểu của nhân dân Thủ đô được mời đến Bắc Bộ phủ gặp Bác Hồ. Đây là lần đầu tiên kể từ ngày Hà Nội giải phóng, Bác ra mắt nhân dân. Tôi được vinh dự đi cùng với Bác đến Bắc Bộ phủ. Hôm ấy Bác vui, thân mật hỏi han công việc làm ăn của nhân dân, thăm hỏi sức khỏe của các cụ già, âu yếm các cháu thiếu nhi. Buổi gặp mặt tràn đầy không khí chan hoà, ấm cúng chuyện trò cởi mở.
Trong cuộc họp mặt này, tôi được Bác giới thiệu với các đại biểu: Đồng chí Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Uỷ ban Quân chính thành phố Hà Nội, cũng là con em của nhân dân Hà Nội ta đấy. Tôi đứng nghiêm đáp lại lời giới thiệu thân mật ấy của Bác trước các đại biểu. Nhưng phải đứng nghiêm hơi lâu vì các cháu thiếu nhi rất hồn nhiên và cũng hơi có tính địa phương chủ nghĩa, đã có tình kéo dài một dịp hoan hô “anh bộ đội Thủ đô”.


Buổi họp trật tự trở lại, Bác vui vẻ nói tiếp: Bộ đội ta đánh nhau nhiều trận, gối đất nằm sương, gian khổ nhiều, đi đâu cũng được đồng bào quý mến. Tôi nghe nói đồng bào Thủ đô rất hoan nghênh bộ đội, tôi rất vui lòng. Cả căn phòng lớn của Bắc Bộ phủ lại vang lên tràng pháo vỗ tay thật dài. Tôi đứng dậy đáp lại lời biểu dương của Bác và lòng yêu mến của các đại biểu, bỗng nhiên tôi nhớ lại hồi tổng kết chiến dịch Tây Bắc thu đông năm 1952, bộ đội thắng rất to, được Bác Hồ khen là “Bác bằng lòng các chú”, lần này Bác khen cao hơn, Bác “rất vui lòng”.


Hạnh phúc nào bằng khi được đứng trước nhiệm vụ khó khăn ta không nản chí, không kêu ca, không đặt điều kiện, trái lại, xác định quyết tâm làm và tìm mọi biện pháp khắc phục để làm tốt.

Vinh quang nào bằng, dù làm bất cứ công việc gì, chiến đấu hay công tác, nhiệm vụ nhỏ hay nhiệm vụ lớn, đều lập được thành tích xuất sắc, được lãnh tụ biểu dương, được nhân dân thừa nhận.

Được như vậy là do Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu dìu dắt, được nhân dân đùm bọc, toàn thể cán bộ, chiến sĩ đại đoàn đoàn kết nhất trí, không ngừng trau dồi bản lĩnh, truyền thống, bản chất quân đội cách mạng.

Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn thông báo kịp thời lời biểu dương của Bác Hồ xuống các đơn vị và phát động thi đua thực hiện tốt lời căn dặn của Người: “Chớ vì có thành tích mà chủ quan. Phải luôn luôn cảnh giác, và giữ kỷ luật chặt chẽ. Phải luôn luôn thi đua học tập và công tác, mở rộng tự phê bình và phê bình để tiến bộ mãi, để làm cho bộ đội ta càng thêm hùng mạnh, chính quyền ta càng thêm vững chắc”.


Đầu năm 1955, nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô đã hoàn thành, đại đoàn 308 được rút ra ngoại thành đóng tập trung để tiến hành huấn luyện theo chương trình mới. Tôi được Bộ quyết định rời đại đoàn, đi nhận nhiệm vụ tư lệnh Quân khu III. Các cuộc chia tay đều bịn rịn cả, nhưng chia tay giữa những con người từng chia ngọt sẻ bùi, sống chết, buồn vui có nhau mới bịn rịn làm sao, không buồn nhưng nhớ, nhớ những người đang còn, nhớ những người đã khuất, nhớ những ngày đêm cùng nhau tập luyện dầm mưa dãi nắng, nhớ những nơi đóng trại trong rừng già Thái Nguyên, bên đồi chè Phú Thọ; nhớ những chiến trường mà đại đoàn đã đi qua…


Nhìn các cán bộ đại đoàn có măt trong buổi liên hoan chia tay hôm nay, hầu hết đang tuổi thanh xuân, khuôn mặt rạng rỡ niềm lạc quan, tin tưởng, bỗng tôi nhớ về cái tuổi ấy của tôi-tuổi của một thanh niên cố nông phải lìa bỏ quê hương đi kiếm sống, vào làm công nhân xe lửa Lao Cai-Vân Nam. Hết bị áp bức bóc lột của bọn địa chủ, phong kiến lại chuyển sang ách áp bức bóc lột cảu bọn thực dân, đế quốc. Giữa lúc sống trong cảnh đen tối đó, tôi được Đảng giác ngộ, chỉ cho con đường đi tới lý tưởng hết đói nghèo, hết áp lực và bất công. Được Đảng khuyến khích và tạo điều kiện, tôi say mêm tìm thầy học võ thuật, và tìm mọi cách qua bọn cai đội của quân đội đế quốc mà học; học sử dụng các loại vũ khí với lòng mong ước được xung vào đội vũ trang của Đảng để đánh đổ kẻ thù của dân tộc và giai cấp. Nhớ những ngày ở trong lao tù đế quốc, thực hiện khẩu hiệu “biến nhà tù đế quốc thành trường học!”, những đảng viên Cộng sản chúng tôi lại càng ra sức học tập, học lý luận, học văn hóa; dạy nhau những tri thức quân sự, cùnh nhau bàn luận về chiến thuật, về thế trận một cách say mê. Lại nhớ đến một hôm sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, tôi lái xe ô tô đưa đồng chí Văn Tiến Dũng từ Chi Nê về Xuân Mai, dọc đường vắng vẻ, vì mải mê nhìn địa thế xung quanh có nhiều giá trị về mặt quân sự mà lao xe xuống ruộng, xe bị lật người không việc gì. Nhưng từ đó, theo lệch của đồng chí Dũng, tôi không được phép lái xe nữa.


Đảng đã giáo dục, dìu dắt tôi trở thành người thanh niên có lý tưởng, thành người đảng viên cộng sản, thành một chiến sĩ cách mạng và thành một cán bộ quân sự của Đảng; đồng chí, đồng đội lại tiếp thêm sức cho tôi, giúp đỡ tôi trưởng thành và tiến bộ, tạo cho tôi được góp phần cùng các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ của Đảng giao cho.


Và còn biết bao nhiêu kỷ niệm nữa dồn dập hiện về trong tâm trí tôi, những kỷ niệm đã gắn bó tôi với quân đội và riêng với đại đoàn Quân Tiên Phong nơi tôi được thử thách, tôi luyện lâu nhất…

Trong buổi liên hoan chia tay không có rượu nồng mà rất “say”-say về tình cảm đồng chí, đồng đội, chan hoà, gắn bó keo sơn đã, đang và sẽ giúp tôi tiến bộ, trưởng thành. Nghèo về vật chất mà giàu về tinh thần, có nhạc, có thơ, toàn là “nhạc và thơi Quân Tiên Phong”, khiến nỗi nhớ trong tôi càng da diết, cứ như người sắp phải rời mái ấm đi xa.

Anh em hứa hẹn ở lại tiếp tục xây dựng đại đoàn 308, phát huy truyền thống Quân Tiên Phong.

Còn tôi, đã trưởng thành với Quân Tiên Phong, hôm nay ra đi nhận nhiệm vụ mới, thật vô cùng xúc động; tôi không khỏi không nhớ đến chặng đường xây dựng và chiến đấu của đại đoàn. Sáu năm-một chặng đường dài, từ buổi ban đầu tập hợp lực lượng xây dựng đại đoàn trên đất Thái Nguyên cho đến Ngày về trong chiến thắng, đại đoàn 308 luôn luôn giữ vững danh hiệu Quân Tiên Phong:

“Hễ đánh là thắng;

Hễ đánh là tiêu diệt sinh lực địch

Ngày càng lớn mạnh;

Quyết định chiến trường”.


Điều đó có nhiều nguyên nhân. Trước hết do có đường lối chỉ đạo chiến tranh đúng đắn và sáng tạo của Đảng soi đường; do thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ và rộng khắp vừa là nguồn vô tận bổ sung lực lượng cho đại đoàn, vừa cài, kéo, căng, vây quân địch, tạo điều kiện, tạo thời cơ, tạo thế trận cho đại đoàn 308 ra quân là giành thắng lợi giòn giã.


Những thuận lợi cơ bản ấy sở dĩ phát huy được tác dụng còn phải do sự nỗ lực chủ quan về mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn, mà điều nổi bật của sự nỗ lực đó được biểu hiện ở ý thức chấp hành mệnh lệnh. Mệnh lệnh ban ra trên dưới chấp hành, răm rắp. Bảo đứng là đứng lặng như tờ, bảo đi là chuyển động thần tốc, bảo đánh thì kiên quyết đánh, gian nan không quản ngại, khó khăn mấy cũng tìm ra cách đánh, hy sinh không sờn lòng, đã đánh là phải thắng. Chính cái tinh thần chấp hành mệnh lệnh vô điều kiện ấy đã tạo ra sự thống nhất, tạo ra sức mạnh, nhờ đó, mà Bộ chỉ huy đại đoàn dám quyết đoán trong chỉ huy, nhiều sáng kiến nảy nở trong tổ chức thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao, được cấp trên tin cậy, được nhân dân yêu mến và khiến kẻ thù phải khiếp sợ, luôn luôn hỏi nhau:

“308 ở đâu?”;

“Dò xem 308 đi hướng nào?”;

“Có phải 308 đã nổ súng ở đấy rồi không?”, v.v…

Dòng suy nghĩ của tôi bị cắt ngang bởi một câu hỏi đột ngột mà thân mật:

-Đại đoàn trưởng hãy nói với chúng tôi đi, trong qua trình sống với Quân Tiên Phong, điều gì sâu sắc nhất trong anh?

-Điều sâu sắc nhât trong những điều sâu sắc là những buổi tôi cùng với đại đoàn được vinh dự đón Bác Hồ đến thăm, được nghe Bác Hồ ân cần thăm hỏi và chỉ giáo.

Tiếng vỗ tay hoan hô râm ran, không khí buổi liên hoan bỗng sôi nổi hẳn lên, bởi tất cả chúng tôi ai cũng có những kỷ niệm về Bác, toàn đại đoàn đã có chung một kỷ niệm sâu sắc về Bác. Bác đã cùng đại đoàn hành quân đi chiến dịch Biên Giới, Bác đã gửi thư động viên đại đoàn sau khi tiêu diệt hai binh đoàn Le Page và Charton, Bác đã đến thăm đại đoàn sau chiến dịch Biên Giới toàn thắng; Bác đã đến chỉ giáo về bài học ”Quyết Tâm” trước khi đại đoàn lên đường tham gia chiến dịch Tây Bắc, Bác đã đến thăm và ngủ lại một đêm với đại đoàn sau chiến dịch Tây Bắc thắng lợi. Mỗi bước đi của đại đoàn đều có Bác dõi theo, mỗi bước trưởng thành, mỗi chiến công lập được của đại đoàn đều có công lao của Bác.


Quên sao được hình ảnh Cha già dân tộc đến vơi đại đoàn ở Đất Tổ, lời dạy hôm đó của Bác mãi mãi ăn sâu trong tâm khảm tôi: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Ngày về thắng lợi và thắng lợi trên đường về lại vẫn có Bác đi cùng chỉ lối.

Không khí buổi liên hoan càng đậm đà tình cảm đồng chí.

Một đồng chí khác hỏi tôi, nó đúng hơn đây là những điều đồng chí đó muốn tâm sự, trao đổi:

-Trong cuộc đời của người chỉ huy, anh có kinh nghiệm gì sâu sắc nhất?

-Quân lệnh như sơn-tôi trả lời ngay.

Quân lệnh như sơn, đúng là bài học kinh nghiệm sâu sắc nhất trong tôi, cái sâu sắc bị dồn nén từ lâu lúc nào cũng có thể nói được, nói với những dẫn chúng rất cụ thể của chính công việc mà đại đoàn đã thực hiện tốt trong các chiến dịch, các đợt hoạt động, các trận chiến đấu được trên giao.


Như thường lệ, các buổi liên hoan của đại đoàn đều kết thúc bằng bài hát Quân Tiên Phong: “Từ Thu đô súng thét toàn quốc vùng lên, đoàn người xa phố phường lên núi rừng. Sông Lô chiến công đầu, Bình Ca phơi xác thù…”.


Nhưng hôm nay, những người dự liên hoan hát đi hát lại nhiều lần, miệng hát, tay vỗ nhịp, người nghiêng ngả theo làn điệu. Chưa bao giờ chúng tôi xúc động với bài hát truyền thống ấy đến như vậy. Bởi lẽ trong lòng mỗi người đang rạo rực một niềm vui, đã hoàn thành nhiệm vụ của một chặng đường cách mạng, ai nấy đã thực sự trưởng thành trong chiến đấu, đều tự hào là một thành viên của Quân Tiên Phong, đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, có những truyền thống quý báu-truyền thống Quân Tiên Phong:

Kiên quyết chấp hành mệnh lệnh, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn mấy cũng vượt qua;

Đi đầu mọi mặt, xung phong nhận nhiệm vụ khó, coi đó là vinh dự;

Hành quân thần tốc, tiến công dũng cảm, chiến đấu linh hoạt, diệt địch đến cùng. 

 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam