Phần ba
NHỮNG ĐIỀU ĐỂ LẠI
YÊU ĐỘC LẬP, TỰ DO, CĂM THÙ ĐỊCH, QUYẾT TÂM CÁCH MẠNG CAO
Điểm xuất phát của tính gan góc, trí sáng tạo và sự quyết đoán của
người chỉ huy là ở chỗ phải biết tự mình khơi sâu mối uất ức hờn căm
đối với kẻ thù ngay trong lòng mình và trong lòng tất cả các chiến sĩ
của đơn vị mình xây dựng tinh thần têu dân tộc, yêu giai cấp, trau dồi
ý chí, quyết tâm cách mạng. Ngày suy nghĩ, đêm suy nghi, xem kẻ thù còn
tội ác gì nữa đối với bản thân mình, gia đình họ hàng mình, đối với dân
tộc, giai cấp mình - giai cấp cùng khổ nhất trong xã hội. Càng khơi hận
thù sâu sắc bao nhiêu thì uất ức hờn căm càng chồng chất bấy nhiêu,
càng tràn đầy sôi sục bấy nhiêu. Ngày quên ăn đêm quên ngủ, quyết tìm
trăm phương ngàn kế giết giặc rửa hờn. Chính lúc đó "tài ba” của người
chỉ huy sẽ được rèn luyện hun đúc. Đối với tôi điều này rất rõ. Hồi tôi
còn bé, mới chín, mười tuổi đầu, đi chơi đánh nhau với trẻ con ở nước
Trung Hoa thời phong kiến, chúng chửi tôi là "vong quốc nô”. Lúc đầu
tôi chưa hiểu gì, dần dần về sau tôi hỏi cụ Thắng - bạn của bố tôi. Cụ
cho biết họ chửi chúng ta là dân mất nước đấy. Nghe cụ giải thích, kể
chuyện bọn xâm lược đã xâm chiếm đất nước ta như thế nào, đã tàn sát
cướp bóc nhân dân ta ra sao, trái tim tôi cứ như bị đập mạnh, tôi nghẹn
ngào tức thở. Từ đấy, nghĩ đến hai chữ "mất nước", tôi lại thấy tủi
nhục, căm hờn vô cùng. Lớn lên tôi đi hoạt động cách mạng.
Năm 1943-1944, khi tôi còn bị giam cầm trong nhà tù đế quốc ở "căng" Bá
Vân và Nghĩa Lộ, chi bộ cử tôi phịu trách nhiệm huấn luyện kỹ thuật
chiến thuật quân sự cho các đồng chí của ta ở trong tù để chuẩn bị khởi
nghĩa phá ngục. Bọn đế quốc ra sức cấm đoán, theo dõi, nhưng không ngăn
cản nổi quyết tâm của chúng tôi. Những ngày ở trong tù, mỗi khi nhìn
thấy bọn Tây đồn trưởng bọn cai ngục... thì những hình ảnh đã in sâu
vào trí óc tôi từ thuở nhỏ lại hiện lên giày vò day dứt. Những cảnh vì
sưu cao thuế nặng mà phải bán vợ đợ con; vì túng thiếu nợ nần không trả
được mà bị bọn cường hào, lý trưởng sai tuần dỡ mất nhà; cảnh ba mươi
Tết có nhà bị vác mất cả đồ thờ, dỡ mất cả nồi bánh chưng đang luộc dở;
cảnh người lớn trẻ em bị quân xâm lược tàn sát dã man... Khi mới bốn,
năm tuổi, tôi đã phải theo ông tôi đi lang thang nay ở nhà này, mai ở
nhà khác, có khi ba, bốn ngày liền không có được một hạt cơm, thìa
cháo, phải nằm ép bụng xuống ổ rơm. Khi có vợ có con, tôi lại phải xa
nhà, và được tin gia đình tôi lâm vào cảnh hết sức túng thiếu, đói khổ.
Nhà bị dỡ mất vì không có tiền trả nợ. Những cảnh đau thương ấy cứ hiện
ra mãi trước mắt tôi.
Từ những nỗi cực nhục nghèo khổ của bản thân, của gia đình, khi tham
gia hoạt động cách mạng, được Đảng giáo dục, tôi thấy được cả nỗi cực
khổ của giai cấp, của dân tộc. Từ căm thù cá nhân, căm thù một nhóm
cường hào lý dịch, tới căm thù cả giai cấp bóc lột thống trị và bọn
thực dân đế quốc xâm lược. Những mối hận thù sâu sắc ấy là một trong
những động lực chủ yếu đã giúp tôi vượt mọi khó khăn, hướng dẫn các
đồng chí của mình luyện tập quân sự trong nhà tù đế quốc. Đi lấy củi
cũng luyện tập, đi làm cỏ vê, tưới rau cũng tìm cách luyện tập, nửa đêm
tỉnh dậy cũng luyện tập. Sau khi đấu tranh tuyệt thực ai nấy đều đói lả
nhưng cũng bắt tay vào luyện tập ngay. Mọi lúc mọi nơi, khi nào có thể
tranh thủ được là luyện tập. Miễn làm sao trau dồi được cho bản thân và
các đồng chí của mình một bản lĩnh chiến đấu vừng vàng để có thời cơ sẽ
vùng lên quật ngã kẻ thù. Đầu năm 1945, khi ban lãnh đạo nhà tù Nghĩa
Lộ tổ chức khởi nghĩa phá ngục, sức mạnh của hận thù, sức mạnh của bản
lĩnh đã giúp tôi xông lên quật đổ một thằng Tây to lớn gấp rưỡi mình.
Mười ngón tay của tôi rắn chắc như những chiếc đinh lớn cắm chặt vào cổ
nó. Nó nằm vật ra giãy giụa. Các đồng chí của tôi cũng nhảy xổ vào vật
lộn với bọn quỷ dữ khát máu - tay không quật ngã bọn giặc có vũ khí.
Chúng tôi băng mình vượt qua những hàng rào cao vút của nhà tù, chịu
đựng biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ trong rừng sâu, tìm đường trở về
với Đảng.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nghĩa Lộ được giải phóng,
nhưng một thời gian sau lại bị giặc Pháp chiếm đóng. Năm 1952, tôi được
thay mặt cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308, gặp Đại tướng Tổng tư lệnh nhận
nhiệm vụ: “Toàn đại đoàn thọc sâu vào trong lòng địch, tiêu diệt đồn Pú
Chạng, Nghĩa Lộ..., cùng các đơn vị bạn giải phóng Tây Bắc”. Mối hận
Nghĩa Lộ đã khắc sâu trong tim tôi, trong các chiến sĩ cách mạng và
nhân dân Tây Bắc. Nay tôi được cùng các chiến sĩ trở về trả thù, rửa
hận. Nghĩa Lộ trước kia thính là nơi bọn thực dân Pháp giam giừ các
chiến sĩ cách mạng, trong đó có tôi. Pú Chạng là một ngọn đồi cao cây
cối rậm rạp nơi tôi và đồng chí Nho - tức là đồng chí Lương Nhân - gặp
nhau sau khi vượt ngục. Người bị áp bức nhất định sẽ vùng lên kẻ đi áp
bức bóc lót thống trì nhất định sẽ bị người bị áp bức quật đổ.
Tôi hăm hở và vui mừng sau khi nhận nhiệm vụ. Sự việc cụ thể của lần tiến quân vào Tây Bắc, tôi xin nói ở một đoạn sau.
QUÂN LỆNH NHƯ SƠN
Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Quân sự dân chủ là
một yêu cầu và nội dung trong sinh hoạt và chiến đấu của quân đội ta.
Cán bộ và chiến sĩ, mọi người đều bình đẳng về chính trị, mọi người đều
có trách nhiệm đóng góp sự hiểu biết của mình để giải quyết công việc
chung. Nhưng sau khi thống nhất ý kiến thì đó trở thành nghị quyết của
tổ chức của đơn vị hoặc biến thành mệnh lệnh của người chỉ huy. Như
vậy, mệnh lệnh đó đã tổng hợp ý: kiến của tập thể qua hoạt động thực
tiễn phù hợp ý chí, đường lối và nhiệm vụ quân sự của Đảng. Người cán
bộ thay mặt cho đơn vị ra mệnh lệnh chung. Ý chí thống nhất thì hành
động phải thống nhất, muốn có hành động thống nhất thì phải có mệnh
lệnh.
Vì vậy mệnh lệnh là một trong những vấn đề rất quan trọng của người chỉ
huy. Mệnh lệnh phải chính xác, rõ ràng và ngắn gọn chấp hành lệnh phải
nghiêm túc, đầy đủ và sáng tạo. Khi một mệnh lệnh đã phát ra thì trăm
ngàn người như một, nhất nhất chấp hành một cách phấn khởi và tự giác.
Khi có lệnh nghiêm, dù có sấm sét dông tố trên đầu, đội ngũ vẫn chỉnh
tề, nghiêm chỉnh, vững vàng như Thái Sơn: khi có lệnh tiến, dù có sông
ngăn núi cách, mọi người vẫn kiên quyết, dũng mãnh vượt qua và lao lên.
Rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần nghiêm túc chấp hành mệnh
lệnh là việc phải làm thường xuyên trong quá trình xây dựng huấn luyện
bộ đội. Qua thực tế công tác và chiến đấu, tôi thấy một kinh nghiệm rất
quan trọng là muốn rèn luyện cho chiến sĩ và cấp dưới nghiêm chinh chấp
hành mệnh lệnh thì ngay bản thân mình - người chỉ huy - phải tuyệt đối
phục tùng mệnh lệnh của cấp trên, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên hết
sức nghiêm cách và sáng tạo tuyệt đối không vin lý do khách quan để trù
trừ do dự, thoái thác, hoặc chấp hành nhưng không phấn khởi, không tự
giác không thực hiện đến nơi đến chốn.
Bản thân người chỉ huy phải nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp
trên là rất quan trọng. Vì cấp dưới sẽ noi gương đó mà bắt chước. Dưới
đây tôi xin kể lại một câu chuyện chấp hành một mệnh lệnh tác chiến
trong chiến dịch Đông Xuân năm 1953-1954.
Ngày .... đồng chí Đại tướng trực tiếp gọi điện thoại ra lệnh cho tôi,
đại ý: “Đại đoàn cấp tốc chuyển sang nhận nhiệm vụ chiến đấu ở..., cho
đồng chí đại đoàn phó lên trên này nhận nhiệm vụ cụ thể".
Xong đồng chí hỏi tôi:
- Hiểu rõ ý định chưa?
Tôi trả lời:
- Rõ
Lúc đó tôi nghĩ cấp trên ra lệnh cho đại đoàn tôi đánh địch ở... là có
ý định ta luôn luôn giữ thế chủ động về chiến lược, buộc địch phải phân
tán lực lượng, cắt đứt sự liên hệ giữa A và C, cô lập quán địch cao độ
ở chiến trường A để tạo điều kiện tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đó. Đối
với tôi có một kinh nghiệm bản thân là mỗi khi nhận được lệnh của cấp
trên điều trước tiên là tin tưởng ở trên và suy nghĩ tìm mọi biện pháp
thực hiện thật tốt. Vì trên đã ra lệnh là đã có cân nhắc kỹ rồi.
Chính do sự nhất trí đó về mặt tư tưởng nên tôi thấy phấn khởi và càng tăng thêm niềm tin vào sự chỉ đạo của cấp trên.
Đồng chí Đại tướng còn nói thêm:
- Về lương thực đã chuẩn bị được một số, cán bộ địa phương sẽ giúp đỡ thêm.
Đồng chí nói cụ thể về số lượng và địa điểm. Đại thể cũng phải hành
quân bốn, năm ngày mới tới chỗ có gạo ăn, đó là khó khăn lớn nhất của
đại đoàn.
Sau khi nhận lệnh, tôi cấp tốc triệu tập hội nghị đảng ủy đại đoàn ngay
tại sở chỉ huy (hồi đó tôi phụ trách bí thư) để báo cáo nhiệm vụ mới và
bàn cách chấp hành. Mọi người đều nhất trí nhận định: Đó là ý định tác
chiến rất sáng suất, một đòn hiểm, một đòn bất ngờ đánh vào chỗ sơ hở
của địch. Nhưng làm được nhiệm vụ ấy, ngoài những thuận lợi cơ bản ra
thì đại đoàn phải vượt nhiều khó khăn. Đặc biệt mấy khó khăn lớn là:
- Chuyển biến tư tưởng như thế nào, trong khi đơn vị đang tập trung
hướng vào nhiệm vụ chuẩn bị đánh địch ở một nơi, nay đi làm nhiệm vụ ở
nơi khác, lại hết sức gấp rút.
- Toàn đại đoàn, trung bình mỗi người chỉ còn bốn lạng gạo, phải cấp
tốc hành quân tới một chiến trường rừng núi xa xôi, dân cư thưa thớt.
Trên đường đi, lấy gạo đâu cho đủ hàng vạn người ăn.
- Tình hình địch và địa hình chưa hiểu ra sao, đường sá chưa ai biết.
Ngoài ra còn một số khó khàn khác, như vấn đề giải quyết thương binh, vấn đề thông tin liên lạc và chỉ huy, v.v...
Đảng ủy còn phân tích kỹ về tình hình nhân dân, địa hình và địch. Cuối
cùng đảng ủy quyết nghị: "phải lãnh đạo toàn đại đoàn nghiêm chỉnh chấp
hành mệnh lệnh của trên. Cứ đi đã đi thật nhanh, nếu lề mề chậm chạp,
địch phát hiện được ý định của ta thì mất thời cơ. Công tác động viên,
giải thích vừa đi vừa làm. Vấn đề gạo ăn vừa đi vừa khắc phục...".
Thế là chỉ hơn ba giờ đồng hồ sau khi nhận lệnh, toàn bộ đại đoàn đã
xuất phát. Mặc dầu cán bộ, chiến sĩ chưa hiểu đầy đủ ý định của cấp
trên nhưng đã chấp hành mệnh lệnh một cách vô cùng kiên quyết và tuyệt
đối tin tưởng.
Trên đường hành quân, cán đơn vị vừa đi vừa phổ biến nhiệm vụ, giải
thích động viên bộ đội. Cán bộ, chiến sĩ đều hiểu rằng phải cơ động
linh hoạt tới nơi thực tế địch thế nào, địa hình thế nào, ta đánh thế
ấy. Vừa đi vừa kiểm tra, vừa đi vừa tìm hiểu thêm tình hình. Chính do
sự tin tưởng tuyệt đối ở cấp trên, toàn thể cán bộ, chiến sĩ của đại
đoàn - trăm, vạn người như một - tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, đồng
lòng nhất trì vượt mọi khó khăn, ra đi rất hăng hái và phấn khởi đi
liên tục ngày đêm với một tốc độ rất nhanh. Đến nay nghĩ lại, tôi thấy
cuộc hành quân chớp nhoáng đó thật là một sự kiện lớn lao, biểu hiện
khả năng cơ động phi thường của quân đội ta, tạo ra yếu tố bất ngờ rất
lớn, làm cho bọn địch có ô tô, có máy bay mà vẫn trở tay không kịp.
Giải quyết đủ lương thực ở nơi rừng núi xa xôi, nhân dân thưa thớt là
một vấn đề rất khó khăn. Nhưng tin vào dân, biết dựa vào dân: các đơn
vị đã tổ chức nhiều tốp đi trước cùng du kích địa phương vận động nhân
dân giúp đỡ thóc lúa. Các bộ phận đó đã làm cối, làm chày xay giã ngay
tại chỗ, lấy gạo chuyển cho bộ đội. Do tinh thần kiên quyết chấp hành
mệnh lệnh, nên cán bộ, chiến sĩ có hàng loạt biện pháp cụ thể để khắc
phục khó khăn. Do đó, toàn đại đoàn đã có đủ gạo ăn trong gần một tuần
hành quân cấp tốc và gần một tháng chiến đấu liên tục cho đến khi hoàn
thành nhiệm vụ, lui quân về vị trí tập kết vẫn còn thừa gạo.Về địa hình, đường sá không biết thì một mặt dựa vào các đồng chí quân
báo của đại đoàn cử đi trước, mặt khác còn dựa vào dân, nhờ du kích địa
phương dẫn đường. Vì vậy mà bảo đảm được cuộc hành quân nhanh chóng,
không lạc đường và còn nắm được tình hình phía trước.
Quán triệt ý định của cấp trên là phải hết sức giữ bí mật hướng tiến
quân ngay từ khi xuất phát cho đến trước khi nổ súng dọc đường hành
quân, đại đoàn không dùng phương tiện thông tin vô tuyến điện để chỉ
huy và liên lạc. Khi truy kích, đại đoàn tổ chức theo kiểu "sâu đọ” bố
trí từng chặng, một đài dừng lại làm việc, một đài đi. Tuy phương tiện
ít nhưng giữ được liên lạc thông suốt liên tục.
Để giải quyết thương binh, đại đoàn đã tổ chức nhiều trạm nhằm giải
quyết kịp thời và vận chuyển từng bước. Suốt thời gian chiến đấu liên
tục, ở nhiều hướng nhiều đơn vị hoạt động trên địa bàn rộng hàng trăm
ki-lô-mét, núi rừng rậm rạp, xa lạ, nhưng đã vận chuyển thương binh về
hậu phương đầy đủ.
Quá tình hành quân, tác chiến, chúng tôi luôn luôn nhận được điện của
Bộ chỉ đạo cụ thể, nhất là thông báo tình hình địch và ý định tác chiến
của ta.
… Khi địch rút chạy, đồng chí đại đoàn phó đi trước lập tức ra lệnh
trung đoàn 1 truy kích. Tôi ra lệnh trung đoàn 2 tiến lên tiếp xúc cho
các trung đoàn đi trước cùng truy kích địch.
Quán triệt tinh thần tích cực tiêu diệt sinh lực địch, được lệnh của
đại đoàn, bộ phận đồng chí tham mưu phó đại đoàn cùng quản báo của đại
đoàn vượt lên trước chuẩn bị thuyền cho bộ đội và lệnh tiểu đoàn đi
trước của trung đoàn 1 tranh thủ vượt sông ban ngày. Đồng thời bộ phận
đồng chí tham mưu phó đại đoàn cùng anh em quân báo tìm đường tắt vượt
lên trước địch để nắm tình hình và chặn địch. Sáng ngày .... bộ phận
này với lực lượng hơn một tiểu đội đã nổ súng chặn hơn một tiểu đoàn
địch đến gần tối. Trung đoàn 1 lập tức truy kích về phía có tiếng súng
nổ. Đại đội 261 và 263 đuổi thẳng về phía O.K. Đại đội 259 rẽ về phía
S.L., xuyên rừng vượt núi đón đầu quân địch. Ngay trưa hôm đó, quân
địch đã bị công kích quyết liệt. Phía trung đoàn 3 cũng biểu hiện tinh
thần chiến đấu tốt. Hồi 17 giờ ngày.... một tiểu đoàn của trung đoàn
tới... gặp địch đang chuẩn bị rút lui. Quân ta lập tức công kích. Quân
địch bị đánh bất ngờ không kịp đối phó. Trên đường truy kích tới...,
tiểu đoàn này đã tiêu diệt trên 100 tên địch. bắt sống 82 tên. Trong
chiến đấu, các chiến si của đại đoàn đã tỏ ra vô cùng tự tin và anh
dũng, kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch. Có một tổ 4 người đã ngăn
chặn và đánh lui hai đợt xung phong của hai đại đội địch. Có đơn vị vừa
hành quân, vừa chiến đấu đuổi giặc suốt 5 ngày đêm không nghỉ, chỉ ăn
cháo và lương khô mà cũng không đủ, phải ăn thêm rau rừng, nõn chuối.
Hai tiểu đoàn của trung đoàn 3 đã nhịn đói suốt hai ngày liền đuổi
giặc. Những ngày 30, mồng một Tết Nguyên đán là những ngày bộ đội nhịn
đói nhưng đánh giặc rất hăng.
Quân địch bị một đòn bất ngờ, choáng váng, gần 2 tiểu đoàn bị tiêu diệt
gọn, kể cả số quân địch bị đánh tan là 17 đại đội. Quân ta bắt sống 281
lính Âu - Phi, 223 ngụy. Trong số Âu Phi có 1 tên quan tư, 2 quan ba, 6
quan hai, 1 quan một. Ta thu được rất nhiều vũ khí, đạn dược, giải
phóng trên một tuyến dài hơn 200 ki-lô-mét, rộng gần một vạn ki-lô-mét
vuông.
Tình hình chiến trường đối vời địch càng trở nên nguy ngập. Chúng vô
cùng hoảng hốt và lúng túng, phải vội vã điều động hơn 10 tiểu đoàn cơ
động từ các nơi về để cố thủ mấy nơi quan trọng còn lại.
Quán triệt sâu sắc ý định của cấp trên - một ý định tác chiến rất kiên
quyết và linh hoạt - đại đoàn đã tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh và kiên
quyết tìm mọi biện pháp, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.
Sau gần một tuần cấp tốc hành quân, đại đoàn đã chiến đấu quyết hệt gần
một tháng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch và đã thu
hút được lực lượng cơ động của chúng và giam phân chúng tại những nơi
theo đúng ý định của ta, buộc địch phải phân tán quân cơ động ra nhiều
hướng, đạt được mục đích cuộc tiến quân do Bộ giao cho, đánh cho quân
địch thêm một đòn choáng váng, vượt ra ngoài sức tưởng tượng và sự tính
toán của cơ quan tham mưu và bộ óc chỉ huy của các tướng lĩnh thực dân
xâm lược Pháp.
Đó là một sự kiện đánh dấu sự chỉ đạo tài tình của Bộ Tổng tư lệnh và
một minh chứng cụ thể về sức mạnh của sự nhất trì giữa trên và dưới, về
tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh một cách tự giác và sáng tạo
dựa trên tin tưởng tuyệt đối vào sự chỉ đạo của cấp trên.
Trên đây là một câu chuyện trong muôn ngàn câu chuyện về chấp hành mệnh lệnh của quân đội ta.
Khi nhận lệnh, nếu điều kiện cho phép, còn điều gì không rõ cứ hỏi, còn
điều gì phân vân cứ nói. Khi đã rõ, đã hiểu phải kiên quyết làm, tìm
mọi cách làm cho bằng được, làm với tinh thần phấn khởi, tự giác và hết
sức sáng tạo, thì mệnh lệnh của cấp trên mới phát huy đầy đủ sức mạnh.
Căn cứ vào mệnh lệnh của cấp trên, cấp dưới phải ra nhưng mệnh lệnh cụ
thể, tổ chức thực hiện cụ thể và bảo ban nhau cùng làm thi đua nhau làm
cho tốt, gặp khó cùng vượt khó, gặp khổ cùng chịu khổ để đạt kết quả
vượt bậc.
Nhiệm vụ trong mệnh lệnh của cấp trên giao cho là những vấn đề khái
quát, từ những tình hình cụ thể tổng hợp lại. Có khi trong mệnh lệnh
không thể chỉ ra hết được những vấn đề cụ thể, những tình huống cụ thể
nảy sinh ra trong quá trình thực hiện hoặc những điều kiện cụ thể mới
xuất hiện trong quá trình hai bên ta và địch đều cố gắng... Cấp trên
chỉ có thể cho mình một số điều kiện cơ bản. những nét lớn về tình
hình, còn tất cả các điều kiện khác và những tình hình cụ thể thì người
cán bộ chỉ huy phải tự mình tạo ra, tự mình phán đoán lấy, làm sao thực
hiện cho bằng được mệnh lệnh của cấp trên. Tất nhiên cấp trên cũng phải
cố hết sức tạo mọi điều kiện thuận lợi để cấp dưới có thể thi hành tốt
mệnh lệnh của mình. Thực hiện đầy đủ, đúng với mệnh lệnh của cấp trên,
đó mới chỉ là làm tròn trách nhiệm theo pháp lý. Người cán bộ quân đội
cách mạng còn phải làm hơn thế nữa, phải thực hiện mệnh lệnh của cấp
trên một cách tích cực triệt để và sáng tạo, lấy trách nhiệm chính trị
mà kiểm tra việc chấp hành mệnh lệnh của mình, như thế mới có thể coi
là có trách nhiệm chính trị cao. Người cán bộ chỉ huy cần có điều kiện
để thực hiện chỉ huy chiến đấu thắng lợi nhưng tuyệt đôi không được đòi
hỏi cấp trên phải cho mình đầy đủ mọi điều kiện mới có thể chỉ huy được
mới có thể đánh được. Đáng chê trách nếu người cán bộ mỗi khi nhận lệnh
lại ra điều kiện với cấp trên: mặc cả với cấp trên: thì người chỉ huy
ấy thật chưa đáng tin cậy.
Chấp hành mệnh lệnh tốt chính là biểu hiện ý thức giác ngộ cách mạng
cao, tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, tinh thần đoàn kết gắn bó giữa
trên và dưới, tôn trọng cấp trên, thương yêu chiến sĩ. Đó chính cũng là
sức mạnh vô địch của quân đội ta.
CÁCH NHÌN VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỊA HÌNH CỦA NGƯỜI CHỈ HUY
Theo kinh nghiệm của tôi, một việc quan trọng của người chỉ huy là phải
rèn luyện "cái nhìn” - ngôn ngữ triết học gọi là phương pháp xem xét.
Sự vật bao giờ cũng có nhiều mặt: mặt phải và mặt trái, có khó và có
dễ, có kín và có hở, mặt tiêu cực và mặt tích cực, mặt mạnh và mặt yếu,
đồng thời trong cái khó có cái dễ, trong cái dễ có cái khó trong cái
kín có cái hở, trong cái mạnh có cái yếu trong cái yếu có cái mạnh...
Đồi với địa hình cũng vậy trong địa hình hiểm trở có chỗ không hiểm trở
trong địa hình có lợi có mặt không lợi.
Địa hình hiểm trở hay không, có lợi hay không tới mức nào là do con
người biết nhìn và đánh giá, biết lợi dụng và cải tạo để biến địa hình
hiểm một thành hiểm mười, biến địa hình không lợi thành có lợi. Cho
nên, người chỉ huy phải biết vượt qua mọi địa hình hiểm trở, có khi
phải táo bạo khắc phục khó khăn, tìm cái lợi trong nhiều cái không lợi
của địa hình để giành thế bất ngờ, thế thắng trong tấn công, tạo nên
thế vững chắc, thế kín trong phòng ngự.
Người chỉ huy nhìn nhận sự việc sai lệch thì điều trước tiên là kế
hoạch tác chiến sẽ sai, từ đó dẫn tới sai lầm trong nhiều việc tiếp
theo và ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tư tưởng của bộ đội.
Bất cứ một trận đánh dù lớn hay nhỏ, công việc của người chỉ huy là
phải biết cách nhìn địa hình, nhìn kẻ địch và nhìn bộ đội ta. Có nhìn
nhận phân tích sự việc đúng đắn mới vận dụng cách đánh thích hợp thực
hiện được bất ngờ đối với địch và làm cho bộ đội ta tin tưởng phấn
khởi, có quyết tâm cao.
Địa hình như thế, kẻ địch như thế, về phía ta người có ngần ấy, súng
đạn cũng chỉ có ngần ấy, "bài binh bố trận" thế nào mà đánh thắng địch
giòn giã, ta tổn thất ít, thế mời là người chỉ huy giỏi, đơn vị giỏi.
Trước tiên tôi kể chuyện kinh nghiệm cách nhìn địa hình. Khi nhận nhiệm
vụ tấn công địch, kể cả đánh vị trí địch có công sự vững chắc và đánh
địch đang vận động, tôi thường nghĩ tới câu “vượt qua nơi hiểm trở để
bắt cọp". Nghĩa là địa hình nơi nào địch cho rằng ta không đi được,
nhưng ta đi được thì địch sẽ chết không kịp ngáp, hay địch cho rằng ta
không bố trí được hoặc bố trí được nhưng không tiến lên được mà ta tìm
mọi cách bố trí được, tiến lên được thì nhất định địch sẽ trở tay không
kịp.
Thí dụ: Trận đánh vị trí Non Nước (Ninh Bình). Vị trí này đóng trên
ngọn núi đá đột xuất cao sừng sững, một phía là sông sâu và rộng, xung
quanh có nhiều chỗ dốc thành vại dựng đứng, hoặc hàm ếch hoắm vào chân
nùi. Ngoài con đường đánh bậc, ghép đá bò ngoằn ngoèo chữ chi từ chân
lên đỉnh, cao mấy chụt mét, có “cự mã" chắn ngang, có các ụ súng kiểm
soát, khó có thể tìm được một con đường khác. Đã thế, dọc hai bên đường
lên cứ điểm, quân địch chôn nhưng chông sắt ngay vào vách đá. Chân núi
chằng chịt dây thép gai, bãi mìn. Hai tầng lô cốt xi măng kiểm soát
chặt chẽ các hướng. Bên kia sông Đáy chừng 200 mét là vị trí Cầu Cổ, có
pháo 105 mi-li-mét. Bên này thị xã Ninh Bình là vị trí Hồi Hạc (ta
thượng gọi là Gối Hạc). Dưới sông có tàu chiến sẵn sàng cơ động để tăng
viện. Thoạt nhìn rõ ràng là quân địch đã chiếm đóng ở một địa hình có
lợi. Chân núi: phía là sông, phía là bãi phẳng, ta bố trí quân ở đâu?
Đi đường nào tiến lên đánh chiếm được đỉnh núi? Nếu nghiên cứu địa hình
và địch ở đây mà chỉ dừng lại ở mức này thì quả thật là có nhiều khó
khăn, hầu như khó mà đánh được và tất nhiên cũng có thể có người nản
lòng do dù. Nhưng quyết tâm của cấp trên là nhất định phải đánh vị trí
Non Nước. Đại đoàn phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ này, vậy thì
nghiên cứu địa hình ở đây là để thực hiện quyết tâm của trên, là để
đánh chứ không phải để lùi. Khi đã xác định được như vậy, thì cùng nhau
vắt óc ra, sục vào mà nghiên cứu, tìm cho kỳ được chỗ sơ hở, chỗ yếu
của Non Nước. Địch ở trên cao nhìn xa dễ, nhìn gần khó, bắn xa mạnh,
bắn gần hạn chế. Những chỗ địch cho rằng ta không leo được, không với
tới thì ta buột giẻ vào chân để leo, ta làm thang dài 5 - 6 mét để với.
Địch ỷ lại vào mấy ụ súng bảo vệ con đường lên đỉnh núi. Ta diệt các ụ
súng đó thì đường lên đỉnh cũng không phải khó. Địch cho rằng ta không
thể tiến theo đường thì ta nghi binh hướng khác, rồi tiến theo đường,
v.v... Địa hình phức tạp ta khó tiến quân thì địch cũng khó cơ động, ở
đâu cố thủ đấy, có vận động được cũng trong phạm vi hẹp, rất hạn chế.
Mô đá hiểm hóc, địch có thể có những ụ súng bất ngờ bắn ta. Ta lợi dụng
thế hiểm hóc luồn vào phía sau leo lên trên bất ngờ đánh xuống đầu
địch, đánh vào sườn địch. Cán bộ, chiến sĩ cùng nhau lục soát những
kinh nghiệm đánh Bí Chợ, Phố Lu, Cốc Xá, v.v… để xem có thể vận dụng
được nhưng gì. Càng suy nghĩ, càng bàn bạc quyết tâm càng cao, càng rõ
cái mạnh, cái yếu của Non Nước: Từ hướng suy nghĩ phân đó mà ta giải
quyết được vấn đề then chốt là xây dừng tư tưởng "dám đánh” và tin
tưởng “nhất định đánh thắng". Từ quyết tâm cao trở thành biện pháp tổ
chức cụ thể. Bộ đội quấn giẻ vào chân, làm thang, nối dây, ngày đêm
luyện tập ở một núi đá khác khó khăn gần như Non Nước.
Quyết tâm cao chuẩn bị chu đáo, khoảng 2 giờ 15 phút ngày tháng 5 năm
1951, tiếng súng tấn công vị trí Non Nước của tiểu đoàn 54 bắt đầu nổ.
Tới 5 giờ sáng thì trận đánh kết thúc, gần 200 tên giặc vừa Pháp vừa
ngụy hoàn toàn bị tiêu diệt.
Chiến nhắng Non Nước có nhiều nguyên nhân và rút ra được nhiều bài học
nhưng đối với người chỉ huy - bản thân tôi bài học “cách nhìn". cách
phân tích địa hình là một trong nhưng bài học sâu sắc.
Một thí dụ khác thì ngược lại: Trận đánh vị trí Pheo (Hòa Bình) đầu năm
1952. Vì không đưa một mũi vượt qua đường số 6 luồn lên đồi cao và đánh
từ trên cao qua vai bò xuống đồi Pheo, mà chỉ mở cửa đánh một hướng
theo đường cái từ dưới đánh lên, trận đánh không thành. Tuy có nhiều
nguyên nhân nhưng vấn đề không biết tận dụng lợi thế của địa hình cũng
là một nguyên nhân khá quan trọng dẫn đến trận đánh không hoàn thành
tốt đẹp.Tôi kể thêm một chuyện xem xét địa hình trong đánh vận động. Trong
chiến dịch Biên Giới, sau khi cứ điểm Đông Khê bị tiêu diệt, binh đoàn
Lơ-pa-giơ từ Lạng Sơn lên Thất Khê, rồi từ Thất Khê tiến lên định bất
ngờ chiếm lại Đông Khê để đón cánh quân của Sác-tông từ Cao Bằng rút
về, những bị quân ta đánh mạnh. Âm mưu chiếm lại Đông Khê của địch thất
bại. Ngày 2 tháng 10 năm 195O. Lơ-pa-giơ nhận được lệnh để lại một bộ
phận kiềm chế ta, còn phần lớn lực lượng trước trưa ngày 3 tháng 10 năm
1950 phải đến Quang Liệt, Nậm Nàng (nam Cao Bằng 20 ki-lô-mét) để đón
binh đoàn Sác-tông cùng rút về Thất Khê. Biết được ý định của địch,
quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch là: “Tập trung lực lượng tiêu diệt
từng bộ phận địch... Đại đoàn... tiêu diệt bộ phận chủ yếu của địch ở
khu vực Khau Luông, Nà Pá. Phái một bộ phận chiếm lĩnh các điểm cao để
khống chế và phái một bộ phận cảnh giới ở phía nam đề phòng quán nhảy
dù và bộ binh địch".
Đại đoàn còn được Bộ cho biết: Quân Sác-tông về tới Nậm Nàng đã phải
phá xe cộ, súng nặng để rẽ vào đường mòn xuống Cốc Xá về Thất Khê. Vì
âm mưu chiếm lại Đông Khê của Lơ-pa-giơ thất bại, vả lại đứng số 4 bị
dân quân du kích của ta phá hoại nặng nề, như vậy Lơ-pa-giơ sẽ đi theo
hướng nào để đón Sáe-tông? Nếu để hai binh đoàn ấy gặp nhau và cụm lại
ở dãy núi 477 thì quả là ta sẽ gặp khó khăn lớn. Cùng với việc tiêu
diệt lực lượng chủ yếu của Lơ-pa-giơ thì phải chia cắt ngăn chặn địch,
không cho chúng gặp nhau. Bên đường số 4, quân của Lơ-pa-giơ đang tập
trung ở Khau Xiểm, phía tây là dãy núi đá. Từ Khau Xiểm có con đường
mòn qua núi đá đến bản Cốc Xá. Nhìn địa hình thì thấy eo Cốc Xá (điểm
cao 533) là một vị trí chiến thuật rất quan trọng. Làm thế nào quân ta
nhanh chóng đưa được một lực lượng "chốt" ở đấy thì nhất định kế hoạch
gặp nhau của địch sẽ thất bại. Chúng sẽ bị cô lập từng bộ phận và sẽ bì
quán ta tập trung tiêu diệt từng bộ phận. Đại đoàn ra lệnh cho tiểu
đoàn 18 đến "chốt" ở eo Cốc Xá Giữa lúc đang nấu cơm chiều, nhận được
lệnh tiểu đoàn 18 đã cấp tốc lên đường, không cần tập họp đủ cả mới
xuất phát. Đại đội 263 ở sát đường lập tức đi ngay. Các đơn vị khác
tiếp tục chạy theo. Anh nuôi cứ tiếp tục nấu cơm, nắm lại, rồi cấp tốc
đuổi theo bộ đội. Dãy núi đá chắn ngang sừng sững, đường leo khúc khuỷu
quanh co, lởm chởm, cũng không cản nổi quyết tâm của bộ đội ta. Bụng
đói, các chiến sĩ cũng không chùn bước. Mọi người đều quyết tâm chiếm
điểm cao 533 trước khi quân địch tới. Trong khi đó, Lơ-pa-giơ đang dồn
quân vào dãy núi Cốc Xá, nơi mà y cho là "địa điểm phòng ngự lý tưởng",
”cái bình phong thiên nhiên chặn đứng các tiểu đoàn Việt Minh".
Lơ-pa-giơ định cắm ở đây một tiểu đoàn với thương binh, còn bao nhiêu
sẽ qua bản Cốc Xá, sang dãy núi 477 đón quân Sác-tông. Chúng cho rằng
"hai binh đoàn gặp nhau sẽ thành một lực lượng rất mạnh, Việt Minh
không tài nào gặm nổi".
Nhưng sáng hôm sau, cánh quân của Lơ-pa-giơ đang hí hửng tiến qua eo
Cốc Xá, thì các chiến sĩ của tiểu đoàn 18 đã bất ngờ nổ súng phủ đầu
như luồng gió mạnh hất chúng bật trở lại. Quân của Lơ-pa-giơ không thể
nào vượt qua được điểm cao 533 để tiến về dãy núi 477 cùng Sác-tông cụm
lại.
Thế là kế hoạch của Lơ-pa-giơ và Sác-tông hoàn toàn bí phá sản. Hai binh đoàn vẫn tan tác hai nơi.
Rõ ràng các chốt chiến thuật ở địa hình hiểm hóc kia đã cố tác dụng
không phải là nhỏ. Chốt chặn được địch phải kết hợp với lực lượng cơ
động vận động đến tấn công.
Sau đó, có một kinh nghiệm "vượt qua nơi hiểm trở để bắt cọp" nữa là
khi quân của Lơ-pa-giơ cụm lại ở hang Cốc Xá, trung đoàn Y nhận nhiệm
vụ tiêu diệt cụm này. Tiểu đoàn 11 tấn công binh đoàn Lơ-pa-giơ ở trong
núi, đồng thời chặn không cho địch sang 477 (lúc này tiểu đoàn 18 đã
chuyển sang 477 để tham gia tiêu diệt cánh quân Sác-tông). Tiểu đoàn 89
(thiếu đại đội 395) tấn công phía đông - bắc xuống. Cuộc chiến đấu diễn
ra rất gay go. Tiểu đoàn 11 giành nhau với địch từng mô đá, từng thước
đất.
Trong khi đó, đại đội 395 đang bấu víu vào từng mỏm đá, gốc cây để leo
lên đỉnh núi. Đêm tối, trời mưa lã chã. Có đoạn các chiến sĩ phải bò,
phải nhích từng bàn chân, nhất là đơn vị hỏa lực trợ chiến. Có đoạn
phải dòng dây kéo từng bộ phận súng lên trước, rồi đến đạn, đến người.
Qua một chặng đường gian khổ, các chiến sĩ 395 đã lên tới đỉnh núi, bất
ngờ ném từng chùm lựu đạn xuống đầu quân địch. Các chiến sĩ cầm cả
những quả đạn cối 60 mi-li-mét giội xuống. Các cỡ đạn súng trường, súng
máy đổ vào đầu địch như mưa. Rồi từ tảng đá này nhảy sang tảng đá khác,
các chiến sĩ xung phong vào quân địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch vô
cùng kinh hoàng, rối loạn... Thừa cơ ấy, tiểu đoàn 11 và 89 xiết chặt
thêm vòng vây. Từ trên đỉnh núi đá đánh xuống, đại đội 395 đã khắc phục
khó khăn, chiếm địa hình có lợi, bất ngờ đập vào đầu địch, góp một phần
quan trọng để tiêu diệt quân địch ở Cốc Xá.
Trận đánh binh đoàn Sác-tông diễn ra trên dãy núi 477. Địa hình ở đây
cũng khá phức tạp. 477 nằm kẹp giữa hai triền núi cao, phía đông là dãy
núi cao, phía tây là dãy núi đá lởm chởm thẳng đứng như bức tường
thành, chỉ có một con đường mòn chạy từ phía bắc xuống phía nam, ngoài
ra không còn đường nào khác. Bọn địch yên trí rằng đi trên dãy núi 477,
đội hình chúng sẽ được hai bên núi cao che chở. Nhưng trung đoàn T suốt
đêm đã vượt qua dãy núi đá, vừa tờ mờ sáng chọc ngang vào sườn của binh
đoàn Sác-tông: bất ngờ chia cắt đội hình chúng ra từng đoạn và tiêu
diệt từng bộ phán. Cuối cùng toàn bộ binh đoàn Sác-tông bị tiêu diệt
thảm hại.
Trên đây là một vài câu chuyện về "cách nhìn" địa hình, khắc phục khó
khăn vượt qua địa hình phức tạp để tấn công quân địch. Tất nhiên trong
thực tế có những tình huống gay go, phức tạp hơn thế nhiều, đòi hỏi
người chỉ huy phải bình tĩnh suy nghĩ, phải với tinh thần cách mạng
tiến công, tìm cho ra khó khăn và thuận lợi của địa hình phía địch,
phía ta, cùng quần chúng bàn bạc cách khắc phục. Đã có quyết tâm đánh
thắng thì phải có gan khắc phục địa hình. Từ chỗ bất ngờ tạo thành có
lợi cho tay người chỉ huy cùng bộ đội cần dốc hết sức mình để tìm cách
vượt bất cứ một khó khăn nào, khi đã thấy rằng tiến hướng đó, đánh
hướng đó là có lợi, không nên quá lệ thuộc vào lý do khách quan (như
đường vòng, đi xa, thời gian gấp, thiếu lương thực hoặc không có người
dẫn đường, v.v...) mà chùn bước.
Thực tế chiến đấu đã chứng minh rằng ngại đi xa có khi phải đi xa hơn
nữa, ngại khắc phục khó khăn có khi phải khắc phục gấp trăm lần, dựa
vào đường thẳng để tiến quân không phải lúc nào cũng thuận lợi mà có
khi gặp nhiều khó khăn nhất, thậm chí không đến được mục tiêu. Đó là
những vấn đề đòi hỏi phải hết sức mưu trí, linh hoạt trong khi giải
quyết. Yêu cầu người chỉ huy phải cân nhắc kỹ, khi đã có quyết tâm thì
nhất định làm và làm cho kỳ được.
LỢI DỤNG ĐỊA HÌNH VÀ CẢI TẠO ĐỊA HÌNH
Đơn vị chúng tôi, sau mỗi lần tấn công quân địch thường có nghiên cứu
tỉ mỉ về cách bố trí của chúng để kịp thời rút ra những bài học cho
trận sau. Tại sao địch bố trí ở chỗ này, không bố trí ở chỗ kia? Địa
hình thế này, địch đã cải tạo và lợi dụng như thế nào? v.v... Chính nhờ
vậy mà bản thân tôi rút ra được nhiều bài học có ích trong khi xem xét
địa hình để bố trí tác chiến. Trong quá trình công tác thường cán bộ ta
nhất trí về cách nhìn nhận, nhưng như thế không phải không có cách nhìn
ngược lại. Cùng một địa hình có cán bộ xem xét chỉ thấy khó khăn, rồi
lo lắng bi quan, thiếu tin tưởng vào nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng người
khác xem xét thì tuy một mặt thấy có khó khăn, mặt khác lại thấy ta có
thể khắc phục và lợi dụng được, thậm chí có khi phát hiện thấy chỗ hiểm
hóc của địa hình mà người khác không thấy. Thực ra, với bất cứ địa hình
không thuận lợi nào, chỉ cần biết cải tạo, lợi dụng đều có thể tạo nên
một thế tác chiến rất mạnh, rất hiểm hóc.
Trong chiến đấu, những mũi tấn công của ta bị chùn lại hoặc bị sứt mẻ
nhiều chính là do những hỏa điểm bất ngờ cách đánh bất ngờ, cách bố trí
ở địa hình hiểm hóc của địch đột nhiên làm cản bước tiến của ta.
Vì vậy, trong khi làm nhiệm vụ xem xét địa hình để bố trí tác chiến,
tôi thường nghĩ đến mấy chữ: "hiểm hóc, bất ngờ". Các cán bộ đi nghiên
cứu cùng với tôi thường nói: "Tìm địa hình chỗ nào hiểm, bố trí bất
ngờ, ăn sườn, ăn sụn của đối phương, chắc chắn thủ trưởng đồng ý". Địa
hình để bố trí tác chiến phải có chỗ "xoay lưng" - ngôn ngữ quân sư gọi
là "cơ động", "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thử”. Chọn được địa hình
tốt, rất "lý tưởng", chỉ cần ít quân cũng có thể ngăn chặn được mũi tấn
công lớn của địch. Nhưng trong thực tế, có khi phải bố trí quân đánh
địch ở một địa hình so với nơi khác thì ít lợi thế hơn. Lúc này yêu cầu
người chỉ huy cần xem xét địa hình một cách tỉ mỉ và đặt mình ở cương
vị chủ động đánh địch, bất cứ trường hợp nào cũng không được bố trì để
"giơ lưng chịu đòn". Phải luôn luôn tạo điều kiện, thời cơ chủ động
đánh thắng địch bất cứ địch từ hướng nào tới hoặc tới bất cứ lúc nào.
Người chỉ huy biết phân tích một cách khách quan, biện chứng, tìm cho
ra cái mạnh của địa hình để phát huy, tìm cho đúng cái yếu của địa hình
để khắc phục, từ thế bất lợi tạo thành thế có lợi, từ yếu trở thành
mạng. Thí dụ: Một đơn vị nhận nhiệm vụ đánh địch tấn công ở một địa
hình dài và hẹp, lại có nhiều sông núi cắt ngang. Như vậy địch có thể
tấn công chia cắt ra từng khu vực. Nhưng ngược lại, chính địa hình ấy
cũng chia cắt địch thành từng bộ phận, tạo điều kiện cho ta tập trung
tiêu diệt từng cánh quân của địch. Có nhìn thấy hết cái mạnh của địa
hình có lợi cho ta như thế thì mới không bi quan, không do dự quyết
tâm. Tiếp theo sự nghiên cứu phân tích, người chỉ huy cần biến quyết
tâm thành biện pháp tổ chức, tìm mọi cách cải tạo địa hình, chuẩn bị
trận địa tác chiến cụ thể. Địa hình dù có nhiều bất lợi nhưng nếu người
chỉ huy và bộ đội biết bỏ nhiều công phu suy nghĩ vào đấy, bỏ nhiều sức
lao động cải tạo vào đấy, thì nhất định sẽ tạo nên nhiều thế lợi.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tiểu đoàn X nhận nhiệm vụ đào trận địa
xuyên qua giữa khe hở của hai điểm cao 206 và 311A (hai vị trí này của
địch vẫn chưa bị tiêu diệt) để cắt sân bay Mường Thanh. Giặc Pháp cũng
đã hiểu sân bay của chúng nếu bị ta chiếm giữ thế chúng coi như bị cắt
mất dạ dày. Chúng dồn hỏa lực ra sức bắn kẹp tiểu đoàn X. Nhiều nhất là
đạn súng cối và đạn pháo nổ trên không, lại có cả hai khẩu súng máy từ
Mường Thanh bắn ra rất lợi hại. Quân địch lại luôn tổ chức đánh chiếm
trận địa của ta và lấp hào. Riêng ngày 20 tháng 4, giữa ta và địch
giành đi giật lại mấy lần. Buổi chiều, chúng tôi vừa nhận được báo cáo
là quân ta phản kích giành lại được trận địa, nhưng một lúc sau lại
được tin địch chiếm mất, quân ta củng cố để xẩm tối sẽ tiếp tục phản
kích. Tình hình ấy làm chúng tôi rất sốt ruột. Cán bộ, chiến sĩ của
tiểu đoàn này có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, dày dạn, anh dũng, táo
bạo. Vậy thì trận địa bố trí ra sao mà cứ mất đi mất lại như thế mãi?
Trời chạng vạng tối, quân ta phản kích thành công, khôi phục được toàn
bộ trận địa. Lập tức tôi điện cho trung đoàn phải cho bộ đội củng cố
công sự ngay, mặt khác chỉ thị cho cơ quan đại đoàn phải đưa hết người
vác gỗ ra trận địa giúp đơn vị. Đêm đó, tôi ra ngay trận địa để xem xét
tình hình, càng đi ra đầu cùng của chiến hào, càng thấy rõ bộ đội ở đấy
chiến đấu không những ác liệt mà còn hết sức vất vả. Ngơi tay súng ra,
người chiến sĩ lại cầm lấy xẻng làm việc không ngừng. Đào sâu được một
ít, chỉ vài loạt đại bác, vài trận bom giội xuống, chiến hào lại sụt lở
tung toé, lại phải mất công sửa chùa. Càng ra tới phía ngoài, chiến hào
càng hẹp và nông. Nhưng tất cả những bom đạn của địch cũng không phải
là nguyên nhân chủ yếu để bộ binh và xe tăng địch chiếm được trận địa
của ta, mà chính là ta chưa biết cải tạo địa hình, cấu trúc thành một
trận địa có lợi cho ta, chiết tính cơ động và không hiểm hóc. Tôi ngạc
nhiên khi thấy chỉ có độc một đường hào đâm thẳng vào sân bay, xuyên
qua giữa khe hở của hai vị trí địch, y như một con đường độc đạo trơ
trọi. Bám vào đường hào đó chỉ có hố đứng bắn, hố ẩn nấp. Càng nghiên
cứu, tôi càng thấy rõ tại sao trận địa vẫn cứ bị mất đi mất lại, mặc
dầu bộ đội ta chiến đấu rất anh dũng. Ở đấy rõ ràng là ta ở vào một địa
hình có ít thuận lợi, mũi hào cắt sân bay hoàn toàn ở trên mảnh đất
bằng phẳng. Xe tăng địch tấn công có thể bắn chúc xuống miệng chiến hào
của ta. Ta chỉ có một đường hào, khỉ địch tập trung chiếm đoạn nào, ta
bị mất đoạn đó. Ta giữ đã khó, nhưng muốn phản kích chiếm lại càng khó
hơn. Nhiệm vụ cắt sân bay phải làm tròn cắt được đến đâu phải giữ chắc
đến đó, không cho địch chiếm lại, lấp hào đi. Bộ đội ta anh dũng,
nghiêm chỉnh chấp hành nhiệm vụ. Nhưng phải làm thế nào để nhiệm vụ
được thực hiện tốt hơn nửa mà bộ đội ta ít thương vong.
Đó là vấn đề đặt ra đối với người chỉ huy các cấp có trách nhiệm chấp
hành nhiệm vụ này. Tôi cùng cán bộ của đơn vị và các chiến sĩ tại trận
địa nghiên cứu bàn bạc ngay tại chỗ và thấy rằng cần phải tổ chức từng
tổ chiến đấu thành thế chân kiềng dựa lưng vào nhau, chi viện hỗ trợ
cho nhau. Muốn vậy phải đào nhiều "râu tôm” chạy xoè ngang ra, rồi đào
vòng trở lại, đào các ngách chữ A, chữ T, đào nhiều đường cơ động từ
sau lên trước và chéo bên sườn để địch đánh hướng nào ta cung có thể
“xoay lưng" đánh lại chúng. Một khẩu súng máy cũng có thể di chuyển ẩn
hiện nhiều hướng, nhiều nơi bất ngờ đánh vào sườn địch. Địch chiếm chỗ
này, ta từ chỗ khác đã chuẩn bị lập tức đánh trả. Đó là tạo thế trong
phòng ngự - thế mạng sẽ tạo thành lực mạnh.
Đêm hôm đó, ngay sau khi tôi trở về chỉ huy sở, bộ đội bắt tay vào làm
làm cật lực. Vì tất cả cán bộ và chiến sĩ, cấp trên và cấp dưới đều
nhất trí phải cải tạo địa hình, xây dựng trận địa thật vững chắc, và
chỉ có làm như thế mới tránh được tình trạng "bị trói chân một chỗ”,
"giơ lưng chịu đòn".
Ngày 21 tháng 4, quân địch lại tập trung lực lượng tấn công vào trận
địa cắt sân bay của bộ đội ta. Ngoài 7 đại đội Âu Phi, còn thêm 4 xe
tăng yểm hộ. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Mặc dầu giặc Pháp đã
liều mạng nhảy vào chiếm được một vái đoạn hào của ta, nhưng rồi tất cả
bọn chúng đều bị đánh lui và bỏ lại nhiều xác chết ngay trên trận địa.
Ngày hôm sau, cuộc chiến đấu giữ trận địa cắt sân bay của bộ đội ta ác
liệt gấp bội và cũng là ngày giặc Pháp phải “từ giã” sân bay. Bộ binh,
xe tăng địch lao vào đều bị quân ta đánh bật trở lại, vòng hướng này bị
chặn, vòng hướng khác bị đánh sườn. Không những thế, giặc Pháp còn bị
bộ đội ta đánh cho những đòn bất ngờ, bộ binh, xe tăng mỗi nơi mỗi
mảng, tàn quân tháo chạy về Mường Thanh. Từ ngày ấy, trận địa cắt sân
bay của bộ đội ta hoàn toàn vững chắc cho đến khi Điện Biên Phủ được
hoàn toàn giải phóng. Rõ ràng vấn đề thắng bại là do con người quyết
định chứ không phải do địa hình.
BIẾT ĐỊCH, BIẾT TA, ĐÁNH LÀ CHẮC THẮNG
Cuộc chiến đấu giữa ta và địch thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp một
mất một còn vô cùng quyết liệt. Từng trận chiến đấu cụ thể là sự đấu
trí, đấu lực của hai tập đoàn người sống. Cả hai bên đều tìm mọi cách
tiêu diệt, đánh bại đối phương.
Muốn tiêu diệt địch, ta cần phải hiểu mình, hiểu địch cho thật đúng bản
chất của sự việc. Kẻ địch rất gian giảo, hung ác và quỷ quyệt vì bản
chất của nó là bản chất của giai cấp thống trị áp bức vì quyền lợi ích
kỷ của chúng. Trong từng trận đánh cụ thể khi phân tích về địch bất cứ
một hiện tượng cụ thể nào cũng cần xét tới bản chất của nó. Dù kẻ địch
mạnh đến đâu cũng có chỗ yếu, chỗ sơ hở và dù kẻ địch yếu đến đâu cũng
có chỗ mạnh cần phải chú ý tới. Khi nói địch mạnh phải thật cụ thể,
mạnh cái gì, mạnh ở chỗ nào, mạnh trong trường hợp nào, v.v... Trong
cái mạnh phải tìm cho ra cái yếu. Yếu như thế nào, yếu ở đâu, yếu tới
mức nào, quan trọng hơn cả là làm thế nào biến mạnh của địch thành yếu
để tiêu diệt chúng, v.v...
Theo kinh nghiệm của tôi, những lần chiến đấu gặp khó khăn phần lớn là
do nghiên cứu địch không kỹ, hoặc có khi nghiên cứu nhiều lần nhưng vẫn
không thấy đúng thực chất cái mạnh, cái yếu của kẻ địch, mà còn mập
mờ...
Đối với cán bộ chi huy chúng ta: thường có hai hiện tượng, một là đánh
giá địch quá cao, "sợ bóng sợ gió" khi gặp một vài hiện tượng mạnh của
địch, từ đó đi tới do dự, thiếu sự quyết tâm, không dám đánh hoặc đánh
nhưng không tin chắc thắng; hai là vừa nhìn thấy vài hiện tượng yếu của
địch đã vội vã chủ quan, khinh địch, "coi trời bằng vung". Tôi kể lại
mấy mẩu chuyện về ngại địch mạnh.
Năm 1947, có một đơn vị ở Hòa Bình rất ngại khi phải chiến đấu với lính
Âu - Phi - một thành phần trong đội quân đánh thuê của thực dân Pháp.
Người nọ đồn đại đến tai người kia. Nào là “Tây rạch mặt" ngậm dao găm
ở mồm xông lên ghê lắm! Nào là lính này thiện chiến đã từng xâm lược
nhiều nơi...! Thấy vậy, tôi suy nghĩ rất nhiều, cố tìm mọi cách để giải
quyết tư tưởng cho anh em. Chúng tôi cùng chiến sĩ bàn bạc tìm cho hết
cái mạnh cái yếu của chúng mà đánh. Cái mạnh của địch là ỷ lại có xe
tăng, ô tô, máy bay, đại bác và binh lính chúng được trang bị nhiều vũ
khí tốt, sử dụng quen. Nhưng cái yếu cơ bản của chúng là tinh thần của
lính đánh thuê ham sống sợ chết nên chỉ hung hăng có lúc, khi những cái
mạnh về vũ khí giảm tác dụng thì tinh thần sẽ sút kém. Vì vậy, ta phải
khoét sâu nhược điểm của địch, bất ngờ xông lên đánh giáp lá cà để tiêu
diệt chúng, nhất định chúng sẽ thua trận.
Chúng tôi bố trí một trận phục kích thật chu đáo, cho một bộ phận nhỏ
chặn trước mặt địch, lực lượng còn lại giấu kín ở bên sườn... Ngày 1
tháng 5 năm 1947, tại dốc Cun (Hòa Bình), trận phục kích được bố trí
xong. Máy bay và súng cối của địch bắn dừ dội trên dọc đường chúng tiến
quân. Mười cơ giới và chừng mấy trăm tên địch hùng hổ tới chán dốc Cun,
dàn quân tiến lên. Bọn lính xâm lược quen thói chủ quan, vừa đi vừa
huýt sáo, nghênh ngang, bất ngờ "khẩu thần công" của quân ta phát hoả.
Đây là khẩu súng thần công cũ, được anh em nhồi thuốc phóng và các mảnh
gang vụn. Khi bắn, một tiếng nổ dữ dội, mảnh gang tóe ra như mùa rào.
Bọn địch đi đầu ngã gục gần hết. Quen thói “sùng bái vũ khí” thì lần
này giặc Pháp khiếp sợ vũ khi biết chừng nào. Ngay lúc đó, súng trường,
tiểu liên cũ kỹ của ta cùng phối hợp bắn vào những tên còn sống sót.
Tên chỉ huy tay cầm bản đồ, tay cầm súng lục đang ngơ ngác nhìn, bị bắn
chết đầu tiên. Quân ta vung kiếm, vung mã tấu nhảy lên lăn xả vào tiêu
diệt chúng. Bọn lính đánh thuê được đồn đại là thiện chiến nay đã chết
ngổn ngang. Các tên sống sót chúi đầu chạy xuống chân dốc, gọi máy bay,
súng cối bắn yểm hộ. Suốt ngày không tiến thêm được bước nào, bị quân
ta lẻn tới bắn tỉa tiêu hao, cuối cùng chúng phải lên xe tháo chạy nốt.
Trận đánh thắng lợi, quân ta chỉ có vài người bị thương nhẹ. Quân địch
vừa chết vừa bị thương hơn 80 tên. Sau trận đánh, khí thế quân ta lên
cao. Việc xây dựng cho bộ đội tư tưởng dám đánh, quyết đánh thắng và
nhất định đánh thắng bọn giặc hung ác bước đầu đã dược giải quyết tương
đối tốt. Đơn vị khác thấy vậy cũng vui mừng phấn khởi và tin tưởng ở
sức mình. Từ đó bộ đội ta không sợ lính lê dương nữa. Sau đó ít lâu bộ
đội ta lại quần nhau và vật lộn đánh giáp lá cà với bọn lính lê dương
trong một trận ác liệt ở Ba Thá. Qua nhiều trận đánh, tôi thấy rằng: Kẻ
địch nào cũng vậy, miễn là nghiên cứu cho đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của
chúng và tìm được cách đánh thích hợp thì nhất định giành được thắng
lợi.
Trong chiến dịch Tây Bắc, cán bộ đi chuẩn bị chiến trường điều tra địch
đóng ở Pú Chạng và Nghĩa Lộ. Hai vị trí này cách nhau khoảng gần 2
ki-lô-mét. Địch đóng trên đồi Pú Chạng mạnh hơn, có thể khống chế cả
cánh đồng Nghĩa Lộ và chi viện cho cứ điểm Nghĩa Lộ, có công sự và
đường giao thông chằng chịt, dây thép gai dày tới 40 - 50 mét, các hỏa
điểm bố trí ở xung quanh đồi thành nhiều tầng... Nhưng xem xét kỹ: về
phía bắc có mỏm đồi thấp sát hến với đồi Pú Chạng, cây cối um tùm (khi
đó đặt tên là đồi Nhà Ngựa), ta đã bí mát tiếp cận và địch có thể bị
bất ngờ, nên ta lấy đó làm hướng đột kích chủ yếu. Còn đuôi dãy núi Pú
Chạng thì kéo dài về phía nam gần với dãy rừng phía tây, lên phía này
ta dễ cắt chia đồi Pú Chạng với "trại con gái" ở phía nam, nên ta lấy
đó làm hướng thứ yếu. Trong cái mạnh của địch, rõ ràng là có cái yếu,
nhất là cái yếu vì "bị bất ngớ”. Vì vậy, người chỉ huy phải có con mắt
biện chứng, tìm ra chỗ yếu trong cái mạnh của địch để đánh, hoặc khắc
phục mọi khó khăn vượt qua những hiểm trở để tạo nên một thế bất ngờ.
Nếu không chỉ nhìn thấy vị trí địch bốn phía hàng rào dây thép gai dày
công sự, hỏa điểm kín đặc cho là mạnh cả, thì sẽ đi đến: một là không
dám đánh, hai là đánh vào chỗ mạnh của địch sẽ tổn thất nhiều.
Trải qua chiến đấu, bộ đội ta ngày càng trưởng thành rõ rệt. Các hình
thức công sự phòng ngự của địch đều lần lượt bị phá vỡ. Cuối cùng,
chúng phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm ở Điện Biên Phủ và làm
phòng ngự bằng công sự boong ke như ở Yên Vĩ (Hà Nam), Cẩu Lồ (Bắc
Giang), v.v..Mùa hè năm 1954, tiểu đoàn 80, trung đoàn Y nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ
điểm Cầu Lồ. Trước đây, do thiếu sót của một số cán bộ, khi nói đến
công sự boong ke thì chỉ nói cái mạnh của nó, đôi khi còn đề cao quá
mức. Có đơn vị khi nhận nhiệm vụ đánh vị trí loại công sự này thì không
tin đánh thắng, lo tổn thất nhiều. Việc đó ảnh hưởng rất lớn đến tư
tưởng bộ đội. Rút kinh nghiệm ấy, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn Y đã bàn
bạc tìm cho hết cái mạnh, cái yếu của địch. Mặc dầu công sự xi măng cốt
sắt dày, nhưng bản thân nó lại có nhiều nhược điểm: có lỗ thông hơi có
thể dùng xẻng chọc thủng lưới sắt, thả lựu đạn vào: địch bố trí ít
người, nhiều súng; ở từng lô cốt cô lập, cơ động chi viện cho nhau khó
khăn; trong công sự thiết bị kín, địch khó quan sát, ta có thể đưa
pháo, ĐKZ, ba-dô-ca vào gần bắn thẳng vào lỗ châu mai, hoặc đánh bộc
phá, quân địch dễ chết vì bị sức ép; hỏa lực của địch dù dày đặc thế
nào cũng không thể kiểm soát hết mọi chỗ, ở cự ly gần thì lỗ châu mai
cũng có góc chết giữa lô cốt này và lô cốt khác, đạn cũng không bắn kín
hết được, nhất là khi một vài lô cốt đã bị diệt sẽ tạo nên khoảng trống
lớn không có hỏa lực. Đó là những cái yếu cụ thể, ta có thể khoét sâu
để tiêu diệt địch. Đơn vị còn phân tích cái yếu cơ bản nữa của địch là
sau khi chúng bị thua ở Điện Biên Phủ, tinh thần bọn địch ở đồng bằng
đã hoang mang, dao động, không tin tưởng sẽ giữ được những cứ điểm cô
lập, nhỏ bé... Do đánh giá địch đúng mức, bộ đội ta đã có quyết tâm
cao, tin tưởng đánh thắng. Việc tổ chức, chuẩn bị được tiến hành cụ
thể, tỉ mỉ, tổ chức bộ đội gọn nhẹ, "ít nhưng tinh", phân công hỏa lực
hợp lý từ lựu đạn, thủ pháo đến tiểu liên, súng trường, ĐKZ..., đồng
thời huấn luyện cho mọi chiến sĩ biết cách đánh bộc phá để bảo đảm có
thể tự phá được hàng rào dây thép gai ở trong ví trí, ở ngay chân lô
cốt.
Do đó, trung đoàn Y đã làm tròn nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Cầu Lồ. Đặc
biệt có một tiểu đội bộ binh đã bí mật cắt dây thép gai, lọt vào vị trí
và đã bất ngờ đánh sập ngay một lô cốt boong ke của địch.
Trên đây là những câu chuyện về cách xem xét địch, cụ thể là giặc Pháp
trước đây. Nhưng khi đánh với quân Mỹ là kẻ địch có quân số đông, có
nhiều binh khí kỹ thuật hiện đại, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cách
nhìn nhận về địch của người chỉ huy. Chính vì vậy, chúng ta càng phải
rèn luyện quan điểm lập trường, trau dồi trình độ lý luận, nắm vững
phép biện chứng duy vật trong việc phân tích cụ thể tình hình cụ thể,
nắm vững đường lối quân sự của Đảng để soi sáng vào sự việc cụ thể,
nhìn nhận kẻ địch cho thật đúng, thấy được chỗ mạnh của địch nhưng quan
trọng hơn nữa là phải tìm cho ra chỗ yếu của địch mà "lách lưỡi lê vào
đó" khoét cho rộng. cho sâu. Như vậy nhất định chúng sẽ chết.
Nhìn nhận về địch đúng hay sai, đó là vấn đề vừa là phẩm chất vừa là
tài năng của người chỉ huy, ở trường hợp nào đó, nếu người chỉ huy một
mực đề cao cái mạnh của địch, không thấy cái mạnh của quần chúng, của
con người đã giác ngộ cách mạng cao thì sẽ sợ địch, thiếu tin ở sức
mình, quyết tâm do dự, rụt rè, đánh dò dẫm, đánh cầm chừng... Vì đó mà
làm cho bộ đội lâm vào tình trạng "tiến thoái lưỡng nan", tổn thất
nhiều, thậm chí có khi đi đến thủ tiêu chiến đấu; những cái mạnh tạm
thời của kẻ địch sẽ được phát huy. Cho nên, vấn đề nhìn địch thế nào để
không sợ địch và đánh giá địch đúng mức là một yêu cầu rất quan trọng
đối với người chỉ huy.
Ngược lại, sau khi đánh thắng nhiều trận, người chỉ huy dễ nảy sinh tư
tưởng chủ quan, coi thường địch quá đáng, nên đã vấp thì vấp rất đau:
lúc đó tư tưởng sợ địch lại có thể tái sinh. Đã chủ quan thì việc
nghiên cứu địch sẽ không chu đáo, chuẩn bị bộ đội sê không đầy đủ. đánh
bừa, đánh ẩu. Trận đánh vị trí Pheo thuộc tỉnh Hòa Bình cũ là một thí
dụ. Đại đoàn cùng với trung đoàn, tiểu đoàn đi nghiên cứu vị trí địch:
thấy địa hình đồi Phèo và bản Pheo nằm hai bên đường số 6, vị trí đồi
Pheo về phía tây có dãy đồi cao hơn, rừng rậm, nối liền với đồi Pheo là
một vai bò thoai thoải đổ từ dãy núi cao xuống đồi Pheo. Đại đoàn phần
vì chủ quan nên không tập trung vào đấy mà nghiên cứu kỹ, phần vì do dù
nên không đề đạt với cấp trên để xin thêm thời gian chuẩn bị và không
tích cực đôn đốc trung đoàn khắc phục khó khăn về rừng rậm để có một
mũi bất ngờ từ phía tây đánh từ trên xuống. Cán bộ chỉ xem xét qua loa,
thiếu trách nhiệm đánh giá địch thấp. Nhất là sau chiến thắng Tu Vũ,
cán bộ ta cho rằng quân địch ở Pheo tinh thần dao động. Nhưng thực tế
lại khác, tên quan năm Clê-măng, chỉ huy trưởng khu chiếm đóng Hòa
Bình, đã ra lệnh cho tên thiếu tá Rúc và binh lính lê dương: "Sống chết
phải giữ Pheo đến cùng!" Bố trí cụ thể của địch ở đó ta nắm không chắc.
Khi phát hiện địa hình có lợi, có thể chiếm điểm cao đánh thúc xuống
đầu địch thì cán bộ ta ngại khó khăn này, khó khăn khác, không quyết
tâm khắc phục. Tư tưởng chủ quan ảnh hưởng tới bộ đội. Khi chiếm lĩnh,
anh em bảo nhau: “Tốt trời như thế này, đánh một loáng là xong!”. Có
khẩu đội đại liên muốn để bớt một nửa cơ số đạn "ở nhà” vì cho rằng chỉ
cần bắn vài loạt là đủ, mang đạn đi nhiều lại vác về chỉ tổ nặng...
Chính do tư tưởng chủ quan, nắm địch không rõ, chuẩn bị đại khái qua
loa, nên lúc chiến đấu đã gặp nhiều khó khăn. Đơn vị đánh bản Pheo đột
phá gặp bãi lầy, mãi mới phá xong ba hàng rào, lúc hai xe tăng địch ra
bịt cửa mở thì tổ đánh tăng lại ở phía sau chưa lên kịp...
Trận đánh vị trí Pheo, mặc dầu quân ta đã chiếm được gần hết cứ điểm
phòng ngự của địch, chỉ còn bộ phận nho dồn vào cố thủ xung quanh cột
cờ, nhưng chúng ta gặp nhiều khó khăn, tiêu diêt địch không gọn.
Sau đó, khi tổng kết đại đoàn cũng đã nói: "Địch bố trì phòng ngự tuy
khá mạnh, song trung đoàn vẫn hoàn toàn có khả năng tiêu diệt được đồn
Pheo, nếu không mắc phải những khuyết điểm nghiêm trọng: chuẩn bị thì
chủ quan đơn giản, kế hoạch đại khái, qua loa... Đại đoàn chịu phần
trách nhiệm vì nắm tình hình không sát, không phát hiện được kịp thời
những sai lầm về tư tưởng và tổ chức của cấp dưới". Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, có nhiều cán bộ chỉ huy
rất, chủ quan, ảnh hưởng không ít đến tư tưởng bộ đội. Trước khi xuất
kích, đơn vị súng cối cho rằng bắn ngần này đạn dù xung kích chưa vào,
địch cũng chết hết. Đột kích 1 cho rằng mình vào đồn chỉ để quét tàn
binh. Đột kích 2 thì chuẩn bị vào thu dọn chiến lợi phẩm. Bộ phận bao
vây thì giương lê sẵn không phải để xung phong mà để nếu địch rút chạy
vướng lê phải dừng lại (!), v.v… Nhưng thực tế khi đánh thì đơn vị đã
không làm tròn nhiệm vụ. Kết quả của tư tưởng chủ quan, đơn giản là
trong tác chiến nhất định không thể nào giành được thắng lợi tốt đẹp
như ý muốn.
Khi thế trận của ta đang trên đà phát triển thuận lợi, chiến thắng đang
giòn giã, bắt đầu nảy sinh những nhận xét về địch như "đánh là tan”,
"nổ súng là địch chạy", v.v… nên lúc này người chỉ huy càng phải hết
sức tỉnh táo, cảnh giácthận trọng hơn bao giờ hết. Vì lý do sơ ý người
ta có thể ngã ở quãng đường không trơn.
Cùng với việc nghiên cứu địch, người chỉ huy phải xem xét kỹ tình hình
ta, nếu không, kế hoạch tác chiến sẽ trừu tượng, phiến diện, rất nguy
hiểm. Nhìn nhận bộ đội ta không phải chỉ đơn thuần đếm đầu người, tính
đầu đơn vị, đếm đầu hỏa khí... với những con số so sánh trên sách vở.
Tôi không bác bỏ nhùng con số quý giá ấy mà người chỉ huy cần nắm để
làm cơ sở hạ quyết tâm. Nhưng nếu chỉ dựa vào con số ấy thì hoàn toàn
chưa đủ và nhất định sẽ phạm sai lầm, có khi rất nghiêm trọng.
Theo kinh nghiệm của bản thân tôi khi nhìn nhận về ta, người chỉ huy
cần hết sức coi trọng vấn đề mấu chốt nhất là tư tưởng, tiếp đến là
trình độ kỹ thuật, chiến thuật, và sau đó là vấn đề số lượng thành phần
tổ chức, trang bị của bộ đội. Các vấn đề này có liên quan chặt chẽ với
nhau. Tư tưởng chi phối hành động của con người, ngược lại cơ sở vật
chất có ảnh hưởng trở lại tư tưởng và là điều kiện để phát huy sức mạnh
của tư tưởng.
Trong thực tế cũng có lúc bị tình huống cụ thể lôi cuốn mà người chỉ
huy lãng quên mối liên hệ rất cơ bản đó. Có lúc cán bộ đã coi thường,
chưa thấy hết ý nghĩa quyết định của ý chí, tinh thần, đồng thời có
người đôi lúc lại coi nhẹ các điều kiện thuộc cơ sở vật chất.
Có trận đánh một cứ điểm ở đồng bằng, khi nhận nhiệm vụ chiến đấu, có
khá nhiều cán bộ, chiến sĩ đơn vị nọ rất chủ quan. Ý vào kinh nghiệm và
trình độ chiến đấu của đơn vị mình, anh em cho rằng: "Cứ điểm này bé,
bóp nát lúc nào cũng được!". Do thiếu sót của lãnh đạo, không nắm được
tư tưởng bộ đội nên không kịp thời uốn nắn. Công tác chính trì không
tiến hành sâu rộng tới tận chiến sĩ, không làm thấm nhuần phương châm
và quán triệt nhiệm vụ, không thấy hết thuận lợi, không dự kiến hết khó
khăn để tìm ra biện pháp khắc phục... Tư tưởng chủ quan, coi thường
địch như vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác chuẩn bị chiến đấu, cấp
nọ khoán trắng cho cấp kia tiểu đoàn giao cho đại đội, đại đội giao cho
trung đội. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị cơ sở cũng chủ quan cho mình đã làm
nhiều, đánh nhiều, nên chuẩn bị qua loa cho đủ số lượng như cấp trên
quy định. Khi báo cáo rất đầy đủ, nhưng chất lượng ra sao thì không ai
biết.
Dưới đây, trích lại một đoạn ngắn về diễn biến chiến đấu của trận đánh
trong bản tổng kết của đơn vị đó để chúng ta cùng nghiên cứu xem tư
tưởng chủ quan ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị như thế nào, việc chuẩn
bị đại khái ảnh hưởng đến thực hành chiến đấu ra sao: “... Đại đội mũi
chính tiếp cận sát hào, phát tín hiệu cho pháo bắn vào lô cốt bên trong
để đơn vị bắc thang vượt qua hào. Nhưng phần lớn hỏa lực của ta đều bắn
vào tầng trên của các lô cốt, địch ở bầng dưới chưa bị sát thương, khi
hỏa lực của ta vừa bắn chuyển vào lô cốt B thì hỏa lực của địch ở tầng
dưới bắn ra rất mạnh. Tổ hỏa lực của đại đội thì đạn dược đã tiêu hao
nhiều, không đủ sức kiềm chế các lỗ châu mai. Tổ thang ván không tiến
lên được, phải lợi dụng lúc hỏa lực địch ngừng bắn để vượt lên lao
thang qua hào, nhưng vì làm không đủ kích thước, thang hụt không sang
được, xung kích phải dừng lại ở giữa cửa mở, bị hỏa lực địch sát thương
một số. Đại đội trưởng ra lệnh nhổ chông, lội qua hào vượt lên đánh vào
lô cất A. Vì không nắm vững công sự của địch, việc chuẩn bị số lượng
bộc phá không đầy đủ nên bộc phá sử dụng hết rồi mà lô cốt vẫn chưa
thủng. Đại đội trưởng cho tổ đột kích vượt lên nóc lô cốt để đánh
xuống. Địch vẫn ngoan cố chống cự. Tổ đột kích phải tiếp cận kiềm chế
các lỗ châu mai, đồng thời dùng lựu đạn, thủ pháo, tiểu liên đánh
xuống, và sau 10 phút chiến đấu ác liệt mới chiếm xong lô cốt A.
Đại đội mũi phụ bên trái mũi chính cũng gặp hào, nhưng không chuẩn bị
thang ván trước, phải dừng lại ở giữa cửa mở, đội hình ùn, bị hỏa lực
địch sát thương một số, trong đó có cả đại đội trưởng và chính trị
viên, số còn lại phát triển lạc hướng. Đại đội phó lên thay, phải củng
cố lại khá lâu, không hiệp đồng đột phá được cùng mũi chính. Sau khi
củng cố xong, mũi này cũng phải lội qua hào vượt lên đánh vào lô cốt
E...
Đại đội mũi phụ ở phía tây - bắc, do chuẩn bị bộc phá không cẩn thận,
nhiều lần đánh không nổ nên cũng bị chậm lại Địch có điều kiện tập
trung hỏa lực đối phó mạnh hơn, khi ta tiếp cận sát hào bị thương vong
một số, không đủ sức vượt qua, phải lùi lại để củng cố. Thang chuẩn bị
cũng không đủ kích thước, khi bắc qua hào bị hụt... hỏa lực của đại đội
và tiểu đoàn bắn rời rạc không đủ sức kiềm chế hỏa điểm của địch, nên
khi tổ bộc phá khồl lội được qua hào, vượt lên bộc phá lô cốt, bị hỏa
lực địch sát thương một số. Anh em rất dũng cảm lao lên đặt được bộc
phá vào chân lô cốt, nhưng nụ xòe bị ướt, sử dụng hệt số lượng bộc phá
khối mà không quả nào nổ...”.
Qua một đoạn diễn biến chiến đấu nói trên cho ta thấy rằng, nếu người
chỉ huy nắm được tình hình chuẩn bị chiến đấu, nếu biết kịp thời uốn
nắn tư tưởng chủ quan và tổ chức kiểm tra chặt chẽ, thì chắc chắn công
tác chuẩn bị chiến đấu không đến nỗi đại khái như thế, và lúc chiến đấu
nhất định sẽ thuận lợi hơn nhiều.
Trong trận này, cán bộ và chiến sĩ đơn vị cơ sở kiến đấu rất anh dũng.
Sau nhiều lần tranh chấp với địch, đại đội mũi chính đã chiếm thêm được
lô cốt cố thủ ở tung thâm vị trí và nhà số 5 là nơi chỉ huy đầu não của
địch. Nhưng lực lượng các đơn vị đột kích 1 nói chung đã đuối sức. Đơn
vị đột kích 2 của trung đoàn thì còn nguyên vẹn. Thời gian còn hai giờ
nửa mới sáng. Trung đoàn trưởng quyết tâm sử dụng đại đội... của đột
kích 2. Đồng chí giao cho tham mưu trưởng dẫn lên gặp trung đoàn phó ở
chỉ huy sở của tiểu đoàn chủ công và chịu quyền chỉ huy của trung đoàn
phó. Ba mươi phút sau, đại đội của đột kích 2 và tham mưu trưởng tới vị
trì nhận nhiệm vụ. Do ngại đánh ban ngày, sợ phi pháo của địch, một số
cán bộ đã đề nghi trung đoàn cho rút.
Vì không nắm được tình hình cụ thể và cho rằng các đồng chí ở đột kích
1 nắm được tình hình cụ thể hơn, trung đoàn đã thay đổi chủ trương và
đồng ý với đề nghị lui quân. Lúc đó, quân địch trong cứ điểm đã bị tiêu
hao nặng, còn một số đang lúng túng hoang mang, chỉ mong cố thủ những
chỗ còn lại được đến sáng để chờ viện binh.
Sau này tổng kết anh em thấy rằng, nếu lúc đó trung đoàn trưởng nắm
được tình hình, kiên quyết sử dụng đột kích 2 đánh thúc vào phía sau
lưng 3 lô cốt ngoại vi còn lại, thì mũi phụ có điều kiện phát triển
thuận lợi hơn và chắc chắn trận đánh sẽ kết thúc gọn.
Qua những mẩu chuyện trên, chúng ta thấy rằng vấn đề mấu chốt của người
chỉ huy đối với việc nắm tình hình ta phải nắm thực chất tư tưởng cán
bộ và chiến sĩ để có kế hoạch lãnh đạo đến nơi đến chốn. Đồng thời còn
phải xem xét thực chất tổ chức, số lượng và chất lượng trình độ kỹ
thuật chiến thuật và công tác chuẩn bị cụ thể. Làm được như thế, quyết
tâm chiến đấu của người chỉ huy chắc chắn sẽ ít phạm sai lầm.
TAI NGHE KHÔNG BẰNG MẮT THẤY
Để có cơ sở hạ quyết tâm chính xác, một trong những công việc rất quan
trọng của người chỉ huy là công tác chuẩn bị chiến trường, trinh sát
thực địa. Chuẩn bị chiến trường thực chất là một thử thách đối với
người chỉ huy về tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn và
cũng là một thử thách về lòng dũng cảm, tinh thần chiến đấu hy sinh,
tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước quần chúng.
Bất cứ đánh theo hình thức nào đều phải có công tác chuẩn bị chiến
trường. Mỗi một cách đánh có đặc điểm của nó, nên nội dung công tác
chuẩn bị chiến trường yêu cầu cũng khác nhau. Thí dụ: Đánh úp, đánh
địch đổ bộ bằng máy bay lên thẳng thì địch đông, thời gian gấp rút;
đánh địch trong công sự vững chắc thì địch cố định, có thời gian chuẩn
bị hơn v.v... Vì vậy, yêu cầu công tác chuẩn bị chiến trường là do yêu
cầu, đặc điểm của trận đánh quy định.
Người chỉ huy nếu vì ngại gian khổ, sợ hy sinh, chuẩn bị chiến trường
không đến nơi đến chốn, đứng xa quan sát đại khái, hoặc chỉ nghe lời
đồn đại, địch thế này, địa hình thế kia, rồi cứ thế hạ quyết tâm, thì
khó tránh khỏi những khó khăn không lường được khi chiến đấu.
Sau khi nhận nhiệm vụ chiến đấu, đội công tác chuẩn bị chiến trường
phải có quyết tâm "ba bốn núi cũng trèo, bảy tám sông cũng lội, nhín
mười đèo cũng qua", điều gì còn nghi nghi hoặc hoặc thì đi tới nơi xác
định rõ ràng. Người chỉ huy phải băn khoăn, bứt rứt, khó chịu khi thấy
rằng công tác chuẩn bị chiến trường của đơn vị chưa chu đáo, có điểm
còn mập mờ chưa rõ. Phải tìm mọi cách chuẩn bị chu đáo, kể cả trường
hợp đánh tập kích cũng không được vin vào hoàn cảnh địch di chuyển thay
đổi luôn, thời gian gấp rút mà bỏ qua công tác chuẩn bị chiến trường.
Nhất là không được rời địch một phút, một giây. Địch đi một bước, ta
theo một bước. bám sát địch suốt ngày, suốt đêm. Địch dừng lại, ta biết
rõ nơi địch bố trí; địch đi, ta biết rõ đường đi và đội hình của chung,
v.v...
Khi đánh vị trí có công sự vững chắc thì công tác chuẩn bị chiến trường
lại càng kiên trì, bền bỉ, chịu khó, tỉ mỉ và dũng cảm. Khi nói đến
công tác chuẩn bị chiến trường, mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng ta đều có
thể đóng góp được rất nhiều chuyện, rất nhiều bài học bổ ích để trao
đổi học tập lẫn nhau.
Dưới đây, xin kể chuyện chuẩn bị chiến trường của đại đoàn chúng tôi
trong chiến dịch Tây Bắc, mà tôi đã nói ở phần đầu cuốn sách.
Nghĩa Lộ là một trong 4 phân khu (Lai Châu, Thuận Châu, Nghĩa Lộ, Sơn
La), thuộc khu quân sự độc lập ở vùng địch chiếm đóng Tây Bắc. Đây là
chỗ mạnh nhất của địch ở Tây Bắc. Nó là "bức bình phong" che chở phòng
tuyến sông Đà và là bàn đạp tấn công uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc. Đại
đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ thọc sâu vào trong lòng địch, tiêu
diệt hai cứ điểm Pú Chạng và Nghĩa Lộ, đồng thời tiêu diệt cứ điểm Cửa
Nhì. Đó là yêu cầu chính của đợt mở màn chiến dịch.
Địa thế Nghĩa Lộ rất hiểm trở. Ngoài con đường độc đạo số 13, muốn tiến
vào Nghla Lộ phải băng rằng, vượt núi hoặc dò theo những con đường ít
vết chân người, đèo cao dốc đứng. Trên đường đi có nhiều chỗ rất hiểm:
chi cần một vài người cũng có thể ngăn chặn nổi một cánh quân. Con
đường ấy đã hạn chế rất lớn công tác tiếp tế vận tải. Lúc thường ngồi
nghĩ tới con đường xa xôi heo hút ấy đã hình dung thấy gian khổ nhường
nào rồi! Đầu mùa thu năm 1951, trong chiến dịch Lý Thường Kiệt, một đơn
vị được lệnh vượt qua núi rừng hiểm trở tiến đánh Nghla Lộ. Lúc đang
trên đường tiến quân đã bị bọn phản động, tay chân của giặt phát giác:
mặt khác sự tiếp tế vận tải gặp khó khăn lớn nên đơn vị không đủ sức
hoạt động lâu dài đành phải vượt núi lui quân.
Tôi được biết lúc này quân địch vẫn tự đắc coi Nghĩa Lộ là nơi "bất khả
xâm phạm!”. Chúng càng ra sức củng cố, tăng cường càn quét, đánh phá cơ
sở của ta, tung gián điệp biệt kích hoạt động trên dọc đường và các bản
hẻo lánh rẻo cao và đặt chông, mìn trên các đường ta có thể đi qua.
Muốn tiến vào Nghĩa Lộ, chúng ta phải vượt qua tiểu khu Ba Khe, Cửa
Nhì, Gia Hội gồm một hệ thống cứ điểm tiền tiêu án ngữ mọi ngõ ngách
hiểm yếu.
Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đại đoàn giao trách nhiệm cho tôi phụ trách một
đoàn cán bộ, cùng anh em quân báo vượt qua các vị trí tiền tiêu của
địch, đi chuẩn bị chiến trường. Để giữ bí mật, tránh bọn gián điệp biệt
kích phát hiện, chúng tôi đã xuyên rừng vượt núi, tìm những con đường
đi hẻo lánh nhất. Trên vai mỗi cán bộ phải đèo thêm một bao gạo đầy
căng, ngoài ra còn mang đầy đủ chăn màn, quán áo, đồ dùng cá nhân và vũ
khí, đạn dược.
Xuyên qua rừng rậm âm u, chúng tôi hết vượt đèo lại lội suối có ngày
lội bì bõm 24 khúc suối liền. Hai bàn chân của tôi trắng nhợt, các ngón
teo lại dăn dúm như quả mơ khô. Các kẽ ngón và dưới gan bàn chán nước
ăn lỗ rỗ. Các đồng chí khác cũng thế, chân không giày không dép lại
phải leo lên những mỏm đá nhọn đau buốt đến tận tim. Đồng chí Thái
Dũng, trung đoàn trưởng trung đoàn X, mặc dầu chỉ còn một tay nhưng
cũng nhất định đeo một bao gạo. Vượt qua nhùng mỏm núi cheo leo, đồng
chí ngoắc tay vào cành cây, đu người qua.
Cách xa Nghĩa Lộ, chúng tôi đã phát hiện mìn của địch gài ở dọc đường
mòn và cả hai bên rừng. Chúng tôi lại đi tắt rừng vòng đường khác. Mỗi
lúe gặp gian nan, chúng tôi thường nhắc lại lời căn dặn của Bác Hồ, của
Đại tướng Võ Nguyên Giáp để động viên nhau.
Đường đi đã khó, thỉnh thoảng trời lại đổ mưa. Quần áo chúng tôi ướt
sũng lấm bê bết. Ngón chân, ống chân mỏi rời, vì phải luôn bấm chặt
xương sườn núi chênh vênh, trơn tuột.
Khi tới suối Bản Tủ, nước lũ đổ về chảy xiết. Chúng tôi rất lo. Thời
gian gấp, bộ đội đang chuẩn bị và sắp hành quân, không thể dừng lại ở
đây chờ nước rút mới qua suối. Chúng tôi bàn trạc quyết định chặt nứa
đóng mảng. Các đồng chí quân báo đề nghị sang trước xem sao đã. Mảng
vừa xuống suối đã trôi đi băng băng. Các chiến sĩ ra sức chèo chống
nhưng không sao ghìm nổi. Sóng trùm lên mảng, cuốn đi. Trên bờ, chúng
tôi chạy dọc suối để tìm cách đón anh em, nhưng không thấy đâu nữa. Thì
ra nước đã cuốn anh em trôi đi nấy ki-lô-mét. Những với tính gan góc và
mưu trí, anh em quân báo đã bám vào cành cây, vật lộn với nước lũ, rồi
băng rừng, và sáng hôm sau trở về với chúng tôi.
Vượt bằng mảng không thành công, chúng tôi bàn cách nối dây dù lại, một
đồng chí cầm một đầu dây bơi sang trước buộc vào thân cây bên kia, để
anh em bám vào dây lội sang. Vượt suối thành công, chúng tôi quên cả
mệt nhọc, hăng hái đi suốt đêm. Có hôm chúng tôi lạc đường. Đi chuẩn bị
chiến trường mà lạc đường thì vô cùng nguy hiểm, lỡ kế hoạch, lỡ thời
gian, có khi lộ bí mật. Bộ đội đang hành quân theo sau, đến nơi mà cán
bộ chưa chuẩn bị xong thì biết bao nhiêu khó khăn sẽ đến. May sao, gặp
một thanh niên người địa phương, sau khi thử thách thăm dò, biết là
người tốt, chúng tôi yêu cầu anh dẫn đường. Anh vui vẻ sẵn sàng giúp
chúng tôi đi đến nơi.
Tới Nghĩa Lộ, chúng tôi vừa hết gạo, lại một mối lo nữa. Vì còn phải ở
đây nghiên cứu một thời gian và còn phải trở lại đón bộ đội, lấy gì mà
ăn?
Chúng tôi đang lo thì gặp một chiến sĩ quân báo của Bộ nằm sẵn trong
phố Nghĩa Lộ ra đón. Biết rõ mỗi lo của chúng tôi, đồng chí về phố
ngay, và đến chiều đem ra rừng cho chúng tôi khá nhiều gạo và một ít
mắm tôm. Chúng tôi nấu cơm, nắm mỗi người một nắm to để ngày sau không
phải nấu nướng, vừa để giữ bí mật, vừa đề phòng bất trắc. Mặt khác,
chúng tôi thu xếp cho anh em ốm nặng nghỉ lại, tổ chức người bảo vệ,
người chăm sóc chu đáo. Nhưng anh em ốm không nghe, đề nghị cán bộ cứ
đi chuẩn bị chiến trường, còn anh em ốm ở lại sẽ tự bảo vệ, tự săn sóc
nhau.Men theo rừng Nghĩa Lộ, chúng tôi leo lên đỉnh một quả đồi để quan sát,
Pú Chạng chính là nơi tôi và anh Nho gặp nhau sau khi vượt khỏi nhà tù
Nghĩa Lộ (3-1945), nay là chỉ huy sở của tên quan tư Ti-ri-ông, chỉ huy
phân khu Nghĩa Lộ. Ban ngày nằm trên đỉnh một quả đồi nhìn sang đồi Pú
Chạng, chúng tôi quan sát vị trí địch rất rõ. Ban đêm, chúng tôi vào
gần hơn cán bộ đại đội, tiểu đoàn bò sát tận hàng rào của địch, nghiên
cứu từng ụ súng, từng mô đất tìm nơi đặt từng khẩu súng máy... Nghiên
cứu xong Pú Chạng, chúng tôi trở về phía bắc điều tra vị trí Nghĩa Lộ
phố. Chúng tôi vào sát Nghĩa Lộ chừng bảy, tám trăm mét, nam trên đỉnh
mỏm đồi nhìn xuống phố Nghĩa Lộ rõ mồn một. Đầu sân bay là trại giam,
trước Cách mạng tháng Tám đế quốc Pháp đã nhốt chúng tôi ở đó Sân bay,
xưa là vườn ổi, nơi tôi đã chôn mấy đồng chí ta bị chết vì bệnh sốt rét
ác tính ở trong nhà giam. Vị trí địch đóng trên đồi cao hơn mặt ruộng
khoảng 15 mét. Ở phía tây nam thị trấn chính là đồn lính canh phòng
chúng tôi ngày trước. Ban ngày xem xét kỹ; ban đêm tuỳ từng cấp, từng
cương vị, chúng tôi bò vào sát vị trí để xem xét cụ thể hơn nữa.
Tiện đây, tôi nói thêm một kinh nghiệm nhỏ nhưng rất cần thiết đối với
công tác chuẩn bị chiến trường. Mặc dầu ban ngày quan sát địa hình,
tình hình địch rõ rồi, nhưng vẫn phải nghiên cứu ban đêm, vào gần hơn
nữa, cụ thể hơn nữa, nhận dạng địa hình địa vật để sau này vào chiếm
linh ban đêm không bỡ ngỡ. Ngược lại, mặc dầu ban đêm nghiên cứu tỉ mỉ,
vào gần rồi, nhưng phải tìm cách nghiên cứu ban ngày. Vì ban ngày nhìn
được địa thế bao quát hơn, xác định rõ từng địa vật hơn, còn đêm tối
nhìn hình thù địa vật mờ mờ, có khi xác định không đúng thực chất của
nó. Nếu cán bộ đi chuẩn bị chiến trường chỉ ở xa dùng ống nhòm quan sát
ban ngày, thì khi tiến vào chiến đấu ban đêm, "quân" lạc đường, "tướng"
lạc đường, bộ binh, hỏa lực giẫm đạp vào nhau, địch một nơi đánh một
nẻo, thậm chí đánh cả vào chỗ không có địch hoặc đánh quay trở lại
hướng mình vừa xuất phát. v.v… Ngược lại, có trận đánh, cán bộ chỉ huy
quan sát ban đêm nên không nắm được bao quát tình hình và xác định địa
vật không đúng. Có đơn vị bố trí giơ cả sườn, quay cả lưng vào một mỏm
đồi khác có địch bố trí, nhà lá thì cho là nhà gạch, nhà một tầng thì
bảo là hai, hàng rào đơn thì bảo hàng rào kép... Tất cả những vấn đề cụ
thể ấy đều có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của trận đánh.
Trở lại câu chuyện chuẩn bị chiến trường trong chiến dịch Tây Bắc. Như
vậy, tính từ ngày rời tả ngạn sông Hồng chúng tôi đã đi gần một trăm
ki-lô-mét xuyên rừng vượt núi và đi vòng quanh Nghĩa Lộ - một thung
lũng chiều dài 15 ki-lô-mét, chiều ngang chỗ rộng nhất 6 ki-lô-mét, chỗ
hẹp nhất cũng chừng 3 ki-lô-mét. Mưa gió rét buốt tận óc. Những cán bộ
bị bệnh đau dạ dày như tôi và một vài đồng chí nữa thỉnh thoảng lại đau
dữ dội. chống gậy đi cũng không vững. Chân chúng tôi toé máu tươi, rỗ
tổ ong, cố cắn răng chịu đựng. Có mấy đồng chí vừa đau chân vừa sốt rét
vẫn theo sát đoàn. Trong lúc khó khăn hiểm nghèo, cán bộ đại đoàn,
trung đoàn và các cấp dưới rất thương yêu nhau, đùm bọc nhau như anh em
ruột thịt vậy. Cho nên: nhiều lúc chúng tôi quên cả vất vả, ngơi một
phút lại cùng nhau bàn bạc làm thế nào để chấp hành nhiệm vụ đạt kết
quả tốt, chiến đấu thắng lợi.
Lúc trở ra, gần tới đèo Khau Vác, đuôi của dãy núi Phăng Xi Păng, chúng
tôi gặp một tiểu đoàn cơ động của địch đóng chặn ở chân đèo. Chúng tôi
bàn cách một là đi vòng đường khác, nhưng xa và lỡ kế hoạch tác chiến;
hai là tản ra, phân tán đi qua các khe suối, nhưng dễ lạc lung tung, có
khi đâm cả vào địch, chỉ một người bị địch bắt cũng nguy hiểm; ba là đi
ngay dưới chân đèo sát khu vực địch đóng. Chúng tôi nhất trí cách thứ
ba, vì đó là nhằm vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch. Ban đêm, chúng phải
đóng gọn lại, canh gác thu lu một chỗ, không dám lùng sục ra xa. Mặt
khác, chúng đang chủ quan cho là bộ đội chủ lực của ta không thể đến
ngay đây được. Trường hợp nếu địch phát hiện được, anh em quán báo sẽ
đánh kiềm chế để cán bộ vượt qua. Quả nhiên ban đêm chúng tôi đã vượt
qua ngay trước mũi của địch rất êm thấm. Ra khỏi đèo Khau Vác, gạo ăn
lại hết, chúng tôi tới các bản làng trên đỉnh núi xin ngô, may mắn đồng
chí liên lạc đã đi với chúng tôi, quê hương ở vùng đó, đã dẫn chúng tôi
về bản xin ngô và đem đi một ít dự trữ ở dọc đường.
Trong khi đó, ở bộ tư lệnh đại đoàn, đồng chí chính ủy Song Hào giúp
tôi đôn đốc cơ quan tham mưu xúc tiến công tác chuẩn bị cho bộ đội,
đồng chí Cao Văn Khánh, đại đoàn phó, lên Bộ nhận nhiệm vụ cụ thể. Các
đồng chí ở nhà được tin địch đóng chặn đường, đang định cấp tốc đưa bộ
đội đến phá vây thì chúng tôi đã về tới đơn vị.
Công tác chuẩn bị tư tưởng, chuẩn bị vật chất ở đơn vị đã làm đầy đủ
công tác chuẩn bị chiến trường cũng đã hoàn thành, chúng tôi tạm coi
như đã cầm chắc một phần chiến thắng.
Kết quả cụ thể của lần chiến đấu này, tôi xin kể vào một đoạn sau.
Qua những sự việc kể trên, bản thân tôi rút ra cho mình một bài học về
tác phong chỉ huy là phải thật tỉ mỉ, cụ thể, bất kể việc to hay nhỏ,
từ việc giáo dục và huấn luyện cho đến chiến đấu, nhất là chiến đấu.
Tôi sẽ nói thêm ở phần sau: Phải "ý tới, chân đi tới, mắt nhìn tới",
phải "miệng nói tay làm”.
QUYẾT TÂM, DỨT KHOÁT, RÕ RÀNG
Sau khi xem xét, suy nghĩ về địa hình, tình hình địch và tình hình ta,
người chỉ huy hạ quyết tâm chiến đấu, ta thường gọi là lập phương án
hoặc kế hoạch tác chiến.
Những căn cứ và nội dung hạ quyết tâm chiến đấu tôi không nói ở đây, mà chỉ nêu một số kinh nghiệm của bản thân về hạ quyết tâm.
Quyết tâm của người chỉ huy phải dứt khoát và mưu trí. Khi duyệt quyết
tâm của cấp dưới cũng phải dứt khoát rõ ràng, có thái độ kiên quyết và
tạo điều kiện giúp đỡ cấp dưới thực hiện quyết tâm.
Sau khi đã suy nghĩ kỹ, người chỉ huy không được do dự, mập mờ ý định,
mà phải báo cáo quyết tâm dứt khoát, rõ ràng với cấp ủy để cấp ủy phê
chuẩn. Có quyết tâm dứt khoát để toàn bộ công tác lãnh đạo, giáo dục
chính trị hướng vào đó, toàn bộ công tác tổ chức, chuẩn bị hướng vào
đó, toàn bộ công tác đảm bảo vật chất hướng vào đó. Có quyết tâm dứt
khoát để mọi người tích cực thực hiện cho bằng được quyết tâm ấy. Song
song với quyết tâm chính, người chỉ huy cần có dự kiến các tình huống
khác để chuẩn bị ứng phó, tránh bị động, lúng túng.
Trong công Lác, tôi đã gạp một số Lrùòng hợp. Trong đó tôi thấy quyết
tâm của cán bộ chỉ huy không dứt khoát. rõ ràng. Một cán bộ nhận nhiệm
vụ đánh vị trì địch. Đồng chí trao nhiệm vụ cho một đơn vị tiêu diệt
một trong hai cứ điểm; còn đơn vị kia bố trí ở khoảng giữa hai cứ điểm,
với ý định khì đơn vị đánh gặp khó khăn, đơn vị này sẽ vận động tới
tăng cường cùng giải quyết cho xong; hoặc nếu địch tiếp viện thì đánh
viện; nếu địch không tiếp viện, có thời cơ thì đánh luôn cứ điểm thứ
hai.
Tôi hỏi:
-Tại sao không bố trí đội hình thành thế trận hẳn hoi, kiên quyết tiêu
diệt một cứ điểm, sau đó tập trung tiêu diệt nốt cứ điểm kia?
Đồng chí trả lời:
-Tất cả đánh một cứ điểm có thể sẽ thừa, lực lượng không sử dụng hết, vả lại đã tập trung nhiều pháo, cối vào đấy rồi!
Tôi bảo:
-Nếu đủ sức thì đồng thời tấn công cả hai cứ điểm trong một đêm.
Đồng chí lắc đầu, sợ không đủ sức.
Tôi bảo:
- Vậy thì phải bố trí làm sao tạo thời cơ tiêu diệt quân địch ở nơi khác viện đến.
Đồng chí đáp:
- Chưa chắc địch viện đã đến.
Theo tôi, nếu cứ giữ quyết tâm ấy thì có khi đánh điểm không xong, đánh
viện cũng chẳng được, và cấp dưới rất khó chấp hành nhiệm vụ. Có đủ cơ
sở rồi mà người chỉ huy hạ quyết tâm như thế là quyết tâm mập mờ, không
rõ ràng. Nhưng khi chưa có đủ cơ sở mà người chỉ huy đã vội hạ quyết
tâm cũng là sai lầm.
Bất cứ một tình huống nào, người chỉ huy cũng cần suy nghĩ thật chín
chắn, tìm mọi cách để hạ quyết tâm dứt khoát, rõ ràng, đồng thời dự
kiến những tình huống khác để sẵn sàng ứng phó, chưa có thời cơ phải
tạo ra thời cơ. chưa đủ điều kiện phải tạo ra điều kiện, chỉ có như thế
mới giữ được thế chủ động và tạo điều kiện cho mình nắm được quyền chủ
động. Đó là tiền đề tạo ra chiến thắng.
Lại một trường hợp khác mà theo ý kiến tôi cũng là quyết tâm không rõ
ràng. Một đơn vị nhận nhiệm vụ tạo thời cơ để tiêu diệt địch ở ngoài
công sự. Đơn vị giao cho bộ đội địa phương tấn công tiêu diệt một cứ
điểm, còn toàn đơn vị tập trung vào nhiệm vụ danh địch ngoài công sự.
Theo tình hình cụ thể, địch có thể từ 3 hướng tiếp viện tới. Đơn vị hạ
quyết tâm bố trí ở đoạn giữa để có thể đánh địch từ 3 hướng và có 3
phương án tác chiến 1, 2, 3 (phương án 1 có nhiều khả năng nhất). Dự
kiến nhiều tình huống và đặt nhiều phương án tác chiến, như thế là cần
thiết và phải làm. Nhưng bố trí lực lượng cụ thể thì lại không dứt
khoát rõ ràng, quyết tâm còn mập mờ, do dự. Lực lượng bố trí ở đoạn rất
chênh vênh, ngay với phương án 1 có đơn vị phải vận động 6 ki-lô-mét
trên địa hình trống trải; đối với phương án 2 có đơn vị phải vận động 8
đến 10 ki-lô-mét cũng trên địa hình trống trải... Xem ra không có
phương án nào là phương án "chắc ăn” cả, phương án nào cũng bấp bênh có
thể thế này, có thể thế khác. Đáng lẽ, sau khi dự kiến tỉ mỉ về địch,
người chỉ huy chọn lấy một phương án theo tình huống có thể xảy ra
nhiều nhất và chắc thắng nhất để làm quyết tâm cơ bản, tạo mọi thời cơ
nghi binh, dụ dịch, lôi kéo địch để buộc địch phải hành động theo ý
muốn của mình; tập trung mọi điều kiện khả năng tổ chức, công tác bảo
đảm, v.v. để kiên quyết đánh thắng địch theo phương án nào đó. Muốn
vậy, phải tổ chức lực lượng ngăn chặn địch ở phía này, bao vây kiềm chế
địch ở hướng kia, bố trí quân thích hợp với địa hình...
Đồng thời, người chỉ huy phải dự kiến những tình huống khác có thể xảy
ra, có kế hoạch ứng phó đầy đủ, để khi quyết tâm cơ ban thay dối cũng
không bị động, lúng túng. Nhưng không vì đó mà do dự với quyết tâm cơ
bản, đi đến lững lờ về bố trí quân, mập mờ và nhập nhằng về tư tưởng.
Nếu không kiên quyết tập trung "dứt diềm" từng nơi mà chỗ nào cũng muốn
có quân, có hỏa lực, chỗ nào cũng muốn đánh mạnh ngay thì cuối cùng chỗ
nào cũng yếu, chỗ nào đánh cũng lem nhem, nham nhở. Như vậy khó mà
giành được thắng lợi toàn vẹn.
Một yêu cầu khác đối với người chỉ huy là khi hạ quyết tâm phải chịu
khó suy nghĩ, tìm mưu này kế khác để đánh được địch. Tôi nghĩ: "Đánh
giặc phải mưu mẹo, nếu đánh theo lối thật thà, chất phác hoặc ngây ngô,
khờ dại thì không những khó thắng mà có khi còn bị tổn thất nặng". Ta
và địch ở trên chiến trường luôn luôn tìm mọi cách tiêu diệt lẫn nhau.
Bản chất của kẻ thù là ngoan cố, xảo quyệt và tàn bạo. Muốn thắng địch,
người chỉ huy phải tinh khôn vạch ra những kế hoạch hết sức mưu mẹo.
Đặc biệt trong tình hình kẻ địch đông hơn ta hoặc mạnh hơn ta về vũ
khí, trang bị kỹ thuật hiện đại thì kế hoạch tác chiến của người chỉ
huy lại càng phải mưu mẹo: khéo nghi binh đánh lừa địch, làm chođịch
không thê phán đoán được ý định tác chiến của ta, làm cho chúng luôn
luôn bị động, đánh hụt, vấp đau.
Vừa rồi, có một cán bộ đến gặp tôi, đề nghị tôi truyền đạt một vài
"miếng võ hiểm” của người chỉ huy. Tôi định trao đổi với đồng chí ấy về
vấn đề người chỉ huy đánh giặc phải mưu mẹo. Nhưng đó lại là việc mà
đồng chí đã từng làm. Tôi được biết đồng chí đã chỉ huy rất dũng cảm,
linh hoạt một đơn vị thuộc đại đoàn hoạt động trong lòng địch ở đồng
bằng. Có khi ở giữa vòng vây của mấy binh đoàn cơ động của địch nhưng
đơn vị đồng chí không những không bị tiêu hao mà còn giáng cho địch
những đòn đau điếng. Đồng chí đã nghi binh chỗ này, quấy rối chỗ kia,
để rồi tập trung lực lượng đập những đòn quyết định vào chỗ khác: khiến
cho kẻ địch đang từ chủ động đi tấn công càn quét trở thành bị động đối
phó cuống cuồng. Ngay chỉ trong một trận đánh vị trí địch có công sự
vững chắc hay một trận tập kích, đồng chí cũng nghĩ mưu này mẹo khác,
chứ không tự trói buộc mình vào sách vở mẫu mực một cách cứng đờ. Có
trận tập kích, nếu so sánh về số lượng, ta ít hơn địch về quân số, vũ
khí và cả về địa thế cũng không lợi bằng địch; ngoài ra kẻ địch có thể
tiếp viện từ 2, 3 hướng đến ứng cứu và pháo binh 2, 3 nơi có thể bắn
tới xung quanh mục tiêu. Mặc dầu chiến đấu trong điều kiện khó khăn như
vậy, đồng chí vẫn tập trung được ưu thế về hỏa lực, xung lực ở đoạn
"hiểm yếu nhất, ở thời cơ bất ngờ nhất, trong một thời gian nhất định",
thọc được vào giữa đội hình địch, ngay từ đầu đã tiêu diệt sở chỉ huy,
trận địa pháo của chúng và từ đó tỏa ra tiêu diệt toàn bộ quân đích.
Khi lui quân đồng chí lại khéo nghi binh làm địch bị mắc lừa đánh nhầm
vào nhau. Trận đánh thắng lợi rất đẹp.Tôi không kể kinh nghiệm của tôi, mà chỉ gợi lại một vài trận đánh trên
và kết luận đó chính là một trong những "bí quyết" của người chỉ huy.
Có lần tôi đến thăm một làng chiến đấu. Để giữ con đường vào làng, các
đồng chí ở đây bố trí một khẩu súng máy ở ngay cổng chính, giữa làng
đắp một lô cốt cao có ba lỗ châu mai. Thoáng xem cũng thấy bố trí khẩu
súng máy như vậy thật thà, chân phương quá! Xây đắp lô cốt như vậy có
vẻ ngây thơ, khờ dại quá! Nói cho đúng thì đó là không mưu mẹo, chưa
quán triệt sâu sắc tư tưởng, quan điểm về cách đánh của ta. Đánh giặc
theo kiểu vỗ ngực, khoa dao “bớ ta đây” như thế thì có khi chưa bắn
được giặc, giặc đã diệt mình, hoặc có khi vừa nổ súng bắn được vài phát
đã bị kẻ địch bắn trả lại làm ta tê liệt ngay. Dù những ụ súng to như
đống rơm ấy có bằng xi măng cốt sắt, kẻ địch -bắn súng này chưa sập thì
dùng súng khác, phát trước không đổ thì phát sau, mãi cũng đổ.
Ta đã ít súng, tính năng vũ khí của ta có lúc lại kém hơn của địch mà
bày ra như "bày hàng xén" thì nhất định chả mấy chốc "khánh kiệt gia
tài". Vì súng ta chưa bắn tới địch, thì súng địch đã bắn tới ta. Vì ta
có ít, địch có nhiều, ta bị hỏng một là thiệt thòi rất lớn, địch hỏng
hai ba vẫn chưa ảnh hưởng lắm. Chính vì lẽ đó mà người chỉ huy càng
phải suy nghĩ tìm mưu kế diệt địch. Có trường hợp cụ thể nào đó, ta có
lực lượng nhiều hơn địch, tập trung vũ khí mạnh hơn địch, nhưng nếu
người chỉ huy đánh giặc theo kiểu "vỗ ngực ta đây", ỷ lại vào vũ khí, ỷ
lại vào quân đông, đánh giặc không theo đúng cách đánh của ta, không
linh hoạt, mưu mẹo thì không những không thắng được địch mà có khi còn
bị tổn thất nặng nề.
Làng mạc và núi rừng Việt Nam ta có nhiều địa hình địa vật phức tạp,
hiểm hóc. Nếu người chỉ huy chịu khó tìm tòi suy nghĩ thì trong chiến
đấu bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện nào cũng có thể tạo thành thế bí
mật, bất ngờ. Bí mật, bất ngờ có sức mạnh không gì sánh nổi. Có quyết
tâm, mưu mẹo thì ta nhìn thấy địch mà địch không nhìn thấy ta; ta bắn
được địch mà địch khó bắn được ta; ta ít súng, tính năng vũ khí của ta
thộp hơn địch nhưng uy lực sát thương địch lại rất lớn, v.v. Làm được
như thế, kẻ địch mạnh mấy rồi cũng trở thành yếu, ngoan cố mấy cũng
phải thua.
Năm 1946, chiến đấu với địch ở Thủ đô, bộ đội ta đã dùng nhiều mưu đánh
giặc. Ta đóng ở Bắc Bộ phủ, địch ở khách sạn Mê-tơ-rô-pôn (khách sạn
Thống Nhất bây giờ). Để bất ngờ tiêu diệt địch, ta đã đào một con đường
ngầm dưới mặt đường sang tới dưới nền nhà khách sạn và đặt một quả bom
250kg. Địch hoàn toàn không biết. Ở nhiều nơi khác, ta cũng làm như
vậy. Hồi đó, lực lượng của ta còn ít. Chiều tối, Bộ chỉ huy mặt trận
huy động hàng ngàn dân quân tự vệ ngoại thành rầm rập kéo vào Hà Nội,
nửa đêm và sáng lại phân tán đi ra. Giặc Pháp tưởng lầm là ta huy động
hơn bốn vạn quân về bảo vệ Thủ đô. Khi tác chiến, để làm tròn một trong
ba nhiệm vụ là "giam chân giặc ở Hà Nội một thời gian...", chúng ta
không đánh theo kiểu chia ba tuyến: các cửa ô - Giáp Bát, Đuôi Cá - Hà
Đông để bao vây địch như ý kiến của một sĩ quan Nhật tham gia. Chúng ta
đã táo bạo cho tiểu đoàn 101 bố trí ở lại trong Liên khu I, và 4 tiểu
đoàn bám ở các cửa ô, thực hiện thuật "trùng độc chiến". Địch quay vào
đánh Liên khu I thì 4 tiểu đoàn ở bên ngoài đánh vào sau lưng. địch
quay ra đánh về hậu phương, tiểu đoàn 101 lại đánh sau dưng chúng, tạo
thành thế giàng co lôi kéo địch. Chính vì vậy địch đã mắc mưu ta.
Người chỉ huy còn có nhiệm vụ nữa là duyệt quyết tâm của cấp dưới. Vấn
đề này rất quan trọng. Nhưng tôi chỉ nêu một kinh nghiệm mà tôi thường
gặp và giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ.
Khi duyệt quyết tâm của cấp dưới sau khi suy nghĩ chín chắn, xem xét,
đối chiếu với chủ trương, kế hoạch chung, đối chiếu với quan điểm tư
tưởng quân sự của Đảng vận dụng vào thực tiễn, người chỉ huy thấy chỗ
nào đồng ý thì nói rõ là đồng ý, chỗ nào không đồng ý nói rõ là không
đồng ý, thấy đúng cũng phân tích sâu thêm để cấp dưới tin tưởng vào
quyết tâm của mình, thấy sai cần sửa như thế nào phải nói rõ. Tóm lại,
duyệt quyết tâm của cấp dưới phải dứt khoát, kiên quyết, tuyệt đối
không nể nang, do dự. Nể nang, do dự sau này sẽ hối không kịp. Khi
quyết định cấp dưới sửa quyết tâm, cấp trên eần nghiên cứu xem khả năng
sửa tới mức độ nào, tạo điều kiện cho cấp dưới thi hành.
Trong công tác, tiếp xúc với đồng chí Bộ trưởng Bộ quốc phòng, đồng chí
Tổng tham mưu trưởng, tôi đã học tập được điều này. Khi duyệt quyết tâm
hoặc ra mệnh lệnh, chỉ thị cho cấp dưới, đồng chí nói rõ ràng, dứt
khoát và thái độ rất kiên quyết Thái độ của đồng chí đã giúp chúng tôi
phấn khởi, tin ở mình, tin ở trên và kiên quyết làm tròn nhiệm vụ.
Trong kháng chiến chống Pháp có lần duyệt quyết tâm tác chiến của một
trung đoàn, tôi phân vân không đồng ý hướng đột phá chủ yếu của đơn vị.
Tôi muốn chuyển hướng đột phá chủ yếu tới phía núi cao để đánh xuống.
Nhưng đơn vị nêu khó khăn về đường sá xa, thời gian gấp, v.v. cộng với
một phần tư tưởng chủ quan của mình, nên tôi đã đồng ý với quyết tâm
đó. Đồng ý rồi, nhưng trong bụng vẫn phấp phỏng, băn khoăn. Quả nhiên,
khi tác chiến gặp nhiều khó khăn... Lúc này nghĩ lại thì đã muộn. Bài
học ấy làm cho tôi nhớ rất lâu Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi cũng
gặp lại một tình huống gần giống như vậy. Tôi không đồng ý với quyết
tâm của một tiểu đoàn trưởng. Đồng chí chính ủy đại đoàn và cơ quan
tham mưu cũng nhất trí với tôi. Nhưng tiểu đoàn trưởng cứ vin lý do
này, lý do khác để khỏi phải thay đổi cách đánh. Vì thời gian chiến đấu
có hạn, buộc tôi phải ra mệnh lệnh để cấp dưới chấp hành ngay. Thấy
tiểu đoàn trưởng nêu nhiều khó khăn, tôi cũng phải suy nghĩ... Tôi
quyết định cùng tiểu đoàn trưởng đi xem xét thực địa, nghiên cứu địch
và địa hình. Qua nghiên cứu thực tế, tôi càng thấy rõ quyết tâm của
tiểu đoàn trưởng không được chính xác. Tôi ra lệnh cho tiểu đoàn trưởng
dứt khoát phải sửa đổi quyết tâm, không được một mảy may trù trừ do dự.
Tất nhiên, tiểu đoàn trưởng cũng khó chịu, nhưng dần dần và đến lúc
bước vào chiến đấu thì tiểu đoàn trưởng đã rõ vấn đề hơn.
Quyết tâm phải dứt khoát, kiên quyết. Duyệt quyết tâm cũng phải dứt khoát, kiên quyết. Đó cũng là bài học sâu sắc đối với tôi.
PHẢI “Ý TỚI, CHÂN ĐI TỚI, MẮT NHÌN TỚI”, PHẢI "MIỆNG NÓI, TAY LÀM”
QuyếT tâm của người chỉ huy phải biến thành quyết tâm của quần chúng và
thể hiện bằng hành động thực tế, nếu không, quyết tâm đó mới chỉ là ý
muốn chủ quan của người chỉ huy. Có quyết tâm đúng là một vấn đề rất
quan trọng, nhưng chưa đủ, nếu quyết tâm ấy không được quán triệt tới
chiến sĩ, tới các bộ phận thì cũng bằng không, cũng chỉ là quyết tâm
của hội nghị, của giấy tờ văn bản mà thôi. Như trong chiến dịch Biên
Giới, sau khi đã tiêu diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Cốc Xá và binh đoàn
Sác-tông ở dãy núi 477, bộ đội ta đang quét tàn binh, thì binh đoàn Đờ
La-bôm ở Thất Khê lên cứu viện cho Lơ-pa-giơ và Sác-tông. Khi binh đoàn
này tới quả đồi 500, thì đại đoàn hạ quyết tâm để lại một bộ phận quét
tàn binh, còn tập trung lực lượng của đại đoàn tiêu diệt cánh quân của
binh đoàn Đờ La-bôm, và điện cho trung đoàn V phối hợp đánh ngược từ
phía nam lên đồi 500, tạo thành 2 mũi đánh kẹp địch. Nhưng ý định đó
mời chỉ truyền đạt cho đồng chí đại đoàn phó, còn với các trung đoàn
trong đại đoàn thì lệnh chưa đến kịp, hơn nữa trung đoàn V không nhận
được điện. Trận đánh diệt binh đoàn Đờ La-bôm không thực hiện được. Như
vậy ta thấy rằng, tuy chủ trương táo bạo, hay, nhưng cấp dưới chưa biết
thì chủ trương đó vẫn còn nằm trong ý nghĩ của người chỉ huy, không
biến thành hành động thực tế của đại đoàn.
Do đó, người chỉ huy phải biết tổ chức quán triệt quyết tâm, chỉ thị,
nghị quyết của đảng ủy tới tận chiến sĩ và các bộ phận phục vụ chiến
đấu. Người chỉ huy vận dụng cơ quan chỉ huy, vận dụng các tổ chức quần
chúng, bằng mệnh lệnh, bằng huấn luyện, bằng công tác chính trị, v.v.
tìm mọi cách làm cho mọi người quán triệt quyết tâm. Cần phải có hàng
loạt biện pháp cụ thể để biến quyết tâm ấy trở thành thực tế.
Ngoài những công việc đó, người chỉ huy phải trực tiếp theo dõi, kiểm
tra sự quán triệt quyết tâm của cấp dưới. Tin tưởng ở cơ quan, nghe cơ
quan báo cáo là cần thiết, nhưng trực tiếp theo dõi, trực tiếp kiểm tra
lại càng không thể thiếu được với trách nhiệm cao nhất của người chỉ
huy. Mỗi người chúng ta ngồi nghĩ lại quá khứ, chắc rằng người nào cũng
đã vấp váp, vì thiếu kiểm tra tỉ mỉ mà gặp khó khăn lớn trong chiến
đấu. Một thiếu sót nhỏ trong chuẩn bị có thể trở thành một tai họa vô
cùng lớn khi giáp chiến với kẻ thù. Thí dụ: Chuẩn bị bộc phá hoặc
phương tiện mở cửa không chu đáo, khi chiến đấu bộc phá không nổ, hỏa
lực của địch bắn ra dữ dội, chiến sĩ, cán bộ phải chạy lên chạy xuống
để giải quyết khó khăn đó thì nguy hiểm biết chừng nào; còn có trường
hợp đang chiến đấu lại hết bộc phá, hết phương tiện mở cửa, bộ đội phải
nằm cả ngoài hàng rào thì gay go nguy hiểm biết bao nhiêu. Ấy là chưa
nói đến các trường hợp sử dụng binh khí kỹ thuật hiện đại. Quyết tâm
tác chiến hay, nhưng sức chiến đấu của bộ đội có hạn, thậm chí súng bắn
không nổ hoặc không bắn được thì quyết tâm hay ấy cũng chẳng có giá trị
gì. Chỉ thị, nghị quyết về đánh tiêu diệt, bao vây chia cắt địch đã có,
nhưng đơn vị dưới hiểu không đến nơi đến chốn, làm sai, làm tắc trách,
thì địch sẽ chạy mất hoặc cụm lại ta không diệt được có khi ta còn bị
tổn thất. Bố trí quân không đúng ý định chiến thuật, không tỉ mỉ sẽ dễ
gây rối ren đội hình chiến đấu. Đã có trận nòng pháo đi một đằng,
phương tiện bắn đi một nẻo, đạn để phía sau; khi cần đến thì pháo có
nòng không có phương tiện bắn, có pháo không có đạn. Có trận tổ diệt
tăng ở cuối đội hình, khi gặp xe tăng địch thì tìm mãi và điều mãi mới
lên được; khi tổ diệt tăng lên được thì lực lượng của mũi dao nhọn đã
bị sứt mẻ mất rồi, thế là trận đánh không thành. Do đó, yêu cầu người
chỉ huy phải kiểm tra, phát hiện và uốn nắn, sửa chữa ngay cho cấp dưới.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, quy định đào hào giao thông trục để làm
đường vận chuyển bộ đội, thương binh, khiêng pháo, v.v. đáy rộng 1,20
mét, miệng 1,40 mét, trên mặt phải đan lưới hoặc giàn nứa nguỵ trang.
Tôi nhận được báo cáo của trung đoàn là đã làm xong và tốt, nguỵ trang
đầy đủ. Tôi hỏi lại mấy lần đơn vị đều trả lời như vậy. Theo thói quen,
tôi lại xuống kiểm tra tại chỗ. Tôi đi trước, đồng chí trung đoàn
trưởng đi sau, thỉnh thoảng chúng tôi bị những dây lưới nguỵ trang,
hoặc những cây nứa ngáng ngang vào ngực vào cổ, phải gỡ mất mấy phút.
Tôi bảo đồng chí trung đoàn trưởng:
- Ngụy trang thì có, nhưng để sụt từng mảng chắn ngang đường như thế sẽ
cản trở bộ đội đi lại. Nếu cáng thương binh, khiêng pháo nửa, có lẽ nửa
ngày mới đi được một ki-lô-mét, đội hình ùn lại, bị máy bay, pháo binh
oanh tạc làm sao tránh khỏi tổn thất?
Chúng tôi tiếp tục đi. Tôi cầm thanh nứa dài 1,40 mét đặt ngang miệng
hào, thinh thoảng bị mắc nghẽn, nếu đo tỉ mỉ có chỗ chỉ rộng một mét,
thế nhưng vẫn báo cáo là 1,40 mét. Hôm đi kiểm tra gặp trời mưa nên đáy
hào bùn nước lầy lội, trơn nhầy nhụa rất khó đi. Tôi bảo đồng chí trung
đoàn trưởng: Nếu bốn người khiêng gặp đoạn hẹp như thế thì gay go lắm,
đi người không, tránh nhau đã chật chội rồi.
Sau cuộc kiểm tra, tôi chỉ thị: "Ngay trong đêm phải sửa xong đúng như
quy định". Đơn vị chấp hành tốt chỉ thị đó, cho nên khi tác chiến đã
tránh được nhiều khó khăn trên đường cơ động.
Một đơn vị khác làm nhiệm vụ đào trận địa cắt sân bay Mường Thanh. Qua
một thời gian đào, tôi nhận được báo cáo còn cách cây cụt 300 mét. Tôi
ra lệnh tiếp tục đào. Đêm nữa tôi vẫn nhận được báo cáo “cách cây cụt
300 mét", và qua một đêm nữa vẫn nhận được báo cáo như thế. Kỳ lạ! Đào
mãi mà không nhích được một mét nào, thật là vô lý. Tôi cùng trung đoàn
trưởng sục ra tận nơi xem sao.
Thì ra, những đêm trước còn xa cây cụt, cán bộ ước lượng báo cáo là còn
cách 300 mét, hôm sau đào vào nhiều nhưng vẫn còn xa, đành nhắc lại con
số 300 và hôm sau nữa cũng vậy. Để sửa chữa tác phong đại khái ấy và
tìm ra khoảng cách cụ thể, tôi đã cho nối dây dù lại, lấy một người giữ
đầu dây và một người bò vào tận gốc cây cụt để đo thì kết quả đúng nhất
vẫn không phải là con số 300 mà còn xa hơn nhiều.
Nếu không tìm ra con số chính xác, khi địch phản kích chiếm trận địa
của ta, lấy cây cụt làm vật chuẩn yêu cầu pháo binh ta bắn chi viện,
hoặc lấy thước ngắm các cỡ hỏa lực với con số sai lệch trên chắc chắn
sẽ hạn chế hiệu quả rất lớn. Nếu hàng rào dây thép gai hoặc lô cốt địch
bắt đầu từ gốc cây cụt cự ly xa báo cáo là gần, cấp trên ra lệnh tấn
công hoặc xung phong thì nguy hiểm càng gấp bội.
Trên đây, tôi chỉ kể một kinh nghiệm cụ thể. Điều quan trọng trong khi
kiểm tra, người chỉ huy cần xem cấp dưới có quán triệt mục đích, ý
nghĩa của sự việc không, quán triệt phương châm. nhiệm vụ tới mức nào.
Cần đề phòng trường hợp do cấp dưới ham đánh hoặc dao động đã hành động
sai chủ trương, hoặc có trường hợp do quán triệt tư tưởng quân sự của
Đảng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của quân đội chưa sâu sắc mà đề ra
kế hoạch tác chiến lệch lạc về nguyên tắc, quan điểm.
Tóm lại, tổ chức quán triệt quyết tâm và kiểm tra việc tổ chức thực
hiện quyết tâm là vấn đề hết sức quan trọng. Người chỉ huy phải trực
tiếp làm và nắm kết quả cụ thể, chính xác thì chỉ huy mới yên tâm, tác
chiến mới thắng lợi toàn vẹn.
Mặt khác, có quyết tâm chính xác nhưng phải luôn luôn được sự bồi dưỡng
quyết tâm của đồng cấp, nhất là các đồng chí chính ủy, chính trị viên,
của cấp phó và cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần... Thành tích, công
lao là của tập thể, quyết tâm của người chỉ huy phải được mọi người ủng
hộ và tích cực giúp đỡ về mọi mặt, bổ sung những điểm cụ thể mà quyết
tâm ban đầu chưa được đầy đủ, giúp cho quyết tâm càng được củng cố. Nếu
không được mọi người bồi dưỡng và củng cố quyết tâm thì chỉ một cái lắc
đầu của những người bên cạnh cũng đủ làm cho người chỉ huy phải suy
nghĩ, đấu tranh tư tưởng và có khi quyết tâm bị dao động.
TÁO BẠO
Trong chiến đấu có lúc người chỉ huy phải hạ quyết tâm táo bạo mới
giành được thắng lợi. Táo bạo mà thắng lợi là vì có trường hợp phải
chuẩn bị rất chu đáo, nhưng cũng có trường hợp do chộp được thời cơ có
lợi, tạo được bất ngờ, thế mạnh khuyển thành lực mạnh. Như vậy, có
trường hợp dùng lực nhỏ hoặc vừa mà vẫn giành thắng lợi lớn.
Sau đây, tôi kể vắn tắt hai trận đánh của một đơn vị để chúng ta cùng nhau tham khảo.
Năm 1952, trung đoàn 3 cùng với các đơn vị bạn đang bao vây thị xã Hoà
Bình. Pháo binh ta hàng ngày bắn phá sân bay của địch, không cho máy
bay của chúng lên xuống tiếp tế. Để phá vây, pháo binh địch điên cuồng
bắn phá liên tục vào bộ đội và trận địa pháo của ta, gây cho ta một số
khó khăn.
Trận địa pháo của địch ở một khoảng trống cách sân bay khoảng 5
ki-lô-mét, có hai đại đội bộ binh bảo vệ chiếm giữ địa hình hai bên,
cách nhau khoảng 1.500 mét. Để tạo điều kiện cho quân ta bao vây tiêu
diệt địch thuận lợi, trung đoàn 3 nhận nhiệm vụ tổ chức một trận đánh
tiêu diệt trận địa pháo đó. Thời gian này, các đại đoàn chủ lực của ta
chưa có tổ chức bộ đội đặc công, nhưng mọi người đều nhận thấy phải
dùng lực lượng ít, nhưng tinh nhuệ để tiêu diệt địch. Trung đoàn đã
chọn lọc một số cán bộ, chiến sĩ trong đại đội bộ binh 41, là một đơn
vị có truyền thống chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc và sáng tạo. Cán bộ
chiến sĩ đoàn kết nhất trí, kỷ luật nghiêm, có tác phong chiến đấu xông
xáo, táo bạo, đồng thời cũng là một đơn vị có trình độ kỹ thuật, chiến
thuật tốt. Đại đội rất phấn khởi nhận được thư động viên của đồng chí
Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đồng chí căn dặn: "Phải giữ bí
mật, đánh bất ngờ và dũng cảm..." Qua kinh nghiệm thực tế, chúng tôi
đều nhất trì, muốn đánh thắng trận này phải chuẩn bị mọi mặt thật chu
đáo. Quyết tâm giành thắng lợi của anh em rất cao, nhưng phải eo cơ sở
vật chất thực tế để giành thắng lợi. Việc đầu tiên là phải nắm địch
thật chắc, thật cụ thể. Cán bộ chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên đến
tiểu đoàn ai chỉ huy trận này đều trực tiếp đi trinh sát nắm địa hình
và địch. Điểm nào nắm không chắc thì đi điều tra lại. Sau khi nắm chắc
địch, anh em mở hội nghị quân sự dân chủ thảo luận rất kỹ cách đánh
trên bàn cát, có khó khăn cùng bàn bạc, nhằm mục đích nhanh chóng tiêu
diệt địch và không để một thương binh, tử sĩ ở lại trận địa. Đồng thời
toàn đơn vị tiếp tục chuẩn bị làm thêm những trái "đề tô", làm những
ngọn mác buộc lưỡi lê ở đầu vừa để chuẩn bị đánh giáp lá cà, vừa để sẵn
sàng làm cáng, cùng với chăn chiên đeo chéo qua người và cuộn thừng vừa
để trói tù binh. Anh em bó dép đi chân đất và trang bị rất gọn nhẹ,
những gì phát ra ánh sáng, phát ra tiếng động đều được bọc kín và buộc
cẩn thận. Trong quá trình luyện tập và chuẩn bị, thấy vấn đề gì chưa
hợp lý lại bổ sung, niềm tin chắc thắng càng cao.
Sự chuẩn bị chu đáo ấy đã giúp cho trận đánh thuận lợi. Chập tối anh em
xuất kích, nửa đêm tới nơi dàn quân xong và bắt đầu nổ súng. Quân địch
hoàn toàn bị bất ngờ, tên quan ba Pháp bị bắt sống trong lúc đang mặc
quần áo ngủ, mắt nhắm mắt mở tưởng rằng quân lính đánh lộn nhau. Cùng
lúc đó, tiểu đoàn 80 và 84 cũng tiêu diệt xong 2 đại đội địch bảo vệ ở
hai bên, phía trước.
Như vậy chỉ trong mấy chục phút: toàn bộ trận địa pháo của địch đã bị
tiêu diệt. Quân ta không thương vong một người nào. Đó là một trong
những bài học dùng nhỏ thắng lớn, đánh táo bạo, nhưng được chuẩn bị chu
đáo. Đây cũng là một bài học muốn đơn vị lớn đánh giỏi, nhất thiết phải
rèn luyện cho phân đội nhỏ đánh giỏi.
Cũng đơn vị trên, trong chiến dịch Thu Đông năm 1952, tiến hành một
trận đánh lớn, nhưng thời gian chuẩn bị chỉ có vài tiếng đồng hồ.
Sau 7 đến 8 ngày hành quân và tác chiến tiêu diệt xong quân địch ở Cửa
Nhì, trung đoàn tiếp tục vận chuyển gạo hành quân tiến sâu vào Tây Bắc.
Vừa lúc ấy, chúng tôi được cấp trên thông báo là địch dùng 5 GM1 (Chữ
viết tắt của cụm từ tiếng Pháp: groupement mobile - một cụm chiến thuật
gồm từ 2 đến 4 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng) đổ bộ lên Phú Thọ, Đoan
Hùng tiến lên Yên Bái đánh vào hậu phương của ta. Trung đoàn được giao
nhiệm vụ hành quân quặt trở lại, cùng với bộ đội địa phương đánh địch,
do Bộ chỉ huy mặt trận ở đó chỉ huy.
Đang trên đà thắng lợi nô nức tiến quân vào Tây Bắc, nhưng được lệnh
quay lại, sẵn một mềm tin ở cấp trên, trung đoàn đã chấp hành mệnh lệnh
rất nghiêm và phấn khởi.
Đồng chí trung đoàn trưởng dẫn cán bộ tham mưu tác chiến, trinh sát và
các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng vượt lên bộ đội, đi trước để
nghiên cứu chuẩn bị. Toàn trung đoàn còn lại do đồng chí chính ủy và
trung đoàn phó chỉ huy hành quân theo sau.
Chiều hôm đó, địch đã rút khỏi Đoan Hùng, trung đoàn nhận nhiệm vụ đánh
địch trên đường số 2. Ban đêm địch dừng lại ở Chân Mộng. có thể sáng
mai tiếp tục đi về Năng Yên. Sau khi nhận nhiệm vụ, cán bộ các cấp của
trung đoàn nhất trí ngay với ý định của trên, cần phải chộp ngay thời
cơ bất ngờ này, mặc dầu cán bộ không có nhiều thời gian chuẩn bị, nhưng
nhất định sẽ thắng lợi. Bộ đội hành quân đến gặp địch có thể đánh được
ngay với tác phong chiến đấu táo bạo xông xáo sẵn có, với niềm tin
tuyệt đối ở cấp trên, nhất nhất chấp hành mệnh lệnh, không phải động
viên giải thích nhiều.
Đúng như vậy, anh em đi cấp tốc đuổi kịp bộ phận đi trước do trung đoàn
trưởng phụ trách. Bộ đội phải dừng lại trong rừng chờ ở phía sau. Đoàn
cán bộ đi trước gặp được một ông già đang đốt củi làm than. Ông giúp đỡ
dẫn ra đường số 2 cho nhanh. Các cán bộ của trung đoàn đã đi nghiên cứu
cụ thể địa hình trên đoạn đường sẽ đánh địch, từng vị trì bố trí của
từng đơn vị chặn đầu, khoá đuôi, đồi diện và tập trung chủ lực chia cắt
diệt địch, bố trí từng vị trí súng máy, từng vị trí cảnh giới, v.v. Sau
mấy tiếng đồng hồ nghiên cứu, cán bộ đã quay lại dẫn bộ đội ra chiếm
lĩnh trận địa hết sức lặng lẽ, bí mật, trật tự, đến mờ sáng thì mọi
việc đều xong.
Hàng ngàn người hành quân ban đêm: đến một địa hình hoàn toàn mới lạ,
chưa có thời gian xoá các dấu vết trên đường đi, nên không tránh khỏi
có bộ phận để lộ bí mật.
Khoảng 7 giờ sáng, một đơn vị địch đi sục sạo phát hiện có vết chân
trên ruộng lầy. Chúng sục vào, đơn vị đối diện trong đội hình chiến đấu
lùi dần để giữ bí mật. Các tốp tuần tra, dò mìn của địch đã gặp nhau
phối hợp sục sạo. Một chiến sĩ cảnh giới của tal chủ quan bị địch bất
ngờ ập tới bắt sống. Chúng nghi ngờ đánh đập Hiến rất dã man, kéo xềnh
xệch dọn đường, tra hỏi tìm hiểu lực lượng ta. Chiến sĩ có ý chí gang
thép ấy đã cắn răng chịu đựng không hề nói một lời về lực lượng và vị
trí bố trí của quân ta.
Tuy nhiên, địch vẫn nghi ngờ. Chúng bắn pháo suốt dọc ven rừng và hai
bên đường. Mặt khác, các bộ phận tuần tra của địch vẫn sục vào rừng,
vừa đi vừa hò hét, vừa bắn xả vào những chỗ nghi ngờ. Các đơn vị của ta
đã lác đác có thương vong. Anh em cắn răng chịu đựng. Mặc dầu có chỗ
quân địch đứng trước mũi súng của bộ đội ta chưa đầy chục mét, nhưng
tất cả vẫn ép mình im lặng, tuyệt đối giữ bí mật chờ lệnh...
Địch tra tấn chiến sĩ cảnh giới của ta vẫn không lấy được một tin tức
gì, sục sạo mãi vẫn không phát hiện được ta. Chúng bắt đầu chủ quan rầm
rầm tiến quân. Một đoàn xe mấy chục chiếc có cả xe tăng, xe bọc thép ầm
ầm vượt qua. .. Tiếp đó khoảng 400 - 500 quân đi bộ và khoảng 40 xe cơ
giới nữa theo sau nghênh ngang lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn
đầu xả súng ghìm chúng lại.
Chủ lực của trung đoàn từ trong rừng sâu vận động ra bất ngờ xông lên
tiêu diệt bộ binh địch, chặt đoàn xe cơ giới của chúng ra từng khúc.
Sau hơn hai tiếng đồng hồ chiến đấu quân ta đã hoàn toàn làm chủ trận
địa, diệt hàng trăm địch. xe pháo của địch bị bắn cháy ngổn ngang.
Đây là một trận đánh không những biểu hiện tinh thần chấp hành mệnh
lệnh nghiêm túc và sáng tạo, bộ đội giữ nghiêm kỷ luật chiến trường,
gan dạ, kiên cường chịu đựng, mà còn là một trận đánh táo bạo do chớp
được thời cơ, trên dưới tin nhau, hành động khẩn trương, bất ngờ, nên
đã giành được thắng lợi lớn.
“ĐÃ ĐÁNH THÌ ĐÁNH ĐẾN CÙNG” “ĐÃ ĐỊNH KHÔNG ĐÁNH THÌ DỨT KHOÁT THÔI”
Mọi việc chuẩn bị chiến đấu đã xong, bộ đội xuất trận. Người chỉ huy
phải luôn luôn kiên định quyết tâm, tỏ thái độ tin tưởng nhất định
thắng, phấn khởi lạc quan nhưng không được coi thường địch. Khi đã
quyết định đánh thì kiên quyết đánh đến cùng, tuyệt đối không một mảy
may dao động.
Chiến dịch Quang Trung năm 1951, để hạ quyết tâm đánh vị trí Non Nước
ngay trong đêm 29 tháng 5, bản thân tôi cũng trải qua một quá trình đấu
tranh quyết liệt.
Quyết tâm đánh Non Nước đã có trong kế hoạch và đã chuẩn bị chu đáo.
Nhưng đánh vào lúc nào là vấn đề cần phải suy nghĩ quyết đoán, vì tình
hình phát triển phức tạp không thuận lợi xuôi chiều như dự kiến.
Sáng 24 tháng 5, cán bộ đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đi trước đến
làng Xuân áng nghiên cứu tình hình và sơ bộ hạ quyết tâm trên bản đồ,
chuẩn bị đi xem xét thực địa. trong đêm đó Ngày hôm sau, đảng ủy trung
đoàn họp thông qua quyết tâm của trung đoàn trưởng trong lúc tình hình
địch vẫn chưa có gì thay đổi. Nhưng sau đó có một đại đội lính thuỷ
đánh bộ của địch tăng cường đến đóng ở nhà thờ thị xã. Muốn tiêu diệt
Non Nước, ta phải bổ sung kế hoạch đánh nhà thờ. Trưa ngày 28 mới phổ
biến kế hoạch này tới cán bộ tiểu đoàn và đại đội. Tin ở sức mình, đơn
vị quyết tâm tiêu diệt gọn hai cứ điểm trong một đêm. Tiểu đoàn 79 nhận
nhiệm vụ đánh địch ở nhà thờ phải tranh thủ phổ biến kế hoạch cho cán
bộ, chiến sĩ ngay trong quá trình hành quân, 3 giờ 10 phút ngày 29 nổ
súng, đến 3 giờ 43 phút ta tiêu diệt hoàn toàn đại đội lính thuỷ đánh
bộ của địch. Tiểu đoàn 54 nhận nhiệm vụ đánh vị trí Non Nước, hành quân
chiếm lĩnh gặp nhiều khó khăn, một bộ phận đi thuyền dọc sông Vân, một
bộ phận đi đường bộ, cho nên khi tiểu đoàn 79 nổ súng, tiểu đoàn 54 vẫn
thưa chiếm lĩnh xong trận địa. Sau khi tiêu diệt xong quân địch ở nhà
thờ thì đã gần 4 giờ sáng. Tiểu đoàn 54 chiếm lĩnh xong, chỉ cán hơn
một giờ đồng hồ nữa trời sáng hẳn. Lúc này có hai ý kiến, một là cứ
đánh Non Nước, hai là cho lui quân để đêm sau sẽ đánh. Qua phân tích
thấy rằng, nếu ta cứ đánh thì khó hoàn thành, giải quyết Non Nước không
gọn trong đêm mà phải tiếp tục đánh ban ngày. Lần đầu tiên đơn vị đánh
cứ điểm vững chắc ban ngày ở đồng bằng - một cứ điểm đột xuất, xung
quanh là nhưng cánh đồng nước thuận lợi cho máy bay và pháo binh của
địch hoạt động. Cánh Non Nước khoảng 200 mét có vị trí Cầu Cổ ở bờ sông
bên kia chi viện. Non Nước còn có thể được viện binh từ Nam Định, Phát
Diệm và cán vị trí lân cận tới. Hơn nữa đây là lần đầu đại đoàn đánh ở
đồng bằng, để có nhiều thời gian ban đêm giải quyết trận địa, làm chủ
chiến trường, chung tôi nhất trí cho tiểu đoàn 54 lui quân, tối hôm sau
sẽ tiến vào đánh Non Nước. Quyết tâm này về sau đã tỏ ra là đúng đắn,
nhưng để hạ được quyết tâm ấy cũng trải qua một quá trình suy nghĩ của
bản thân và bàn bạc giữa mặt này mặt nọ với cán bộ các cấp.
Ngày hôm sau, tình hình lại biến đổi. Có tin địch cho một đại đội lính
Âu đến chiếm đóng Hồi Hạc sát nách Non Nước và có tăng một số quân cho
Non Nước. Lúc này đã có ý kiến do dự: nhưng nhiệm vụ của chiến dịch
trao cho chỉ có một quyết tâm là đánh cbứ không thể có quyết tâm nào
khác. Chúng tôi tính toán lực lượng, dự kiến thời gian chiếm lĩnh trận
địa và thời gian tác chiến, tin ở sức chiến đấu của đơn vị nên vẫn giữ
quyết tâm đánh Non Nước trong đêm 29. Ý kiến hoãn lại để đêm hôm sau sẽ
đánh Non Nước vẫn có, một số đồng khí trình bày với nhiều lý do. Nhưng
suy tính cho kỹ thì lùi lại nữa rõ ràng là không có lợi. Bố trí phòng
ngự của địch ở Non Nước sẽ được củng cố vững chắc hơn. Viện binh của
địch có thể được tăng thêm nữa để đánh phá cuộc chuẩn bị tấn công của
ta. Chúng tôi tin tưởng rằng mặc dầu tiểu đoàn 54 ban ngày có tham gia
đánh viện, nhưng còn sung sức đủ khả năng tiêu diệt Non Nước trong đêm.
23 giờ hôm đó, tiểu đoàn 54 bắt đầu nổ súng, đến 5 giờ sáng ngày 30 ta
hoàn toàn tiêu diệt địch ở Non Nước.
Qua những tình huống trên, tôi đã rút ra bài học "quyết đoán” đối với
người chỉ huy. Người chỉ huy sau khi suy nghĩ chín chắn những ý kiến đề
nghị của cấp dưới, sự tham gia đóng góp của cơ quan thì bản thân mình
phải có gan quyết đoán sự việc trước khi trình bày xin ý kiến của đảng
ủy. Trước những tình huống thay đổi quan trọng trong chiến đấu người
chỉ huy phải có gan quyết đoán, tuyệt đối không được lững lờ buông
trôi, khoán trắng hoặc phó thác trách nhiệm cho dưới, cho đồng đội.Trận Tu Vũ trong chiến dịch Hoà Bình tháng 12 năm 1951 cũng là một trong những bài học quyết đoán của người chỉ huy.
Cứ điểm Tu Vũ có 1 tiểu đoàn lính đánh thuế Ma-rốc, 1 xe tăng, 2 chiến
xa xung kích, 1 ô tô bọc sắt... Để mở màn chiến dịch Hoà Bình, phá vỡ
phòng tuyến sông Đà, mở đường tiến công vào thị xã Hoà Bình, tiêu diệt
sinh lực địch. trung đoàn X của đại đoàn nhận nhiệm vụ tấn công tiêu
diệt cứ điểm Tu Vũ. Tình hình cụ thể có nhiều khó khăn. yêu cầu mỗi cán
bộ. chiến sĩ trong đơn vị phải có quyết tâm rất cao mới bảo đảm hoàn
thành nhiệm vụ. Để tiếp cận Tu Vũ, ngoài mấy con đường có sẵn đã bị lộ
và một phía là sông, còn lại thì địa hình xung quanh đều trống trải và
lầy lội. Tuy vậy, khó khăn về địa hình cũng không gây cản trở lớn. so
với tình hình địch có nhiều phức tạp hơn.
Trước đây cán bộ trung đoàn thuộc đại đoàn bạn đi nghiên cứu chuẩn bị
chiến trường bị địch phục kích, đã để mất dự án kế hoạch tác chiến khu
nam Tu Vũ. Vì vậy địch đã đề phòng và tăng cường phòng ngự. Khi đại
đoàn chúng tôi nhận nhiệm vụ đánh Tu Vũ thì bộ phận đi chuẩn bị chiến
trường ngày 6 tháng 12 cũng bị địch phục kích bắt mất một người, có
đồng chí hy sinh.
Chỉ còn vài ngày nữa, đại đoàn phải nổ súng tiêu diệt Tu Vũ, mở màn
chiến dịch. Nhưng quân địch ở đây càng tăng cường tuần tiễu, thường
xuyên ngày đêm cho một bộ phận ra phục kích trên đường ta có thể tiếp
cận. Máy bay trinh sát và chiến đấu luôn bay trên vùng trời xung quanh
Tu Vũ. Pháo binh địch bắn tập kích bất ngờ và bắn chặn những nơi ta có
thể tiến quân, tập kết. Tình hình rất căng thẳng nhưng cán bộ các cấp
vẫn ngày đêm bám sát vị trí địch. vào tận hàng rào dây thép gai, xem
xét từng mô đất, nắm quy luật hoạt động, chỗ mạnh và chỗ yếu của địch.
Trong những ngày chuẩn bị và trước giờ xuất kích, đơn vị đã dự kiến
những khó khăn có thể xảy ra, những tình huống đột biến sẽ đến, động
viên mọi người phải có quyết tâm rất cao, tinh thần khắc phục khó khăn
rất lớn mời làm tròn nhiệm vụ. Tới ngày 10 tháng 12, bộ đội tiến vào
chiếm lĩnh trận địa.
Quả nhiên, khi tiến vào chiến đấu, đơn vị đã gặp rất nhiều khó khăn.
Hồi 7 giờ rưỡi tối, tiểu đoàn 80 và đơn vị súng cối 82 mi-li-mét đang
trên đường vào chiếm lĩnh trận địa thì tổ sục sạo đi trước gặp địch
phục kính, hai bên nổ súng, địch bỏ chạy. Từ chiều pháo địch bắn phá
rải rác, nhưng sau khi gặp tổ sục sạo của ta, pháo địch càng bắn dữ dội
hơn. Do đó, một số đơn vị lạc đường, tiến quân, bố trí chồng chéo vào
nhau. Tiểu đoàn 29 và bộ phận chỉ huy của tiểu đoàn 23 lại gặp nhau ở
sân bay đã đi cùng một đường nên lộn xộn. Đại đội 154 và một khẩu pháo
bị lạc, một vài đơn vị khoe mất hên lạc với cấp trên. Đại đội 225 tiểu
đoàn 322 tiến gần đến cứ điểm của địch khoảng 200 mét thì tổ sục sạo
gặp một trung đội địch phục kính. Chúng bắn súng, hô xung phong, rồi
rút chạy. Súng máy, súng cối ở khu C của Tu Vũ bắn ra rất mạnh. Pháo
binh địch từ Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp vẫn tập trung bắn không ngớt vào
khu vực ta bố trí. Một khẩu súng cối 82 mi-li-mét của ta bị hỏng. Khẩu
đội pháo tiến theo mũi của tiểu đoàn 29 bị pháo địch sát thương nặng,
nên được lệnh rút. Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 322 đi kiểm tra trận địa, bị
thương. Tuy vậy, các đơn vị bộ binh của tiểu đoàn 322 đã bám sát hàng
rào của địch khoảng 50 mét. Nhưng pháo binh yểm hộ cho bộ binh đánh khu
A và B chưa bố trí xong, đường dây điện thoại bị đứt nhiều đoạn, số bị
thương của ta ngày càng tăng.
Trước tình hình đó, đảng ủy các cấp đã kiên quyết lãnh đạo bộ đội giữ
vững quyết tâm, cán bộ phân công nhau trực tiếp đi đôn đốc các đơn vị
pháo binh chiếm lĩnh trận địa. Các mũi bộ binh đã bám sát hàng rào, đào
công sự, cắt dây thép gai, v.v.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn. Quá giờ quy định, cán đơn vị chưa
hoàn thành chiếm lĩnh trận địa. Trong khi đó lại nảy thêm một khó khăn
mới. Đại đội 227 tiểu đoàn 322 thấy toàn bộ trận địa bị lộ nên đúng giờ
đã tự động nổ súng, sau đó đại đội 225 cũng cho liên tục bộc phá. Cuộc
chiến đấu ở khu C bắt đầu, nhưng chưa liên lạc được với trung đoàn. Lúc
này trong cán bộ đâu có ý kiến: "Đánh hay thôi? đánh liệu có thắng
không? chưa đánh mà đã thương vong như vậy liệu bộ đội còn giữ vững
quyết tâm không?", v.v. Có một số cán bộ xao xuyến. Thường vụ đảng ủy
trung đoàn X được triệu tập về sở chỉ huy trung đoàn hội ý. Cùng lúc
ấy, bí thư đảng ủy trung đoàn nhận được điện của đồng chí Song Hào, bí
thư đảng ủy đại đoàn: "Đảng ủy” phải sáng suốt phân tích tình hình ta,
địch cụ thể, toàn diện, tìm cho ra cái gì là khó khăn phải giải quyết
ngay. Không nên hấp tấp nhìn vào một vài việc mà đánh giá chung cả tình
thế. Hạ quyết tâm lúc này phải thật chắc chắn, phải dũng cảm"...
Trong cuộc hội ý quan trọng đó, trung đoàn trưởng và chính ủy đã phân
tích sâu sắc lời căn dặn của đồng chí bí thư đảng ủy đại đoàn, lấy hiện
tượng dao động của một vài cán bộ để đối chiếu, liên hệ. Sau 20 phút
trao đổi, đảng ủy trung đoàn nhất trí: Tuy có nhiều khó khăn như quân
số thương vong không ít, mất liên lạc với bộ phận đánh khu C, nhưng
quyết tâm của hầu hết đảng viên và quần chúng vẫn không hề lay chuyển,
hận thù sôi sục, quyết tâm giết giặc lập công rất cao. Địch chỉ bắn dữ
dội từ ngoài 100 mét trở ra, càng tiếp cận ta càng tránh được pháo địch
sát thương. Pháo ta đã lắp xong và đang đẩy vào trận địa. Mặc dầu đất
cát bị lún, các cỡ hỏa lực của địch bắn ra rất rát, anh em vẫn kiên
quyết đẩy pháo vào sát vị trí địch. Bộ binh thì mũi chủ công có bị
thiệt hại nhưng không đáng kể, mũi phụ cũng đã tiếp cận được. Mặt khác,
qua hiện tượng đối phó của địch càng chứng tỏ chúng đang lo sợ, dao
động, lúng túng. Như vậy là sức của đơn vị còn mạnh, còn đủ khả năng
tiêu diệt Tu Vũ, chỉ cần phá vỡ được vỏ cứng, thọc đúng vào chỗ yếu thì
nhất định địch sẽ tan rã. Mọi người trong đảng ủy trung đoàn, đại đoàn
còn nhớ rất rõ lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp căn dặn: "Trận đầu phải
thắng!". Tu Vũ là trận mở màn chiến dịch. Cần củng cố quyết tâm, chống
tư tưởng dao động, do dự của người chỉ huy, của cấp lãnh đạo, chống mọi
hành động không tốt có ảnh hưởng đến vấn đề chỉ huy... Trong lúc đang
thảo luận, đảng ủy nhận được báo cáo: Một vài cán bộ hy sinh tiểu đoàn
trưởng và chính trị viên tiểu đoàn 29 bị thương, nhưng không một ai xao
xuyến. Quyết tâm tiêu diệt Tu Vũ để trả thù cho đồng đội, đồng chí càng
cao.
Sau hơn hai giờ đồng hồ chiến đấu quyết liệt, đến 0 giờ 10 phút ngày 11
tháng 12, tiểu đoàn 322 đã hoàn toàn làm chủ khu C của Tu Vũ. Mọi việc
chiếm lĩnh chuẩn bị nổ súng tấn công khu A và B vẫn tiếp tục rất khẩn
trương dưới hỏa lực ác liệt của địch. Mọi người động viên lẫn nhau,
không một ai do dự, không một ai chùn bước.
Đến 1 giờ 45 phút, các đơn vị đã hoàn thành chiếm lĩnh trận địa, trừ
tiểu đoàn 322 vẫn bị mất liên lạc. Nhưng do được đại đoàn cho biết 322
đã giải quyết xong khu C nên trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 29 và 23
nổ súng. Pháo binh ta bắt đầu bắn thẳng vào lô cốt địch.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng ủy đại đoàn, với quyết tâm sắt đá
như thế, với sức chiến đấu mạnh mẽ như thế, trung đoàn X đã vượt mọi
khó khăn, quyết tâm giành thắng lợi. Mặc dầu địch cho xe tăng ra bịt
cửa mở; xe bọc sắt, pháo binh, súng máy bắn chia cắt đội hình; bộ binh
ra phản kích, v.v., nhưng chúng không thể nào cản nổi sức tấn công vũ
bão của những con người có quyết tâm sắt đá, có lòng tin mãnh liệt vào
thắng lợi. Đến 3 giờ rưỡi, Tu Vũ hoàn toàn bị tiêu diệt. Trận đánh mở
màn chiến dịch thắng lợi giòn giã. Phòng tuyến sông Đà bị chọc thủng và
cửa tiến vào thị xã Hoà Bình đã được mở rộng.
Bài học quyết tâm sắt đá này, đối với cán bộ, chiến sĩ đại đoàn chúng tôi không bao giờ quên được.
Trong chiến đấu, người chỉ huy cần luôn luôn đề cao trách nhiệm trong
bất cứ tình huống nào. Đặc biệt trước những tình huống quyết định thành
bại của trận đánh, người chỉ huy không được buông trôi, bỏ qua, phó
thác cho dưới, khoán trắng cho đơn vị; có gan chỉ huy phải có gan chịu
trách nhiệm. Dưới đây, tôi kể thêm một câu chuyện nữa về quyết tâm và trách nhiệm
người chỉ huy, theo tôi, câu chuyện này cũng là bài học rất đáng ghi
nhớ.
Sau khi tiêu diệt cứ điểm Nà Han ở biên giới, mùa xuân năm 1950, trung
đoàn X phối hợp cùng trung đoàn bạn và được tăng cường một số pháo,
súng cối có nhiệm vụ tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê để xây dựng lực
lượng, xây dựng truyền thống đơn vị. Lần đầu tiên tác chiến tập trung
trung đoàn, ai nấy đều háo hức, nóng lòng mong đợi được xuất trận. Các
cơ quan dân, chính, đảng địa phương động viên bộ đội rất sôi nổi. Từng
đơn vị không ngớt động viên nhau, chúc tụng nhau chiến thắng.
Tại sở chỉ huy mặt trận, có đầy đủ các đại biểu chính quyền địa phương,
tỉnh ủy, các nhà văn, v.v. Mọi người hớn hở, bàn tán, mong đợi giờ nổ
súng. Anh Chu Huy Mân và tôi theo dõi tình hình chiếm lĩnh trận địa của
bộ đội. Trung đoàn X đã triển khai chiếm lĩnh xong. Trung đoàn bạn chưa
liên lạc được với các cơn vị của mình. Địch ra sục sạo chiếm mất đồi,
nơi ta dự định bố trí pháo binh của mặt trận. Ngoài ra, không còn dùng
pháo binh, súng cối bắn chặn đường tiến quân của trung đoàn bạn. Tình
hình lộn xộn vẫn kéo dài. Trung đoàn bạn chưa nắm được quân, các đơn vị
lạc lung tung, pháo, cối một nơi, bộ binh một nẻo. Anh Chu Huy Mân và
tôi trao đổi với nhau, thấy rằng thực chất của vấn đề hiện tại là tư
tưởng, là quyết tâm của cán bộ và chiến sĩ, cộng với trình độ tác chiến
tập trung của bộ đội chưa được rèn luyện kỹ. Tình hình tuy có nhiều khó
khăn thật, nhưng nếu từ trên xuống dưới có quyết tâm cao - cũng còn khả
năng khắc phục. Tuy nhiên căn cứ vào quá trình theo dõi từ khi chuẩn bị
chiến đấu, cộng với tình hình hiện tại, anh Chu Huy Mân và tôi đều thấy
quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ chưa vững chắc như vậy, còn có thể có
nhiều khó khăn hơn nữa, nếu cứ tiếp tục tiến vào chiếm lĩnh, nổ súng,
tác chiến ngay đêm nay thì không chắc giành được thắng lợi.
Trong khi chúng tôi trao đổi, các đại biểu chính quyền, tỉnh ủy, văn
nghệ sĩ chăm chú theo dõi ý kiến chúng tôi và hình như muốn chúng tôi
đừng quyết định thôi đánh. Chúng tôi suy nghĩ rất nhiều đến sự háo hức
mong lập công của đơn vị, đến sự động viên của các cơ quan dân, chính,
đảng. Nhưng đánh thì không chắc thắng. Anh Chu Huy Mân và tôi đều nhất
trí như vậy1 (Lúc này các đồng chí Chu Huy Mân và Vương Thừa Vũ được
phân công chỉ huy một mặt trận độc lập - BT). Đã không chắc thắng mà cứ
quyết định đánh là phiêu lưu, mạo hiểm, là coi thường sinh mệnh quần
chúng. Thấy chúng tôi bàn như vậy, các đồng chí địa phương đều tham gia
ý kiến là nên xem xét lại và đề nghị cứ cho đánh. Các văn nghệ sĩ cũng
mong cứ cho đánh để ca ngợi những chiến công oanh liệt của các chiến
sĩ, mặt khác cũng muốn xem một trận đánh lớn như thế nào. Nhưng không
thể được, không vì hãnh diện cá nhân mà quyết định liều lĩnh, tổn hại
đến xương máu chiến sĩ, ảnh hưởng đến vốn liếng của Đảng, đến thành bại
của cách mạng, nhất là đây là trận đánh tập trung để xây dựng lực
lượng, xây dựng truyền thống đơn vị.
Chúng tôi quyết định hai trung đoàn và tất cả các đơn vị tham chiến lui quân, rời khỏi chiến trường trở về vị trí tập kết.
Quyết định ấy truyền đi, mọi người trong sở chỉ huy đều bàng hoàng ngạc
nhiên. Nhưng không thể nào quyết định khác, mặc dầu có những đơn vị vẫn
tiếp tục đề nghị xin ở lại đánh Thất Khê. Có những cán bộ, chiến sĩ
dùng dằng, lưỡng lự không muốn quay trở về, vì sợ ngượng ngùng với bà
con xóm làng. Ra đi hứa hẹn như thế, bây giờ không đánh lại trở về.
Trước tình hình đó, chúng tôi phải ra lệnh: "Kiên quyết lui khỏi chiến
trường không được trù trừ do dự". Các đơn vị chấp hành triệt để, bảo
đảm được lực lượng về vị trí tập kết. Hồi đó, cũng có cán bộ không bằng
lòng, nhưng dần dần mọi người đều nhất trí. Nếu đêm hôm đó cứ đánh liều
thì nhất định tổn thất lớn mà vẫn không hoàn thành nhiệm vụ. Trận đầu
đánh tập trung không thắng sẽ gây nên khó khăn biết chừng nào cho việc
xây dựng đơn vị. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm đối với việc lui quân
hoàn toàn chính xác và rất kiên quyết ấy.
Qua đó, ta thấy rằng người chỉ huy phải rèn luyện cho mình có bản lĩnh
dám đánh, nhưng phải có gan dám rút. Đã thấy không có khả năng đánh
thắng, lui có lợi hơn, khi khác đánh có lợi thì kiên quyết không đánh.
Người chỉ huy không những có gan chủ động đánh mà còn phải có gan chủ
động lui quân. Đã ra lệnh lui quân thì kiên quyết chỉ huy lui quân, bảo
toàn lực lượng không một mảy may do dự, tiếc rẻ. Khi cần thiết dám hạ
lệnh lui quân cũng là một yêu cầu đối với người chỉ huy, cũng là dũng
cảm và mưu trí1 (Ý tác giả nói trong trường hợp hoạt động độc lập và
được cấp trên giao quyền quyết định - BT). Nhưng khi cần hạ lệnh đánh
thì nhất định đánh đến cùng.
Đánh hay lui là căn cứ vào tình hình cụ thể lúc đó, nhưng tất cả phải
vì lợi ích của cách mạng, vì thắng lợi của cách mạng cao hơn hết, không
được bơm to khó khăn, lấy cớ là bảo vệ lợi ích lâu dài của cách mạng để
nguỵ trang cho tư tưởng bảo mạng rồi tuỳ tiện cho lui quân, coi như thế
cũng là quyết tâm, coi như thế cũng là vì lợi ích của cách mạng thì
không được.
ĐỊA THẾ HIỂM TRỞ MỘT NGƯỜI CÓ THẾ CHỐNG ĐƯỢC VẠN NGƯỜI
Những năm 1960 - 1961, quân nguỵ Sài Gòn được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp
sức ngày ngày hò hét Bắc tiến, đồng thời tung biệt kích đường không,
đường biển, đường bộ ra Bắc quấy rối, phá hoại, móc nối với bọn phản
động nội địa, điều tra nắm tình hình mọi mặt của ta.
Hồi đó, tôi là quân khu trưởng Quân khu Hữu Ngạn, được Bộ giao nhiệm vụ
cùng với một số cán bộ binh chủng, cơ quan như các đồng chí Doãn Tuế,
Hồng Sơn, Ngô Hùng và một số đồng chí khác tiếp tục nghiên cứu bổ sung
hoàn chỉnh phương án tác chiến phòng thủ của quân khu. Sau đó đi xem
xét nghiên cứu bổ sung phương án tác chiến phòng thủ giúp Quân khu 4 và
Quân khu Tả Ngạn, vì thời gian này các đồng chí thủ trưởng quân sự của
quân khu bạn đi vắng.
Như vậy là tôi lại có dịp đi khắp miền biên giới Việt - Lào. Lúc đó
nhân dân Lào chưa được giải phóng. Chúng tôi đi hầu hết bờ biển của
miền Bắc, hải đảo và giới tuyến tạm thời ở Vĩnh Linh.
Tôi nghĩ phải sâu sát dưới, phải thực tế xem xét tận nơi và lắng nghe ý
kiến anh em. Từ thực tế ấy sẽ giúp cho tôi nhiều suy nghĩ đúng. Tuy đã
ngoài 50 tuổi, với chiếc ô che nắng che mưa, đùm bánh mì hoặc khoai
lang luộc, bi đông nước, tôi cùng cơ quan các ngành ngày này tháng khác
leo đèo lội suối, đi nghiên cứu cụ thể khắp các bãi cát, sình lầy sú
vẹt, cửa sông, cửa lạch, hải đảo, biển khơi...
Lúc đó cán bộ ta, một số đã được học kinh nghiệm phòng ngự của một số
nước anh em qua đại biến thế giới lần thứ hai, một số chưa được học tập
mà chỉ có kinh nghiệm thực tế bản thân.
Vì vậy quan điểm, tư tưởng tác chiến có những vấn đề cụ thể chưa được thống nhất.
Khi đến các lữ đoàn, trung đoàn phòng thủ, anh em đều phàn nàn là bờ
biển, biên giới dài mênh mông, nhiệm vụ rộng, nhưng quân ít, vũ khí,
trang bị ít. Anh em đều có gợi ý nhờ tôi báo cáo Bộ, xin thêm quân, xin
thêm trang bị và phân công nhiệm vụ hẹp lại. Tôi không trách anh em, vì
đó là thực tế và quân có chừng ấy, trang bị có chừng ấy cũng là thực
tế. Nhưng trước thực tế ấy quán triệt quan điểm quân sự của Đảng ta,
với truyền thống nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta thì nên suy nghĩ và
giải quyết như thế nào cho đúng.
Tôi cười vui và kể lại cho anh em nghe chuyện ngày xưa khi Nguyễn Trái
đi qua sông Bạch Đằng, ông đã nhớ lại, tại đây Ngô Quyền và Trần Hưng
Đạo đánh thắng quân Nam Hán và quân Nguyên, giết Hoàng Thao và Toa Đô,
Ô Mã Nhi. Nguyễn Trái đã tức cảnh làm hai câu thơ:
“Quan hà bách nhị do thiên thiết
Hào kiệt công danh thử địa tằng"
tạm dịch:
Non sông hiểm trở, hai người có thể chống lại được một trăm người là do trời định.
Hào kiệt công danh cũng có từ đây.
Và một câu ngạn ngữ của tổ tiên ta để lại:
“Hiểm địa nhất phu địch vạn nhân"
tạm dịch:
Lợi dụng địa thế hiểm trở, một người có thể chống được vạn người.
Tôi nói thêm cho anh em rõ, địa hình đất nước ta thật là đặc biệt, phía
tây và phía bắc thì rừng núi hiểm trở, phía - đông và đông nam thì sông
ngòi luồng lạch chia cắt, ruộng nước mênh mông, từng quãng có dãy núi
nhô ra sát mép biển. Chỉ địa hình ấy cũng đã giúp cho ta một thế trận,
hiểm và mạnh biết chừng nào, nếu ta biết triệt để lợi dụng và cải tạo
nó thì ít thành nhiều, yếu hoá mạnh, một người có thể chống lại trăm
ngàn người.
Tuy nhiên, có vấn đề vô cùng quan trọng khác, đó là thế chiến tranh
nhân dân. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn dân. "Giặc
đến nhà đàn bà cũng đánh". Phải tổ chức làng, bản, thôn, xóm thành pháo
đài, phải thực hiện lời Bác Hồ dạy: "Mỗi người dân là một dũng sĩ...",
thế trận của ta là bao gồm cả chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ...
Riêng chủ lực cũng không phải chỗ nào cũng dàn quân ra. Phòng thủ kiểu
đó thì bao nhiêu quân cũng thiếu, bao nhiêu vũ khí cũng không đủ. Vì
vậy phải hình thành từng khu vực, có trọng điểm. Lấy điểm khống chế
diện, lấy diện bảo vệ điểm, liên hoàn hỗ trợ cho nhau, liên hoàn hỗ trợ
cho nhau, hiện đại kết hợp với thô sơ tự chế tạo mưu mẹo, nghi binh:
v.v. Nhất định chúng ta sẽ hình thành được các khu vục phòng thủ vừng
chắc trên toàn tuyến biên giới, ven biển và nội địa...
Từ quan điểm trên đây, được các cấp bộ Đảng, chính quyền địa phương
nhất trí, các đơn vị phòng thủ của ta bổ sung phương án, tổ chức lại
lực lượng, sắp xếp lại thế trận, thấy tù tin vững tâm hơn trước nhiều.
Đó là thế trận tác chiến bảo vệ từng khu vực của chiến tranh nhân dân.
Từ các đội thiếu niên nhi đồng đến các đội nam nữ dân quân, lão dân
quân cũng sẵn sàng tham gia đánh giặc bảo vệ địa phương. Đó là sức mạnh
tập thể xã hội chủ nghĩa ở các địa phương được quân sự hoá. Sau này,
thực tế đã chứng minh biết bao nhiêu toán gián điệp, biệt kích, trinh
sát của địch từ miền Nam tung ra địa bàn quân khu đã bị dân quân ta tóm
gọn. Tàu biệt kích của địch ra đã bị dân quân đánh chìm. Máy bay do
thám của địch bị bộ đội tiền tiêu ta bắn rơi, v.v.
Tuy nhiên khi nghiên cứu bố trí thế trận cụ thể, chúng - tôi cũng phải
trao đổi nhiều vì một số cán bộ ta học tập kinh nghiệm của nước ngoài,
nhưng không biết chọn lọc vận dụng vào thực tiễn con người, đất nước và
điều kiện trang bị vật chất thực tế của ta, của đơn vị để tác chiến với
một đối tượng mới.
Thế trận dàn mành mành, hướng về một phía (!), bố trí phòng thủ như vậy
thì dù nhiều cũng trở thành ít, mạnh thành yếu; dù có tuyến 1, tuyến 2,
tuyến 3 đến tuyến thứ mấy chăng nữa cũng sẽ yếu.
Cũng chừng ấy quân, chừng ấy trang bị vũ khí, chúng tôi bàn bạc với anh
em xoay lại thế bố trí. Đó là thế chân vạc tam giác nhỏ trong tam giác
lớn, đánh được địch từ các hướng tới. Trên trời, dưới biển, phía sau,
bên sườn, địch từ hướng nào tới, ta vẫn giữ được thế chủ động, khi tập
trung hướng này, lúc tập trung hướng khác, đánh dẻo dai liên tục. Các
cụm điểm tựa liên hoàn hỗ trợ cho nhau, tích cực vận động tấn công đập
vào sau lưng, bên sườn quần địch. Hết sức quán triệt tư tưởng chủ động
tiến công trong tác chiến phòng thủ trong bố trí thế trận, trong sử
dụng lực lượng, v.v.Để anh em cán bộ cơ sở dễ nhớ những điểm chính, tôi tóm lại những ý chính về cấu trúc và bố trí trận địa:
- Tam giác nhỏ trong tam giác lớn
- Chéo nhỏ trong chéo lớn
- Độc lập trong liên hoàn
- Chủ động trong bị động
- Điểm khống chế diện, diện bảo vệ điểm
- Nhiều tầng có chiều sâu
- Kết hợp: xa với gần, trong với ngoài, trước với sau, trên với dưới
- Hiểm hoè, bí mật, chéo sườn, thúc hông
- Cơ động rộng rãi, thoải mái, tập trung
- Thế cọp rình heo, thế mèo vồ chuột.
Về cách đánh:
- Phát hiện địch từ xa Làm chậm bước tiến của địch
- Làm địch mệt mỏi tiêu hao, lừa địch vào thế bất lợi
- Địch động ta phải động hơn
- Cắm trà phá lưới, rút lẫy bẻ thói
- Bí mật bất ngờ, đột nhiên, mãnh liệt
- Giữ mẹ, dắt con, xoay tròn bốn phía
- Kết hợp dũng mưu, dùng nhiều lối đánh
- Vận động tấn công, thúc hông chặt sườn...
Bài văn vần này, sau được anh em đơn vị hưởng ứng sửa chữa thành các
đoạn ca dao ngắn. Để giúp cán bộ cơ sở bố trí cụ thể, phù hợp với cách
đánh của ta, tôi thường cùng cán bộ tác chiến, kỹ thuật công trình đi
xem xét từng vị trí cụ thể, nghiên cứu bố trí từng hỏa khí súng máy,
súng ĐKZ, pháo chống tăng..., có một vấn đề cũng phải tranh luận khá
chật vật. Một số anh em quan niệm bố trí hỏa khí trong phòng ngự làm
sao phải bắn được nhiều hướng, bắn được xa, phát huy hết tính năng của
hỏa khí. Vì vậy có trận địa pháo, anh em đặt nghênh ngang trên đỉnh
núi. Tôi thường nói đùa là con gà ngồi trên mâm xôi. Có những khẩu súng
chống tăng, khẩu súng máy đặt ngay ở mỏm đất cao nhất, ở cổng làng, ở
ngã ba ngã tư đường cái. Tất nhiên tôi không bác bỏ hoàn toàn cách bố
trì này. Nhưng bố trí theo kiểu Trương Phi vỗ ngực: "Bớ ta đây!...",
như vậy không sớm thì muộn cũng sẽ bị diệt.
Anh em giở lý ra là theo tính toán thì một phương tiện chống tăng, một
phương tiện chống đổ bộ diệt được mấy tăng, mấy xuồng đổ bộ là hết
đời... Vậy thì ta cũng phải có số lượng bao nhiêu vũ khí đó mới đủ sức
đánh lại bao nhiêu xe tăng, bao nhiêu phương tiện đổ bộ của địch. Nghe
anh em trình bày tôi lo quá. Trệch rồi! lệch cả nhận thức lẫn quan điểm
rồi!
Tôi không bác bỏ cách tính toán của anh em, nhưng đối với ta, người
không đông, công nghiệp quốc phòng còn nghèo, không thể đánh theo kiểu
đó được. Ta phải đánh thắng kẻ địch có đông quân hơn ta, có nhiều vũ
khí hiện đại hơn ta, có tầm bắn xa hơn vũ khí của ta. Ta chưa với tới
địch thì nó đã với tới ta trước.
Đối với ta nếu có nhiều vũ khí hiện đại để đánh địch thì càng tốt.
Nhưng nếu không có đủ vũ khí này thì phải tìm trăm phương ngàn kế khác
đánh địch. Diệt địch, nhưng phải giữ mình. Đánh giặc phải có hy sinh,
nhưng tìm mọi cách tốt nhất cho quần chúng đỡ đổ xương máu, đỡ phải hy
sinh. Hỏa khí của ta phải diệt được nhiều địch nhất, tuổi thọ phải kéo
dài nhất chứ không phải diệt được 3 - 4 xe tăng địch thì hết đời. Vì
vậy phải mưu mẹo, phải tinh khôn. Tuyệt đối không được đánh theo kiểu
"đọ vàng với tư bản", không được bài binh bố trận theo kiểu bày hàng
xén.
Chính vì dân tộc ta có cách đánh truyền thống mưu trí, thông minh mà đã
thắng nhiều đội quân xâm lược có số lượng đông hơn ta nhiều lần, có
trang bị kỹ thuật hiện đại hơn ta nhiều lần.
Sau khi giải thích cho anh em và bố trí thực tế tại trận địa, tôi cho
xây dựng một công sự kiên cố. Công sự được xây dựng bằng bê tông cốt
thép, có lỗ châu mai nhỏ để tăng sức đề kháng. Chúng tôi dùng lần lượt
các loại hỏa khí bắn thử, thì rõ ràng là phát này chưa trúng thì phát
sau sẽ tin; súng này bắn không vỡ thì loại khác sẽ phá tan...
Rõ ràng là bê tông cốt thép, đạn to, súng lớn mà bố trí lộ liễu cũng
không có tác dùng là bao, sớm muộn cũng bị diệt. Tôi cho anh em đi xem
một khu chốt phòng thủ khác với tư cách là đối phương phán đoán xem
trận địa và các hỏa khí của ta bố trí như thế nào? Có đồng chí ngồi
ngay ở miệng lỗ châu mai mà không biết, phán đoán bố trí của ta sai
trệch cả.
Tôi kết luận: bí mật là cường độ mạnh nhất, trong chiến đấu đối phương
cũng chủ quan phán đoán ta như vậy. Ta bố trí phòng thủ mưu mẹo, có chỉ
huy thao lược linh hoạt nữa thì dù chúng có số lượng đông gấp hơn ta
bao nhiêu lần cũng chỉ là nhưng bia thịt mà thôi; có vũ khí, trang bị
hiện đại cũng sa vào bẫy của ta mà thôi.
Mỗi lần bố trí phía ta xong tôi lại ra phía trước, đứng vào cương vị
đối phương xem xét phán đoán ta, sau đó lại bổ sung phương án. Năm
1961, khi nghiên cứu ở khu giới tuyến tạm thời Vĩnh Linh, tôi đi suốt
dọc bờ sông Bến Hải từ phía đông lên mạn đồi núi phía tây, với danh
nghĩa là đoàn cán bộ nghiên cứu chống lụt của Trung ương về địa phương
kiểm tra. Chúng tôi đi trên bờ, bọn nguỵ quân Sài Gòn có một tổ đi
thuyền dưới sông, chửi đổng khiêu khích, vài tên đi xe đạp ở bờ sông
bên kia...
Ta với địch là đấu tranh giai cấp, là một mất một còn, nhưng lúc đó cán
bộ cơ sở của ta chân phương quá, xây dựng biết bao nhiêu trụ sở, nhà
ngói, lò vôi, lò gạch, v.v. Nhưng nhà là nhà, lò vôi là lò vôi, không
biết xây thành thế trận, không dám xây thành ổ chiến đấu, làm sẵn lỗ
châu mai khi cần chỉ việc đẩy hòn gạch ra là bắn được. Anh em sợ vi
phạm hiệp nghị Giơ-ne-vơ. Tôi nói: đấu tranh giai cấp, kẻ thù thì nham
hiểm, nếu ta ngây thơ như vậy thì bị diệt lúc nào không biết. Đây là
một vấn đề cụ thể trong xây dựng kinh tế phải kết hợp với quốc phòng.
Chúng tôi bàn với anh em, mọi việc xây dựng nhà cửa, đường sá, thuỷ
lợi, v.v. đều phải kết hợp chặt chẽ với phương án tác chiến phòng thủ,
phải hình thành các cụm chiến đấu liên hoàn...
Xem xét bố trí xong, tôi muốn đứng ra phía trước quan sát lại trận địa
của mình xem sao. Không có cách nào khác, tôi và vài cán bộ giúp việc
phải đi bộ qua cầu Hiền Lương đến giữa sông nhìn về bờ Bắc... Mấy tên
lính nguỵ từ bờ bên kia hối hả chạy ra cầu quát tháo:
- Đi đâu? đi đâu? các anh là ai? chỉ được đến giữa cầu thôi không được đi quá.
Chúng giơ súng gạt chúng tôi trở lại. Một cán bộ đi theo tôi ra đôi co
với chúng một lát, để chúng tôi có nhiều thì giờ xem xét nhìn lại phía
trận địa của mình ở bờ Bắc. Tôi chợt nhìn ra cái mố cầu: ôi! đó có thể
là một hỏa điểm bí mật nhô ra, bắn dọc ven sông nếu kẻ địch dùng
thuyền, dùng xuồng đổ bộ lên bờ Bắc...
Phải khẩn trương, bí mật, cải tạo ngay cái mồ cầu đó.
CÓ KẾ HOẠCH TỈ MỈ, NHƯNG PHẢI ỨNG PHÓ GIỎI MỚI GIÀNH ĐƯỢC THẮNG LỢI
Khi chuẩn bị chiến đấu, kế hoạch phải chu đáo, tỉ mỉ, phải dự kiến đầy
đủ những tình huống có thể xảy ra và tuỳ tình hình cụ thể mà chuẩn bị
với mức độ khác nhau theo những tình huống đó. Trong kế hoạch phải hết
sức mưu mẹo, linh hoạt, phải nghi binh đánh lừa địch.
Mặc dù đã dự kiến đầy đủ như vậy, nhưng trong chiến đấu tình huống xảy
ra cũng có khi đúng nhiều, có khi đúng ít, cũng có khi hoàn toàn không
đúng với kế hoạch. Nói chung là tình huống diễn biến muôn màu muôn vẻ,
vô cùng phức tạp. Lúc đó, nếu người chỉ huy cứ khăng khăng giữ kế hoạch
cũ thì rất nguy hiểm, có thể lâm vào tình trạng bị động và sẽ đi từ bị
động này đến bị động khác. Vì vậy bất cứ trường hợp nào, khi đã xuất
trận yêu cầu người chỉ huy phải nắm chắc kế hoạch cơ bản đã chuẩn bị
sân, nhưng lại phải ứng phó giỏi. Ta thường nói "tuỳ cơ ứng biến", tức
là tuỳ tình hình địa hình, địch, ta lúc đó mà xử trí cho thích hợp. ứng
phó giỏi không phải là bản năng bẩm sinh. Muốn ứng phó giỏi trước tiên
phải có gan đánh địch, có quyết tâm diệt địch cao, từ đó sẽ tìm ra được
nhiều cách xử trí. Có gan đánh lại phải có bản lĩnh nghệ thuật quân sự.
Có bản lĩnh đánh thắng không phải chỉ cần học cho biết, cho thuộc những
điều lệnh, nguyên tắc chiến đấu. Ví như một người học võ, không phải
chỉ học thuộc bài để biểu diễn cho có thứ tự, cho đẹp mắt là giỏi, mà
phải từ những động tác cơ bản, những bài cơ bản ấy nâng lên trình độ
thục luyện, vận dụng trở thành “ngoại tài" để đánh gục đối thủ. Muốn
vận dụng giỏi, muốn có "ngoại tài" thì cần ra sức luyện tập trong thực
tế Có bản lĩnh rồi và có thực tế ấy sẽ nảy sinh ra mọi cách ứng phó
giỏi. Dân gian ta có câu: "trăm hay không bằng tay quen" là như vậy?
Cho nên phải rèn luyện và rèn luyện thật nhiều trong thực tế, hết sức
tránh tự mình trói buộc mình vào sách vở, công thức. Từ sách vở, công
thức phải tiến lên vận dụng nhiều, ứng phó giỏi.
Sau đây là một số mẩu chuyện ứng phó của đơn vị và bản thân tôi:
Trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, sau khi đại đoàn bố trí đánh phục
kích trên đường số 4 bị trượt, địch từ Thất Khê lên chiếm quả đồi Khau
Luông tấn công nhứ vào Đông Khê, rồi bất thình lình tạt sang phía tây
với âm mưu của Lơ-pa-giơ là đi tắt đường mòn sang dãy đồi 477 để đón
Sác-tông. Ta tấn công Khau Luông đêm hôm trước không thành, đang chuẩn
bị kế hoạch tập kích Khau Luông lần thứ hai. Lúc đó, trên cho biết là
địch sẽ đi sang phía tây. Tôi phát hiện một eo đá của dãy núi Cốc Xá
rất hiểm trở, nếu để địch lọt qua eo này thì quân ta khó mà có đường
đuổi đánh địch, và nếu để quân Lơ-pa-giơ gặp được quân Sác-tông hợp
thành một lực lượng lớn thì ta khó mà tiêu diệt. Cho nên, đại đoàn lập
tức điều tiểu đoàn 18 vượt qua các dãy núi đá ngay trong đêm để nhanh
chóng chiếm giữ bằng được eo đó, nhằm chia cắt không cho Lơ-pa-giơ qua
phía tây. Quả nhiên ta với địch tranh chấp eo này rất ác liệt, cuối
cùng ta chiếm được eo, buộc Lơ-pa-giơ phải vón lại ở dây núi Cốc Xá và
bị tiêu diệt.
Trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952, trên giao nhiệm vụ trong một tuần
phải giải quyết xong phân khu Nghĩa Lộ. Kế hoạch của đại đoàn định hài
đêm sẽ tiêu diệt xong vị trí Pú Chạng và Nghĩa Lộ phố. Kế hoạch đề ra
như vậy, nhưng khi tác chiến, chỉ sau ba giờ đồng hồ quân ta đã tiêu
diệt xong vị trí Pú Chạng. Chúng tôi tính toán thời gian và lực lượng,
thấy cồn đủ sức để đánh luôn vị trì Nghĩa Lộ phố ngay trong đêm đó. Sự
tính toán và cân nhắc này được báo cáo với đảng ủy đại đoàn, sau đó hạ
quyết tâm chuyển sang đánh ngay vị trí Nghĩa Lộ phố và tới 5 giờ sáng
thì hoàn toàn giải quyết xong. Như vậy trong một đêm đơn vị đã đánh hai
cứ điểm, tiêu diệt và bắt sống gần 600 tên địch (bắt sống 412 tên).
Trong chiến dịch mùa hè tiếp sau chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi
nhận nhiệm vụ dùng một trung đoàn tăng cường thêm một tiểu đoàn hoạt
động ở khu vực Bắc Ninh và - Bắt Giang để thực hiện mục đích của chiến
dịch là đánh tiêu diệt một bộ phận địch và tiêu hao rộng rãi giừ chân
địch lại, làm áp lực cho hội nghị Giơ-ne-vơ. Với lực lượng nhỏ như vậy
làm sao đạt được nhiệm vụ trên? Trung đoàn X nhận nhiệm vụ tiêu diệt vị
trí Cầu Lồ. Còn tiểu đoàn tăng cường thì đại đoàn cho phan tán từng tổ
nhỏ xuống các xã thuộc mấy tỉnh trên để dìu dắt dân quân du kích, tổ
chức bao vây và đánh lấn càe vị trí địch. Dân quân du kích đã bao vây,
đánh lấn hơn 30 vị trí địch, tiêu hao, đánh tỉa địch ở mọi lúc, mọi
nơi, gây cho chúng nhiều khó khăn: hết lương ăn, nước uống, bị khốn đốn
trong các vị trí, đi đứng không yên. Thế mà chúng tôi đã tạo ra một
màng lưới rộng khắp và mạnh mẽ giữa bộ đội chủ lực với dân quân du
kích, kìm chân 4 binh đoàn của địch từ phía Phả Lại trong suốt một thời
gian dài không nhúc nhích được một bước cho đến khi có lệnh đình chiến.
Tôi nêu thêm một vài thí dụ của các đồng chí chỉ huy khác.
Tiểu đoàn X sau khi tấn công tiêu diệt cứ điểm được lệnh để một bộ phận
nhỏ ở lại giữ vững cứ điểm, bảo đảm cho chủ lực làm nhiệm vụ khác. Theo
kế hoạch chuẩn bị thì bộ phận nhỏ đó sẽ lợi dụng công sự, ụ súng của
địch để chiến đấu, đồng thời cho một số binh lực ra bí mật bố trí ở một
xóm nhỏ gần đấy nhằm khi địch tập trung tấn công chiếm lại cứ điểm, sẽ
bất ngờ xuất kích đánh vào bên sườn và sau lưng chúng. Nhưng thực tế
chiến sự lại diễn biến hoàn toàn khác với phương án đã chuẩn bị.
Mờ sáng hôm sau, quân địch kéo đến, nhưng không đánh chiếm cứ điểm ngay
mà trước tiên cho máy bay, đại bác oanh tạc dữ dội xóm nhỏ. Khoảng 8
giờ, chúng chia làm 3 mũi tiến vào đánh chiếm xóm nhỏ. Đơn vị ở đây
buộc phải chiến đấu. Anh em chiến đấu rất dũng cảm, linh hoạt, chỉ dùng
vài tổ chiến đấu đã ngăn chặn cánh chủ yếu của địch, số còn lại bí mật
cơ động theo bờ tre, bờ mương, bất ngờ xuất kích tiêu diệt một bộ phận
địch ở cánh thứ yếu. Bọn địch này chạy tán loạn, bọn địch ở các hướng
kia cũng phải lui theo. Quân địch tập trung đông hơn, tấn công nhiều
đợt nhưng đều bị đánh bật ra cánh đồng. Chúng chuyển hướng tập trung
đột phá vào phía khác. Một bộ phận nhỏ của ta ở trong cứ điểm theo
đường đã chuẩn bị sẵn, bí mật vận động ra đánh vào trận địa hỏa lực của
chúng. Bị đánh một đòn bất ngờ, quân địch bỏ chạy ra xa. Chiều hôm đó,
quân địch không tấn công nữa, chúng dàn quân bao vây lực lượng ta ở xóm
nhỏ. Vừa chập tối, quân ta ở trong cứ điểm lại bí mật luồn ra đập vào
sau lưng chúng. Nghe tiếng súng nổ, bộ phận ở xóm nhỏ trong vòng vây
của địch đã nhanh chóng nổ súng phồl hợp, rồi bí mật luồn ra ngoài. Sau
khi ra khỏi vòng vây, thấy địch sơ hở, chủ quan, mà thời gian ban đêm
còn nhiều, các chiến sĩ ta "tiếc rẻ" đã quay lại đập cho chúng một đòn
nữa rồi mới chịu rút. Ý định chiếm lại cứ điểm của địch không thành
công. Lực lượng ta tuy nhỏ nhưng luôn luôn giành chủ động, tiêu diệt
nhiều địch, làm tròn nhiệm vụ, chính vì cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đó
đã có bản lĩnh chiến đấu cao và ứng phó giỏi.
Ngược lại, một đơn vị nhỏ khác, sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, tiến
quân về đồng bằng làm nhiệm vụ bao vây đánh lấn một cứ điểm. Trong khi
quân ta đang tập trung bao vây bắn tỉa địch, không chú ý cảnh giới sau
lưng, bên sườn thì bị một cánh quân của địch ở nơi khác bí mật vận động
tới đánh vào sau lưng. Người chỉ huy đã lúng túng không biết xử trí ra
sao, chống cự yếu ớt, rồi ra lệnh cho đơn vị rút. Bị quân địch từ trong
đánh ra, ngoài đánh vào, đơn vị tuy rút lui được nhưng cũng bị tổn thất
một số. Thế là không những không hoàn thành nhiệm vụ mà còn bị tổn
thất, ảnh hưởng đến khí thế đang trên đà chiến thắng của bộ đội. Về
nguyên nhân có thể do dự kiến phương án tác chiến và kế hoạch không chu
đáo như tiến hành bao vây đánh lấn địch ở cứ điểm mà không tổ chức đánh
máy bay, đánh địch trên trời đổ xuống, đánh địch tập kích từ sau lưng,
v.v..; cũng có thể do tinh thần chiến đấu của người chỉ huy không vừng
vàng trong lúc gay go, ác liệt. Nhưng dù thế nào chăng nữa, nguyên nhân
trực tiếp nhìn thấy ngay vẫn là người chỉ huy kém linh hoạt ứng phó.
Nếu người chỉ huy có bản lĩnh, ứng phó giỏi, các chiến sĩ thiện chiến
thì phắc rằng tình hình sẽ khác, kẻ địch không dễ gì gây cho ta tổn
thất.
Tình huống diễn biến trong chiến đấu rất mau lẹ và vô cùng phức tạp.
Người chỉ huy phải ứng phó giỏi để luôn luôn giành chủ động tạo bất ngờ
để chiến thắng. Muốn ứng phó giỏi, cần phải rèn luyện thật nhiều trong
mọi tình huống, với những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Rèn luyện
trong hoàn cảnh càng khó khăn, phức tạp, trong tình huống càng ác liệt,
khẩn trương, thì khi chiến đấu sẽ vững vàng, đủ minh mẫn để nhận xét
tình hình, xử trì thích hợp. Tuyệt đối tránh chủ quan, thoả mãn, hoặc
chỉ quyết tâm chiến thắng trên khẩu hiệu, mà không chịu trau dồi nâng
cao bản lĩnh chiến đấu và trình độ chuẩn bị, tổ chức chu đáo.
CÓ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÁNH CÀNG TỐT, NẾU KHÔNG CÓ ĐỦ ĐIỀU KIỆN THÌ TỰ TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÁNH THẮNG
Quyết tâm đánh thắng giặc không phải chỉ là một khẩu hiệu chung chung
theo ý muốn chủ quan. Thắng lợi của một trận chiến đấu là do tác động
của nhiều điều kiện bên ngoài và sự nỗ lực chủ quan của những người
tham gia trận đánh. Khi chuẩn bị một trận đánh (vị trí địch có công sự
vững chắc, tập kích, phục kích, đánh quân đổ bộ đường không, bao vây
tấn công liên tục quân địch, vận động tấn công kết hợp với chốt chặn
địch, v.v.) hay là một đợt hoạt động, một chiến dịch, người chỉ huy
phải xét kỹ tới toàn bộ những điều kiện cần có để giành thắng lợi.
Trong thực tế chiến đấu, những điều kiện để đánh thắng rất ít khi có
đầy đủ ngay từ khi nhận nhiệm vụ, rất ít trường hợp có đầy đủ như ý
muốn người chỉ huy. Khi cấp trên giao nhiêm vụ cho cấp dưới là đã xét
tới những điều kiện cơ bản để đánh thắng đã có và những điều kiện cơ
bản, những điều kiện cụ thể còn thiếu hoặc chưa có nhưng cấp dưới có
thể tạo ra. Có khi điều kiện thuận lợi có rất ít, trước mắt, nhìn bề
ngoài thấy nhiều khó khăn lớn tưởng chừng như không khắc phục nổi.
Nhưng sau khi suy nghi những điều kiện cơ bản để đánh thắng, vững lòng
tin ở trí tuệ và sức mạnh của quần chúng, người chỉ huy cấp trên vẫn ra
lệnh chiến đấu. Lúc ấy chính là lúc biểu hiện lòng trung thành, trí
sáng suốt, tinh thần anh dũng quả cảm và tài năng của người chỉ huy cấp
dưới. Lúc ấy chính là lúc cấp dưới phải vắt óc suy nghĩ, cùng quần
chúng nỗ lực vượt bậc tạo ra những điều kiện chưa có hoác chưa đầy đủ
để chấp hành không điều kiện mệnh lệnh của cấp tiên. Có chừng ấy người,
có chừng ấy súng, lương thực, vật chất khác cũng chỉ có chừng ấy, nhiệm
vụ cách mạng đòi hỏi phải đánh và nhất định phải đánh thắng, không được
trù trù do dự; trách nhiệm chính trị không cho phép chúng ta buông trôi
thả lỏng, vin cớ này cớ khác để che đậy cho sự lười biếng, dao động sợ
chết, thoái thác nhiệm vụ. Vượt qua mọi hiểm nghèo, khắc phục mọi khó
khăn trong chiến đấu, người chỉ huy sê lớn lên rất nhanh chóng, sẽ cứng
rắn thêm như thép được tôi luyện, như vàng được thử lửa. Trong điều
kiện ta còn yếu hơn địch về trang bị kỹ thuật, còn nghèo hơn địch về
vật chất, khí tài, để đánh thắng địch, yêu cầu sự nỗ lực chủ quan của
các cấp và các lực lượng tham gia trận đánh phải rất cao. Cán bộ chỉ
huy chúng ta lớn lên trong khó khăn, dày dạn trung gian lao, cứng rắn
trong hiểm nghèo. Chính vì vậy mà người chỉ huy quân đội cách mạng trở
nên trí dũng song toàn, biết bao nhiêu bài học hay, tấm gương tốt còn
lưu truyền mãi mãi về sau. Tuy nhiên, trong vườn hoa rộng lớn vừa tươi
đẹp vừa thơm ngát ấy cũng không tránh khỏi một vài bông hoa bị sâu đục
hoặc chim rỉa. Cá biệt có cán bộ khi nhận nhiệm vụ đã vin lý do này lý
do khác đưa ra muôn vàn khó khăn ghê gớm và vin cớ nọ cớ kia để thoái
thác nhiệm vụ, bỏ dở công việc, làm không đến nơi đến chốn, làm sai làm
hỏng, làm thiệt thời cho cách mạng. Thí dụ: Khi nhận nhiệm vụ tác chiến
ở chiến trường rừng núi xa xôi thì vin cớ không có người dẫn đường sợ
đi chậm, đi lạc, vin cớ thiếu gạo, thiếu đạn, sợ tiếp tế không kịp...,
đặt điều kiện với cách mạng, mặc cả với cấp trên, yêu cầu cấp đủ cái
này, giải quyết cái kia mới làm được nhiệm vụ, mới đánh hoặc mới đánh
thắng. Nói như vậy không có ý nghĩa là không được phép nêu khó khăn,
không được xin thêm điều này điều nọ, mà yêu cầu người chỉ huy khi nhận
nhiệm vụ phải với tinh thần phấn khởi, lạc quan, tích cực cách mạng,
thấy được thuận lợi để phát huy và thấy được khó khăn để cùng tập. thể
bàn bạc tìm biện pháp khắc phục. Còn thắc mắc điều gì cứ. hỏi, cần xin
thêm cái gì cứ nói, tìm mọi cách, tạo mọi điều kiện để hoàn thành nhiệm
vụ. Đó là thái độ đúng đắn thể hiện bản chất tư tưởng tốt đẹp của người
chỉ huy. Trường hợp tự mình thấy không đủ khả năng đảm đương nhiệm vụ
cũng cần nói rõ nhưng... khì đã nhận, dù khó khăn đến mấy, cửng kiên
quyết khác phục, . tạo mọi điều kiện để đánh thắng. Dẫn chứng trong mục
“quân lệnh như sơn” là một trong những bài học tốt về “tự tạo điều kiện
để đánh thắng". Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã cùng nhau khắc phục
những khó khăn vô cùng lớn lao. Thiếu gạo thì vừa hành quân vừa đánh
giặc, vừa cử người đi các vùng rừng núi xa xôi cùng nhân dân giải quyết
gạo cho bộ đội. Không biết đường đi thì tự tìm đường, nhờ dân dẫn
đường, bắt địch dẫn đường. Thiếu đạn thì thực hiện khi cần mới bắn, đã
bắn là trúng, lấy súng đạn của địch để trang bị cho mình, v.v. Đó chính
là người chỉ huy biết tích cực tự tạo thêm điều kiện để đánh thắng.
Vừa qua, có đơn vị nhận lệnh đi tác chiến trong khi số đạn còn rất ít,
nhưng đơn vị cứ xuất phát, người chỉ huy tìm mọi cách đưa đạn chạy theo
sau. Có đơn vị nhận nhiệm vụ đánh địch không biết đường đi, không có
người dẫn đường, nhưng người chỉ huy đã biết quan sát đường đi của máy
bay địch, nghe tiếng súng của địch để tìm đến mục tiêu tác chiến.
Những bài học về tự tạo điều kiện để đánh và đánh thắng địch có rất
nhiều. Trước kia và hiện nay đều có. Nhưng bài học mấu chốt vẫn là vấn
đề tư tưởng "dám đánh", "dám nhận mới nhiệm vụ khó khăn nhất". Có nhiệt
tình cách mạng, tư tưởng thông suốt, từ đó ta cùng quần chúng tìm ra
muôn vàn biện pháp, tạo ra nhiều điều kiện để đánh thắng.
LÚC KHÓ KHĂN CÓ TIẾNG NÓI CỦA CÁN BỘ, KHI GAY GO CÓ MẶT NGƯỜI CHỈ HUY
Trong chiến đấu, nhất là lúc gặp tình huống gay go ác liệt cấp dưới và
chiến sĩ thường chăm chú theo dõi tinh thần, thái độ và tác phong của
người chỉ huy. Lúc đó, nếu người chỉ huy nhìn trước nhìn sau, mắt tròn
mắt dẹt, hấp tấp vội vàng, đúng ta lúng túng thì sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến lòng tin của cấp dưới. Cho nên yêu cầu người chỉ huy phải hết sức
bình tĩnh, điềm đạm, suy nghĩ chín chắn nhưng khẩn trương, tháo vát, có
quyết tâm rõ ràng, ra mệnh lệnh kiên quyết. Làm được như thế, đội ngũ
sẽ được củng cố, quyết tâm sẽ vững chắc, tinh thần chiến đấu sẽ nâng
cao, tác phong chiến đấu sẽ dũng mãnh, từ khó khăn có thể chuyển thành
thuận lợi bại chuyển thành thắng.
Lúc khó khăn, càng là cấp chỉ huy trực tiếp càng cần xông xáo, gương
mẫu. Khi cần thiết phải thâm nhập xuống cấp dưới, đi đến nơi, giải
quyết tại chỗ. Trường hợp do điều kiện nào đó không đi đến được, hoặc
nếu bỏ vị trí chỉ huy mà đi không có lợi cho việc chỉ huy chung, thì
nhất thiết người chỉ huy không được buông trôi thả lỏng, thoái thác
trách nhiệm, mặc cho dưới hành động, nếu xảy ra sai sót thì đổ cho
dưới. Dù hoàn cảnh thế nào đi chăng nữa, người chỉ huy trực tiếp hoặc
người có trách nhiệm với trận đánh nhất định phải có thái độ rõ ràng,
phải có tiếng nói của mình với tinh thần phụ trách cao.
Trong trận Tu Vũ, chiến dịch Hoà Bình năm 1951, khi quân ta đang chiếm
lĩnh trận địa thì địch bắn ra rất dữ, làm cho cán bộ, chiến sĩ có người
bị thương vong, vũ khí có một số bị hỏng. Trong cán bộ đã có ý kiến đề
nghị rút không đánh hoặc hoan khi khác sẽ đánh, v.v. Giữa lúc ấy, đồng
khí Song Hào với cương vị bí thư đảng ủy và chính ủy đại đoàn đã chỉ
thị rõ ràng, phân tích cụ thể, củng cố quyết tâm cho các cán bộ chỉ huy
và đảng ủy cấp dưới. Một lời nói tuy ngắn ngủi nhưng đã làm cho cấp
dưới bình tĩnh, sáng suốt thêm và vững tin thêm. Một lời nói của người
chỉ huy lúc ấy là vô cùng quý giá và rất quan trọng.
Ngược lại, trong một trận đánh quyết liệt khác, có cán bộ chỉ huy cấp
trên cùng đi với sở chỉ huy cấp dưới để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ huy
được chặt chẽ và kịp thời. Thế nhưng, khi đơn vị gặp tình huống rất khó
xử trí, nên rút hay nên đánh, cẩn tung đội dự bị ra chưa, chiếm giữ khu
vực đã chiếm được hay rời khỏi trận địa, v.v. thì người chỉ huy ấy đã
trốn trách nhiệm, giao phó cho dưới, không có thái độ dứt khoát, trả
lời với dưới là: "tuỳ theo tình hình, liệu mà xử trí". Câu trả lời bâng
quơ đó của cấp trên làm cho cấp dưới hiểu như thế nào và quyết tâm ra
sao? Như vậy đã không giúp ích gì cho cấp dưới, sự có mặt của cấp trên
cũng bằng thừa và chỉ làm rối bận thêm cho cấp dưới mà thôi. Đó là một
thiếu sót rất lớn của người chỉ huy. Tổn thất của trận đánh, người chỉ
huy cấp trên đi theo đó cũng phải chịu phần lớn trách nhiệm. Đó chính
là quan điểm quần chúng, quan điểm giai cấp, tinh thần trách nhiệm của
người chỉ huy trong quân đội cách mạng trước sinh mệnh của quần chúng,
trước thành bại của sự nghiệp cách mạng.
Dưới đây, tôi kể một mẩu chuyện nhỏ khác mà bản thân đã trải qua.
Đầu tháng giêng năm 1947, tại mặt trận Hà Nội, sau khi phát hiện quân
địch từ phía Lò Lợn chuẩn bị tấn công xuống Thanh Nhàn, Vểnh Tuy hòng
bất ngờ đánh úp tiêu diệt một đơn vị Vệ quốc đoàn của ta ở đây; thay
mặt Bộ chỉ huy mặt trận1 (Lúc này đồng chí Vương Thừa Vũ là chỉ huy
trưởng mặt trận Hà Nội - Bĩ), tôi cấp tốc đi xuống đơn vị ấy góp ý kiến
chuẩn bị đánh địch, đồng thời phổ biến kinh nghiệm tác chiến của các
đơn ví tây bắc Hà Nội. Đường vòng từ phía tây bắc xuống đông nam Hà Nội
khá xa. Tôi đi bộ rất vội vã, đến nơi giữa lúc đơn vị đang dàn quân bố
trí. Tôi cùng đồng chí trung đội trưởng ngồi trong miếu ở chân đê bàn
bạc kế hoạch, bố trí lực lượng. Đang làm việc, chúng tôi nghe thấy
tiếng cơ giới của địch mỗi lúc một gần. Bộ đội ta đã bố trí xong rồi.
Không thấy gì khả nghi, cơ giới của đính tiến rất nhanh ập ngay tới
nơi. Tôi và đồng chí trung đội trưởng rút súng lục bắn, ra lệnh nổ súng
và hô "xung phong!”. Súng máy ta bắn vùi đầu toán địch đi trước. Tôi
chạy lao lên mặt đê, chĩa súng bắn thẳng vào đầu những tên giặc đang
chạy nhốn nháo. Đồng chí quân giới cùng đi với tôi, gọi to: “Đồng chí!
Đồng chí hãy ở lại đây!”. Nhưng muộn rồi, tôi và đồng chí trung đội
trưởng đang xông lên đánh giáp lá cà với địch. Các chiến sĩ vừa nghe
súng lệnh, tiếng thét xung phong của chúng tôi thì đã thấy chúng tôi
lao về phía địch. Lập tức các chiến sĩ từ các phía xông ra, hét vang
trời quần nhau với địch. Khí thế của quân ta rất dũng mãnh, quân địch
bị đánh rất bất ngờ, đội ngũ rối loạn, những tên sống sốt phải quay đầu
tháo chạy. Quân ta truy kích tới gần vị trí Lò Lợn.
Sau trận đánh, tôi suy nghĩ về bản thân mình xem hành động như thế có
phải là anh hùng cá nhân không? Với tình huống ấy còn cách nào, thái độ
nào nữa không? Thấy địch ập đến trước mặt, nếu người chỉ huy hoảng hốt
rút chạy thì tình hình thực tế sẽ đưa đến tai họa như thế nào? Ở tình
huống khẩn cấp ấy mà người chỉ huy cứ ở phía sau hô xung phong suông có
ổn không? Trong khi cấp dưới, chiến sĩ đang chăm chú theo dõi thái độ
của mình, đặt hết niềm tin vào người chỉ huy cấp trên, thấy mình như
vậy anh em sẽ nghĩ sao? Liệu tất cả mọi người có dũng cảm xung phong
không? Tôi không thể nào quả quyết rằng nếu lúc đó tôi cứ ngồi lại rồi
hô anh em tiến thì mọi việc có được thuận lợi như thế không? Tình huống
đó vạch cho tôi chỉ có một thái độ, một con đường là gương mẫu xung
phong lao lên tiêu diệt địch và tôi cảm thấy rằng thái độ đó đã có tác
dụng phần nào đối với cán bộ cấp dưới và các chiến sĩ trong trận đánh.Sau này có nhiều trận chiến đấu khác, tôi thường gặp trường hợp gần
giống như vậy. Với tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy, tôi cứ nói,
cứ làm theo tình hình thực tế lúc đó thực ra trong thâm tâm tôi không
hề nghĩ đến những chữ "gương mẫu”, "xung phong", "có mặt"... Mãi về
sau, anh em ngồi "bù khú” với nhau kể lại chuyện cũ, tôi nói rõ: Cán bộ
cấp dưới và chiến sĩ có khi để ý cả cử chỉ, thái độ rất nhỏ từ câu nói,
nụ cười, đến cả cái nhếch mép của người chỉ huy cấp trên. Cử chỉ, thái
độ ấy dù rất nhỏ nhưng đã có tác dụng rất lớn đối với mọi người xung
quanh. Năm 1950, trong chiến dịch Biên Giới, giua lúc tình huống vô
cùng khẩn cấp, đại đoàn đang xuất kích vận động tấn công tiêu diệt binh
đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông thì tôi bị chảy máu dạ dày, bụng đau quặn,
người tái dần rồi ngã vật ra. Đồng chí Minh Tâm, bác sĩ, khuyên tôi nằm
nghỉ để tiếp máu. Tôi sốt ruột vô cùng, đòi cáng đi theo đơn vị xuất
kích. Điện thoại cũng kéo đi theo. Chuông điện thoại réo liên hồi. Tôi
cầm ống nghe. Tiếng đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp dõng dạc và ấm áp:
- Sao tiếng nói lại khàn khàn thế?
Tôi trả lời:
- Tôi bị chảy máu dạ dày.
Sau khi hỏi thăm sức khoẻ, căn dặn ân cần, đồng chí hỏi tình hình chiến sự và chỉ thị bổ sung một số điểm về nhiệm vụ.
Tôi thấy khoẻ hẳn lên, tiếng nói của người chỉ huy cấp trên đến với tôi
rất đúng lúc. Tôi ốm đau, đó là khó khăn của bản thân, nhưng cũng quan
hệ tới đơn vị. Tiếng nói của đồng chí Đại tướng đã an ủi, khích lệ tôi
rất lớn. Tôi muốn vùng dậy bám sát đơn vị, nhưng mệt quá, không dậy
được. Tôi vẫn nằm, nhờ một đồng chí quay điện thoại để tôi nói chuyện
với đồng chí đại đoàn phó về ý định tác chiến mà tôi vừa báo cáo với
cấp trên. Tin tôi bị chảy máu dạ dày truyền đi rất nhanh qua các chiến
sĩ thông tin, các cán bộ tham mưu. Nhưng lúc đó, mệnh lệnh của tôi vẫn
truyền đi đều đặn tới các đơn vị. Các cán bộ cấp dưới vẫn nghe thấy
tiếng nói của tôi. Lúc ấy, tôi cho rằng thái độ và việc làm như thế là
tất nhiên đối với trách nhiệm của người chỉ huy. Thực ra cũng đúng như
vậy. Về sau anh em kể lại, giữa lúc tình huống khẩn cấp như thế, được
tin người chỉ huy trực tiếp của mình bị mệt, nếu gián đoạn chỉ huy thì
không thể nào tránh khỏi sù xúc động lo lắng. Nhưng cũng giữa lúc ấy
lại được nghe tiếng nói, được chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy thì
niềm tin, sự phấn chấn, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ lại tăng lên rất
nhiều. Về sau này, trong một vài chiến dịch khác, tôi lại gặp tình
huống éo le như trên. Nhưng mọi việc giải quyết lại có kinh nghiệm hơn.
Ngoài ra có những trường hợp, nếu chỉ dùng mệnh lệnh, dùng lời nói cũng
chưa đủ bảo đảm công việc thành công chắc chắn, thì người chỉ huy phải
trực tiếp đến tận nơi, bắt tay vào hành động thực sự.
Thí dụ: Việc đi chuẩn bị chiến trường trong chiến dịch Tây Bắc. Muốn
lọt vào tận sào huyệt địch để điều tra tình hình, cần phải vượt qua một
chặng đường rừng rất gian khổ, phải đồi phó với địch rất căng thẳng và
nguy hiểm. Là một đại đoàn trưởng trực tiếp nhận nhiệm vụ này, tôi cũng
biết trước những khó khăn ấy. Nhưng tôi đã cùng đi với anh em, cũng leo
núi cao, vượt suối lũ, lẩn tránh địch phục kích, cơm đùm cơm nắm, đi
vào sâu tận sào huyệt địch. Tôi cũng cùng anh em nằm sát vị trí giặc
suốt hai ngày liền để nghiên cứu nắm quy luật hoạt động của địch. Chính
tinh thần, thái độ đó đã thúc đẩy cán bộ cán cấp trong đoàn cán bộ
chuẩn bị chiến trường nghiên cứu địa hình, nghiên cứu địch đến nơi đến
chốn, cấp trực tiếp chiến đấu càng nghiên cứu tỉ mỉ, cụ thể hơn, bò vào
tận hàng rào dây thép gai của địch, xem xét từng mô đất, từng lùm cây,
bố trí cụ thể từng khẩu súng, từng mũi đột kích, v.v. Sự có mặt của
người chỉ huy trong những lúc khó khăn, nguy hiểm là rất quan trọng.
Chuẩn bị chu đáo như vậy, tất nhiên khi tác chiến sẽ có nhiều thuận
lợi, bảo đảm chiến thắng.
Những trận đánh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược,
sở chỉ huy đại đoàn chúng tôi thường ở cách mục tiêu tấn công không
ngoài 2 ki-lô-mét, có trận cần thiết chúng tôi chia nhau xuống các sở
chỉ huy trung đoàn. Sở chỉ huy trung đoàn chỉ cách mục tiêu 500 - 600
mét, tiểu đoàn đi sát với đại đội chủ công, đại đội đi ngay sau trung
đội chủ công. Do đó, chúng tôi luôn luôn nắm chắc được tình hình và xử
trí kịp thời.
Vừa qua, trong chiến đấu với bọn giặc xâm lược, ỷ lại vào hỏa lực của
máy bay là chính, có vùng chúng dùng nhiều hỏa lực của pháo mặt đất và
pháo hạm, sở chỉ huy các cấp cần tuỳ theo tình hình cụ thể mà bố trí
cho thích hợp. Nhưng bất cứ ở trường hợp nào, sở chỉ huy đặt ở đâu thì
người chỉ huy cũng phải nắm được tình hình địch, tình hình ta, hiểu
được diễn biến của chiến sự để có quyết tâm kịp thời và chính xác. Hết
sức tránh vì quá chú ý đến an toàn mà đặt sở chỉ huy quá xa, chỉ huy
cách bức, khoán trắng cho cấp dưới, sẽ không bảo đảm cuộc chiến đấu thu
được thắng lợi toàn vẹn, có khi còn gặp nhiều khó khăn.
HÀNH QUÂN, TRÚ QUÂN VÀ THU QUÂN
Hành quân, trú quân và thu quân là những giai đoạn rất quan trọng bảo đảm cho trận đánh thắng lợi toàn vẹn.
Hành quân là giai đoạn chiến đấu cũng tức là giai đoạn của chiến thuật.
Khi hành quân, tổ chức không chu đáo, đội hình không chặt chẽ, thu dung
không gọn, động viên nhiệm vụ không triệt để sâu sắc, các tổ chức công
tác chính trị hoạt động không tốt để cho đội hình kéo dài, lếch thếch
rơi rớt dọc đường sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến sức chiến đấu của bộ đội
và sẽ bị động lúng túng khi gặp địch phục kích hoặc đánh lén. Tóm lại,
những việc trên có làm tốt, nhưng tổ chức chiến đấu trong khi hành quân
không tốt, như không có trinh sát tung đi tướt, không có trinh sát sục
sạo bên sườn, phía sau của ngay bản thân đội hình, vị trí chỉ huy các
cấp không thích hợp, thông tin truyền lệnh không thông suốt, không có
dự kiến tỉ mỉ, cụ thể phương án tác chiến dọc đường thì dễ bị địch dùng
bộ binh, máy bay hoặc dùng hỏa lực tập kích bất ngờ. Lúc đó, đội hình
hành quân sẽ bị rối loạn, lực lượng dễ bị tiêu hao, người chỉ huy khó
chỉ huy, khó nắm quân. Đó cũng là mối lo lắng lớn đối với người cán bộ
trong việc chỉ huy bộ đội hành quân chiến đấu.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đại đoàn X đã
cùng các đơn vị bạn tham gia nhiều chiến dịch. Lịch sử chiến đấu của
đại đoàn là lịch sử của quá trình hành quán liên tục, đường dài vạn
dặm. Đi để đánh, đánh xong lại đi, đi hết chiến trường này đến chiến
trường khác. Ra đi trở lại, lại ra đi.
Có những con đường đại đoàn đã đi qua không biết bao nhiêu lần. Đánh
xong chiến dịch Biên Giới lại tiến về đánh ở trung du, xong trung du
lại sang Đông Bắc, xong Đông Bắc xuống Hà Nam Ninh, rồi đi Tây Bắc, đi
mặt trận phía tây đi biên giới. v.v. Có những chặng đường đi hàng chục
đêm liền. Thí dụ: Cuộc hành quân của đại đoàn từ Đông Bắc xuống Hà Nam
Ninh cũng đã đặt ra cho đại đoàn nhiều vấn đề mới mẻ trong việc tổ chức
chỉ huy và lãnh đạo. Từ rừng núi xuống đồng bằng làm sao giữ được bí
mật khỏi bị địch phát giác và không bị máy bay, pháo binh địch oanh
tạc? Đường xa, đi đêm nhiều, bộ đội sẽ mệt mỏi rơi rớt nhiều, làm sao
bảo đảm được quân số chiến đấu? Thời gian mở màn chiến dịch rất gấp
rút, nhiệm vụ của đại đoàn rất nặng nề phải phối hợp với các đơn vị
bạn, bảo đảm hành động ăn khớp.
Sau khi nhận nhiệm vụ của cấp trên, đảng ủy đại đoàn nghiên cứu quán
triệt và ra quyết nghị: “Tuyệt đối giữ bí mật, bảo đảm quân số cao nhất
tham gia chiến đấu, chấp hành đúng thời gian mở màn chiến dịch...". Cơ
quan tham mưu, chính trị, hậu cần tiến hành đặt kế hoạch hành quân tính
toán cụ thể từng chặng đường đì, quy định thời gian xuất phát, tổ chức
chỉ huy điều chỉnh xuống thuyền qua sông, v.v. Mỗi chặng đường đều tổ
chức đội tiền trạm đi trước chuẩn bị địa điểm trú quân, tìm mọi cách
bảo đảm cho đơn vị tới nơi vào địa điểm trật tự, tranh thủ nghỉ ngơi
được ngay; tổ chức đội thu dung ở từng chặng đường để thu vét những anh
em ốm yếu, đau chân tụt lại sau; từng chặng có nơi ăn nghỉ, khi cần
phải tổ chức khiêng cáng anh em ốm yếu đến trạm điều trị. Phải tổ chức
từng chặng đi cho phù hợp với sức khoẻ của từng loại, luôn luôn động
viên anh em. Phải có người bảo vệ anh em được an toàn. Tổ chức thu dung
tốt tức là tiếp tục hoàn thành giai đoạn hành quân tốt, nên yêu cầu
người phụ trách công tác thu dung phải hết sức nhẫn nại tổ chức chu đáo
và tích cực mọi biện pháp vén quân cho gọn.
Trong khi hành quân, cán bộ các cấp phân công nhau mỗi người đi ở một
vị trí thích hợp. Thí dụ: Cán bộ quân sự cấp trưởng đi đầu hàng quân,
cấp phó đi đoạn giữa, chính trị viên đi sau đội hình, hoặc tuỳ tình
hình có thể chuyển vị trí giữa cấp phó và chính trị viên, hoặc cấp
trưởng và chính trị viên đi gần nhau để tiện trao đổi. Các cán bộ thay
nhau chạy lên chạy xuống duy trì trật tự đội hình hành quân, luôn luôn
đôn đốc động viên bộ đội, giúp đỡ anh em ốm yếu. Từng chặng nghỉ ngắn,
cán bộ đi hỏi han săn sóc sức khoẻ của anh em, nhắc anh em đừng nằm
xuống đất, giữ gìn súng đạn, ăn uống ra sao, v.v. Tất cả những tình cảm
thắm thiết đó của cán bộ làm cho chiến sĩ rất cảm động, tình thương yêu
gắn bó sâu sắc dù mệt nhưng cũng không muốn rời đơn vị, đã tụt lại
nhưng cũng cố gắng đuổi theo kịp đơn vị để được đi làm nhiệm vụ.
Trong hành quân, tổ chức động viên liên tục, hoạt động văn nghệ thường
xuyên để bộ đội quên gian khổ, quên mệt nhọc. Từng chặng đường có khẩu
hiệu động viên, hò, vè, ca dao. Hoạt động của tổ ba người dí dỏm vui
tươi. Đảng viên, đoàn viên luôn luôn gương mẫu, săn sóc anh em, cởi mở,
trò chuyện với quần chúng. Các chiến sĩ tích cực giúp ñôõ động viên
mang vác hộ nhau, dìu nhau đi đến nơi đến chốn, quyết tâm đi nhanh, đi
gọn, làm tròn nhiệm vụ. Đơn vị nào cũng thi đua động viên mọi người đi
tới đích một trăm phần trăm.
Trong hành quân có những công việc tưởng chừng như đơn giản, nhưng nếu
người chỉ huy không tính toán hết, không giải quyết cụ thể thì sẽ trở
thành vấn đề lớn, ảnh hưởng đến hành quân. Thí dụ: Trong chiến dịch Tây
Bắc năm 1952, đường hành quân của đại đoàn từ mép sông Hồng vào tới
Nghĩa Lộ, theo đường ô tô, chỉ dài chừng 85 ki-lô-mét, nhưng là đường
rừng, leo đèo, lội suối nhiều, có chặng đường lội qua 21 khúc suối, có
đoạn đường leo đèo nửa ngày mới tới đỉnh và nửa ngày mới xuống đến chân
dốc. Chúng tôi đã tính toán nếu một vài người đi thì chỉ mất 3 ngày
nhưng nếu cả đại đoàn thì chắc chắn 3 ngày không thể tới nơi mà phải 4
ngày hoặc hơn nữa. Tổ chức vượt sông bằng nhiều bến, tổ chức sang sông
rất chu đáo mạng thông tin rải ở mé sông xuống các bến điều khiển từng
đơn vị xuống thuyền. Số người, số đợt sang trật tự, nhanh chóng. Sau 2
giờ đồng hồ, đại đoàn đã vượt qua sông gọn ghẽ. Nhưng do chưa tính đến
đường từ bờ sông toả đi các ngả, chưa tổ chức cụ thể đơn vị nào đi
trước, đơn vị nào đi sau, nên khi bộ đội vừa sang sông hết cũng là lúc
trời tối mù mịt, mưa to gió lớn, đội hình ùn lại, chen nhau rất lộn
xộn, lùng nhùng suốt đêm, thỉnh thoảng mới nhích được vài bước, có lúc
phải đứng tại chỗ hàng giờ. Trời vẫn mưa. Đường trơn, bùn lầy lội. Đi
không được, ngồi nghỉ thì không có chỗ. Đến khi trời sáng bạch vẫn
nhùng nhằng, đi không ra đi, đứng không ra đứng. Một đêm ròng đại đoàn
đi chưa được đầy 3 ki-lô-mét. Cuộc hành quân vẫn tiếp tục, nhưng mới
được hai ngày bộ đội đã mệt mỏi. Các đơn vị đề nghị cho bộ đội nghỉ lại
ngủ để lấy sức. Nhưng vì thời gian gấp, yêu cầu đi nhanh, đại đoàn đã
giải quyết bằng cách: đơn vị đi đầu rẽ sang hai bên đường cho anh em
ngủ vài giờ, đơn vị sau đi vượt đơn vị trước một chặng dài rồi lại tạt
sang rìa rừng cho anh em ngủ vài giờ. Các đơn vị thực hiện lần lượt như
vậy nên đã giữ được sức khoẻ cho bộ đội, bảo đảm hành quân liên tục và
nổ súng mở màn chiến dịch đúng thời gian đã định.Đợt 2 chiến dịch, đơn vị lại hành quân vượt qua sông Mã, bên kia sông
có vị trí địch. Để bảo đảm vượt sông an toàn, dợn vị đã hết sức giữ bí
mật bến qua sông, một mặt cho bộ đội bí mật bắc cầu, bố trí một số hỏa
lực sẵn sàng chiến đấu, mặt khác quân báo và một tiểu đoàn bộ binh của
đại đoàn vượt trước sang bên kia sông bám sát vị trì địch. bố trí yểm
hộ cho toàn đơn vị vượt sông. Cuộc hành quân vượt sông của đại đoàn
được chuẩn bị và tổ chức chu đáo, tỉ mỉ đã bảo đảm cho toàn đơn vị sang
sông nhanh chóng và gọn ghẽ.
Trong trú quân, cán bộ chỉ huy lo ngại nhất là khi đơn vị bố trí đội
hình không có thế, tuần tra canh gác không nghiêm mật; tổ chức kỷ luật
không chặt chẽ; kế hoạch đánh địch dưới đất trên không không có hoặc có
nhưng sơ sài chung chung vài nét đại cương, v.v.
Tất cả những thiếu sót sẽ dẫn tới lộ bí mật. Khi địch oanh tạc hoặc
địch đánh bất ngờ thì dễ bị rối loạn đội hình, bị động lúng túng, không
điều động được quân, bộ đội có thể bị tổn thất nặng hoặc tan vỡ đội
hình, và như vậy mục đích của trú quân sẽ không còn nữa. Bộ đội không
được nghỉ ngơi, sức khoẻ không được hồi phục, công việc chuẩn bị chiến
đấu không làm được v.v. Nhưng muốn trú quân tốt thì trước hết tổ chức
hành quân phải tốt.
Quan hệ giữa hành quân và trú quân rất khăng khít. Công tác của đội
tiền trạm và đội thu dung rất quan trọng. Tiền trạm cẩu thả, thu dung
lếch thếch không những hành quân nát đội hình mà trú quân cũng nát đội
hình. Trong kháng chiến chúng ta tổ chức đội tiền trạm thường có cán bộ
tác chiến: tổ trinh sát, thông tin và liên lạc., dân vận, bảo vệ, hậu
cần, vệ binh, v.v. Cán bộ tham mưu của đại đoàn phụ trách chỉ huy anh
em đi trước gấp rút tiến hành mọi việc, từ việc đánh dấu đường, chuẩn
bị cầu phà đến việc tung trinh sát nắm tình hình địch. Cán bộ dân vận,
bảo vệ liên hệ với cấp ủy và chính quyền địa phương, với dân quân tự
vệ, v.v. nắm tình hình địa phương, tình hình phản động nội địa, cùng
địa phương tổ chức tuần tra canh gác, theo dõi bọn nghi vấn, bảo đảm an
toàn khi trú quân. Bộ phận tác chiến thường cùng địa phương xem xét địa
hình, có dự kiến những phương án tác chiến để đề đạt với cán bộ chỉ
huy. Song song với việc trên, các đội tiền trạm trước đây còn đặt ngay
trạm liên lạc, lộ tiêu bằng ám hiệu, ký hiệu riêng, tổ chức đón và dẫn
đường vào địa điểm trú quân thật nhanh và trật tự. Chuẩn bị xong mọi
việc, tuỳ tình hình, đội tiền trạm có thể để một đồng chí cán bộ ở lại
chỉ huy một số anh em đón bộ đội còn tất cả vọt đi trước. Bộ phận ở
lại, sau khi dẫn bộ đội vào nơi trú quân ổn định, có thể vọt lên đuổi
kịp đội tiền trạm tiếp tục làm nhiệm vụ chặng đường sau.
Công việc đưa bộ đội tiến vào khu vực trú quân rất quan trọng. Bộ đội
giữ được sức khoẻ hay không, khâu công tác này cũng là một trong những
khâu hệ trọng. Khi bộ đội tới nơi, cần đưa ngay vào nơi trú quân nhanh,
gọn, trật tự. Như vậy bộ đội đỡ mệt, tranh thủ được nhiều thời gian
nghỉ ngơi. Khi vào nơi trú quân, cán bộ phải phân công nhau làm ngay
việc chuẩn bị tác chiến theo các phương án dự kiến, xem xét địa hình,
đôn đốc hướng dẫn làm chỗ nghỉ, đào công sự. Nếu thời gian ngắn thì lấy
việc chuẩn bị tác chiến và làm công sự làm chính, bảo đảm có hầm hố
tránh máy bay địch oanh tạc, có hầm ho đánh địch tập kích đường không,
đường bộ... Cấp dưỡng phải bảo đảm làm bếp nước thật nhanh nhưng không
để khói, lửa lộ ra ngoài.
Sau khi có quyết tâm và chuẩn bị xong kế hoạch tác chiến, lập tức phổ
biến ngay cho bộ đội quán triệt. Nếu có thời gian thì diễn tập thử. Các
việc tuần tra canh gác, tổ chức bảo đảm vệ sinh phòng bệnh đều tiến
hành song song.
Quá trình hành quân là quá trình theo dõi bộ đội về mọi mặt sinh hoạt,
tình hình tư tưởng, chấp hành chính sách. Vì vậy, khi gần tới hoặc tới
khu vực trú quân là lập tức hội ý trao đổi, sau đó biểu dương mặt tốt,
phê bình mặt xấu, phổ biến kinh nghiệm kịp thời và dự kiến luôn công
tác lãnh đạo khổng hành quân tiếp sau.
Cán bộ chỉ huy chiến đấu giỏi phải là cán bộ tổ chức thu quân giỏi, đơn
vị thiện chiến phải là đơn vị lui quân có trật tự gọn theo kế hoạch và
mệnh lệnh của người chỉ huy và sẵn sàng đánh ngáy được trận khác. Nếu
lui quân không tốt, bộ đồi hành động tuỳ tiện không theo kế hoạch,
không theo mệnh lệnh người chỉ huy; mặt khác người chỉ huy không có kế
hoạch cụ thể, không tổ chức chu đáo, không thường xuyên giáo dục ý thức
tổ chức kỷ luật cho bộ đội, bản thân cán bộ thiếu trách nhiệm chính trị
thì dù chiến đấu có anh dũng đến mấy cũng không tránh khỏi tổn thất.
Trong kháng chiến có nhùng đơn vị khi đánh thì rất tốt, có tổ chức chu
đáo, đánh nhanh, gọn nhưng khi lui quân thì tuỳ tiện, luộm thuộm, mạnh
ai người nấy rút. Ai nhanh lui trước, ai chậm lui sau, cán bộ đi đằng
cán bộ, chiến sĩ đi đằng chiến sĩ nên đã bị tổn thất nhiều hơn khi trực
tiếp chiến đấu. Trong trận Non Nước, chiến dịch Hà Nam Ninh năm 1951,
đánh xong, kế hoạch lui quân không chu đáo, thiếu tổ chức đơn vị nào
lui trước, đơn vị nào lui sau, lui tới đâu, đơn vị nào yểm hộ, đơn vị
nào đánh viện, v.v., do đó khi lui quân không những số thương vong tăng
lên tương đương với khi đánh mà còn ảnh hưởng xấu tới tư tưởng bộ đội.
Trong trận Pú Chạng, chiến dịch Tây Bắc năm 1952, khi giải quyết xong
đồn, quân ta kéo vào rất ùn. Chỉ huy ra lệnh một số đơn vị phải lui ra
nhưng mệnh lệnh không được chấp hành triệt để, nên khi máy bay địch
oanh tạc, bộ đội đã bị thương vong thêm một số. Càng thua đau, quân
địch ngoan cố càng tăng thêm phương tiện cơ động, tăng quân, chiến sự
sẽ càng khẩn trương, phức tạp, nên việc tổ chức lui quân, sẵn sàng
chiến đấu liên tục càng phải chu đáo, tỉ mỉ, cụ thể và nghiêm ngặt. Nếu
sau trận đánh một thời gian dài vẫn chưa thu quân xong thì không những
trận đó thương vong tăng thêm mà tư tưởng bộ đội sẽ sụt xuống, tổ chức
sẽ xộc xệch, chỉ huy sẽ bị động lúng túng liên tiếp. Để bảo đảm thu
quân được chu đáo, chúng tôi thường tổ chức đội tải thương hỏa tuyến
bám sát ngay xung kích để giải quyết thương binh, tử sĩ đội thu dọn
chiến trường cũng bám sát bộ đội, đánh xong đến đâu mọi việc thu dọn
vận chuyển giải quyết gọn đến đó; tổ chức các trạm cấp cứu bám sát bộ
đội và từng cấp tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn ở từng chặng thích hợp;
kết hợp nhiệm vụ giữa đội vận tải với đội tải thương như khi ra tải
đạn, khi về tải thương; quy định đường đi, đường về, quy định những gì
chuyển trước, không gì chuyển sau; có kế hoạch tỉ mỉ, cụ thể giải quyết
thương binh, tử sĩ; tổ chức đơn vị yểm hộ cho bộ đội lui quân, đơn vị
đánh máy bay, đánh viện; tổ chức trinh sát tiếp tục toả đi bám địch;
quy định từ tổ ba người trở lên nắm quân số, vũ khí, giữ vững đội hình,
sẵn sàng chiến đấu liên tục. Trách nhiệm quản lý đơn vị là trách nhiệm
của mọi người từ người chiến sĩ, tổ trưởng ba người trở lên đều phải
làm ngay trong quá trình tác chiến và lui quân. Mọi người phải đề cao
trách nhiệm chính trị, bảo đảm tổ chức của đơn vị luôn chặt chẽ, sẵn
sàng chiến đấu. Chiến sĩ bám sát tổ ba người, cấp dưới tìm cấp trên,
nhanh chóng củng cố đội ngũ để sẵn sàng đánh tiếp trận khác.
Hành quân, trú quân và lui quân đều là những công việc rất quan trọng
để bảo đảm chiến đấu thắng lợi trọn vẹn. Ba việc đó liên quan mật thiết
với nhau. Hành quân có tốt thì trú quân mới tốt. Ngược lại hành quân,
trú quân, chiến đấu tốt nhưng lui quân dở thì tổn thất vẫn tăng lên,
trận chiến đấu không phải là thắng lợi toàn vẹn.
LÃNH ĐẠO TƯ TƯỞNG, BẢO ĐẢM TỔ CHỨC
Một đơn vị trước khi xuất trận cần có khí thế bừng bừng sôi sục, có gan
vượt qua mọi khó khăn trở ngại, lướt qua mọi ác liệt gian nan, tin ở
sức mình nhất định chiến thắng. Đó là một trong những điều kiện mấu
chốt nhất để bảo đảm đánh thắng. Có được như vậy là nhờ sự lãnh đạo sát
sao, trực tiếp của chi bộ Đáng, của đảng ủy và của các đồng chí thủ
trưởng quân chính và cơ quan các cấp. Ở đây, tôi không nói về kinh
nghiệm lãnh đạo tư tưởng mà chỉ kể lại một số kinh nghiệm của người chỉ
huy căn cứ vào yêu cầu lãnh đạo tư tưởng phải bảo đảm tổ chức như thế
nào? Trong thực tế chiến đấu, có trường hợp tổ chức còn thiếu sót, kỹ
thuật, chiến thuật còn yếu nhưng do tinh thần, tư tưởng tốt, nên vẫn
bảo đảm chiến đấu thắng lợi. Nhưng đó không phải là điều hoàn toàn tốt.
Vì thắng lợi mà thương vong nhiều, tổn thất lớn cũng là điều thiệt thòi
cho cách mạng. Nguyện vọng của quần chúng, lợi ích của cách mạng đòi
hỏi đánh thắng giặc nhưng tổn thất càng ít càng tốt, thậm chí tránh
được mọi tổn thất mà giành thắng lợi lớn lại càng hoan nghênh. Vì vậy,
trong khi làm tốt công tác tư tưởng, phải hết sức lo lắng vấn đề bảo
đảm tổ chức. Thí dụ: Bộ đội chuẩn bị đi chiến đấu trong điều kiện máy
bay, pháo binh địch hoạt động rất ác liệt địch lại có nhiều xe tăng, xe
bọc thép hoặc bộ đội có khi phải tác chiến ở địa hình trống trải, v.v.
Công tác chính trị đã làm cho bộ đội căm thù giặc, quán triệt sâu sắc
mục đích, ý nghĩa của trận đánh hoặc chiến dịch, mỗi người và mỗi đơn
vị đã thấy rõ trách nhiệm của bản thân mình, hăng hái nhận mọi nhiệm vụ
khó khăn nguy hiểm, kiên quyết, giành thắng lợi. Đó là vấn đề cơ bản đã
được giải quyết. Nhưng nếu dừng lại ở mức đó thì hoàn toàn sai lầm.
Không được chỉ có quyết tâm đánh thắng trong hội nghị, trên giấy tờ,
với những kế hoạch trừu tượng, với những khẩu hiệu chung chung, mà phải
biến từ những nội dung tinh thần trên trở thành những biện pháp tổ chức
cụ thể. Thí dụ: Công tác chính trị đã lãnh đạo giải quyết tư tưởng bộ
đội không sợ máy bay, pháo binh địch. Với lòng căm thù giặc sâu sắc,
với khí thế chiến đấu rất cao, bộ đội có gan lướt qua mọi ác liệt, xốc
tới tiêu diệt giặc. Nhưng muốn cho tinh thần, tư tưởng tốt ấy càng được
củng cố vừng chắc, càng được phát huy cao độ, đúng với tư tưởng chỉ đạo
tác chiến của ta là "tiêu diệt giặc, bảo vệ mình", người chỉ huy các
cấp phải hết sức đi sâu vào vấn đề bảo đảm tổ chức. Nếu cần và có thể
thì tăng cường thêm súng bắn máy bay tổ chức phân công rõ ràng những bộ
phận bắn máy bay khi ta chiếm lĩnh, khi bị bắn phá, khi bộ đội xung
phong, khi lui quân, v.v. Tổ chức nghi binh, làm công sự, nguỵ trang,
sơ tán, luôn luôn cơ động, giữ gìn bí mật. Huấn luyện cho bộ đội bắn
máy bay địch cũng giỏi, tránh máy bay địch cũng tài. Dừng chân lại là
làm ngay công sự, bố trí ngay màng lưới quan sát, trinh sát, có ngay kế
hoạch đánh địch dưới đất và trên không. Phải thực hiện được: ta ở đâu
địch cũng không biết, ta đi đâu địch cũng không hay, bộ đội trang bị
vừa gọn gàng vừa bảo đảm sẵn sàng chiến đấu. Tổ chức chỉ huy phải chặt
chẽ, kỷ luật hành quân, trú quân phải nghiêm minh. Bộ đội giỏi ứng phó
với các tình huống đánh gặp địch, chững địch phục kích, đánh địch đổ bộ
đường không, đánh địch oanh tạc, v.v.
Tất cả những điều đó làm được tốt thì tinh thần, tư tưởng của bộ đội
càng cao, chiến thắng địch càng lớn, tổn thất của ta càng ít.
Trong kháng chiến chống xâm lược, để giải quyết tư tưởng đối với pháo
binh địch, đi đôi với công tác chính trị, có nhiều đơn vị đã tổ chức
kiềm chế pháo binh địch rất giỏi . Chỉ cần vài khẩu cối 60 hoặc 81
mi-li-mét đưa sát gần trận địa pháo của địch, khi địch vừa nổ súng bắn
vào đơn vị bạn thì ta bất ngờ bắn dập đầu chúng, hoặc bắn "cầm canh"
suốt thời gian yêu cầu phải kiềm chế, làm cho súng địch bị hỏng, pháo
thủ địch bị chết. Có trận, pháo binh địch chỉ bắn được vài phát, hoặc
có trận pháo binh địch câm họng từ đầu đến cuối. Mặt khác, khi chiếm
lĩnh trận địa, bộ đội ta làm công sự rất nhanh, chỉ một thời gian ngắn
hố cá nhân đã xong, phát triển thành hào giao thông nối liền từ người
nọ đến người kia, đơn vị nọ đến đơn vị kia... Trong khi đó, quân ta tấn
công nghi binh nơi này, quấy rối nơi khác, làm cho pháo binh địch bắn
phân tán, bắn nhầm vào nhau, bắn vào chỗ không có quân ta. Các đơn vị
còn huấn luyện cho bộ đội giỏi ẩn nấp, vọt tiến, tránh hoặc vượt qua
làn đạn pháo binh địch. Nhiều đơn vị có sáng kiến bện những nùi rơm để
bộ đội đeo vào lưng, che trên đầu chống mảnh đạn đại bác nổ trên không
của địch. Phát huy quân sự dân chủ, phát huy trì tuệ của quần chúng, bộ
đội ta đã tìm ra được muôn vàn cách để tiêu diệt địch, bảo vệ mình.
Đánh thắng giặc mà tổn thất ít hoặc không tổn thất thì tinh thần chiến
đấu của bộ đội càng cao, khí thế càng thêm dũng mãnh. Đó là mối quan hệ
giữa bảo đảm tổ chức và lãnh đạo tư tưởng. Nhưng cần nhắc rằng: tổ chức
tốt, kỹ thuật chiến đấu giỏi, vũ khí tốt, đạn dược nhiều, nhưng sợ
địch, không dám đánh địch, thấy địch có nhiều máy bay nhiều pháo binh.
nhiều bom đạn. nhiều xe tăng, xe bọc sắt, đông quân, v.v. mà dao động,
do dự thiếu quyết tâm tiêu diệt địch thì không thể nào giành được thắng
lợi. có khi còn bị tổn thất lớn và cái tốt cái hay kia cũng chẳng có
giá trị gì. Thủ tiêu chiến đấu, thoái thác nhiệm vụ, không dám đánh
địch thì sớm muộn cũng bị địch đánh đau, hối không kịp. Cho nên, vấn đề
mấu chốt vẫn là vấn đề giáo dục chính trị, giải quyết tư tưởng "không
sợ địch, quyết đánh địch, quyết giành thắng lợi". Đi đôi với vấn đề mấu
chốt ấy, biện pháp tổ chức phải được coi trọng.
Người chỉ huy phải suy nghĩ nhiều, bỏ nhiều công sức vào vấn đề bảo đảm
tổ chức, làm thật tỉ mỉ, cụ thể, làm thực sự, làm đến nơi đến chốn,
phải cùng quẩn chúng bàn bạc tìm ra mọi cách làm cho tư tưởng bộ đội
càng vững mạnh để kiên quyết giành thắng lợi trong bất kỳ nhiệm vụ khó
khăn, phức tạp nào. Người chỉ huy phải luôn luôn chú ý phát hiện tình
hình tư tưởng của bộ đội, phải thấy trước mọi vấn đề lãnh đạo tư tưởng,
bảo đảm tổ chức, đừng để tư tưởng phát sinh thành hành động, lúc đó mới
đuổi theo “chữa cháy". Người chỉ huy không được coi nhẹ vấn đề tư
tưởng, không được bỏ qua khi đã phát hiện thấy tư tưởng sai lầm, vì như
vậy nhất định sẽ dẫn đến những vấn đề phức tạp, gay go đối với việc
hoàn thành nhiệm vụ, bấy giờ có hối cũng không kịp. Ngược lại, người
chỉ huy biết coi trọng phát hiện tư tưởng, giải quyết tư tưởng đồng
thời chu đáo, tỉ mỉ trong công tác tổ chức bảo đảm vật chất thì sẽ vượt
được mọi khó khăn trở ngại để đánh thắng.
Một thí dụ về vấn đề lãnh đạo tư tưởng, bảo đảm tổ chức trong chiến
dịch Trung Du cuối năm 1950. Lúc đó, phần lớn bộ đội chủ lực của ta vẫn
chỉ quen hoạt động ở địa hình rừng núi, nên khi xuống đồng bằng thì rất
bỡ ngỡ, lo ngại máy bay, pháo binh địch. Cấp trên đã chỉ đạo bộ đội chủ
lực rèn luyện hành quân "bôn tập" vượt mấy chục ki-lô-mét tới trung du
đánh địch, đánh nhanh, giải quyết nhanh, rồi lại "bôn tập" trở về địa
hình kín đáo. Để chấp hành ý định đó và góp phần giải quyết những lo
ngại trên, người chỉ huy trực tiếp còn phải giải quyết nhiều vấn đề
khác thuộc phạm vi tổ chức, như giáo dục huấn luyện cách giữ bí mật nơi
trú quân, đường hành quân, tổ chức cảnh giới, làm công sự, nguỵ trang
khi tạm dừng cũng như khi đóng quân, v.v. Cán bộ đi chuẩn bị chiến
trường phải hết sức tỉ mỉ, cụ thể, không mơ hồ trừu tượng. Kế hoạch tác
chiến và mọi tổ chức bảo đảm chiến đấu phải thật chu đáo, làm cho mọi
người tin tưởng chắc thắng. Đối với bộ đội. phải xây dựng cho anh em
một quyết tâm đã đánh địch thì phải đánh mạnh, bám sát địch mà đánh,
hành quân, trú quân, lui quân đều phải phục tùng nghiêm chỉnh mọi quy
định chung, có tổ chức, có trật tự... Làm tốt công tác lãnh đạo tư
tưởng và bảo đảm tổ chức, nên đợt I chiến dịch các đơn vị đều tránh
được những tổn thất do máy bay, pháo binh địch gây ra. Đến đợt II, đại
đoàn đánh phục kích trên đường Vĩnh Yên - Tam Đảo (tức là trận Thanh
Vân - Đạo Tú - Long Trì - Cẩm Trạch) . Trận đánh diễn ra từ sáng sớm
đến chiều tối. Trên trời thường xuyên có 12 máy bay chiến đấu của địch
lồng lộn bắn phá, nhưng bộ đội ta vẫn bám sát địch mà đánh, nên máy bay
của chúng đã không làm gì được. Máy bay, pháo binh địch nhiều, nhưng
chúng ta đã tránh được tổn thất. Riêng trận đánh ở phía nam Vĩnh Yên có
thương vong một ít, vì đơn vị làm nhiệm vụ bố trí ngăn chặn địch khi
chiếm lĩnh ở đồi trọc không đào công sự, ngụy trang.
Lãnh đạo tư tưởng, bảo đảm tổ chức là vấn đề rất quan trọng để đưa bộ
đội đi nhanh, đi gọn đến chiến trường và để bộ đội vượt qua mọi khó
khăn, ác liệt để đánh thắng địch. Vì vậy là cán bộ trực tiếp càng phải
nâng cao tinh thần trách nhiệm chính trị. hết sức coi trọng việc lãnh
đạo tư tưởng, bảo đảm tổ chức để luôn luôn chiến thắng quân thù. |