Những chặng đường chiến đấu_Phần 3 PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Tuesday, 29 April 2008

Phần ba
NHỮNG ĐIỀU ĐỂ LẠI



YÊU ĐỘC LẬP, TỰ DO, CĂM THÙ ĐỊCH, QUYẾT TÂM CÁCH MẠNG CAO


Điểm xuất phát của tính gan góc, trí sáng tạo và sự quyết đoán của người chỉ huy là ở chỗ phải biết tự mình khơi sâu mối uất ức hờn căm đối với kẻ thù ngay trong lòng mình và trong lòng tất cả các chiến sĩ của đơn vị mình xây dựng tinh thần têu dân tộc, yêu giai cấp, trau dồi ý chí, quyết tâm cách mạng. Ngày suy nghĩ, đêm suy nghi, xem kẻ thù còn tội ác gì nữa đối với bản thân mình, gia đình họ hàng mình, đối với dân tộc, giai cấp mình - giai cấp cùng khổ nhất trong xã hội. Càng khơi hận thù sâu sắc bao nhiêu thì uất ức hờn căm càng chồng chất bấy nhiêu, càng tràn đầy sôi sục bấy nhiêu. Ngày quên ăn đêm quên ngủ, quyết tìm trăm phương ngàn kế giết giặc rửa hờn. Chính lúc đó "tài ba” của người chỉ huy sẽ được rèn luyện hun đúc. Đối với tôi điều này rất rõ. Hồi tôi còn bé, mới chín, mười tuổi đầu, đi chơi đánh nhau với trẻ con ở nước Trung Hoa thời phong kiến, chúng chửi tôi là "vong quốc nô”. Lúc đầu tôi chưa hiểu gì, dần dần về sau tôi hỏi cụ Thắng - bạn của bố tôi. Cụ cho biết họ chửi chúng ta là dân mất nước đấy. Nghe cụ giải thích, kể chuyện bọn xâm lược đã xâm chiếm đất nước ta như thế nào, đã tàn sát cướp bóc nhân dân ta ra sao, trái tim tôi cứ như bị đập mạnh, tôi nghẹn ngào tức thở. Từ đấy, nghĩ đến hai chữ "mất nước", tôi lại thấy tủi nhục, căm hờn vô cùng. Lớn lên tôi đi hoạt động cách mạng.


Năm 1943-1944, khi tôi còn bị giam cầm trong nhà tù đế quốc ở "căng" Bá Vân và Nghĩa Lộ, chi bộ cử tôi phịu trách nhiệm huấn luyện kỹ thuật chiến thuật quân sự cho các đồng chí của ta ở trong tù để chuẩn bị khởi nghĩa phá ngục. Bọn đế quốc ra sức cấm đoán, theo dõi, nhưng không ngăn cản nổi quyết tâm của chúng tôi. Những ngày ở trong tù, mỗi khi nhìn thấy bọn Tây đồn trưởng bọn cai ngục... thì những hình ảnh đã in sâu vào trí óc tôi từ thuở nhỏ lại hiện lên giày vò day dứt. Những cảnh vì sưu cao thuế nặng mà phải bán vợ đợ con; vì túng thiếu nợ nần không trả được mà bị bọn cường hào, lý trưởng sai tuần dỡ mất nhà; cảnh ba mươi Tết có nhà bị vác mất cả đồ thờ, dỡ mất cả nồi bánh chưng đang luộc dở; cảnh người lớn trẻ em bị quân xâm lược tàn sát dã man... Khi mới bốn, năm tuổi, tôi đã phải theo ông tôi đi lang thang nay ở nhà này, mai ở nhà khác, có khi ba, bốn ngày liền không có được một hạt cơm, thìa cháo, phải nằm ép bụng xuống ổ rơm. Khi có vợ có con, tôi lại phải xa nhà, và được tin gia đình tôi lâm vào cảnh hết sức túng thiếu, đói khổ. Nhà bị dỡ mất vì không có tiền trả nợ. Những cảnh đau thương ấy cứ hiện ra mãi trước mắt tôi.


Từ những nỗi cực nhục nghèo khổ của bản thân, của gia đình, khi tham gia hoạt động cách mạng, được Đảng giáo dục, tôi thấy được cả nỗi cực khổ của giai cấp, của dân tộc. Từ căm thù cá nhân, căm thù một nhóm cường hào lý dịch, tới căm thù cả giai cấp bóc lột thống trị và bọn thực dân đế quốc xâm lược. Những mối hận thù sâu sắc ấy là một trong những động lực chủ yếu đã giúp tôi vượt mọi khó khăn, hướng dẫn các đồng chí của mình luyện tập quân sự trong nhà tù đế quốc. Đi lấy củi cũng luyện tập, đi làm cỏ vê, tưới rau cũng tìm cách luyện tập, nửa đêm tỉnh dậy cũng luyện tập. Sau khi đấu tranh tuyệt thực ai nấy đều đói lả nhưng cũng bắt tay vào luyện tập ngay. Mọi lúc mọi nơi, khi nào có thể tranh thủ được là luyện tập. Miễn làm sao trau dồi được cho bản thân và các đồng chí của mình một bản lĩnh chiến đấu vừng vàng để có thời cơ sẽ vùng lên quật ngã kẻ thù. Đầu năm 1945, khi ban lãnh đạo nhà tù Nghĩa Lộ tổ chức khởi nghĩa phá ngục, sức mạnh của hận thù, sức mạnh của bản lĩnh đã giúp tôi xông lên quật đổ một thằng Tây to lớn gấp rưỡi mình. Mười ngón tay của tôi rắn chắc như những chiếc đinh lớn cắm chặt vào cổ nó. Nó nằm vật ra giãy giụa. Các đồng chí của tôi cũng nhảy xổ vào vật lộn với bọn quỷ dữ khát máu - tay không quật ngã bọn giặc có vũ khí. Chúng tôi băng mình vượt qua những hàng rào cao vút của nhà tù, chịu đựng biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ trong rừng sâu, tìm đường trở về với Đảng.


Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nghĩa Lộ được giải phóng, nhưng một thời gian sau lại bị giặc Pháp chiếm đóng. Năm 1952, tôi được thay mặt cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308, gặp Đại tướng Tổng tư lệnh nhận nhiệm vụ: “Toàn đại đoàn thọc sâu vào trong lòng địch, tiêu diệt đồn Pú Chạng, Nghĩa Lộ..., cùng các đơn vị bạn giải phóng Tây Bắc”. Mối hận Nghĩa Lộ đã khắc sâu trong tim tôi, trong các chiến sĩ cách mạng và nhân dân Tây Bắc. Nay tôi được cùng các chiến sĩ trở về trả thù, rửa hận. Nghĩa Lộ trước kia thính là nơi bọn thực dân Pháp giam giừ các chiến sĩ cách mạng, trong đó có tôi. Pú Chạng là một ngọn đồi cao cây cối rậm rạp nơi tôi và đồng chí Nho - tức là đồng chí Lương Nhân - gặp nhau sau khi vượt ngục. Người bị áp bức nhất định sẽ vùng lên kẻ đi áp bức bóc lót thống trì nhất định sẽ bị người bị áp bức quật đổ.

Tôi hăm hở và vui mừng sau khi nhận nhiệm vụ. Sự việc cụ thể của lần tiến quân vào Tây Bắc, tôi xin nói ở một đoạn sau.

QUÂN LỆNH NHƯ SƠN

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Quân sự dân chủ là một yêu cầu và nội dung trong sinh hoạt và chiến đấu của quân đội ta. Cán bộ và chiến sĩ, mọi người đều bình đẳng về chính trị, mọi người đều có trách nhiệm đóng góp sự hiểu biết của mình để giải quyết công việc chung. Nhưng sau khi thống nhất ý kiến thì đó trở thành nghị quyết của tổ chức của đơn vị hoặc biến thành mệnh lệnh của người chỉ huy. Như vậy, mệnh lệnh đó đã tổng hợp ý: kiến của tập thể qua hoạt động thực tiễn phù hợp ý chí, đường lối và nhiệm vụ quân sự của Đảng. Người cán bộ thay mặt cho đơn vị ra mệnh lệnh chung. Ý chí thống nhất thì hành động phải thống nhất, muốn có hành động thống nhất thì phải có mệnh lệnh.


Vì vậy mệnh lệnh là một trong những vấn đề rất quan trọng của người chỉ huy. Mệnh lệnh phải chính xác, rõ ràng và ngắn gọn chấp hành lệnh phải nghiêm túc, đầy đủ và sáng tạo. Khi một mệnh lệnh đã phát ra thì trăm ngàn người như một, nhất nhất chấp hành một cách phấn khởi và tự giác. Khi có lệnh nghiêm, dù có sấm sét dông tố trên đầu, đội ngũ vẫn chỉnh tề, nghiêm chỉnh, vững vàng như Thái Sơn: khi có lệnh tiến, dù có sông ngăn núi cách, mọi người vẫn kiên quyết, dũng mãnh vượt qua và lao lên.


Rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh là việc phải làm thường xuyên trong quá trình xây dựng huấn luyện bộ đội. Qua thực tế công tác và chiến đấu, tôi thấy một kinh nghiệm rất quan trọng là muốn rèn luyện cho chiến sĩ và cấp dưới nghiêm chinh chấp hành mệnh lệnh thì ngay bản thân mình - người chỉ huy - phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp trên, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên hết sức nghiêm cách và sáng tạo tuyệt đối không vin lý do khách quan để trù trừ do dự, thoái thác, hoặc chấp hành nhưng không phấn khởi, không tự giác không thực hiện đến nơi đến chốn.
Bản thân người chỉ huy phải nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên là rất quan trọng. Vì cấp dưới sẽ noi gương đó mà bắt chước. Dưới đây tôi xin kể lại một câu chuyện chấp hành một mệnh lệnh tác chiến trong chiến dịch Đông Xuân năm 1953-1954.


Ngày .... đồng chí Đại tướng trực tiếp gọi điện thoại ra lệnh cho tôi, đại ý: “Đại đoàn cấp tốc chuyển sang nhận nhiệm vụ chiến đấu ở..., cho đồng chí đại đoàn phó lên trên này nhận nhiệm vụ cụ thể".

Xong đồng chí hỏi tôi:

- Hiểu rõ ý định chưa?

Tôi trả lời:

- Rõ

Lúc đó tôi nghĩ cấp trên ra lệnh cho đại đoàn tôi đánh địch ở... là có ý định ta luôn luôn giữ thế chủ động về chiến lược, buộc địch phải phân tán lực lượng, cắt đứt sự liên hệ giữa A và C, cô lập quán địch cao độ ở chiến trường A để tạo điều kiện tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đó. Đối với tôi có một kinh nghiệm bản thân là mỗi khi nhận được lệnh của cấp trên điều trước tiên là tin tưởng ở trên và suy nghĩ tìm mọi biện pháp thực hiện thật tốt. Vì trên đã ra lệnh là đã có cân nhắc kỹ rồi.

Chính do sự nhất trí đó về mặt tư tưởng nên tôi thấy phấn khởi và càng tăng thêm niềm tin vào sự chỉ đạo của cấp trên.

Đồng chí Đại tướng còn nói thêm:

- Về lương thực đã chuẩn bị được một số, cán bộ địa phương sẽ giúp đỡ thêm.

Đồng chí nói cụ thể về số lượng và địa điểm. Đại thể cũng phải hành quân bốn, năm ngày mới tới chỗ có gạo ăn, đó là khó khăn lớn nhất của đại đoàn.

Sau khi nhận lệnh, tôi cấp tốc triệu tập hội nghị đảng ủy đại đoàn ngay tại sở chỉ huy (hồi đó tôi phụ trách bí thư) để báo cáo nhiệm vụ mới và bàn cách chấp hành. Mọi người đều nhất trí nhận định: Đó là ý định tác chiến rất sáng suất, một đòn hiểm, một đòn bất ngờ đánh vào chỗ sơ hở của địch. Nhưng làm được nhiệm vụ ấy, ngoài những thuận lợi cơ bản ra thì đại đoàn phải vượt nhiều khó khăn. Đặc biệt mấy khó khăn lớn là:

- Chuyển biến tư tưởng như thế nào, trong khi đơn vị đang tập trung hướng vào nhiệm vụ chuẩn bị đánh địch ở một nơi, nay đi làm nhiệm vụ ở nơi khác, lại hết sức gấp rút.

- Toàn đại đoàn, trung bình mỗi người chỉ còn bốn lạng gạo, phải cấp tốc hành quân tới một chiến trường rừng núi xa xôi, dân cư thưa thớt. Trên đường đi, lấy gạo đâu cho đủ hàng vạn người ăn.

- Tình hình địch và địa hình chưa hiểu ra sao, đường sá chưa ai biết.

Ngoài ra còn một số khó khàn khác, như vấn đề giải quyết thương binh, vấn đề thông tin liên lạc và chỉ huy, v.v...

Đảng ủy còn phân tích kỹ về tình hình nhân dân, địa hình và địch. Cuối cùng đảng ủy quyết nghị: "phải lãnh đạo toàn đại đoàn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của trên. Cứ đi đã đi thật nhanh, nếu lề mề chậm chạp, địch phát hiện được ý định của ta thì mất thời cơ. Công tác động viên, giải thích vừa đi vừa làm. Vấn đề gạo ăn vừa đi vừa khắc phục...".


Thế là chỉ hơn ba giờ đồng hồ sau khi nhận lệnh, toàn bộ đại đoàn đã xuất phát. Mặc dầu cán bộ, chiến sĩ chưa hiểu đầy đủ ý định của cấp trên nhưng đã chấp hành mệnh lệnh một cách vô cùng kiên quyết và tuyệt đối tin tưởng.


Trên đường hành quân, cán đơn vị vừa đi vừa phổ biến nhiệm vụ, giải thích động viên bộ đội. Cán bộ, chiến sĩ đều hiểu rằng phải cơ động linh hoạt tới nơi thực tế địch thế nào, địa hình thế nào, ta đánh thế ấy. Vừa đi vừa kiểm tra, vừa đi vừa tìm hiểu thêm tình hình. Chính do sự tin tưởng tuyệt đối ở cấp trên, toàn thể cán bộ, chiến sĩ của đại đoàn - trăm, vạn người như một - tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, đồng lòng nhất trì vượt mọi khó khăn, ra đi rất hăng hái và phấn khởi đi liên tục ngày đêm với một tốc độ rất nhanh. Đến nay nghĩ lại, tôi thấy cuộc hành quân chớp nhoáng đó thật là một sự kiện lớn lao, biểu hiện khả năng cơ động phi thường của quân đội ta, tạo ra yếu tố bất ngờ rất lớn, làm cho bọn địch có ô tô, có máy bay mà vẫn trở tay không kịp.


Giải quyết đủ lương thực ở nơi rừng núi xa xôi, nhân dân thưa thớt là một vấn đề rất khó khăn. Nhưng tin vào dân, biết dựa vào dân: các đơn vị đã tổ chức nhiều tốp đi trước cùng du kích địa phương vận động nhân dân giúp đỡ thóc lúa. Các bộ phận đó đã làm cối, làm chày xay giã ngay tại chỗ, lấy gạo chuyển cho bộ đội. Do tinh thần kiên quyết chấp hành mệnh lệnh, nên cán bộ, chiến sĩ có hàng loạt biện pháp cụ thể để khắc phục khó khăn. Do đó, toàn đại đoàn đã có đủ gạo ăn trong gần một tuần hành quân cấp tốc và gần một tháng chiến đấu liên tục cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ, lui quân về vị trí tập kết vẫn còn thừa gạo.

Về địa hình, đường sá không biết thì một mặt dựa vào các đồng chí quân báo của đại đoàn cử đi trước, mặt khác còn dựa vào dân, nhờ du kích địa phương dẫn đường. Vì vậy mà bảo đảm được cuộc hành quân nhanh chóng, không lạc đường và còn nắm được tình hình phía trước.


Quán triệt ý định của cấp trên là phải hết sức giữ bí mật hướng tiến quân ngay từ khi xuất phát cho đến trước khi nổ súng dọc đường hành quân, đại đoàn không dùng phương tiện thông tin vô tuyến điện để chỉ huy và liên lạc. Khi truy kích, đại đoàn tổ chức theo kiểu "sâu đọ” bố trí từng chặng, một đài dừng lại làm việc, một đài đi. Tuy phương tiện ít nhưng giữ được liên lạc thông suốt liên tục.


Để giải quyết thương binh, đại đoàn đã tổ chức nhiều trạm nhằm giải quyết kịp thời và vận chuyển từng bước. Suốt thời gian chiến đấu liên tục, ở nhiều hướng nhiều đơn vị hoạt động trên địa bàn rộng hàng trăm ki-lô-mét, núi rừng rậm rạp, xa lạ, nhưng đã vận chuyển thương binh về hậu phương đầy đủ.


Quá tình hành quân, tác chiến, chúng tôi luôn luôn nhận được điện của Bộ chỉ đạo cụ thể, nhất là thông báo tình hình địch và ý định tác chiến của ta.

… Khi địch rút chạy, đồng chí đại đoàn phó đi trước lập tức ra lệnh trung đoàn 1 truy kích. Tôi ra lệnh trung đoàn 2 tiến lên tiếp xúc cho các trung đoàn đi trước cùng truy kích địch.


Quán triệt tinh thần tích cực tiêu diệt sinh lực địch, được lệnh của đại đoàn, bộ phận đồng chí tham mưu phó đại đoàn cùng quản báo của đại đoàn vượt lên trước chuẩn bị thuyền cho bộ đội và lệnh tiểu đoàn đi trước của trung đoàn 1 tranh thủ vượt sông ban ngày. Đồng thời bộ phận đồng chí tham mưu phó đại đoàn cùng anh em quân báo tìm đường tắt vượt lên trước địch để nắm tình hình và chặn địch. Sáng ngày .... bộ phận này với lực lượng hơn một tiểu đội đã nổ súng chặn hơn một tiểu đoàn địch đến gần tối. Trung đoàn 1 lập tức truy kích về phía có tiếng súng nổ. Đại đội 261 và 263 đuổi thẳng về phía O.K. Đại đội 259 rẽ về phía S.L., xuyên rừng vượt núi đón đầu quân địch. Ngay trưa hôm đó, quân địch đã bị công kích quyết liệt. Phía trung đoàn 3 cũng biểu hiện tinh thần chiến đấu tốt. Hồi 17 giờ ngày.... một tiểu đoàn của trung đoàn tới... gặp địch đang chuẩn bị rút lui. Quân ta lập tức công kích. Quân địch bị đánh bất ngờ không kịp đối phó. Trên đường truy kích tới..., tiểu đoàn này đã tiêu diệt trên 100 tên địch. bắt sống 82 tên. Trong chiến đấu, các chiến si của đại đoàn đã tỏ ra vô cùng tự tin và anh dũng, kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch. Có một tổ 4 người đã ngăn chặn và đánh lui hai đợt xung phong của hai đại đội địch. Có đơn vị vừa hành quân, vừa chiến đấu đuổi giặc suốt 5 ngày đêm không nghỉ, chỉ ăn cháo và lương khô mà cũng không đủ, phải ăn thêm rau rừng, nõn chuối. Hai tiểu đoàn của trung đoàn 3 đã nhịn đói suốt hai ngày liền đuổi giặc. Những ngày 30, mồng một Tết Nguyên đán là những ngày bộ đội nhịn đói nhưng đánh giặc rất hăng.


Quân địch bị một đòn bất ngờ, choáng váng, gần 2 tiểu đoàn bị tiêu diệt gọn, kể cả số quân địch bị đánh tan là 17 đại đội. Quân ta bắt sống 281 lính Âu - Phi, 223 ngụy. Trong số Âu Phi có 1 tên quan tư, 2 quan ba, 6 quan hai, 1 quan một. Ta thu được rất nhiều vũ khí, đạn dược, giải phóng trên một tuyến dài hơn 200 ki-lô-mét, rộng gần một vạn ki-lô-mét vuông.


Tình hình chiến trường đối vời địch càng trở nên nguy ngập. Chúng vô cùng hoảng hốt và lúng túng, phải vội vã điều động hơn 10 tiểu đoàn cơ động từ các nơi về để cố thủ mấy nơi quan trọng còn lại.


Quán triệt sâu sắc ý định của cấp trên - một ý định tác chiến rất kiên quyết và linh hoạt - đại đoàn đã tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh và kiên quyết tìm mọi biện pháp, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Sau gần một tuần cấp tốc hành quân, đại đoàn đã chiến đấu quyết hệt gần một tháng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch và đã thu hút được lực lượng cơ động của chúng và giam phân chúng tại những nơi theo đúng ý định của ta, buộc địch phải phân tán quân cơ động ra nhiều hướng, đạt được mục đích cuộc tiến quân do Bộ giao cho, đánh cho quân địch thêm một đòn choáng váng, vượt ra ngoài sức tưởng tượng và sự tính toán của cơ quan tham mưu và bộ óc chỉ huy của các tướng lĩnh thực dân xâm lược Pháp.


Đó là một sự kiện đánh dấu sự chỉ đạo tài tình của Bộ Tổng tư lệnh và một minh chứng cụ thể về sức mạnh của sự nhất trì giữa trên và dưới, về tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh một cách tự giác và sáng tạo dựa trên tin tưởng tuyệt đối vào sự chỉ đạo của cấp trên.


Trên đây là một câu chuyện trong muôn ngàn câu chuyện về chấp hành mệnh lệnh của quân đội ta.

Khi nhận lệnh, nếu điều kiện cho phép, còn điều gì không rõ cứ hỏi, còn điều gì phân vân cứ nói. Khi đã rõ, đã hiểu phải kiên quyết làm, tìm mọi cách làm cho bằng được, làm với tinh thần phấn khởi, tự giác và hết sức sáng tạo, thì mệnh lệnh của cấp trên mới phát huy đầy đủ sức mạnh. Căn cứ vào mệnh lệnh của cấp trên, cấp dưới phải ra nhưng mệnh lệnh cụ thể, tổ chức thực hiện cụ thể và bảo ban nhau cùng làm thi đua nhau làm cho tốt, gặp khó cùng vượt khó, gặp khổ cùng chịu khổ để đạt kết quả vượt bậc.


Nhiệm vụ trong mệnh lệnh của cấp trên giao cho là những vấn đề khái quát, từ những tình hình cụ thể tổng hợp lại. Có khi trong mệnh lệnh không thể chỉ ra hết được những vấn đề cụ thể, những tình huống cụ thể nảy sinh ra trong quá trình thực hiện hoặc những điều kiện cụ thể mới xuất hiện trong quá trình hai bên ta và địch đều cố gắng... Cấp trên chỉ có thể cho mình một số điều kiện cơ bản. những nét lớn về tình hình, còn tất cả các điều kiện khác và những tình hình cụ thể thì người cán bộ chỉ huy phải tự mình tạo ra, tự mình phán đoán lấy, làm sao thực hiện cho bằng được mệnh lệnh của cấp trên. Tất nhiên cấp trên cũng phải cố hết sức tạo mọi điều kiện thuận lợi để cấp dưới có thể thi hành tốt mệnh lệnh của mình. Thực hiện đầy đủ, đúng với mệnh lệnh của cấp trên, đó mới chỉ là làm tròn trách nhiệm theo pháp lý. Người cán bộ quân đội cách mạng còn phải làm hơn thế nữa, phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên một cách tích cực triệt để và sáng tạo, lấy trách nhiệm chính trị mà kiểm tra việc chấp hành mệnh lệnh của mình, như thế mới có thể coi là có trách nhiệm chính trị cao. Người cán bộ chỉ huy cần có điều kiện để thực hiện chỉ huy chiến đấu thắng lợi nhưng tuyệt đôi không được đòi hỏi cấp trên phải cho mình đầy đủ mọi điều kiện mới có thể chỉ huy được mới có thể đánh được. Đáng chê trách nếu người cán bộ mỗi khi nhận lệnh lại ra điều kiện với cấp trên: mặc cả với cấp trên: thì người chỉ huy ấy thật chưa đáng tin cậy.


Chấp hành mệnh lệnh tốt chính là biểu hiện ý thức giác ngộ cách mạng cao, tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, tinh thần đoàn kết gắn bó giữa trên và dưới, tôn trọng cấp trên, thương yêu chiến sĩ. Đó chính cũng là sức mạnh vô địch của quân đội ta.

CÁCH NHÌN VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỊA HÌNH CỦA NGƯỜI CHỈ HUY


Theo kinh nghiệm của tôi, một việc quan trọng của người chỉ huy là phải rèn luyện "cái nhìn” - ngôn ngữ triết học gọi là phương pháp xem xét.


Sự vật bao giờ cũng có nhiều mặt: mặt phải và mặt trái, có khó và có dễ, có kín và có hở, mặt tiêu cực và mặt tích cực, mặt mạnh và mặt yếu, đồng thời trong cái khó có cái dễ, trong cái dễ có cái khó trong cái kín có cái hở, trong cái mạnh có cái yếu trong cái yếu có cái mạnh... Đồi với địa hình cũng vậy trong địa hình hiểm trở có chỗ không hiểm trở trong địa hình có lợi có mặt không lợi.


Địa hình hiểm trở hay không, có lợi hay không tới mức nào là do con người biết nhìn và đánh giá, biết lợi dụng và cải tạo để biến địa hình hiểm một thành hiểm mười, biến địa hình không lợi thành có lợi. Cho nên, người chỉ huy phải biết vượt qua mọi địa hình hiểm trở, có khi phải táo bạo khắc phục khó khăn, tìm cái lợi trong nhiều cái không lợi của địa hình để giành thế bất ngờ, thế thắng trong tấn công, tạo nên thế vững chắc, thế kín trong phòng ngự.


Người chỉ huy nhìn nhận sự việc sai lệch thì điều trước tiên là kế hoạch tác chiến sẽ sai, từ đó dẫn tới sai lầm trong nhiều việc tiếp theo và ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tư tưởng của bộ đội.


Bất cứ một trận đánh dù lớn hay nhỏ, công việc của người chỉ huy là phải biết cách nhìn địa hình, nhìn kẻ địch và nhìn bộ đội ta. Có nhìn nhận phân tích sự việc đúng đắn mới vận dụng cách đánh thích hợp thực hiện được bất ngờ đối với địch và làm cho bộ đội ta tin tưởng phấn khởi, có quyết tâm cao.


Địa hình như thế, kẻ địch như thế, về phía ta người có ngần ấy, súng đạn cũng chỉ có ngần ấy, "bài binh bố trận" thế nào mà đánh thắng địch giòn giã, ta tổn thất ít, thế mời là người chỉ huy giỏi, đơn vị giỏi.


Trước tiên tôi kể chuyện kinh nghiệm cách nhìn địa hình. Khi nhận nhiệm vụ tấn công địch, kể cả đánh vị trí địch có công sự vững chắc và đánh địch đang vận động, tôi thường nghĩ tới câu “vượt qua nơi hiểm trở để bắt cọp". Nghĩa là địa hình nơi nào địch cho rằng ta không đi được, nhưng ta đi được thì địch sẽ chết không kịp ngáp, hay địch cho rằng ta không bố trí được hoặc bố trí được nhưng không tiến lên được mà ta tìm mọi cách bố trí được, tiến lên được thì nhất định địch sẽ trở tay không kịp.


Thí dụ: Trận đánh vị trí Non Nước (Ninh Bình). Vị trí này đóng trên ngọn núi đá đột xuất cao sừng sững, một phía là sông sâu và rộng, xung quanh có nhiều chỗ dốc thành vại dựng đứng, hoặc hàm ếch hoắm vào chân nùi. Ngoài con đường đánh bậc, ghép đá bò ngoằn ngoèo chữ chi từ chân lên đỉnh, cao mấy chụt mét, có “cự mã" chắn ngang, có các ụ súng kiểm soát, khó có thể tìm được một con đường khác. Đã thế, dọc hai bên đường lên cứ điểm, quân địch chôn nhưng chông sắt ngay vào vách đá. Chân núi chằng chịt dây thép gai, bãi mìn. Hai tầng lô cốt xi măng kiểm soát chặt chẽ các hướng. Bên kia sông Đáy chừng 200 mét là vị trí Cầu Cổ, có pháo 105 mi-li-mét. Bên này thị xã Ninh Bình là vị trí Hồi Hạc (ta thượng gọi là Gối Hạc). Dưới sông có tàu chiến sẵn sàng cơ động để tăng viện. Thoạt nhìn rõ ràng là quân địch đã chiếm đóng ở một địa hình có lợi. Chân núi: phía là sông, phía là bãi phẳng, ta bố trí quân ở đâu? Đi đường nào tiến lên đánh chiếm được đỉnh núi? Nếu nghiên cứu địa hình và địch ở đây mà chỉ dừng lại ở mức này thì quả thật là có nhiều khó khăn, hầu như khó mà đánh được và tất nhiên cũng có thể có người nản lòng do dù. Nhưng quyết tâm của cấp trên là nhất định phải đánh vị trí Non Nước. Đại đoàn phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ này, vậy thì nghiên cứu địa hình ở đây là để thực hiện quyết tâm của trên, là để đánh chứ không phải để lùi. Khi đã xác định được như vậy, thì cùng nhau vắt óc ra, sục vào mà nghiên cứu, tìm cho kỳ được chỗ sơ hở, chỗ yếu của Non Nước. Địch ở trên cao nhìn xa dễ, nhìn gần khó, bắn xa mạnh, bắn gần hạn chế. Những chỗ địch cho rằng ta không leo được, không với tới thì ta buột giẻ vào chân để leo, ta làm thang dài 5 - 6 mét để với. Địch ỷ lại vào mấy ụ súng bảo vệ con đường lên đỉnh núi. Ta diệt các ụ súng đó thì đường lên đỉnh cũng không phải khó. Địch cho rằng ta không thể tiến theo đường thì ta nghi binh hướng khác, rồi tiến theo đường, v.v... Địa hình phức tạp ta khó tiến quân thì địch cũng khó cơ động, ở đâu cố thủ đấy, có vận động được cũng trong phạm vi hẹp, rất hạn chế. Mô đá hiểm hóc, địch có thể có những ụ súng bất ngờ bắn ta. Ta lợi dụng thế hiểm hóc luồn vào phía sau leo lên trên bất ngờ đánh xuống đầu địch, đánh vào sườn địch. Cán bộ, chiến sĩ cùng nhau lục soát những kinh nghiệm đánh Bí Chợ, Phố Lu, Cốc Xá, v.v… để xem có thể vận dụng được nhưng gì. Càng suy nghĩ, càng bàn bạc quyết tâm càng cao, càng rõ cái mạnh, cái yếu của Non Nước: Từ hướng suy nghĩ phân đó mà ta giải quyết được vấn đề then chốt là xây dừng tư tưởng "dám đánh” và tin tưởng “nhất định đánh thắng". Từ quyết tâm cao trở thành biện pháp tổ chức cụ thể. Bộ đội quấn giẻ vào chân, làm thang, nối dây, ngày đêm luyện tập ở một núi đá khác khó khăn gần như Non Nước.
Quyết tâm cao chuẩn bị chu đáo, khoảng 2 giờ 15 phút ngày tháng 5 năm 1951, tiếng súng tấn công vị trí Non Nước của tiểu đoàn 54 bắt đầu nổ. Tới 5 giờ sáng thì trận đánh kết thúc, gần 200 tên giặc vừa Pháp vừa ngụy hoàn toàn bị tiêu diệt.

Chiến nhắng Non Nước có nhiều nguyên nhân và rút ra được nhiều bài học nhưng đối với người chỉ huy - bản thân tôi bài học “cách nhìn". cách phân tích địa hình là một trong nhưng bài học sâu sắc.


Một thí dụ khác thì ngược lại: Trận đánh vị trí Pheo (Hòa Bình) đầu năm 1952. Vì không đưa một mũi vượt qua đường số 6 luồn lên đồi cao và đánh từ trên cao qua vai bò xuống đồi Pheo, mà chỉ mở cửa đánh một hướng theo đường cái từ dưới đánh lên, trận đánh không thành. Tuy có nhiều nguyên nhân nhưng vấn đề không biết tận dụng lợi thế của địa hình cũng là một nguyên nhân khá quan trọng dẫn đến trận đánh không hoàn thành tốt đẹp.

Tôi kể thêm một chuyện xem xét địa hình trong đánh vận động. Trong chiến dịch Biên Giới, sau khi cứ điểm Đông Khê bị tiêu diệt, binh đoàn Lơ-pa-giơ từ Lạng Sơn lên Thất Khê, rồi từ Thất Khê tiến lên định bất ngờ chiếm lại Đông Khê để đón cánh quân của Sác-tông từ Cao Bằng rút về, những bị quân ta đánh mạnh. Âm mưu chiếm lại Đông Khê của địch thất bại. Ngày 2 tháng 10 năm 195O. Lơ-pa-giơ nhận được lệnh để lại một bộ phận kiềm chế ta, còn phần lớn lực lượng trước trưa ngày 3 tháng 10 năm 1950 phải đến Quang Liệt, Nậm Nàng (nam Cao Bằng 20 ki-lô-mét) để đón binh đoàn Sác-tông cùng rút về Thất Khê. Biết được ý định của địch, quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch là: “Tập trung lực lượng tiêu diệt từng bộ phận địch... Đại đoàn... tiêu diệt bộ phận chủ yếu của địch ở khu vực Khau Luông, Nà Pá. Phái một bộ phận chiếm lĩnh các điểm cao để khống chế và phái một bộ phận cảnh giới ở phía nam đề phòng quán nhảy dù và bộ binh địch".


Đại đoàn còn được Bộ cho biết: Quân Sác-tông về tới Nậm Nàng đã phải phá xe cộ, súng nặng để rẽ vào đường mòn xuống Cốc Xá về Thất Khê. Vì âm mưu chiếm lại Đông Khê của Lơ-pa-giơ thất bại, vả lại đứng số 4 bị dân quân du kích của ta phá hoại nặng nề, như vậy Lơ-pa-giơ sẽ đi theo hướng nào để đón Sáe-tông? Nếu để hai binh đoàn ấy gặp nhau và cụm lại ở dãy núi 477 thì quả là ta sẽ gặp khó khăn lớn. Cùng với việc tiêu diệt lực lượng chủ yếu của Lơ-pa-giơ thì phải chia cắt ngăn chặn địch, không cho chúng gặp nhau. Bên đường số 4, quân của Lơ-pa-giơ đang tập trung ở Khau Xiểm, phía tây là dãy núi đá. Từ Khau Xiểm có con đường mòn qua núi đá đến bản Cốc Xá. Nhìn địa hình thì thấy eo Cốc Xá (điểm cao 533) là một vị trí chiến thuật rất quan trọng. Làm thế nào quân ta nhanh chóng đưa được một lực lượng "chốt" ở đấy thì nhất định kế hoạch gặp nhau của địch sẽ thất bại. Chúng sẽ bị cô lập từng bộ phận và sẽ bì quán ta tập trung tiêu diệt từng bộ phận. Đại đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 18 đến "chốt" ở eo Cốc Xá Giữa lúc đang nấu cơm chiều, nhận được lệnh tiểu đoàn 18 đã cấp tốc lên đường, không cần tập họp đủ cả mới xuất phát. Đại đội 263 ở sát đường lập tức đi ngay. Các đơn vị khác tiếp tục chạy theo. Anh nuôi cứ tiếp tục nấu cơm, nắm lại, rồi cấp tốc đuổi theo bộ đội. Dãy núi đá chắn ngang sừng sững, đường leo khúc khuỷu quanh co, lởm chởm, cũng không cản nổi quyết tâm của bộ đội ta. Bụng đói, các chiến sĩ cũng không chùn bước. Mọi người đều quyết tâm chiếm điểm cao 533 trước khi quân địch tới. Trong khi đó, Lơ-pa-giơ đang dồn quân vào dãy núi Cốc Xá, nơi mà y cho là "địa điểm phòng ngự lý tưởng", ”cái bình phong thiên nhiên chặn đứng các tiểu đoàn Việt Minh". Lơ-pa-giơ định cắm ở đây một tiểu đoàn với thương binh, còn bao nhiêu sẽ qua bản Cốc Xá, sang dãy núi 477 đón quân Sác-tông. Chúng cho rằng "hai binh đoàn gặp nhau sẽ thành một lực lượng rất mạnh, Việt Minh không tài nào gặm nổi".


Nhưng sáng hôm sau, cánh quân của Lơ-pa-giơ đang hí hửng tiến qua eo Cốc Xá, thì các chiến sĩ của tiểu đoàn 18 đã bất ngờ nổ súng phủ đầu như luồng gió mạnh hất chúng bật trở lại. Quân của Lơ-pa-giơ không thể nào vượt qua được điểm cao 533 để tiến về dãy núi 477 cùng Sác-tông cụm lại.


Thế là kế hoạch của Lơ-pa-giơ và Sác-tông hoàn toàn bí phá sản. Hai binh đoàn vẫn tan tác hai nơi.
Rõ ràng các chốt chiến thuật ở địa hình hiểm hóc kia đã cố tác dụng không phải là nhỏ. Chốt chặn được địch phải kết hợp với lực lượng cơ động vận động đến tấn công.


Sau đó, có một kinh nghiệm "vượt qua nơi hiểm trở để bắt cọp" nữa là khi quân của Lơ-pa-giơ cụm lại ở hang Cốc Xá, trung đoàn Y nhận nhiệm vụ tiêu diệt cụm này. Tiểu đoàn 11 tấn công binh đoàn Lơ-pa-giơ ở trong núi, đồng thời chặn không cho địch sang 477 (lúc này tiểu đoàn 18 đã chuyển sang 477 để tham gia tiêu diệt cánh quân Sác-tông). Tiểu đoàn 89 (thiếu đại đội 395) tấn công phía đông - bắc xuống. Cuộc chiến đấu diễn ra rất gay go. Tiểu đoàn 11 giành nhau với địch từng mô đá, từng thước đất.


Trong khi đó, đại đội 395 đang bấu víu vào từng mỏm đá, gốc cây để leo lên đỉnh núi. Đêm tối, trời mưa lã chã. Có đoạn các chiến sĩ phải bò, phải nhích từng bàn chân, nhất là đơn vị hỏa lực trợ chiến. Có đoạn phải dòng dây kéo từng bộ phận súng lên trước, rồi đến đạn, đến người. Qua một chặng đường gian khổ, các chiến sĩ 395 đã lên tới đỉnh núi, bất ngờ ném từng chùm lựu đạn xuống đầu quân địch. Các chiến sĩ cầm cả những quả đạn cối 60 mi-li-mét giội xuống. Các cỡ đạn súng trường, súng máy đổ vào đầu địch như mưa. Rồi từ tảng đá này nhảy sang tảng đá khác, các chiến sĩ xung phong vào quân địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch vô cùng kinh hoàng, rối loạn... Thừa cơ ấy, tiểu đoàn 11 và 89 xiết chặt thêm vòng vây. Từ trên đỉnh núi đá đánh xuống, đại đội 395 đã khắc phục khó khăn, chiếm địa hình có lợi, bất ngờ đập vào đầu địch, góp một phần quan trọng để tiêu diệt quân địch ở Cốc Xá.


Trận đánh binh đoàn Sác-tông diễn ra trên dãy núi 477. Địa hình ở đây cũng khá phức tạp. 477 nằm kẹp giữa hai triền núi cao, phía đông là dãy núi cao, phía tây là dãy núi đá lởm chởm thẳng đứng như bức tường thành, chỉ có một con đường mòn chạy từ phía bắc xuống phía nam, ngoài ra không còn đường nào khác. Bọn địch yên trí rằng đi trên dãy núi 477, đội hình chúng sẽ được hai bên núi cao che chở. Nhưng trung đoàn T suốt đêm đã vượt qua dãy núi đá, vừa tờ mờ sáng chọc ngang vào sườn của binh đoàn Sác-tông: bất ngờ chia cắt đội hình chúng ra từng đoạn và tiêu diệt từng bộ phán. Cuối cùng toàn bộ binh đoàn Sác-tông bị tiêu diệt thảm hại.


Trên đây là một vài câu chuyện về "cách nhìn" địa hình, khắc phục khó khăn vượt qua địa hình phức tạp để tấn công quân địch. Tất nhiên trong thực tế có những tình huống gay go, phức tạp hơn thế nhiều, đòi hỏi người chỉ huy phải bình tĩnh suy nghĩ, phải với tinh thần cách mạng tiến công, tìm cho ra khó khăn và thuận lợi của địa hình phía địch, phía ta, cùng quần chúng bàn bạc cách khắc phục. Đã có quyết tâm đánh thắng thì phải có gan khắc phục địa hình. Từ chỗ bất ngờ tạo thành có lợi cho tay người chỉ huy cùng bộ đội cần dốc hết sức mình để tìm cách vượt bất cứ một khó khăn nào, khi đã thấy rằng tiến hướng đó, đánh hướng đó là có lợi, không nên quá lệ thuộc vào lý do khách quan (như đường vòng, đi xa, thời gian gấp, thiếu lương thực hoặc không có người dẫn đường, v.v...) mà chùn bước.


Thực tế chiến đấu đã chứng minh rằng ngại đi xa có khi phải đi xa hơn nữa, ngại khắc phục khó khăn có khi phải khắc phục gấp trăm lần, dựa vào đường thẳng để tiến quân không phải lúc nào cũng thuận lợi mà có khi gặp nhiều khó khăn nhất, thậm chí không đến được mục tiêu. Đó là những vấn đề đòi hỏi phải hết sức mưu trí, linh hoạt trong khi giải quyết. Yêu cầu người chỉ huy phải cân nhắc kỹ, khi đã có quyết tâm thì nhất định làm và làm cho kỳ được.

LỢI DỤNG ĐỊA HÌNH VÀ CẢI TẠO ĐỊA HÌNH


Đơn vị chúng tôi, sau mỗi lần tấn công quân địch thường có nghiên cứu tỉ mỉ về cách bố trí của chúng để kịp thời rút ra những bài học cho trận sau. Tại sao địch bố trí ở chỗ này, không bố trí ở chỗ kia? Địa hình thế này, địch đã cải tạo và lợi dụng như thế nào? v.v... Chính nhờ vậy mà bản thân tôi rút ra được nhiều bài học có ích trong khi xem xét địa hình để bố trí tác chiến. Trong quá trình công tác thường cán bộ ta nhất trí về cách nhìn nhận, nhưng như thế không phải không có cách nhìn ngược lại. Cùng một địa hình có cán bộ xem xét chỉ thấy khó khăn, rồi lo lắng bi quan, thiếu tin tưởng vào nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng người khác xem xét thì tuy một mặt thấy có khó khăn, mặt khác lại thấy ta có thể khắc phục và lợi dụng được, thậm chí có khi phát hiện thấy chỗ hiểm hóc của địa hình mà người khác không thấy. Thực ra, với bất cứ địa hình không thuận lợi nào, chỉ cần biết cải tạo, lợi dụng đều có thể tạo nên một thế tác chiến rất mạnh, rất hiểm hóc.


Trong chiến đấu, những mũi tấn công của ta bị chùn lại hoặc bị sứt mẻ nhiều chính là do những hỏa điểm bất ngờ cách đánh bất ngờ, cách bố trí ở địa hình hiểm hóc của địch đột nhiên làm cản bước tiến của ta.
Vì vậy, trong khi làm nhiệm vụ xem xét địa hình để bố trí tác chiến, tôi thường nghĩ đến mấy chữ: "hiểm hóc, bất ngờ". Các cán bộ đi nghiên cứu cùng với tôi thường nói: "Tìm địa hình chỗ nào hiểm, bố trí bất ngờ, ăn sườn, ăn sụn của đối phương, chắc chắn thủ trưởng đồng ý". Địa hình để bố trí tác chiến phải có chỗ "xoay lưng" - ngôn ngữ quân sư gọi là "cơ động", "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thử”. Chọn được địa hình tốt, rất "lý tưởng", chỉ cần ít quân cũng có thể ngăn chặn được mũi tấn công lớn của địch. Nhưng trong thực tế, có khi phải bố trí quân đánh địch ở một địa hình so với nơi khác thì ít lợi thế hơn. Lúc này yêu cầu người chỉ huy cần xem xét địa hình một cách tỉ mỉ và đặt mình ở cương vị chủ động đánh địch, bất cứ trường hợp nào cũng không được bố trì để "giơ lưng chịu đòn". Phải luôn luôn tạo điều kiện, thời cơ chủ động đánh thắng địch bất cứ địch từ hướng nào tới hoặc tới bất cứ lúc nào. Người chỉ huy biết phân tích một cách khách quan, biện chứng, tìm cho ra cái mạnh của địa hình để phát huy, tìm cho đúng cái yếu của địa hình để khắc phục, từ thế bất lợi tạo thành thế có lợi, từ yếu trở thành mạng. Thí dụ: Một đơn vị nhận nhiệm vụ đánh địch tấn công ở một địa hình dài và hẹp, lại có nhiều sông núi cắt ngang. Như vậy địch có thể tấn công chia cắt ra từng khu vực. Nhưng ngược lại, chính địa hình ấy cũng chia cắt địch thành từng bộ phận, tạo điều kiện cho ta tập trung tiêu diệt từng cánh quân của địch. Có nhìn thấy hết cái mạnh của địa hình có lợi cho ta như thế thì mới không bi quan, không do dự quyết tâm. Tiếp theo sự nghiên cứu phân tích, người chỉ huy cần biến quyết tâm thành biện pháp tổ chức, tìm mọi cách cải tạo địa hình, chuẩn bị trận địa tác chiến cụ thể. Địa hình dù có nhiều bất lợi nhưng nếu người chỉ huy và bộ đội biết bỏ nhiều công phu suy nghĩ vào đấy, bỏ nhiều sức lao động cải tạo vào đấy, thì nhất định sẽ tạo nên nhiều thế lợi.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tiểu đoàn X nhận nhiệm vụ đào trận địa xuyên qua giữa khe hở của hai điểm cao 206 và 311A (hai vị trí này của địch vẫn chưa bị tiêu diệt) để cắt sân bay Mường Thanh. Giặc Pháp cũng đã hiểu sân bay của chúng nếu bị ta chiếm giữ thế chúng coi như bị cắt mất dạ dày. Chúng dồn hỏa lực ra sức bắn kẹp tiểu đoàn X. Nhiều nhất là đạn súng cối và đạn pháo nổ trên không, lại có cả hai khẩu súng máy từ Mường Thanh bắn ra rất lợi hại. Quân địch lại luôn tổ chức đánh chiếm trận địa của ta và lấp hào. Riêng ngày 20 tháng 4, giữa ta và địch giành đi giật lại mấy lần. Buổi chiều, chúng tôi vừa nhận được báo cáo là quân ta phản kích giành lại được trận địa, nhưng một lúc sau lại được tin địch chiếm mất, quân ta củng cố để xẩm tối sẽ tiếp tục phản kích. Tình hình ấy làm chúng tôi rất sốt ruột. Cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn này có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, dày dạn, anh dũng, táo bạo. Vậy thì trận địa bố trí ra sao mà cứ mất đi mất lại như thế mãi?


Trời chạng vạng tối, quân ta phản kích thành công, khôi phục được toàn bộ trận địa. Lập tức tôi điện cho trung đoàn phải cho bộ đội củng cố công sự ngay, mặt khác chỉ thị cho cơ quan đại đoàn phải đưa hết người vác gỗ ra trận địa giúp đơn vị. Đêm đó, tôi ra ngay trận địa để xem xét tình hình, càng đi ra đầu cùng của chiến hào, càng thấy rõ bộ đội ở đấy chiến đấu không những ác liệt mà còn hết sức vất vả. Ngơi tay súng ra, người chiến sĩ lại cầm lấy xẻng làm việc không ngừng. Đào sâu được một ít, chỉ vài loạt đại bác, vài trận bom giội xuống, chiến hào lại sụt lở tung toé, lại phải mất công sửa chùa. Càng ra tới phía ngoài, chiến hào càng hẹp và nông. Nhưng tất cả những bom đạn của địch cũng không phải là nguyên nhân chủ yếu để bộ binh và xe tăng địch chiếm được trận địa của ta, mà chính là ta chưa biết cải tạo địa hình, cấu trúc thành một trận địa có lợi cho ta, chiết tính cơ động và không hiểm hóc. Tôi ngạc nhiên khi thấy chỉ có độc một đường hào đâm thẳng vào sân bay, xuyên qua giữa khe hở của hai vị trí địch, y như một con đường độc đạo trơ trọi. Bám vào đường hào đó chỉ có hố đứng bắn, hố ẩn nấp. Càng nghiên cứu, tôi càng thấy rõ tại sao trận địa vẫn cứ bị mất đi mất lại, mặc dầu bộ đội ta chiến đấu rất anh dũng. Ở đấy rõ ràng là ta ở vào một địa hình có ít thuận lợi, mũi hào cắt sân bay hoàn toàn ở trên mảnh đất bằng phẳng. Xe tăng địch tấn công có thể bắn chúc xuống miệng chiến hào của ta. Ta chỉ có một đường hào, khỉ địch tập trung chiếm đoạn nào, ta bị mất đoạn đó. Ta giữ đã khó, nhưng muốn phản kích chiếm lại càng khó hơn. Nhiệm vụ cắt sân bay phải làm tròn cắt được đến đâu phải giữ chắc đến đó, không cho địch chiếm lại, lấp hào đi. Bộ đội ta anh dũng, nghiêm chỉnh chấp hành nhiệm vụ. Nhưng phải làm thế nào để nhiệm vụ được thực hiện tốt hơn nửa mà bộ đội ta ít thương vong.


Đó là vấn đề đặt ra đối với người chỉ huy các cấp có trách nhiệm chấp hành nhiệm vụ này. Tôi cùng cán bộ của đơn vị và các chiến sĩ tại trận địa nghiên cứu bàn bạc ngay tại chỗ và thấy rằng cần phải tổ chức từng tổ chiến đấu thành thế chân kiềng dựa lưng vào nhau, chi viện hỗ trợ cho nhau. Muốn vậy phải đào nhiều "râu tôm” chạy xoè ngang ra, rồi đào vòng trở lại, đào các ngách chữ A, chữ T, đào nhiều đường cơ động từ sau lên trước và chéo bên sườn để địch đánh hướng nào ta cung có thể “xoay lưng" đánh lại chúng. Một khẩu súng máy cũng có thể di chuyển ẩn hiện nhiều hướng, nhiều nơi bất ngờ đánh vào sườn địch. Địch chiếm chỗ này, ta từ chỗ khác đã chuẩn bị lập tức đánh trả. Đó là tạo thế trong phòng ngự - thế mạng sẽ tạo thành lực mạnh.


Đêm hôm đó, ngay sau khi tôi trở về chỉ huy sở, bộ đội bắt tay vào làm làm cật lực. Vì tất cả cán bộ và chiến sĩ, cấp trên và cấp dưới đều nhất trí phải cải tạo địa hình, xây dựng trận địa thật vững chắc, và chỉ có làm như thế mới tránh được tình trạng "bị trói chân một chỗ”, "giơ lưng chịu đòn".


Ngày 21 tháng 4, quân địch lại tập trung lực lượng tấn công vào trận địa cắt sân bay của bộ đội ta. Ngoài 7 đại đội Âu Phi, còn thêm 4 xe tăng yểm hộ. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Mặc dầu giặc Pháp đã liều mạng nhảy vào chiếm được một vái đoạn hào của ta, nhưng rồi tất cả bọn chúng đều bị đánh lui và bỏ lại nhiều xác chết ngay trên trận địa.


Ngày hôm sau, cuộc chiến đấu giữ trận địa cắt sân bay của bộ đội ta ác liệt gấp bội và cũng là ngày giặc Pháp phải “từ giã” sân bay. Bộ binh, xe tăng địch lao vào đều bị quân ta đánh bật trở lại, vòng hướng này bị chặn, vòng hướng khác bị đánh sườn. Không những thế, giặc Pháp còn bị bộ đội ta đánh cho những đòn bất ngờ, bộ binh, xe tăng mỗi nơi mỗi mảng, tàn quân tháo chạy về Mường Thanh. Từ ngày ấy, trận địa cắt sân bay của bộ đội ta hoàn toàn vững chắc cho đến khi Điện Biên Phủ được hoàn toàn giải phóng. Rõ ràng vấn đề thắng bại là do con người quyết định chứ không phải do địa hình.

BIẾT ĐỊCH, BIẾT TA, ĐÁNH LÀ CHẮC THẮNG


Cuộc chiến đấu giữa ta và địch thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp một mất một còn vô cùng quyết liệt. Từng trận chiến đấu cụ thể là sự đấu trí, đấu lực của hai tập đoàn người sống. Cả hai bên đều tìm mọi cách tiêu diệt, đánh bại đối phương.


Muốn tiêu diệt địch, ta cần phải hiểu mình, hiểu địch cho thật đúng bản chất của sự việc. Kẻ địch rất gian giảo, hung ác và quỷ quyệt vì bản chất của nó là bản chất của giai cấp thống trị áp bức vì quyền lợi ích kỷ của chúng. Trong từng trận đánh cụ thể khi phân tích về địch bất cứ một hiện tượng cụ thể nào cũng cần xét tới bản chất của nó. Dù kẻ địch mạnh đến đâu cũng có chỗ yếu, chỗ sơ hở và dù kẻ địch yếu đến đâu cũng có chỗ mạnh cần phải chú ý tới. Khi nói địch mạnh phải thật cụ thể, mạnh cái gì, mạnh ở chỗ nào, mạnh trong trường hợp nào, v.v... Trong cái mạnh phải tìm cho ra cái yếu. Yếu như thế nào, yếu ở đâu, yếu tới mức nào, quan trọng hơn cả là làm thế nào biến mạnh của địch thành yếu để tiêu diệt chúng, v.v...


Theo kinh nghiệm của tôi, những lần chiến đấu gặp khó khăn phần lớn là do nghiên cứu địch không kỹ, hoặc có khi nghiên cứu nhiều lần nhưng vẫn không thấy đúng thực chất cái mạnh, cái yếu của kẻ địch, mà còn mập mờ...


Đối với cán bộ chi huy chúng ta: thường có hai hiện tượng, một là đánh giá địch quá cao, "sợ bóng sợ gió" khi gặp một vài hiện tượng mạnh của địch, từ đó đi tới do dự, thiếu sự quyết tâm, không dám đánh hoặc đánh nhưng không tin chắc thắng; hai là vừa nhìn thấy vài hiện tượng yếu của địch đã vội vã chủ quan, khinh địch, "coi trời bằng vung". Tôi kể lại mấy mẩu chuyện về ngại địch mạnh.


Năm 1947, có một đơn vị ở Hòa Bình rất ngại khi phải chiến đấu với lính Âu - Phi - một thành phần trong đội quân đánh thuê của thực dân Pháp. Người nọ đồn đại đến tai người kia. Nào là “Tây rạch mặt" ngậm dao găm ở mồm xông lên ghê lắm! Nào là lính này thiện chiến đã từng xâm lược nhiều nơi...! Thấy vậy, tôi suy nghĩ rất nhiều, cố tìm mọi cách để giải quyết tư tưởng cho anh em. Chúng tôi cùng chiến sĩ bàn bạc tìm cho hết cái mạnh cái yếu của chúng mà đánh. Cái mạnh của địch là ỷ lại có xe tăng, ô tô, máy bay, đại bác và binh lính chúng được trang bị nhiều vũ khí tốt, sử dụng quen. Nhưng cái yếu cơ bản của chúng là tinh thần của lính đánh thuê ham sống sợ chết nên chỉ hung hăng có lúc, khi những cái mạnh về vũ khí giảm tác dụng thì tinh thần sẽ sút kém. Vì vậy, ta phải khoét sâu nhược điểm của địch, bất ngờ xông lên đánh giáp lá cà để tiêu diệt chúng, nhất định chúng sẽ thua trận.


Chúng tôi bố trí một trận phục kích thật chu đáo, cho một bộ phận nhỏ chặn trước mặt địch, lực lượng còn lại giấu kín ở bên sườn... Ngày 1 tháng 5 năm 1947, tại dốc Cun (Hòa Bình), trận phục kích được bố trí xong. Máy bay và súng cối của địch bắn dừ dội trên dọc đường chúng tiến quân. Mười cơ giới và chừng mấy trăm tên địch hùng hổ tới chán dốc Cun, dàn quân tiến lên. Bọn lính xâm lược quen thói chủ quan, vừa đi vừa huýt sáo, nghênh ngang, bất ngờ "khẩu thần công" của quân ta phát hoả. Đây là khẩu súng thần công cũ, được anh em nhồi thuốc phóng và các mảnh gang vụn. Khi bắn, một tiếng nổ dữ dội, mảnh gang tóe ra như mùa rào. Bọn địch đi đầu ngã gục gần hết. Quen thói “sùng bái vũ khí” thì lần này giặc Pháp khiếp sợ vũ khi biết chừng nào. Ngay lúc đó, súng trường, tiểu liên cũ kỹ của ta cùng phối hợp bắn vào những tên còn sống sót. Tên chỉ huy tay cầm bản đồ, tay cầm súng lục đang ngơ ngác nhìn, bị bắn chết đầu tiên. Quân ta vung kiếm, vung mã tấu nhảy lên lăn xả vào tiêu diệt chúng. Bọn lính đánh thuê được đồn đại là thiện chiến nay đã chết ngổn ngang. Các tên sống sót chúi đầu chạy xuống chân dốc, gọi máy bay, súng cối bắn yểm hộ. Suốt ngày không tiến thêm được bước nào, bị quân ta lẻn tới bắn tỉa tiêu hao, cuối cùng chúng phải lên xe tháo chạy nốt. Trận đánh thắng lợi, quân ta chỉ có vài người bị thương nhẹ. Quân địch vừa chết vừa bị thương hơn 80 tên. Sau trận đánh, khí thế quân ta lên cao. Việc xây dựng cho bộ đội tư tưởng dám đánh, quyết đánh thắng và nhất định đánh thắng bọn giặc hung ác bước đầu đã dược giải quyết tương đối tốt. Đơn vị khác thấy vậy cũng vui mừng phấn khởi và tin tưởng ở sức mình. Từ đó bộ đội ta không sợ lính lê dương nữa. Sau đó ít lâu bộ đội ta lại quần nhau và vật lộn đánh giáp lá cà với bọn lính lê dương trong một trận ác liệt ở Ba Thá. Qua nhiều trận đánh, tôi thấy rằng: Kẻ địch nào cũng vậy, miễn là nghiên cứu cho đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng và tìm được cách đánh thích hợp thì nhất định giành được thắng lợi.


Trong chiến dịch Tây Bắc, cán bộ đi chuẩn bị chiến trường điều tra địch đóng ở Pú Chạng và Nghĩa Lộ. Hai vị trí này cách nhau khoảng gần 2 ki-lô-mét. Địch đóng trên đồi Pú Chạng mạnh hơn, có thể khống chế cả cánh đồng Nghĩa Lộ và chi viện cho cứ điểm Nghĩa Lộ, có công sự và đường giao thông chằng chịt, dây thép gai dày tới 40 - 50 mét, các hỏa điểm bố trí ở xung quanh đồi thành nhiều tầng... Nhưng xem xét kỹ: về phía bắc có mỏm đồi thấp sát hến với đồi Pú Chạng, cây cối um tùm (khi đó đặt tên là đồi Nhà Ngựa), ta đã bí mát tiếp cận và địch có thể bị bất ngờ, nên ta lấy đó làm hướng đột kích chủ yếu. Còn đuôi dãy núi Pú Chạng thì kéo dài về phía nam gần với dãy rừng phía tây, lên phía này ta dễ cắt chia đồi Pú Chạng với "trại con gái" ở phía nam, nên ta lấy đó làm hướng thứ yếu. Trong cái mạnh của địch, rõ ràng là có cái yếu, nhất là cái yếu vì "bị bất ngớ”. Vì vậy, người chỉ huy phải có con mắt biện chứng, tìm ra chỗ yếu trong cái mạnh của địch để đánh, hoặc khắc phục mọi khó khăn vượt qua những hiểm trở để tạo nên một thế bất ngờ. Nếu không chỉ nhìn thấy vị trí địch bốn phía hàng rào dây thép gai dày công sự, hỏa điểm kín đặc cho là mạnh cả, thì sẽ đi đến: một là không dám đánh, hai là đánh vào chỗ mạnh của địch sẽ tổn thất nhiều.


Trải qua chiến đấu, bộ đội ta ngày càng trưởng thành rõ rệt. Các hình thức công sự phòng ngự của địch đều lần lượt bị phá vỡ. Cuối cùng, chúng phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm ở Điện Biên Phủ và làm phòng ngự bằng công sự boong ke như ở Yên Vĩ (Hà Nam), Cẩu Lồ (Bắc Giang), v.v..

Mùa hè năm 1954, tiểu đoàn 80, trung đoàn Y nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Cầu Lồ. Trước đây, do thiếu sót của một số cán bộ, khi nói đến công sự boong ke thì chỉ nói cái mạnh của nó, đôi khi còn đề cao quá mức. Có đơn vị khi nhận nhiệm vụ đánh vị trí loại công sự này thì không tin đánh thắng, lo tổn thất nhiều. Việc đó ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng bộ đội. Rút kinh nghiệm ấy, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn Y đã bàn bạc tìm cho hết cái mạnh, cái yếu của địch. Mặc dầu công sự xi măng cốt sắt dày, nhưng bản thân nó lại có nhiều nhược điểm: có lỗ thông hơi có thể dùng xẻng chọc thủng lưới sắt, thả lựu đạn vào: địch bố trí ít người, nhiều súng; ở từng lô cốt cô lập, cơ động chi viện cho nhau khó khăn; trong công sự thiết bị kín, địch khó quan sát, ta có thể đưa pháo, ĐKZ, ba-dô-ca vào gần bắn thẳng vào lỗ châu mai, hoặc đánh bộc phá, quân địch dễ chết vì bị sức ép; hỏa lực của địch dù dày đặc thế nào cũng không thể kiểm soát hết mọi chỗ, ở cự ly gần thì lỗ châu mai cũng có góc chết giữa lô cốt này và lô cốt khác, đạn cũng không bắn kín hết được, nhất là khi một vài lô cốt đã bị diệt sẽ tạo nên khoảng trống lớn không có hỏa lực. Đó là những cái yếu cụ thể, ta có thể khoét sâu để tiêu diệt địch. Đơn vị còn phân tích cái yếu cơ bản nữa của địch là sau khi chúng bị thua ở Điện Biên Phủ, tinh thần bọn địch ở đồng bằng đã hoang mang, dao động, không tin tưởng sẽ giữ được những cứ điểm cô lập, nhỏ bé... Do đánh giá địch đúng mức, bộ đội ta đã có quyết tâm cao, tin tưởng đánh thắng. Việc tổ chức, chuẩn bị được tiến hành cụ thể, tỉ mỉ, tổ chức bộ đội gọn nhẹ, "ít nhưng tinh", phân công hỏa lực hợp lý từ lựu đạn, thủ pháo đến tiểu liên, súng trường, ĐKZ..., đồng thời huấn luyện cho mọi chiến sĩ biết cách đánh bộc phá để bảo đảm có thể tự phá được hàng rào dây thép gai ở trong ví trí, ở ngay chân lô cốt.


Do đó, trung đoàn Y đã làm tròn nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Cầu Lồ. Đặc biệt có một tiểu đội bộ binh đã bí mật cắt dây thép gai, lọt vào vị trí và đã bất ngờ đánh sập ngay một lô cốt boong ke của địch.


Trên đây là những câu chuyện về cách xem xét địch, cụ thể là giặc Pháp trước đây. Nhưng khi đánh với quân Mỹ là kẻ địch có quân số đông, có nhiều binh khí kỹ thuật hiện đại, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cách nhìn nhận về địch của người chỉ huy. Chính vì vậy, chúng ta càng phải rèn luyện quan điểm lập trường, trau dồi trình độ lý luận, nắm vững phép biện chứng duy vật trong việc phân tích cụ thể tình hình cụ thể, nắm vững đường lối quân sự của Đảng để soi sáng vào sự việc cụ thể, nhìn nhận kẻ địch cho thật đúng, thấy được chỗ mạnh của địch nhưng quan trọng hơn nữa là phải tìm cho ra chỗ yếu của địch mà "lách lưỡi lê vào đó" khoét cho rộng. cho sâu. Như vậy nhất định chúng sẽ chết.


Nhìn nhận về địch đúng hay sai, đó là vấn đề vừa là phẩm chất vừa là tài năng của người chỉ huy, ở trường hợp nào đó, nếu người chỉ huy một mực đề cao cái mạnh của địch, không thấy cái mạnh của quần chúng, của con người đã giác ngộ cách mạng cao thì sẽ sợ địch, thiếu tin ở sức mình, quyết tâm do dự, rụt rè, đánh dò dẫm, đánh cầm chừng... Vì đó mà làm cho bộ đội lâm vào tình trạng "tiến thoái lưỡng nan", tổn thất nhiều, thậm chí có khi đi đến thủ tiêu chiến đấu; những cái mạnh tạm thời của kẻ địch sẽ được phát huy. Cho nên, vấn đề nhìn địch thế nào để không sợ địch và đánh giá địch đúng mức là một yêu cầu rất quan trọng đối với người chỉ huy.


Ngược lại, sau khi đánh thắng nhiều trận, người chỉ huy dễ nảy sinh tư tưởng chủ quan, coi thường địch quá đáng, nên đã vấp thì vấp rất đau: lúc đó tư tưởng sợ địch lại có thể tái sinh. Đã chủ quan thì việc nghiên cứu địch sẽ không chu đáo, chuẩn bị bộ đội sê không đầy đủ. đánh bừa, đánh ẩu. Trận đánh vị trí Pheo thuộc tỉnh Hòa Bình cũ là một thí dụ. Đại đoàn cùng với trung đoàn, tiểu đoàn đi nghiên cứu vị trí địch: thấy địa hình đồi Phèo và bản Pheo nằm hai bên đường số 6, vị trí đồi Pheo về phía tây có dãy đồi cao hơn, rừng rậm, nối liền với đồi Pheo là một vai bò thoai thoải đổ từ dãy núi cao xuống đồi Pheo. Đại đoàn phần vì chủ quan nên không tập trung vào đấy mà nghiên cứu kỹ, phần vì do dù nên không đề đạt với cấp trên để xin thêm thời gian chuẩn bị và không tích cực đôn đốc trung đoàn khắc phục khó khăn về rừng rậm để có một mũi bất ngờ từ phía tây đánh từ trên xuống. Cán bộ chỉ xem xét qua loa, thiếu trách nhiệm đánh giá địch thấp. Nhất là sau chiến thắng Tu Vũ, cán bộ ta cho rằng quân địch ở Pheo tinh thần dao động. Nhưng thực tế lại khác, tên quan năm Clê-măng, chỉ huy trưởng khu chiếm đóng Hòa Bình, đã ra lệnh cho tên thiếu tá Rúc và binh lính lê dương: "Sống chết phải giữ Pheo đến cùng!" Bố trí cụ thể của địch ở đó ta nắm không chắc. Khi phát hiện địa hình có lợi, có thể chiếm điểm cao đánh thúc xuống đầu địch thì cán bộ ta ngại khó khăn này, khó khăn khác, không quyết tâm khắc phục. Tư tưởng chủ quan ảnh hưởng tới bộ đội. Khi chiếm lĩnh, anh em bảo nhau: “Tốt trời như thế này, đánh một loáng là xong!”. Có khẩu đội đại liên muốn để bớt một nửa cơ số đạn "ở nhà” vì cho rằng chỉ cần bắn vài loạt là đủ, mang đạn đi nhiều lại vác về chỉ tổ nặng... Chính do tư tưởng chủ quan, nắm địch không rõ, chuẩn bị đại khái qua loa, nên lúc chiến đấu đã gặp nhiều khó khăn. Đơn vị đánh bản Pheo đột phá gặp bãi lầy, mãi mới phá xong ba hàng rào, lúc hai xe tăng địch ra bịt cửa mở thì tổ đánh tăng lại ở phía sau chưa lên kịp...


Trận đánh vị trí Pheo, mặc dầu quân ta đã chiếm được gần hết cứ điểm phòng ngự của địch, chỉ còn bộ phận nho dồn vào cố thủ xung quanh cột cờ, nhưng chúng ta gặp nhiều khó khăn, tiêu diêt địch không gọn.
Sau đó, khi tổng kết đại đoàn cũng đã nói: "Địch bố trì phòng ngự tuy khá mạnh, song trung đoàn vẫn hoàn toàn có khả năng tiêu diệt được đồn Pheo, nếu không mắc phải những khuyết điểm nghiêm trọng: chuẩn bị thì chủ quan đơn giản, kế hoạch đại khái, qua loa... Đại đoàn chịu phần trách nhiệm vì nắm tình hình không sát, không phát hiện được kịp thời những sai lầm về tư tưởng và tổ chức của cấp dưới".

Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, có nhiều cán bộ chỉ huy rất, chủ quan, ảnh hưởng không ít đến tư tưởng bộ đội. Trước khi xuất kích, đơn vị súng cối cho rằng bắn ngần này đạn dù xung kích chưa vào, địch cũng chết hết. Đột kích 1 cho rằng mình vào đồn chỉ để quét tàn binh. Đột kích 2 thì chuẩn bị vào thu dọn chiến lợi phẩm. Bộ phận bao vây thì giương lê sẵn không phải để xung phong mà để nếu địch rút chạy vướng lê phải dừng lại (!), v.v… Nhưng thực tế khi đánh thì đơn vị đã không làm tròn nhiệm vụ. Kết quả của tư tưởng chủ quan, đơn giản là trong tác chiến nhất định không thể nào giành được thắng lợi tốt đẹp như ý muốn.


Khi thế trận của ta đang trên đà phát triển thuận lợi, chiến thắng đang giòn giã, bắt đầu nảy sinh những nhận xét về địch như "đánh là tan”, "nổ súng là địch chạy", v.v… nên lúc này người chỉ huy càng phải hết sức tỉnh táo, cảnh giácthận trọng hơn bao giờ hết. Vì lý do sơ ý người ta có thể ngã ở quãng đường không trơn.


Cùng với việc nghiên cứu địch, người chỉ huy phải xem xét kỹ tình hình ta, nếu không, kế hoạch tác chiến sẽ trừu tượng, phiến diện, rất nguy hiểm. Nhìn nhận bộ đội ta không phải chỉ đơn thuần đếm đầu người, tính đầu đơn vị, đếm đầu hỏa khí... với những con số so sánh trên sách vở. Tôi không bác bỏ nhùng con số quý giá ấy mà người chỉ huy cần nắm để làm cơ sở hạ quyết tâm. Nhưng nếu chỉ dựa vào con số ấy thì hoàn toàn chưa đủ và nhất định sẽ phạm sai lầm, có khi rất nghiêm trọng.


Theo kinh nghiệm của bản thân tôi khi nhìn nhận về ta, người chỉ huy cần hết sức coi trọng vấn đề mấu chốt nhất là tư tưởng, tiếp đến là trình độ kỹ thuật, chiến thuật, và sau đó là vấn đề số lượng thành phần tổ chức, trang bị của bộ đội. Các vấn đề này có liên quan chặt chẽ với nhau. Tư tưởng chi phối hành động của con người, ngược lại cơ sở vật chất có ảnh hưởng trở lại tư tưởng và là điều kiện để phát huy sức mạnh của tư tưởng.


Trong thực tế cũng có lúc bị tình huống cụ thể lôi cuốn mà người chỉ huy lãng quên mối liên hệ rất cơ bản đó. Có lúc cán bộ đã coi thường, chưa thấy hết ý nghĩa quyết định của ý chí, tinh thần, đồng thời có người đôi lúc lại coi nhẹ các điều kiện thuộc cơ sở vật chất.


Có trận đánh một cứ điểm ở đồng bằng, khi nhận nhiệm vụ chiến đấu, có khá nhiều cán bộ, chiến sĩ đơn vị nọ rất chủ quan. Ý vào kinh nghiệm và trình độ chiến đấu của đơn vị mình, anh em cho rằng: "Cứ điểm này bé, bóp nát lúc nào cũng được!". Do thiếu sót của lãnh đạo, không nắm được tư tưởng bộ đội nên không kịp thời uốn nắn. Công tác chính trì không tiến hành sâu rộng tới tận chiến sĩ, không làm thấm nhuần phương châm và quán triệt nhiệm vụ, không thấy hết thuận lợi, không dự kiến hết khó khăn để tìm ra biện pháp khắc phục... Tư tưởng chủ quan, coi thường địch như vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác chuẩn bị chiến đấu, cấp nọ khoán trắng cho cấp kia tiểu đoàn giao cho đại đội, đại đội giao cho trung đội. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị cơ sở cũng chủ quan cho mình đã làm nhiều, đánh nhiều, nên chuẩn bị qua loa cho đủ số lượng như cấp trên quy định. Khi báo cáo rất đầy đủ, nhưng chất lượng ra sao thì không ai biết.


Dưới đây, trích lại một đoạn ngắn về diễn biến chiến đấu của trận đánh trong bản tổng kết của đơn vị đó để chúng ta cùng nghiên cứu xem tư tưởng chủ quan ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị như thế nào, việc chuẩn bị đại khái ảnh hưởng đến thực hành chiến đấu ra sao: “... Đại đội mũi chính tiếp cận sát hào, phát tín hiệu cho pháo bắn vào lô cốt bên trong để đơn vị bắc thang vượt qua hào. Nhưng phần lớn hỏa lực của ta đều bắn vào tầng trên của các lô cốt, địch ở bầng dưới chưa bị sát thương, khi hỏa lực của ta vừa bắn chuyển vào lô cốt B thì hỏa lực của địch ở tầng dưới bắn ra rất mạnh. Tổ hỏa lực của đại đội thì đạn dược đã tiêu hao nhiều, không đủ sức kiềm chế các lỗ châu mai. Tổ thang ván không tiến lên được, phải lợi dụng lúc hỏa lực địch ngừng bắn để vượt lên lao thang qua hào, nhưng vì làm không đủ kích thước, thang hụt không sang được, xung kích phải dừng lại ở giữa cửa mở, bị hỏa lực địch sát thương một số. Đại đội trưởng ra lệnh nhổ chông, lội qua hào vượt lên đánh vào lô cất A. Vì không nắm vững công sự của địch, việc chuẩn bị số lượng bộc phá không đầy đủ nên bộc phá sử dụng hết rồi mà lô cốt vẫn chưa thủng. Đại đội trưởng cho tổ đột kích vượt lên nóc lô cốt để đánh xuống. Địch vẫn ngoan cố chống cự. Tổ đột kích phải tiếp cận kiềm chế các lỗ châu mai, đồng thời dùng lựu đạn, thủ pháo, tiểu liên đánh xuống, và sau 10 phút chiến đấu ác liệt mới chiếm xong lô cốt A.


Đại đội mũi phụ bên trái mũi chính cũng gặp hào, nhưng không chuẩn bị thang ván trước, phải dừng lại ở giữa cửa mở, đội hình ùn, bị hỏa lực địch sát thương một số, trong đó có cả đại đội trưởng và chính trị viên, số còn lại phát triển lạc hướng. Đại đội phó lên thay, phải củng cố lại khá lâu, không hiệp đồng đột phá được cùng mũi chính. Sau khi củng cố xong, mũi này cũng phải lội qua hào vượt lên đánh vào lô cốt E...


Đại đội mũi phụ ở phía tây - bắc, do chuẩn bị bộc phá không cẩn thận, nhiều lần đánh không nổ nên cũng bị chậm lại Địch có điều kiện tập trung hỏa lực đối phó mạnh hơn, khi ta tiếp cận sát hào bị thương vong một số, không đủ sức vượt qua, phải lùi lại để củng cố. Thang chuẩn bị cũng không đủ kích thước, khi bắc qua hào bị hụt... hỏa lực của đại đội và tiểu đoàn bắn rời rạc không đủ sức kiềm chế hỏa điểm của địch, nên khi tổ bộc phá khồl lội được qua hào, vượt lên bộc phá lô cốt, bị hỏa lực địch sát thương một số. Anh em rất dũng cảm lao lên đặt được bộc phá vào chân lô cốt, nhưng nụ xòe bị ướt, sử dụng hệt số lượng bộc phá khối mà không quả nào nổ...”.


Qua một đoạn diễn biến chiến đấu nói trên cho ta thấy rằng, nếu người chỉ huy nắm được tình hình chuẩn bị chiến đấu, nếu biết kịp thời uốn nắn tư tưởng chủ quan và tổ chức kiểm tra chặt chẽ, thì chắc chắn công tác chuẩn bị chiến đấu không đến nỗi đại khái như thế, và lúc chiến đấu nhất định sẽ thuận lợi hơn nhiều.
Trong trận này, cán bộ và chiến sĩ đơn vị cơ sở kiến đấu rất anh dũng. Sau nhiều lần tranh chấp với địch, đại đội mũi chính đã chiếm thêm được lô cốt cố thủ ở tung thâm vị trí và nhà số 5 là nơi chỉ huy đầu não của địch. Nhưng lực lượng các đơn vị đột kích 1 nói chung đã đuối sức. Đơn vị đột kích 2 của trung đoàn thì còn nguyên vẹn. Thời gian còn hai giờ nửa mới sáng. Trung đoàn trưởng quyết tâm sử dụng đại đội... của đột kích 2. Đồng chí giao cho tham mưu trưởng dẫn lên gặp trung đoàn phó ở chỉ huy sở của tiểu đoàn chủ công và chịu quyền chỉ huy của trung đoàn phó. Ba mươi phút sau, đại đội của đột kích 2 và tham mưu trưởng tới vị trì nhận nhiệm vụ. Do ngại đánh ban ngày, sợ phi pháo của địch, một số cán bộ đã đề nghi trung đoàn cho rút.


Vì không nắm được tình hình cụ thể và cho rằng các đồng chí ở đột kích 1 nắm được tình hình cụ thể hơn, trung đoàn đã thay đổi chủ trương và đồng ý với đề nghị lui quân. Lúc đó, quân địch trong cứ điểm đã bị tiêu hao nặng, còn một số đang lúng túng hoang mang, chỉ mong cố thủ những chỗ còn lại được đến sáng để chờ viện binh.


Sau này tổng kết anh em thấy rằng, nếu lúc đó trung đoàn trưởng nắm được tình hình, kiên quyết sử dụng đột kích 2 đánh thúc vào phía sau lưng 3 lô cốt ngoại vi còn lại, thì mũi phụ có điều kiện phát triển thuận lợi hơn và chắc chắn trận đánh sẽ kết thúc gọn.


Qua những mẩu chuyện trên, chúng ta thấy rằng vấn đề mấu chốt của người chỉ huy đối với việc nắm tình hình ta phải nắm thực chất tư tưởng cán bộ và chiến sĩ để có kế hoạch lãnh đạo đến nơi đến chốn. Đồng thời còn phải xem xét thực chất tổ chức, số lượng và chất lượng trình độ kỹ thuật chiến thuật và công tác chuẩn bị cụ thể. Làm được như thế, quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy chắc chắn sẽ ít phạm sai lầm.

TAI NGHE KHÔNG BẰNG MẮT THẤY


Để có cơ sở hạ quyết tâm chính xác, một trong những công việc rất quan trọng của người chỉ huy là công tác chuẩn bị chiến trường, trinh sát thực địa. Chuẩn bị chiến trường thực chất là một thử thách đối với người chỉ huy về tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn và cũng là một thử thách về lòng dũng cảm, tinh thần chiến đấu hy sinh, tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước quần chúng.


Bất cứ đánh theo hình thức nào đều phải có công tác chuẩn bị chiến trường. Mỗi một cách đánh có đặc điểm của nó, nên nội dung công tác chuẩn bị chiến trường yêu cầu cũng khác nhau. Thí dụ: Đánh úp, đánh địch đổ bộ bằng máy bay lên thẳng thì địch đông, thời gian gấp rút; đánh địch trong công sự vững chắc thì địch cố định, có thời gian chuẩn bị hơn v.v... Vì vậy, yêu cầu công tác chuẩn bị chiến trường là do yêu cầu, đặc điểm của trận đánh quy định.


Người chỉ huy nếu vì ngại gian khổ, sợ hy sinh, chuẩn bị chiến trường không đến nơi đến chốn, đứng xa quan sát đại khái, hoặc chỉ nghe lời đồn đại, địch thế này, địa hình thế kia, rồi cứ thế hạ quyết tâm, thì khó tránh khỏi những khó khăn không lường được khi chiến đấu.


Sau khi nhận nhiệm vụ chiến đấu, đội công tác chuẩn bị chiến trường phải có quyết tâm "ba bốn núi cũng trèo, bảy tám sông cũng lội, nhín mười đèo cũng qua", điều gì còn nghi nghi hoặc hoặc thì đi tới nơi xác định rõ ràng. Người chỉ huy phải băn khoăn, bứt rứt, khó chịu khi thấy rằng công tác chuẩn bị chiến trường của đơn vị chưa chu đáo, có điểm còn mập mờ chưa rõ. Phải tìm mọi cách chuẩn bị chu đáo, kể cả trường hợp đánh tập kích cũng không được vin vào hoàn cảnh địch di chuyển thay đổi luôn, thời gian gấp rút mà bỏ qua công tác chuẩn bị chiến trường. Nhất là không được rời địch một phút, một giây. Địch đi một bước, ta theo một bước. bám sát địch suốt ngày, suốt đêm. Địch dừng lại, ta biết rõ nơi địch bố trí; địch đi, ta biết rõ đường đi và đội hình của chung, v.v...


Khi đánh vị trí có công sự vững chắc thì công tác chuẩn bị chiến trường lại càng kiên trì, bền bỉ, chịu khó, tỉ mỉ và dũng cảm. Khi nói đến công tác chuẩn bị chiến trường, mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng ta đều có thể đóng góp được rất nhiều chuyện, rất nhiều bài học bổ ích để trao đổi học tập lẫn nhau.


Dưới đây, xin kể chuyện chuẩn bị chiến trường của đại đoàn chúng tôi trong chiến dịch Tây Bắc, mà tôi đã nói ở phần đầu cuốn sách.

Nghĩa Lộ là một trong 4 phân khu (Lai Châu, Thuận Châu, Nghĩa Lộ, Sơn La), thuộc khu quân sự độc lập ở vùng địch chiếm đóng Tây Bắc. Đây là chỗ mạnh nhất của địch ở Tây Bắc. Nó là "bức bình phong" che chở phòng tuyến sông Đà và là bàn đạp tấn công uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc. Đại đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ thọc sâu vào trong lòng địch, tiêu diệt hai cứ điểm Pú Chạng và Nghĩa Lộ, đồng thời tiêu diệt cứ điểm Cửa Nhì. Đó là yêu cầu chính của đợt mở màn chiến dịch.


Địa thế Nghĩa Lộ rất hiểm trở. Ngoài con đường độc đạo số 13, muốn tiến vào Nghla Lộ phải băng rằng, vượt núi hoặc dò theo những con đường ít vết chân người, đèo cao dốc đứng. Trên đường đi có nhiều chỗ rất hiểm: chi cần một vài người cũng có thể ngăn chặn nổi một cánh quân. Con đường ấy đã hạn chế rất lớn công tác tiếp tế vận tải. Lúc thường ngồi nghĩ tới con đường xa xôi heo hút ấy đã hình dung thấy gian khổ nhường nào rồi! Đầu mùa thu năm 1951, trong chiến dịch Lý Thường Kiệt, một đơn vị được lệnh vượt qua núi rừng hiểm trở tiến đánh Nghla Lộ. Lúc đang trên đường tiến quân đã bị bọn phản động, tay chân của giặt phát giác: mặt khác sự tiếp tế vận tải gặp khó khăn lớn nên đơn vị không đủ sức hoạt động lâu dài đành phải vượt núi lui quân.


Tôi được biết lúc này quân địch vẫn tự đắc coi Nghĩa Lộ là nơi "bất khả xâm phạm!”. Chúng càng ra sức củng cố, tăng cường càn quét, đánh phá cơ sở của ta, tung gián điệp biệt kích hoạt động trên dọc đường và các bản hẻo lánh rẻo cao và đặt chông, mìn trên các đường ta có thể đi qua. Muốn tiến vào Nghĩa Lộ, chúng ta phải vượt qua tiểu khu Ba Khe, Cửa Nhì, Gia Hội gồm một hệ thống cứ điểm tiền tiêu án ngữ mọi ngõ ngách hiểm yếu.


Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đại đoàn giao trách nhiệm cho tôi phụ trách một đoàn cán bộ, cùng anh em quân báo vượt qua các vị trí tiền tiêu của địch, đi chuẩn bị chiến trường. Để giữ bí mật, tránh bọn gián điệp biệt kích phát hiện, chúng tôi đã xuyên rừng vượt núi, tìm những con đường đi hẻo lánh nhất. Trên vai mỗi cán bộ phải đèo thêm một bao gạo đầy căng, ngoài ra còn mang đầy đủ chăn màn, quán áo, đồ dùng cá nhân và vũ khí, đạn dược.


Xuyên qua rừng rậm âm u, chúng tôi hết vượt đèo lại lội suối có ngày lội bì bõm 24 khúc suối liền. Hai bàn chân của tôi trắng nhợt, các ngón teo lại dăn dúm như quả mơ khô. Các kẽ ngón và dưới gan bàn chán nước ăn lỗ rỗ. Các đồng chí khác cũng thế, chân không giày không dép lại phải leo lên những mỏm đá nhọn đau buốt đến tận tim. Đồng chí Thái Dũng, trung đoàn trưởng trung đoàn X, mặc dầu chỉ còn một tay nhưng cũng nhất định đeo một bao gạo. Vượt qua nhùng mỏm núi cheo leo, đồng chí ngoắc tay vào cành cây, đu người qua.


Cách xa Nghĩa Lộ, chúng tôi đã phát hiện mìn của địch gài ở dọc đường mòn và cả hai bên rừng. Chúng tôi lại đi tắt rừng vòng đường khác. Mỗi lúe gặp gian nan, chúng tôi thường nhắc lại lời căn dặn của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để động viên nhau.


Đường đi đã khó, thỉnh thoảng trời lại đổ mưa. Quần áo chúng tôi ướt sũng lấm bê bết. Ngón chân, ống chân mỏi rời, vì phải luôn bấm chặt xương sườn núi chênh vênh, trơn tuột.


Khi tới suối Bản Tủ, nước lũ đổ về chảy xiết. Chúng tôi rất lo. Thời gian gấp, bộ đội đang chuẩn bị và sắp hành quân, không thể dừng lại ở đây chờ nước rút mới qua suối. Chúng tôi bàn trạc quyết định chặt nứa đóng mảng. Các đồng chí quân báo đề nghị sang trước xem sao đã. Mảng vừa xuống suối đã trôi đi băng băng. Các chiến sĩ ra sức chèo chống nhưng không sao ghìm nổi. Sóng trùm lên mảng, cuốn đi. Trên bờ, chúng tôi chạy dọc suối để tìm cách đón anh em, nhưng không thấy đâu nữa. Thì ra nước đã cuốn anh em trôi đi nấy ki-lô-mét. Những với tính gan góc và mưu trí, anh em quân báo đã bám vào cành cây, vật lộn với nước lũ, rồi băng rừng, và sáng hôm sau trở về với chúng tôi.


Vượt bằng mảng không thành công, chúng tôi bàn cách nối dây dù lại, một đồng chí cầm một đầu dây bơi sang trước buộc vào thân cây bên kia, để anh em bám vào dây lội sang. Vượt suối thành công, chúng tôi quên cả mệt nhọc, hăng hái đi suốt đêm. Có hôm chúng tôi lạc đường. Đi chuẩn bị chiến trường mà lạc đường thì vô cùng nguy hiểm, lỡ kế hoạch, lỡ thời gian, có khi lộ bí mật. Bộ đội đang hành quân theo sau, đến nơi mà cán bộ chưa chuẩn bị xong thì biết bao nhiêu khó khăn sẽ đến. May sao, gặp một thanh niên người địa phương, sau khi thử thách thăm dò, biết là người tốt, chúng tôi yêu cầu anh dẫn đường. Anh vui vẻ sẵn sàng giúp chúng tôi đi đến nơi.


Tới Nghĩa Lộ, chúng tôi vừa hết gạo, lại một mối lo nữa. Vì còn phải ở đây nghiên cứu một thời gian và còn phải trở lại đón bộ đội, lấy gì mà ăn?


Chúng tôi đang lo thì gặp một chiến sĩ quân báo của Bộ nằm sẵn trong phố Nghĩa Lộ ra đón. Biết rõ mỗi lo của chúng tôi, đồng chí về phố ngay, và đến chiều đem ra rừng cho chúng tôi khá nhiều gạo và một ít mắm tôm. Chúng tôi nấu cơm, nắm mỗi người một nắm to để ngày sau không phải nấu nướng, vừa để giữ bí mật, vừa đề phòng bất trắc. Mặt khác, chúng tôi thu xếp cho anh em ốm nặng nghỉ lại, tổ chức người bảo vệ, người chăm sóc chu đáo. Nhưng anh em ốm không nghe, đề nghị cán bộ cứ đi chuẩn bị chiến trường, còn anh em ốm ở lại sẽ tự bảo vệ, tự săn sóc nhau.

Men theo rừng Nghĩa Lộ, chúng tôi leo lên đỉnh một quả đồi để quan sát, Pú Chạng chính là nơi tôi và anh Nho gặp nhau sau khi vượt khỏi nhà tù Nghĩa Lộ (3-1945), nay là chỉ huy sở của tên quan tư Ti-ri-ông, chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ. Ban ngày nằm trên đỉnh một quả đồi nhìn sang đồi Pú Chạng, chúng tôi quan sát vị trí địch rất rõ. Ban đêm, chúng tôi vào gần hơn cán bộ đại đội, tiểu đoàn bò sát tận hàng rào của địch, nghiên cứu từng ụ súng, từng mô đất tìm nơi đặt từng khẩu súng máy... Nghiên cứu xong Pú Chạng, chúng tôi trở về phía bắc điều tra vị trí Nghĩa Lộ phố. Chúng tôi vào sát Nghĩa Lộ chừng bảy, tám trăm mét, nam trên đỉnh mỏm đồi nhìn xuống phố Nghĩa Lộ rõ mồn một. Đầu sân bay là trại giam, trước Cách mạng tháng Tám đế quốc Pháp đã nhốt chúng tôi ở đó Sân bay, xưa là vườn ổi, nơi tôi đã chôn mấy đồng chí ta bị chết vì bệnh sốt rét ác tính ở trong nhà giam. Vị trí địch đóng trên đồi cao hơn mặt ruộng khoảng 15 mét. Ở phía tây nam thị trấn chính là đồn lính canh phòng chúng tôi ngày trước. Ban ngày xem xét kỹ; ban đêm tuỳ từng cấp, từng cương vị, chúng tôi bò vào sát vị trí để xem xét cụ thể hơn nữa.


Tiện đây, tôi nói thêm một kinh nghiệm nhỏ nhưng rất cần thiết đối với công tác chuẩn bị chiến trường. Mặc dầu ban ngày quan sát địa hình, tình hình địch rõ rồi, nhưng vẫn phải nghiên cứu ban đêm, vào gần hơn nữa, cụ thể hơn nữa, nhận dạng địa hình địa vật để sau này vào chiếm linh ban đêm không bỡ ngỡ. Ngược lại, mặc dầu ban đêm nghiên cứu tỉ mỉ, vào gần rồi, nhưng phải tìm cách nghiên cứu ban ngày. Vì ban ngày nhìn được địa thế bao quát hơn, xác định rõ từng địa vật hơn, còn đêm tối nhìn hình thù địa vật mờ mờ, có khi xác định không đúng thực chất của nó. Nếu cán bộ đi chuẩn bị chiến trường chỉ ở xa dùng ống nhòm quan sát ban ngày, thì khi tiến vào chiến đấu ban đêm, "quân" lạc đường, "tướng" lạc đường, bộ binh, hỏa lực giẫm đạp vào nhau, địch một nơi đánh một nẻo, thậm chí đánh cả vào chỗ không có địch hoặc đánh quay trở lại hướng mình vừa xuất phát. v.v… Ngược lại, có trận đánh, cán bộ chỉ huy quan sát ban đêm nên không nắm được bao quát tình hình và xác định địa vật không đúng. Có đơn vị bố trí giơ cả sườn, quay cả lưng vào một mỏm đồi khác có địch bố trí, nhà lá thì cho là nhà gạch, nhà một tầng thì bảo là hai, hàng rào đơn thì bảo hàng rào kép... Tất cả những vấn đề cụ thể ấy đều có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của trận đánh.


Trở lại câu chuyện chuẩn bị chiến trường trong chiến dịch Tây Bắc. Như vậy, tính từ ngày rời tả ngạn sông Hồng chúng tôi đã đi gần một trăm ki-lô-mét xuyên rừng vượt núi và đi vòng quanh Nghĩa Lộ - một thung lũng chiều dài 15 ki-lô-mét, chiều ngang chỗ rộng nhất 6 ki-lô-mét, chỗ hẹp nhất cũng chừng 3 ki-lô-mét. Mưa gió rét buốt tận óc. Những cán bộ bị bệnh đau dạ dày như tôi và một vài đồng chí nữa thỉnh thoảng lại đau dữ dội. chống gậy đi cũng không vững. Chân chúng tôi toé máu tươi, rỗ tổ ong, cố cắn răng chịu đựng. Có mấy đồng chí vừa đau chân vừa sốt rét vẫn theo sát đoàn. Trong lúc khó khăn hiểm nghèo, cán bộ đại đoàn, trung đoàn và các cấp dưới rất thương yêu nhau, đùm bọc nhau như anh em ruột thịt vậy. Cho nên: nhiều lúc chúng tôi quên cả vất vả, ngơi một phút lại cùng nhau bàn bạc làm thế nào để chấp hành nhiệm vụ đạt kết quả tốt, chiến đấu thắng lợi.


Lúc trở ra, gần tới đèo Khau Vác, đuôi của dãy núi Phăng Xi Păng, chúng tôi gặp một tiểu đoàn cơ động của địch đóng chặn ở chân đèo. Chúng tôi bàn cách một là đi vòng đường khác, nhưng xa và lỡ kế hoạch tác chiến; hai là tản ra, phân tán đi qua các khe suối, nhưng dễ lạc lung tung, có khi đâm cả vào địch, chỉ một người bị địch bắt cũng nguy hiểm; ba là đi ngay dưới chân đèo sát khu vực địch đóng. Chúng tôi nhất trí cách thứ ba, vì đó là nhằm vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch. Ban đêm, chúng phải đóng gọn lại, canh gác thu lu một chỗ, không dám lùng sục ra xa. Mặt khác, chúng đang chủ quan cho là bộ đội chủ lực của ta không thể đến ngay đây được. Trường hợp nếu địch phát hiện được, anh em quán báo sẽ đánh kiềm chế để cán bộ vượt qua. Quả nhiên ban đêm chúng tôi đã vượt qua ngay trước mũi của địch rất êm thấm. Ra khỏi đèo Khau Vác, gạo ăn lại hết, chúng tôi tới các bản làng trên đỉnh núi xin ngô, may mắn đồng chí liên lạc đã đi với chúng tôi, quê hương ở vùng đó, đã dẫn chúng tôi về bản xin ngô và đem đi một ít dự trữ ở dọc đường.


Trong khi đó, ở bộ tư lệnh đại đoàn, đồng chí chính ủy Song Hào giúp tôi đôn đốc cơ quan tham mưu xúc tiến công tác chuẩn bị cho bộ đội, đồng chí Cao Văn Khánh, đại đoàn phó, lên Bộ nhận nhiệm vụ cụ thể. Các đồng chí ở nhà được tin địch đóng chặn đường, đang định cấp tốc đưa bộ đội đến phá vây thì chúng tôi đã về tới đơn vị.


Công tác chuẩn bị tư tưởng, chuẩn bị vật chất ở đơn vị đã làm đầy đủ công tác chuẩn bị chiến trường cũng đã hoàn thành, chúng tôi tạm coi như đã cầm chắc một phần chiến thắng.

Kết quả cụ thể của lần chiến đấu này, tôi xin kể vào một đoạn sau.

Qua những sự việc kể trên, bản thân tôi rút ra cho mình một bài học về tác phong chỉ huy là phải thật tỉ mỉ, cụ thể, bất kể việc to hay nhỏ, từ việc giáo dục và huấn luyện cho đến chiến đấu, nhất là chiến đấu. Tôi sẽ nói thêm ở phần sau: Phải "ý tới, chân đi tới, mắt nhìn tới", phải "miệng nói tay làm”.

QUYẾT TÂM, DỨT KHOÁT, RÕ RÀNG


Sau khi xem xét, suy nghĩ về địa hình, tình hình địch và tình hình ta, người chỉ huy hạ quyết tâm chiến đấu, ta thường gọi là lập phương án hoặc kế hoạch tác chiến.

Những căn cứ và nội dung hạ quyết tâm chiến đấu tôi không nói ở đây, mà chỉ nêu một số kinh nghiệm của bản thân về hạ quyết tâm.

Quyết tâm của người chỉ huy phải dứt khoát và mưu trí. Khi duyệt quyết tâm của cấp dưới cũng phải dứt khoát rõ ràng, có thái độ kiên quyết và tạo điều kiện giúp đỡ cấp dưới thực hiện quyết tâm.

Sau khi đã suy nghĩ kỹ, người chỉ huy không được do dự, mập mờ ý định, mà phải báo cáo quyết tâm dứt khoát, rõ ràng với cấp ủy để cấp ủy phê chuẩn. Có quyết tâm dứt khoát để toàn bộ công tác lãnh đạo, giáo dục chính trị hướng vào đó, toàn bộ công tác tổ chức, chuẩn bị hướng vào đó, toàn bộ công tác đảm bảo vật chất hướng vào đó. Có quyết tâm dứt khoát để mọi người tích cực thực hiện cho bằng được quyết tâm ấy. Song song với quyết tâm chính, người chỉ huy cần có dự kiến các tình huống khác để chuẩn bị ứng phó, tránh bị động, lúng túng.


Trong công Lác, tôi đã gạp một số Lrùòng hợp. Trong đó tôi thấy quyết tâm của cán bộ chỉ huy không dứt khoát. rõ ràng. Một cán bộ nhận nhiệm vụ đánh vị trì địch. Đồng chí trao nhiệm vụ cho một đơn vị tiêu diệt một trong hai cứ điểm; còn đơn vị kia bố trí ở khoảng giữa hai cứ điểm, với ý định khì đơn vị đánh gặp khó khăn, đơn vị này sẽ vận động tới tăng cường cùng giải quyết cho xong; hoặc nếu địch tiếp viện thì đánh viện; nếu địch không tiếp viện, có thời cơ thì đánh luôn cứ điểm thứ hai.

Tôi hỏi:

-Tại sao không bố trí đội hình thành thế trận hẳn hoi, kiên quyết tiêu diệt một cứ điểm, sau đó tập trung tiêu diệt nốt cứ điểm kia?

Đồng chí trả lời:

-Tất cả đánh một cứ điểm có thể sẽ thừa, lực lượng không sử dụng hết, vả lại đã tập trung nhiều pháo, cối vào đấy rồi!

Tôi bảo:

-Nếu đủ sức thì đồng thời tấn công cả hai cứ điểm trong một đêm.

Đồng chí lắc đầu, sợ không đủ sức.

Tôi bảo:

- Vậy thì phải bố trí làm sao tạo thời cơ tiêu diệt quân địch ở nơi khác viện đến.

Đồng chí đáp:

- Chưa chắc địch viện đã đến.


Theo tôi, nếu cứ giữ quyết tâm ấy thì có khi đánh điểm không xong, đánh viện cũng chẳng được, và cấp dưới rất khó chấp hành nhiệm vụ. Có đủ cơ sở rồi mà người chỉ huy hạ quyết tâm như thế là quyết tâm mập mờ, không rõ ràng. Nhưng khi chưa có đủ cơ sở mà người chỉ huy đã vội hạ quyết tâm cũng là sai lầm.


Bất cứ một tình huống nào, người chỉ huy cũng cần suy nghĩ thật chín chắn, tìm mọi cách để hạ quyết tâm dứt khoát, rõ ràng, đồng thời dự kiến những tình huống khác để sẵn sàng ứng phó, chưa có thời cơ phải tạo ra thời cơ. chưa đủ điều kiện phải tạo ra điều kiện, chỉ có như thế mới giữ được thế chủ động và tạo điều kiện cho mình nắm được quyền chủ động. Đó là tiền đề tạo ra chiến thắng.


Lại một trường hợp khác mà theo ý kiến tôi cũng là quyết tâm không rõ ràng. Một đơn vị nhận nhiệm vụ tạo thời cơ để tiêu diệt địch ở ngoài công sự. Đơn vị giao cho bộ đội địa phương tấn công tiêu diệt một cứ điểm, còn toàn đơn vị tập trung vào nhiệm vụ danh địch ngoài công sự.


Theo tình hình cụ thể, địch có thể từ 3 hướng tiếp viện tới. Đơn vị hạ quyết tâm bố trí ở đoạn giữa để có thể đánh địch từ 3 hướng và có 3 phương án tác chiến 1, 2, 3 (phương án 1 có nhiều khả năng nhất). Dự kiến nhiều tình huống và đặt nhiều phương án tác chiến, như thế là cần thiết và phải làm. Nhưng bố trí lực lượng cụ thể thì lại không dứt khoát rõ ràng, quyết tâm còn mập mờ, do dự. Lực lượng bố trí ở đoạn rất chênh vênh, ngay với phương án 1 có đơn vị phải vận động 6 ki-lô-mét trên địa hình trống trải; đối với phương án 2 có đơn vị phải vận động 8 đến 10 ki-lô-mét cũng trên địa hình trống trải... Xem ra không có phương án nào là phương án "chắc ăn” cả, phương án nào cũng bấp bênh có thể thế này, có thể thế khác. Đáng lẽ, sau khi dự kiến tỉ mỉ về địch, người chỉ huy chọn lấy một phương án theo tình huống có thể xảy ra nhiều nhất và chắc thắng nhất để làm quyết tâm cơ bản, tạo mọi thời cơ nghi binh, dụ dịch, lôi kéo địch để buộc địch phải hành động theo ý muốn của mình; tập trung mọi điều kiện khả năng tổ chức, công tác bảo đảm, v.v. để kiên quyết đánh thắng địch theo phương án nào đó. Muốn vậy, phải tổ chức lực lượng ngăn chặn địch ở phía này, bao vây kiềm chế địch ở hướng kia, bố trí quân thích hợp với địa hình...


Đồng thời, người chỉ huy phải dự kiến những tình huống khác có thể xảy ra, có kế hoạch ứng phó đầy đủ, để khi quyết tâm cơ ban thay dối cũng không bị động, lúng túng. Nhưng không vì đó mà do dự với quyết tâm cơ bản, đi đến lững lờ về bố trí quân, mập mờ và nhập nhằng về tư tưởng. Nếu không kiên quyết tập trung "dứt diềm" từng nơi mà chỗ nào cũng muốn có quân, có hỏa lực, chỗ nào cũng muốn đánh mạnh ngay thì cuối cùng chỗ nào cũng yếu, chỗ nào đánh cũng lem nhem, nham nhở. Như vậy khó mà giành được thắng lợi toàn vẹn.


Một yêu cầu khác đối với người chỉ huy là khi hạ quyết tâm phải chịu khó suy nghĩ, tìm mưu này kế khác để đánh được địch. Tôi nghĩ: "Đánh giặc phải mưu mẹo, nếu đánh theo lối thật thà, chất phác hoặc ngây ngô, khờ dại thì không những khó thắng mà có khi còn bị tổn thất nặng". Ta và địch ở trên chiến trường luôn luôn tìm mọi cách tiêu diệt lẫn nhau. Bản chất của kẻ thù là ngoan cố, xảo quyệt và tàn bạo. Muốn thắng địch, người chỉ huy phải tinh khôn vạch ra những kế hoạch hết sức mưu mẹo. Đặc biệt trong tình hình kẻ địch đông hơn ta hoặc mạnh hơn ta về vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại thì kế hoạch tác chiến của người chỉ huy lại càng phải mưu mẹo: khéo nghi binh đánh lừa địch, làm chođịch không thê phán đoán được ý định tác chiến của ta, làm cho chúng luôn luôn bị động, đánh hụt, vấp đau.


Vừa rồi, có một cán bộ đến gặp tôi, đề nghị tôi truyền đạt một vài "miếng võ hiểm” của người chỉ huy. Tôi định trao đổi với đồng chí ấy về vấn đề người chỉ huy đánh giặc phải mưu mẹo. Nhưng đó lại là việc mà đồng chí đã từng làm. Tôi được biết đồng chí đã chỉ huy rất dũng cảm, linh hoạt một đơn vị thuộc đại đoàn hoạt động trong lòng địch ở đồng bằng. Có khi ở giữa vòng vây của mấy binh đoàn cơ động của địch nhưng đơn vị đồng chí không những không bị tiêu hao mà còn giáng cho địch những đòn đau điếng. Đồng chí đã nghi binh chỗ này, quấy rối chỗ kia, để rồi tập trung lực lượng đập những đòn quyết định vào chỗ khác: khiến cho kẻ địch đang từ chủ động đi tấn công càn quét trở thành bị động đối phó cuống cuồng. Ngay chỉ trong một trận đánh vị trí địch có công sự vững chắc hay một trận tập kích, đồng chí cũng nghĩ mưu này mẹo khác, chứ không tự trói buộc mình vào sách vở mẫu mực một cách cứng đờ. Có trận tập kích, nếu so sánh về số lượng, ta ít hơn địch về quân số, vũ khí và cả về địa thế cũng không lợi bằng địch; ngoài ra kẻ địch có thể tiếp viện từ 2, 3 hướng đến ứng cứu và pháo binh 2, 3 nơi có thể bắn tới xung quanh mục tiêu. Mặc dầu chiến đấu trong điều kiện khó khăn như vậy, đồng chí vẫn tập trung được ưu thế về hỏa lực, xung lực ở đoạn "hiểm yếu nhất, ở thời cơ bất ngờ nhất, trong một thời gian nhất định", thọc được vào giữa đội hình địch, ngay từ đầu đã tiêu diệt sở chỉ huy, trận địa pháo của chúng và từ đó tỏa ra tiêu diệt toàn bộ quân đích. Khi lui quân đồng chí lại khéo nghi binh làm địch bị mắc lừa đánh nhầm vào nhau. Trận đánh thắng lợi rất đẹp.

Tôi không kể kinh nghiệm của tôi, mà chỉ gợi lại một vài trận đánh trên và kết luận đó chính là một trong những "bí quyết" của người chỉ huy.

Có lần tôi đến thăm một làng chiến đấu. Để giữ con đường vào làng, các đồng chí ở đây bố trí một khẩu súng máy ở ngay cổng chính, giữa làng đắp một lô cốt cao có ba lỗ châu mai. Thoáng xem cũng thấy bố trí khẩu súng máy như vậy thật thà, chân phương quá! Xây đắp lô cốt như vậy có vẻ ngây thơ, khờ dại quá! Nói cho đúng thì đó là không mưu mẹo, chưa quán triệt sâu sắc tư tưởng, quan điểm về cách đánh của ta. Đánh giặc theo kiểu vỗ ngực, khoa dao “bớ ta đây” như thế thì có khi chưa bắn được giặc, giặc đã diệt mình, hoặc có khi vừa nổ súng bắn được vài phát đã bị kẻ địch bắn trả lại làm ta tê liệt ngay. Dù những ụ súng to như đống rơm ấy có bằng xi măng cốt sắt, kẻ địch -bắn súng này chưa sập thì dùng súng khác, phát trước không đổ thì phát sau, mãi cũng đổ.


Ta đã ít súng, tính năng vũ khí của ta có lúc lại kém hơn của địch mà bày ra như "bày hàng xén" thì nhất định chả mấy chốc "khánh kiệt gia tài". Vì súng ta chưa bắn tới địch, thì súng địch đã bắn tới ta. Vì ta có ít, địch có nhiều, ta bị hỏng một là thiệt thòi rất lớn, địch hỏng hai ba vẫn chưa ảnh hưởng lắm. Chính vì lẽ đó mà người chỉ huy càng phải suy nghĩ tìm mưu kế diệt địch. Có trường hợp cụ thể nào đó, ta có lực lượng nhiều hơn địch, tập trung vũ khí mạnh hơn địch, nhưng nếu người chỉ huy đánh giặc theo kiểu "vỗ ngực ta đây", ỷ lại vào vũ khí, ỷ lại vào quân đông, đánh giặc không theo đúng cách đánh của ta, không linh hoạt, mưu mẹo thì không những không thắng được địch mà có khi còn bị tổn thất nặng nề.


Làng mạc và núi rừng Việt Nam ta có nhiều địa hình địa vật phức tạp, hiểm hóc. Nếu người chỉ huy chịu khó tìm tòi suy nghĩ thì trong chiến đấu bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện nào cũng có thể tạo thành thế bí mật, bất ngờ. Bí mật, bất ngờ có sức mạnh không gì sánh nổi. Có quyết tâm, mưu mẹo thì ta nhìn thấy địch mà địch không nhìn thấy ta; ta bắn được địch mà địch khó bắn được ta; ta ít súng, tính năng vũ khí của ta thộp hơn địch nhưng uy lực sát thương địch lại rất lớn, v.v. Làm được như thế, kẻ địch mạnh mấy rồi cũng trở thành yếu, ngoan cố mấy cũng phải thua.


Năm 1946, chiến đấu với địch ở Thủ đô, bộ đội ta đã dùng nhiều mưu đánh giặc. Ta đóng ở Bắc Bộ phủ, địch ở khách sạn Mê-tơ-rô-pôn (khách sạn Thống Nhất bây giờ). Để bất ngờ tiêu diệt địch, ta đã đào một con đường ngầm dưới mặt đường sang tới dưới nền nhà khách sạn và đặt một quả bom 250kg. Địch hoàn toàn không biết. Ở nhiều nơi khác, ta cũng làm như vậy. Hồi đó, lực lượng của ta còn ít. Chiều tối, Bộ chỉ huy mặt trận huy động hàng ngàn dân quân tự vệ ngoại thành rầm rập kéo vào Hà Nội, nửa đêm và sáng lại phân tán đi ra. Giặc Pháp tưởng lầm là ta huy động hơn bốn vạn quân về bảo vệ Thủ đô. Khi tác chiến, để làm tròn một trong ba nhiệm vụ là "giam chân giặc ở Hà Nội một thời gian...", chúng ta không đánh theo kiểu chia ba tuyến: các cửa ô - Giáp Bát, Đuôi Cá - Hà Đông để bao vây địch như ý kiến của một sĩ quan Nhật tham gia. Chúng ta đã táo bạo cho tiểu đoàn 101 bố trí ở lại trong Liên khu I, và 4 tiểu đoàn bám ở các cửa ô, thực hiện thuật "trùng độc chiến". Địch quay vào đánh Liên khu I thì 4 tiểu đoàn ở bên ngoài đánh vào sau lưng. địch quay ra đánh về hậu phương, tiểu đoàn 101 lại đánh sau dưng chúng, tạo thành thế giàng co lôi kéo địch. Chính vì vậy địch đã mắc mưu ta.


Người chỉ huy còn có nhiệm vụ nữa là duyệt quyết tâm của cấp dưới. Vấn đề này rất quan trọng. Nhưng tôi chỉ nêu một kinh nghiệm mà tôi thường gặp và giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Khi duyệt quyết tâm của cấp dưới sau khi suy nghĩ chín chắn, xem xét, đối chiếu với chủ trương, kế hoạch chung, đối chiếu với quan điểm tư tưởng quân sự của Đảng vận dụng vào thực tiễn, người chỉ huy thấy chỗ nào đồng ý thì nói rõ là đồng ý, chỗ nào không đồng ý nói rõ là không đồng ý, thấy đúng cũng phân tích sâu thêm để cấp dưới tin tưởng vào quyết tâm của mình, thấy sai cần sửa như thế nào phải nói rõ. Tóm lại, duyệt quyết tâm của cấp dưới phải dứt khoát, kiên quyết, tuyệt đối không nể nang, do dự. Nể nang, do dự sau này sẽ hối không kịp. Khi quyết định cấp dưới sửa quyết tâm, cấp trên eần nghiên cứu xem khả năng sửa tới mức độ nào, tạo điều kiện cho cấp dưới thi hành.


Trong công tác, tiếp xúc với đồng chí Bộ trưởng Bộ quốc phòng, đồng chí Tổng tham mưu trưởng, tôi đã học tập được điều này. Khi duyệt quyết tâm hoặc ra mệnh lệnh, chỉ thị cho cấp dưới, đồng chí nói rõ ràng, dứt khoát và thái độ rất kiên quyết Thái độ của đồng chí đã giúp chúng tôi phấn khởi, tin ở mình, tin ở trên và kiên quyết làm tròn nhiệm vụ.


Trong kháng chiến chống Pháp có lần duyệt quyết tâm tác chiến của một trung đoàn, tôi phân vân không đồng ý hướng đột phá chủ yếu của đơn vị. Tôi muốn chuyển hướng đột phá chủ yếu tới phía núi cao để đánh xuống. Nhưng đơn vị nêu khó khăn về đường sá xa, thời gian gấp, v.v. cộng với một phần tư tưởng chủ quan của mình, nên tôi đã đồng ý với quyết tâm đó. Đồng ý rồi, nhưng trong bụng vẫn phấp phỏng, băn khoăn. Quả nhiên, khi tác chiến gặp nhiều khó khăn... Lúc này nghĩ lại thì đã muộn. Bài học ấy làm cho tôi nhớ rất lâu Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi cũng gặp lại một tình huống gần giống như vậy. Tôi không đồng ý với quyết tâm của một tiểu đoàn trưởng. Đồng chí chính ủy đại đoàn và cơ quan tham mưu cũng nhất trí với tôi. Nhưng tiểu đoàn trưởng cứ vin lý do này, lý do khác để khỏi phải thay đổi cách đánh. Vì thời gian chiến đấu có hạn, buộc tôi phải ra mệnh lệnh để cấp dưới chấp hành ngay. Thấy tiểu đoàn trưởng nêu nhiều khó khăn, tôi cũng phải suy nghĩ... Tôi quyết định cùng tiểu đoàn trưởng đi xem xét thực địa, nghiên cứu địch và địa hình. Qua nghiên cứu thực tế, tôi càng thấy rõ quyết tâm của tiểu đoàn trưởng không được chính xác. Tôi ra lệnh cho tiểu đoàn trưởng dứt khoát phải sửa đổi quyết tâm, không được một mảy may trù trừ do dự. Tất nhiên, tiểu đoàn trưởng cũng khó chịu, nhưng dần dần và đến lúc bước vào chiến đấu thì tiểu đoàn trưởng đã rõ vấn đề hơn.

Quyết tâm phải dứt khoát, kiên quyết. Duyệt quyết tâm cũng phải dứt khoát, kiên quyết. Đó cũng là bài học sâu sắc đối với tôi.

PHẢI “Ý TỚI, CHÂN ĐI TỚI, MẮT NHÌN TỚI”, PHẢI "MIỆNG NÓI, TAY LÀM”


QuyếT tâm của người chỉ huy phải biến thành quyết tâm của quần chúng và thể hiện bằng hành động thực tế, nếu không, quyết tâm đó mới chỉ là ý muốn chủ quan của người chỉ huy. Có quyết tâm đúng là một vấn đề rất quan trọng, nhưng chưa đủ, nếu quyết tâm ấy không được quán triệt tới chiến sĩ, tới các bộ phận thì cũng bằng không, cũng chỉ là quyết tâm của hội nghị, của giấy tờ văn bản mà thôi. Như trong chiến dịch Biên Giới, sau khi đã tiêu diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Cốc Xá và binh đoàn Sác-tông ở dãy núi 477, bộ đội ta đang quét tàn binh, thì binh đoàn Đờ La-bôm ở Thất Khê lên cứu viện cho Lơ-pa-giơ và Sác-tông. Khi binh đoàn này tới quả đồi 500, thì đại đoàn hạ quyết tâm để lại một bộ phận quét tàn binh, còn tập trung lực lượng của đại đoàn tiêu diệt cánh quân của binh đoàn Đờ La-bôm, và điện cho trung đoàn V phối hợp đánh ngược từ phía nam lên đồi 500, tạo thành 2 mũi đánh kẹp địch. Nhưng ý định đó mời chỉ truyền đạt cho đồng chí đại đoàn phó, còn với các trung đoàn trong đại đoàn thì lệnh chưa đến kịp, hơn nữa trung đoàn V không nhận được điện. Trận đánh diệt binh đoàn Đờ La-bôm không thực hiện được. Như vậy ta thấy rằng, tuy chủ trương táo bạo, hay, nhưng cấp dưới chưa biết thì chủ trương đó vẫn còn nằm trong ý nghĩ của người chỉ huy, không biến thành hành động thực tế của đại đoàn.


Do đó, người chỉ huy phải biết tổ chức quán triệt quyết tâm, chỉ thị, nghị quyết của đảng ủy tới tận chiến sĩ và các bộ phận phục vụ chiến đấu. Người chỉ huy vận dụng cơ quan chỉ huy, vận dụng các tổ chức quần chúng, bằng mệnh lệnh, bằng huấn luyện, bằng công tác chính trị, v.v. tìm mọi cách làm cho mọi người quán triệt quyết tâm. Cần phải có hàng loạt biện pháp cụ thể để biến quyết tâm ấy trở thành thực tế.


Ngoài những công việc đó, người chỉ huy phải trực tiếp theo dõi, kiểm tra sự quán triệt quyết tâm của cấp dưới. Tin tưởng ở cơ quan, nghe cơ quan báo cáo là cần thiết, nhưng trực tiếp theo dõi, trực tiếp kiểm tra lại càng không thể thiếu được với trách nhiệm cao nhất của người chỉ huy. Mỗi người chúng ta ngồi nghĩ lại quá khứ, chắc rằng người nào cũng đã vấp váp, vì thiếu kiểm tra tỉ mỉ mà gặp khó khăn lớn trong chiến đấu. Một thiếu sót nhỏ trong chuẩn bị có thể trở thành một tai họa vô cùng lớn khi giáp chiến với kẻ thù. Thí dụ: Chuẩn bị bộc phá hoặc phương tiện mở cửa không chu đáo, khi chiến đấu bộc phá không nổ, hỏa lực của địch bắn ra dữ dội, chiến sĩ, cán bộ phải chạy lên chạy xuống để giải quyết khó khăn đó thì nguy hiểm biết chừng nào; còn có trường hợp đang chiến đấu lại hết bộc phá, hết phương tiện mở cửa, bộ đội phải nằm cả ngoài hàng rào thì gay go nguy hiểm biết bao nhiêu. Ấy là chưa nói đến các trường hợp sử dụng binh khí kỹ thuật hiện đại. Quyết tâm tác chiến hay, nhưng sức chiến đấu của bộ đội có hạn, thậm chí súng bắn không nổ hoặc không bắn được thì quyết tâm hay ấy cũng chẳng có giá trị gì. Chỉ thị, nghị quyết về đánh tiêu diệt, bao vây chia cắt địch đã có, nhưng đơn vị dưới hiểu không đến nơi đến chốn, làm sai, làm tắc trách, thì địch sẽ chạy mất hoặc cụm lại ta không diệt được có khi ta còn bị tổn thất. Bố trí quân không đúng ý định chiến thuật, không tỉ mỉ sẽ dễ gây rối ren đội hình chiến đấu. Đã có trận nòng pháo đi một đằng, phương tiện bắn đi một nẻo, đạn để phía sau; khi cần đến thì pháo có nòng không có phương tiện bắn, có pháo không có đạn. Có trận tổ diệt tăng ở cuối đội hình, khi gặp xe tăng địch thì tìm mãi và điều mãi mới lên được; khi tổ diệt tăng lên được thì lực lượng của mũi dao nhọn đã bị sứt mẻ mất rồi, thế là trận đánh không thành. Do đó, yêu cầu người chỉ huy phải kiểm tra, phát hiện và uốn nắn, sửa chữa ngay cho cấp dưới.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, quy định đào hào giao thông trục để làm đường vận chuyển bộ đội, thương binh, khiêng pháo, v.v. đáy rộng 1,20 mét, miệng 1,40 mét, trên mặt phải đan lưới hoặc giàn nứa nguỵ trang. Tôi nhận được báo cáo của trung đoàn là đã làm xong và tốt, nguỵ trang đầy đủ. Tôi hỏi lại mấy lần đơn vị đều trả lời như vậy. Theo thói quen, tôi lại xuống kiểm tra tại chỗ. Tôi đi trước, đồng chí trung đoàn trưởng đi sau, thỉnh thoảng chúng tôi bị những dây lưới nguỵ trang, hoặc những cây nứa ngáng ngang vào ngực vào cổ, phải gỡ mất mấy phút. Tôi bảo đồng chí trung đoàn trưởng:

- Ngụy trang thì có, nhưng để sụt từng mảng chắn ngang đường như thế sẽ cản trở bộ đội đi lại. Nếu cáng thương binh, khiêng pháo nửa, có lẽ nửa ngày mới đi được một ki-lô-mét, đội hình ùn lại, bị máy bay, pháo binh oanh tạc làm sao tránh khỏi tổn thất?

Chúng tôi tiếp tục đi. Tôi cầm thanh nứa dài 1,40 mét đặt ngang miệng hào, thinh thoảng bị mắc nghẽn, nếu đo tỉ mỉ có chỗ chỉ rộng một mét, thế nhưng vẫn báo cáo là 1,40 mét. Hôm đi kiểm tra gặp trời mưa nên đáy hào bùn nước lầy lội, trơn nhầy nhụa rất khó đi. Tôi bảo đồng chí trung đoàn trưởng: Nếu bốn người khiêng gặp đoạn hẹp như thế thì gay go lắm, đi người không, tránh nhau đã chật chội rồi.


Sau cuộc kiểm tra, tôi chỉ thị: "Ngay trong đêm phải sửa xong đúng như quy định". Đơn vị chấp hành tốt chỉ thị đó, cho nên khi tác chiến đã tránh được nhiều khó khăn trên đường cơ động.


Một đơn vị khác làm nhiệm vụ đào trận địa cắt sân bay Mường Thanh. Qua một thời gian đào, tôi nhận được báo cáo còn cách cây cụt 300 mét. Tôi ra lệnh tiếp tục đào. Đêm nữa tôi vẫn nhận được báo cáo “cách cây cụt 300 mét", và qua một đêm nữa vẫn nhận được báo cáo như thế. Kỳ lạ! Đào mãi mà không nhích được một mét nào, thật là vô lý. Tôi cùng trung đoàn trưởng sục ra tận nơi xem sao.


Thì ra, những đêm trước còn xa cây cụt, cán bộ ước lượng báo cáo là còn cách 300 mét, hôm sau đào vào nhiều nhưng vẫn còn xa, đành nhắc lại con số 300 và hôm sau nữa cũng vậy. Để sửa chữa tác phong đại khái ấy và tìm ra khoảng cách cụ thể, tôi đã cho nối dây dù lại, lấy một người giữ đầu dây và một người bò vào tận gốc cây cụt để đo thì kết quả đúng nhất vẫn không phải là con số 300 mà còn xa hơn nhiều.


Nếu không tìm ra con số chính xác, khi địch phản kích chiếm trận địa của ta, lấy cây cụt làm vật chuẩn yêu cầu pháo binh ta bắn chi viện, hoặc lấy thước ngắm các cỡ hỏa lực với con số sai lệch trên chắc chắn sẽ hạn chế hiệu quả rất lớn. Nếu hàng rào dây thép gai hoặc lô cốt địch bắt đầu từ gốc cây cụt cự ly xa báo cáo là gần, cấp trên ra lệnh tấn công hoặc xung phong thì nguy hiểm càng gấp bội.


Trên đây, tôi chỉ kể một kinh nghiệm cụ thể. Điều quan trọng trong khi kiểm tra, người chỉ huy cần xem cấp dưới có quán triệt mục đích, ý nghĩa của sự việc không, quán triệt phương châm. nhiệm vụ tới mức nào. Cần đề phòng trường hợp do cấp dưới ham đánh hoặc dao động đã hành động sai chủ trương, hoặc có trường hợp do quán triệt tư tưởng quân sự của Đảng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của quân đội chưa sâu sắc mà đề ra kế hoạch tác chiến lệch lạc về nguyên tắc, quan điểm.


Tóm lại, tổ chức quán triệt quyết tâm và kiểm tra việc tổ chức thực hiện quyết tâm là vấn đề hết sức quan trọng. Người chỉ huy phải trực tiếp làm và nắm kết quả cụ thể, chính xác thì chỉ huy mới yên tâm, tác chiến mới thắng lợi toàn vẹn.


Mặt khác, có quyết tâm chính xác nhưng phải luôn luôn được sự bồi dưỡng quyết tâm của đồng cấp, nhất là các đồng chí chính ủy, chính trị viên, của cấp phó và cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần... Thành tích, công lao là của tập thể, quyết tâm của người chỉ huy phải được mọi người ủng hộ và tích cực giúp đỡ về mọi mặt, bổ sung những điểm cụ thể mà quyết tâm ban đầu chưa được đầy đủ, giúp cho quyết tâm càng được củng cố. Nếu không được mọi người bồi dưỡng và củng cố quyết tâm thì chỉ một cái lắc đầu của những người bên cạnh cũng đủ làm cho người chỉ huy phải suy nghĩ, đấu tranh tư tưởng và có khi quyết tâm bị dao động.

TÁO BẠO


Trong chiến đấu có lúc người chỉ huy phải hạ quyết tâm táo bạo mới giành được thắng lợi. Táo bạo mà thắng lợi là vì có trường hợp phải chuẩn bị rất chu đáo, nhưng cũng có trường hợp do chộp được thời cơ có lợi, tạo được bất ngờ, thế mạnh khuyển thành lực mạnh. Như vậy, có trường hợp dùng lực nhỏ hoặc vừa mà vẫn giành thắng lợi lớn.

Sau đây, tôi kể vắn tắt hai trận đánh của một đơn vị để chúng ta cùng nhau tham khảo.

Năm 1952, trung đoàn 3 cùng với các đơn vị bạn đang bao vây thị xã Hoà Bình. Pháo binh ta hàng ngày bắn phá sân bay của địch, không cho máy bay của chúng lên xuống tiếp tế. Để phá vây, pháo binh địch điên cuồng bắn phá liên tục vào bộ đội và trận địa pháo của ta, gây cho ta một số khó khăn.


Trận địa pháo của địch ở một khoảng trống cách sân bay khoảng 5 ki-lô-mét, có hai đại đội bộ binh bảo vệ chiếm giữ địa hình hai bên, cách nhau khoảng 1.500 mét. Để tạo điều kiện cho quân ta bao vây tiêu diệt địch thuận lợi, trung đoàn 3 nhận nhiệm vụ tổ chức một trận đánh tiêu diệt trận địa pháo đó. Thời gian này, các đại đoàn chủ lực của ta chưa có tổ chức bộ đội đặc công, nhưng mọi người đều nhận thấy phải dùng lực lượng ít, nhưng tinh nhuệ để tiêu diệt địch. Trung đoàn đã chọn lọc một số cán bộ, chiến sĩ trong đại đội bộ binh 41, là một đơn vị có truyền thống chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc và sáng tạo. Cán bộ chiến sĩ đoàn kết nhất trí, kỷ luật nghiêm, có tác phong chiến đấu xông xáo, táo bạo, đồng thời cũng là một đơn vị có trình độ kỹ thuật, chiến thuật tốt. Đại đội rất phấn khởi nhận được thư động viên của đồng chí Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đồng chí căn dặn: "Phải giữ bí mật, đánh bất ngờ và dũng cảm..." Qua kinh nghiệm thực tế, chúng tôi đều nhất trì, muốn đánh thắng trận này phải chuẩn bị mọi mặt thật chu đáo. Quyết tâm giành thắng lợi của anh em rất cao, nhưng phải eo cơ sở vật chất thực tế để giành thắng lợi. Việc đầu tiên là phải nắm địch thật chắc, thật cụ thể. Cán bộ chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên đến tiểu đoàn ai chỉ huy trận này đều trực tiếp đi trinh sát nắm địa hình và địch. Điểm nào nắm không chắc thì đi điều tra lại. Sau khi nắm chắc địch, anh em mở hội nghị quân sự dân chủ thảo luận rất kỹ cách đánh trên bàn cát, có khó khăn cùng bàn bạc, nhằm mục đích nhanh chóng tiêu diệt địch và không để một thương binh, tử sĩ ở lại trận địa. Đồng thời toàn đơn vị tiếp tục chuẩn bị làm thêm những trái "đề tô", làm những ngọn mác buộc lưỡi lê ở đầu vừa để chuẩn bị đánh giáp lá cà, vừa để sẵn sàng làm cáng, cùng với chăn chiên đeo chéo qua người và cuộn thừng vừa để trói tù binh. Anh em bó dép đi chân đất và trang bị rất gọn nhẹ, những gì phát ra ánh sáng, phát ra tiếng động đều được bọc kín và buộc cẩn thận. Trong quá trình luyện tập và chuẩn bị, thấy vấn đề gì chưa hợp lý lại bổ sung, niềm tin chắc thắng càng cao.


Sự chuẩn bị chu đáo ấy đã giúp cho trận đánh thuận lợi. Chập tối anh em xuất kích, nửa đêm tới nơi dàn quân xong và bắt đầu nổ súng. Quân địch hoàn toàn bị bất ngờ, tên quan ba Pháp bị bắt sống trong lúc đang mặc quần áo ngủ, mắt nhắm mắt mở tưởng rằng quân lính đánh lộn nhau. Cùng lúc đó, tiểu đoàn 80 và 84 cũng tiêu diệt xong 2 đại đội địch bảo vệ ở hai bên, phía trước.


Như vậy chỉ trong mấy chục phút: toàn bộ trận địa pháo của địch đã bị tiêu diệt. Quân ta không thương vong một người nào. Đó là một trong những bài học dùng nhỏ thắng lớn, đánh táo bạo, nhưng được chuẩn bị chu đáo. Đây cũng là một bài học muốn đơn vị lớn đánh giỏi, nhất thiết phải rèn luyện cho phân đội nhỏ đánh giỏi.


Cũng đơn vị trên, trong chiến dịch Thu Đông năm 1952, tiến hành một trận đánh lớn, nhưng thời gian chuẩn bị chỉ có vài tiếng đồng hồ.

Sau 7 đến 8 ngày hành quân và tác chiến tiêu diệt xong quân địch ở Cửa Nhì, trung đoàn tiếp tục vận chuyển gạo hành quân tiến sâu vào Tây Bắc. Vừa lúc ấy, chúng tôi được cấp trên thông báo là địch dùng 5 GM1 (Chữ viết tắt của cụm từ tiếng Pháp: groupement mobile - một cụm chiến thuật gồm từ 2 đến 4 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng) đổ bộ lên Phú Thọ, Đoan Hùng tiến lên Yên Bái đánh vào hậu phương của ta. Trung đoàn được giao nhiệm vụ hành quân quặt trở lại, cùng với bộ đội địa phương đánh địch, do Bộ chỉ huy mặt trận ở đó chỉ huy.


Đang trên đà thắng lợi nô nức tiến quân vào Tây Bắc, nhưng được lệnh quay lại, sẵn một mềm tin ở cấp trên, trung đoàn đã chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm và phấn khởi.

Đồng chí trung đoàn trưởng dẫn cán bộ tham mưu tác chiến, trinh sát và các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng vượt lên bộ đội, đi trước để nghiên cứu chuẩn bị. Toàn trung đoàn còn lại do đồng chí chính ủy và trung đoàn phó chỉ huy hành quân theo sau.


Chiều hôm đó, địch đã rút khỏi Đoan Hùng, trung đoàn nhận nhiệm vụ đánh địch trên đường số 2. Ban đêm địch dừng lại ở Chân Mộng. có thể sáng mai tiếp tục đi về Năng Yên. Sau khi nhận nhiệm vụ, cán bộ các cấp của trung đoàn nhất trí ngay với ý định của trên, cần phải chộp ngay thời cơ bất ngờ này, mặc dầu cán bộ không có nhiều thời gian chuẩn bị, nhưng nhất định sẽ thắng lợi. Bộ đội hành quân đến gặp địch có thể đánh được ngay với tác phong chiến đấu táo bạo xông xáo sẵn có, với niềm tin tuyệt đối ở cấp trên, nhất nhất chấp hành mệnh lệnh, không phải động viên giải thích nhiều.


Đúng như vậy, anh em đi cấp tốc đuổi kịp bộ phận đi trước do trung đoàn trưởng phụ trách. Bộ đội phải dừng lại trong rừng chờ ở phía sau. Đoàn cán bộ đi trước gặp được một ông già đang đốt củi làm than. Ông giúp đỡ dẫn ra đường số 2 cho nhanh. Các cán bộ của trung đoàn đã đi nghiên cứu cụ thể địa hình trên đoạn đường sẽ đánh địch, từng vị trì bố trí của từng đơn vị chặn đầu, khoá đuôi, đồi diện và tập trung chủ lực chia cắt diệt địch, bố trí từng vị trí súng máy, từng vị trí cảnh giới, v.v. Sau mấy tiếng đồng hồ nghiên cứu, cán bộ đã quay lại dẫn bộ đội ra chiếm lĩnh trận địa hết sức lặng lẽ, bí mật, trật tự, đến mờ sáng thì mọi việc đều xong.


Hàng ngàn người hành quân ban đêm: đến một địa hình hoàn toàn mới lạ, chưa có thời gian xoá các dấu vết trên đường đi, nên không tránh khỏi có bộ phận để lộ bí mật.

Khoảng 7 giờ sáng, một đơn vị địch đi sục sạo phát hiện có vết chân trên ruộng lầy. Chúng sục vào, đơn vị đối diện trong đội hình chiến đấu lùi dần để giữ bí mật. Các tốp tuần tra, dò mìn của địch đã gặp nhau phối hợp sục sạo. Một chiến sĩ cảnh giới của tal chủ quan bị địch bất ngờ ập tới bắt sống. Chúng nghi ngờ đánh đập Hiến rất dã man, kéo xềnh xệch dọn đường, tra hỏi tìm hiểu lực lượng ta. Chiến sĩ có ý chí gang thép ấy đã cắn răng chịu đựng không hề nói một lời về lực lượng và vị trí bố trí của quân ta.


Tuy nhiên, địch vẫn nghi ngờ. Chúng bắn pháo suốt dọc ven rừng và hai bên đường. Mặt khác, các bộ phận tuần tra của địch vẫn sục vào rừng, vừa đi vừa hò hét, vừa bắn xả vào những chỗ nghi ngờ. Các đơn vị của ta đã lác đác có thương vong. Anh em cắn răng chịu đựng. Mặc dầu có chỗ quân địch đứng trước mũi súng của bộ đội ta chưa đầy chục mét, nhưng tất cả vẫn ép mình im lặng, tuyệt đối giữ bí mật chờ lệnh...


Địch tra tấn chiến sĩ cảnh giới của ta vẫn không lấy được một tin tức gì, sục sạo mãi vẫn không phát hiện được ta. Chúng bắt đầu chủ quan rầm rầm tiến quân. Một đoàn xe mấy chục chiếc có cả xe tăng, xe bọc thép ầm ầm vượt qua. .. Tiếp đó khoảng 400 - 500 quân đi bộ và khoảng 40 xe cơ giới nữa theo sau nghênh ngang lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn đầu xả súng ghìm chúng lại.


Chủ lực của trung đoàn từ trong rừng sâu vận động ra bất ngờ xông lên tiêu diệt bộ binh địch, chặt đoàn xe cơ giới của chúng ra từng khúc. Sau hơn hai tiếng đồng hồ chiến đấu quân ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt hàng trăm địch. xe pháo của địch bị bắn cháy ngổn ngang.


Đây là một trận đánh không những biểu hiện tinh thần chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc và sáng tạo, bộ đội giữ nghiêm kỷ luật chiến trường, gan dạ, kiên cường chịu đựng, mà còn là một trận đánh táo bạo do chớp được thời cơ, trên dưới tin nhau, hành động khẩn trương, bất ngờ, nên đã giành được thắng lợi lớn.

“ĐÃ ĐÁNH THÌ ĐÁNH ĐẾN CÙNG” “ĐÃ ĐỊNH KHÔNG ĐÁNH THÌ DỨT KHOÁT THÔI”



Mọi việc chuẩn bị chiến đấu đã xong, bộ đội xuất trận. Người chỉ huy phải luôn luôn kiên định quyết tâm, tỏ thái độ tin tưởng nhất định thắng, phấn khởi lạc quan nhưng không được coi thường địch. Khi đã quyết định đánh thì kiên quyết đánh đến cùng, tuyệt đối không một mảy may dao động.


Chiến dịch Quang Trung năm 1951, để hạ quyết tâm đánh vị trí Non Nước ngay trong đêm 29 tháng 5, bản thân tôi cũng trải qua một quá trình đấu tranh quyết liệt.


Quyết tâm đánh Non Nước đã có trong kế hoạch và đã chuẩn bị chu đáo. Nhưng đánh vào lúc nào là vấn đề cần phải suy nghĩ quyết đoán, vì tình hình phát triển phức tạp không thuận lợi xuôi chiều như dự kiến.


Sáng 24 tháng 5, cán bộ đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đi trước đến làng Xuân áng nghiên cứu tình hình và sơ bộ hạ quyết tâm trên bản đồ, chuẩn bị đi xem xét thực địa. trong đêm đó Ngày hôm sau, đảng ủy trung đoàn họp thông qua quyết tâm của trung đoàn trưởng trong lúc tình hình địch vẫn chưa có gì thay đổi. Nhưng sau đó có một đại đội lính thuỷ đánh bộ của địch tăng cường đến đóng ở nhà thờ thị xã. Muốn tiêu diệt Non Nước, ta phải bổ sung kế hoạch đánh nhà thờ. Trưa ngày 28 mới phổ biến kế hoạch này tới cán bộ tiểu đoàn và đại đội. Tin ở sức mình, đơn vị quyết tâm tiêu diệt gọn hai cứ điểm trong một đêm. Tiểu đoàn 79 nhận nhiệm vụ đánh địch ở nhà thờ phải tranh thủ phổ biến kế hoạch cho cán bộ, chiến sĩ ngay trong quá trình hành quân, 3 giờ 10 phút ngày 29 nổ súng, đến 3 giờ 43 phút ta tiêu diệt hoàn toàn đại đội lính thuỷ đánh bộ của địch. Tiểu đoàn 54 nhận nhiệm vụ đánh vị trí Non Nước, hành quân chiếm lĩnh gặp nhiều khó khăn, một bộ phận đi thuyền dọc sông Vân, một bộ phận đi đường bộ, cho nên khi tiểu đoàn 79 nổ súng, tiểu đoàn 54 vẫn thưa chiếm lĩnh xong trận địa. Sau khi tiêu diệt xong quân địch ở nhà thờ thì đã gần 4 giờ sáng. Tiểu đoàn 54 chiếm lĩnh xong, chỉ cán hơn một giờ đồng hồ nữa trời sáng hẳn. Lúc này có hai ý kiến, một là cứ đánh Non Nước, hai là cho lui quân để đêm sau sẽ đánh. Qua phân tích thấy rằng, nếu ta cứ đánh thì khó hoàn thành, giải quyết Non Nước không gọn trong đêm mà phải tiếp tục đánh ban ngày. Lần đầu tiên đơn vị đánh cứ điểm vững chắc ban ngày ở đồng bằng - một cứ điểm đột xuất, xung quanh là nhưng cánh đồng nước thuận lợi cho máy bay và pháo binh của địch hoạt động. Cánh Non Nước khoảng 200 mét có vị trí Cầu Cổ ở bờ sông bên kia chi viện. Non Nước còn có thể được viện binh từ Nam Định, Phát Diệm và cán vị trí lân cận tới. Hơn nữa đây là lần đầu đại đoàn đánh ở đồng bằng, để có nhiều thời gian ban đêm giải quyết trận địa, làm chủ chiến trường, chung tôi nhất trí cho tiểu đoàn 54 lui quân, tối hôm sau sẽ tiến vào đánh Non Nước. Quyết tâm này về sau đã tỏ ra là đúng đắn, nhưng để hạ được quyết tâm ấy cũng trải qua một quá trình suy nghĩ của bản thân và bàn bạc giữa mặt này mặt nọ với cán bộ các cấp.


Ngày hôm sau, tình hình lại biến đổi. Có tin địch cho một đại đội lính Âu đến chiếm đóng Hồi Hạc sát nách Non Nước và có tăng một số quân cho Non Nước. Lúc này đã có ý kiến do dự: nhưng nhiệm vụ của chiến dịch trao cho chỉ có một quyết tâm là đánh cbứ không thể có quyết tâm nào khác. Chúng tôi tính toán lực lượng, dự kiến thời gian chiếm lĩnh trận địa và thời gian tác chiến, tin ở sức chiến đấu của đơn vị nên vẫn giữ quyết tâm đánh Non Nước trong đêm 29. Ý kiến hoãn lại để đêm hôm sau sẽ đánh Non Nước vẫn có, một số đồng khí trình bày với nhiều lý do. Nhưng suy tính cho kỹ thì lùi lại nữa rõ ràng là không có lợi. Bố trí phòng ngự của địch ở Non Nước sẽ được củng cố vững chắc hơn. Viện binh của địch có thể được tăng thêm nữa để đánh phá cuộc chuẩn bị tấn công của ta. Chúng tôi tin tưởng rằng mặc dầu tiểu đoàn 54 ban ngày có tham gia đánh viện, nhưng còn sung sức đủ khả năng tiêu diệt Non Nước trong đêm. 23 giờ hôm đó, tiểu đoàn 54 bắt đầu nổ súng, đến 5 giờ sáng ngày 30 ta hoàn toàn tiêu diệt địch ở Non Nước.


Qua những tình huống trên, tôi đã rút ra bài học "quyết đoán” đối với người chỉ huy. Người chỉ huy sau khi suy nghĩ chín chắn những ý kiến đề nghị của cấp dưới, sự tham gia đóng góp của cơ quan thì bản thân mình phải có gan quyết đoán sự việc trước khi trình bày xin ý kiến của đảng ủy. Trước những tình huống thay đổi quan trọng trong chiến đấu người chỉ huy phải có gan quyết đoán, tuyệt đối không được lững lờ buông trôi, khoán trắng hoặc phó thác trách nhiệm cho dưới, cho đồng đội.

Trận Tu Vũ trong chiến dịch Hoà Bình tháng 12 năm 1951 cũng là một trong những bài học quyết đoán của người chỉ huy.

Cứ điểm Tu Vũ có 1 tiểu đoàn lính đánh thuế Ma-rốc, 1 xe tăng, 2 chiến xa xung kích, 1 ô tô bọc sắt... Để mở màn chiến dịch Hoà Bình, phá vỡ phòng tuyến sông Đà, mở đường tiến công vào thị xã Hoà Bình, tiêu diệt sinh lực địch. trung đoàn X của đại đoàn nhận nhiệm vụ tấn công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Tình hình cụ thể có nhiều khó khăn. yêu cầu mỗi cán bộ. chiến sĩ trong đơn vị phải có quyết tâm rất cao mới bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ. Để tiếp cận Tu Vũ, ngoài mấy con đường có sẵn đã bị lộ và một phía là sông, còn lại thì địa hình xung quanh đều trống trải và lầy lội. Tuy vậy, khó khăn về địa hình cũng không gây cản trở lớn. so với tình hình địch có nhiều phức tạp hơn.


Trước đây cán bộ trung đoàn thuộc đại đoàn bạn đi nghiên cứu chuẩn bị chiến trường bị địch phục kích, đã để mất dự án kế hoạch tác chiến khu nam Tu Vũ. Vì vậy địch đã đề phòng và tăng cường phòng ngự. Khi đại đoàn chúng tôi nhận nhiệm vụ đánh Tu Vũ thì bộ phận đi chuẩn bị chiến trường ngày 6 tháng 12 cũng bị địch phục kích bắt mất một người, có đồng chí hy sinh.


Chỉ còn vài ngày nữa, đại đoàn phải nổ súng tiêu diệt Tu Vũ, mở màn chiến dịch. Nhưng quân địch ở đây càng tăng cường tuần tiễu, thường xuyên ngày đêm cho một bộ phận ra phục kích trên đường ta có thể tiếp cận. Máy bay trinh sát và chiến đấu luôn bay trên vùng trời xung quanh Tu Vũ. Pháo binh địch bắn tập kích bất ngờ và bắn chặn những nơi ta có thể tiến quân, tập kết. Tình hình rất căng thẳng nhưng cán bộ các cấp vẫn ngày đêm bám sát vị trí địch. vào tận hàng rào dây thép gai, xem xét từng mô đất, nắm quy luật hoạt động, chỗ mạnh và chỗ yếu của địch. Trong những ngày chuẩn bị và trước giờ xuất kích, đơn vị đã dự kiến những khó khăn có thể xảy ra, những tình huống đột biến sẽ đến, động viên mọi người phải có quyết tâm rất cao, tinh thần khắc phục khó khăn rất lớn mời làm tròn nhiệm vụ. Tới ngày 10 tháng 12, bộ đội tiến vào chiếm lĩnh trận địa.


Quả nhiên, khi tiến vào chiến đấu, đơn vị đã gặp rất nhiều khó khăn. Hồi 7 giờ rưỡi tối, tiểu đoàn 80 và đơn vị súng cối 82 mi-li-mét đang trên đường vào chiếm lĩnh trận địa thì tổ sục sạo đi trước gặp địch phục kính, hai bên nổ súng, địch bỏ chạy. Từ chiều pháo địch bắn phá rải rác, nhưng sau khi gặp tổ sục sạo của ta, pháo địch càng bắn dữ dội hơn. Do đó, một số đơn vị lạc đường, tiến quân, bố trí chồng chéo vào nhau. Tiểu đoàn 29 và bộ phận chỉ huy của tiểu đoàn 23 lại gặp nhau ở sân bay đã đi cùng một đường nên lộn xộn. Đại đội 154 và một khẩu pháo bị lạc, một vài đơn vị khoe mất hên lạc với cấp trên. Đại đội 225 tiểu đoàn 322 tiến gần đến cứ điểm của địch khoảng 200 mét thì tổ sục sạo gặp một trung đội địch phục kính. Chúng bắn súng, hô xung phong, rồi rút chạy. Súng máy, súng cối ở khu C của Tu Vũ bắn ra rất mạnh. Pháo binh địch từ Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp vẫn tập trung bắn không ngớt vào khu vực ta bố trí. Một khẩu súng cối 82 mi-li-mét của ta bị hỏng. Khẩu đội pháo tiến theo mũi của tiểu đoàn 29 bị pháo địch sát thương nặng, nên được lệnh rút. Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 322 đi kiểm tra trận địa, bị thương. Tuy vậy, các đơn vị bộ binh của tiểu đoàn 322 đã bám sát hàng rào của địch khoảng 50 mét. Nhưng pháo binh yểm hộ cho bộ binh đánh khu A và B chưa bố trí xong, đường dây điện thoại bị đứt nhiều đoạn, số bị thương của ta ngày càng tăng.
Trước tình hình đó, đảng ủy các cấp đã kiên quyết lãnh đạo bộ đội giữ vững quyết tâm, cán bộ phân công nhau trực tiếp đi đôn đốc các đơn vị pháo binh chiếm lĩnh trận địa. Các mũi bộ binh đã bám sát hàng rào, đào công sự, cắt dây thép gai, v.v.


Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn. Quá giờ quy định, cán đơn vị chưa hoàn thành chiếm lĩnh trận địa. Trong khi đó lại nảy thêm một khó khăn mới. Đại đội 227 tiểu đoàn 322 thấy toàn bộ trận địa bị lộ nên đúng giờ đã tự động nổ súng, sau đó đại đội 225 cũng cho liên tục bộc phá. Cuộc chiến đấu ở khu C bắt đầu, nhưng chưa liên lạc được với trung đoàn. Lúc này trong cán bộ đâu có ý kiến: "Đánh hay thôi? đánh liệu có thắng không? chưa đánh mà đã thương vong như vậy liệu bộ đội còn giữ vững quyết tâm không?", v.v. Có một số cán bộ xao xuyến. Thường vụ đảng ủy trung đoàn X được triệu tập về sở chỉ huy trung đoàn hội ý. Cùng lúc ấy, bí thư đảng ủy trung đoàn nhận được điện của đồng chí Song Hào, bí thư đảng ủy đại đoàn: "Đảng ủy” phải sáng suốt phân tích tình hình ta, địch cụ thể, toàn diện, tìm cho ra cái gì là khó khăn phải giải quyết ngay. Không nên hấp tấp nhìn vào một vài việc mà đánh giá chung cả tình thế. Hạ quyết tâm lúc này phải thật chắc chắn, phải dũng cảm"...


Trong cuộc hội ý quan trọng đó, trung đoàn trưởng và chính ủy đã phân tích sâu sắc lời căn dặn của đồng chí bí thư đảng ủy đại đoàn, lấy hiện tượng dao động của một vài cán bộ để đối chiếu, liên hệ. Sau 20 phút trao đổi, đảng ủy trung đoàn nhất trí: Tuy có nhiều khó khăn như quân số thương vong không ít, mất liên lạc với bộ phận đánh khu C, nhưng quyết tâm của hầu hết đảng viên và quần chúng vẫn không hề lay chuyển, hận thù sôi sục, quyết tâm giết giặc lập công rất cao. Địch chỉ bắn dữ dội từ ngoài 100 mét trở ra, càng tiếp cận ta càng tránh được pháo địch sát thương. Pháo ta đã lắp xong và đang đẩy vào trận địa. Mặc dầu đất cát bị lún, các cỡ hỏa lực của địch bắn ra rất rát, anh em vẫn kiên quyết đẩy pháo vào sát vị trí địch. Bộ binh thì mũi chủ công có bị thiệt hại nhưng không đáng kể, mũi phụ cũng đã tiếp cận được. Mặt khác, qua hiện tượng đối phó của địch càng chứng tỏ chúng đang lo sợ, dao động, lúng túng. Như vậy là sức của đơn vị còn mạnh, còn đủ khả năng tiêu diệt Tu Vũ, chỉ cần phá vỡ được vỏ cứng, thọc đúng vào chỗ yếu thì nhất định địch sẽ tan rã. Mọi người trong đảng ủy trung đoàn, đại đoàn còn nhớ rất rõ lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp căn dặn: "Trận đầu phải thắng!". Tu Vũ là trận mở màn chiến dịch. Cần củng cố quyết tâm, chống tư tưởng dao động, do dự của người chỉ huy, của cấp lãnh đạo, chống mọi hành động không tốt có ảnh hưởng đến vấn đề chỉ huy... Trong lúc đang thảo luận, đảng ủy nhận được báo cáo: Một vài cán bộ hy sinh tiểu đoàn trưởng và chính trị viên tiểu đoàn 29 bị thương, nhưng không một ai xao xuyến. Quyết tâm tiêu diệt Tu Vũ để trả thù cho đồng đội, đồng chí càng cao.


Sau hơn hai giờ đồng hồ chiến đấu quyết liệt, đến 0 giờ 10 phút ngày 11 tháng 12, tiểu đoàn 322 đã hoàn toàn làm chủ khu C của Tu Vũ. Mọi việc chiếm lĩnh chuẩn bị nổ súng tấn công khu A và B vẫn tiếp tục rất khẩn trương dưới hỏa lực ác liệt của địch. Mọi người động viên lẫn nhau, không một ai do dự, không một ai chùn bước.


Đến 1 giờ 45 phút, các đơn vị đã hoàn thành chiếm lĩnh trận địa, trừ tiểu đoàn 322 vẫn bị mất liên lạc. Nhưng do được đại đoàn cho biết 322 đã giải quyết xong khu C nên trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 29 và 23 nổ súng. Pháo binh ta bắt đầu bắn thẳng vào lô cốt địch.


Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng ủy đại đoàn, với quyết tâm sắt đá như thế, với sức chiến đấu mạnh mẽ như thế, trung đoàn X đã vượt mọi khó khăn, quyết tâm giành thắng lợi. Mặc dầu địch cho xe tăng ra bịt cửa mở; xe bọc sắt, pháo binh, súng máy bắn chia cắt đội hình; bộ binh ra phản kích, v.v., nhưng chúng không thể nào cản nổi sức tấn công vũ bão của những con người có quyết tâm sắt đá, có lòng tin mãnh liệt vào thắng lợi. Đến 3 giờ rưỡi, Tu Vũ hoàn toàn bị tiêu diệt. Trận đánh mở màn chiến dịch thắng lợi giòn giã. Phòng tuyến sông Đà bị chọc thủng và cửa tiến vào thị xã Hoà Bình đã được mở rộng.

Bài học quyết tâm sắt đá này, đối với cán bộ, chiến sĩ đại đoàn chúng tôi không bao giờ quên được.

Trong chiến đấu, người chỉ huy cần luôn luôn đề cao trách nhiệm trong bất cứ tình huống nào. Đặc biệt trước những tình huống quyết định thành bại của trận đánh, người chỉ huy không được buông trôi, bỏ qua, phó thác cho dưới, khoán trắng cho đơn vị; có gan chỉ huy phải có gan chịu trách nhiệm.

Dưới đây, tôi kể thêm một câu chuyện nữa về quyết tâm và trách nhiệm người chỉ huy, theo tôi, câu chuyện này cũng là bài học rất đáng ghi nhớ.

Sau khi tiêu diệt cứ điểm Nà Han ở biên giới, mùa xuân năm 1950, trung đoàn X phối hợp cùng trung đoàn bạn và được tăng cường một số pháo, súng cối có nhiệm vụ tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê để xây dựng lực lượng, xây dựng truyền thống đơn vị. Lần đầu tiên tác chiến tập trung trung đoàn, ai nấy đều háo hức, nóng lòng mong đợi được xuất trận. Các cơ quan dân, chính, đảng địa phương động viên bộ đội rất sôi nổi. Từng đơn vị không ngớt động viên nhau, chúc tụng nhau chiến thắng.


Tại sở chỉ huy mặt trận, có đầy đủ các đại biểu chính quyền địa phương, tỉnh ủy, các nhà văn, v.v. Mọi người hớn hở, bàn tán, mong đợi giờ nổ súng. Anh Chu Huy Mân và tôi theo dõi tình hình chiếm lĩnh trận địa của bộ đội. Trung đoàn X đã triển khai chiếm lĩnh xong. Trung đoàn bạn chưa liên lạc được với các cơn vị của mình. Địch ra sục sạo chiếm mất đồi, nơi ta dự định bố trí pháo binh của mặt trận. Ngoài ra, không còn dùng pháo binh, súng cối bắn chặn đường tiến quân của trung đoàn bạn. Tình hình lộn xộn vẫn kéo dài. Trung đoàn bạn chưa nắm được quân, các đơn vị lạc lung tung, pháo, cối một nơi, bộ binh một nẻo. Anh Chu Huy Mân và tôi trao đổi với nhau, thấy rằng thực chất của vấn đề hiện tại là tư tưởng, là quyết tâm của cán bộ và chiến sĩ, cộng với trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chưa được rèn luyện kỹ. Tình hình tuy có nhiều khó khăn thật, nhưng nếu từ trên xuống dưới có quyết tâm cao - cũng còn khả năng khắc phục. Tuy nhiên căn cứ vào quá trình theo dõi từ khi chuẩn bị chiến đấu, cộng với tình hình hiện tại, anh Chu Huy Mân và tôi đều thấy quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ chưa vững chắc như vậy, còn có thể có nhiều khó khăn hơn nữa, nếu cứ tiếp tục tiến vào chiếm lĩnh, nổ súng, tác chiến ngay đêm nay thì không chắc giành được thắng lợi.


Trong khi chúng tôi trao đổi, các đại biểu chính quyền, tỉnh ủy, văn nghệ sĩ chăm chú theo dõi ý kiến chúng tôi và hình như muốn chúng tôi đừng quyết định thôi đánh. Chúng tôi suy nghĩ rất nhiều đến sự háo hức mong lập công của đơn vị, đến sự động viên của các cơ quan dân, chính, đảng. Nhưng đánh thì không chắc thắng. Anh Chu Huy Mân và tôi đều nhất trí như vậy1 (Lúc này các đồng chí Chu Huy Mân và Vương Thừa Vũ được phân công chỉ huy một mặt trận độc lập - BT). Đã không chắc thắng mà cứ quyết định đánh là phiêu lưu, mạo hiểm, là coi thường sinh mệnh quần chúng. Thấy chúng tôi bàn như vậy, các đồng chí địa phương đều tham gia ý kiến là nên xem xét lại và đề nghị cứ cho đánh. Các văn nghệ sĩ cũng mong cứ cho đánh để ca ngợi những chiến công oanh liệt của các chiến sĩ, mặt khác cũng muốn xem một trận đánh lớn như thế nào. Nhưng không thể được, không vì hãnh diện cá nhân mà quyết định liều lĩnh, tổn hại đến xương máu chiến sĩ, ảnh hưởng đến vốn liếng của Đảng, đến thành bại của cách mạng, nhất là đây là trận đánh tập trung để xây dựng lực lượng, xây dựng truyền thống đơn vị.


Chúng tôi quyết định hai trung đoàn và tất cả các đơn vị tham chiến lui quân, rời khỏi chiến trường trở về vị trí tập kết.

Quyết định ấy truyền đi, mọi người trong sở chỉ huy đều bàng hoàng ngạc nhiên. Nhưng không thể nào quyết định khác, mặc dầu có những đơn vị vẫn tiếp tục đề nghị xin ở lại đánh Thất Khê. Có những cán bộ, chiến sĩ dùng dằng, lưỡng lự không muốn quay trở về, vì sợ ngượng ngùng với bà con xóm làng. Ra đi hứa hẹn như thế, bây giờ không đánh lại trở về.


Trước tình hình đó, chúng tôi phải ra lệnh: "Kiên quyết lui khỏi chiến trường không được trù trừ do dự". Các đơn vị chấp hành triệt để, bảo đảm được lực lượng về vị trí tập kết. Hồi đó, cũng có cán bộ không bằng lòng, nhưng dần dần mọi người đều nhất trí. Nếu đêm hôm đó cứ đánh liều thì nhất định tổn thất lớn mà vẫn không hoàn thành nhiệm vụ. Trận đầu đánh tập trung không thắng sẽ gây nên khó khăn biết chừng nào cho việc xây dựng đơn vị. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm đối với việc lui quân hoàn toàn chính xác và rất kiên quyết ấy.


Qua đó, ta thấy rằng người chỉ huy phải rèn luyện cho mình có bản lĩnh dám đánh, nhưng phải có gan dám rút. Đã thấy không có khả năng đánh thắng, lui có lợi hơn, khi khác đánh có lợi thì kiên quyết không đánh. Người chỉ huy không những có gan chủ động đánh mà còn phải có gan chủ động lui quân. Đã ra lệnh lui quân thì kiên quyết chỉ huy lui quân, bảo toàn lực lượng không một mảy may do dự, tiếc rẻ. Khi cần thiết dám hạ lệnh lui quân cũng là một yêu cầu đối với người chỉ huy, cũng là dũng cảm và mưu trí1 (Ý tác giả nói trong trường hợp hoạt động độc lập và được cấp trên giao quyền quyết định - BT). Nhưng khi cần hạ lệnh đánh thì nhất định đánh đến cùng.


Đánh hay lui là căn cứ vào tình hình cụ thể lúc đó, nhưng tất cả phải vì lợi ích của cách mạng, vì thắng lợi của cách mạng cao hơn hết, không được bơm to khó khăn, lấy cớ là bảo vệ lợi ích lâu dài của cách mạng để nguỵ trang cho tư tưởng bảo mạng rồi tuỳ tiện cho lui quân, coi như thế cũng là quyết tâm, coi như thế cũng là vì lợi ích của cách mạng thì không được.

ĐỊA THẾ HIỂM TRỞ MỘT NGƯỜI CÓ THẾ CHỐNG ĐƯỢC VẠN NGƯỜI



Những năm 1960 - 1961, quân nguỵ Sài Gòn được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức ngày ngày hò hét Bắc tiến, đồng thời tung biệt kích đường không, đường biển, đường bộ ra Bắc quấy rối, phá hoại, móc nối với bọn phản động nội địa, điều tra nắm tình hình mọi mặt của ta.


Hồi đó, tôi là quân khu trưởng Quân khu Hữu Ngạn, được Bộ giao nhiệm vụ cùng với một số cán bộ binh chủng, cơ quan như các đồng chí Doãn Tuế, Hồng Sơn, Ngô Hùng và một số đồng chí khác tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn chỉnh phương án tác chiến phòng thủ của quân khu. Sau đó đi xem xét nghiên cứu bổ sung phương án tác chiến phòng thủ giúp Quân khu 4 và Quân khu Tả Ngạn, vì thời gian này các đồng chí thủ trưởng quân sự của quân khu bạn đi vắng.


Như vậy là tôi lại có dịp đi khắp miền biên giới Việt - Lào. Lúc đó nhân dân Lào chưa được giải phóng. Chúng tôi đi hầu hết bờ biển của miền Bắc, hải đảo và giới tuyến tạm thời ở Vĩnh Linh.


Tôi nghĩ phải sâu sát dưới, phải thực tế xem xét tận nơi và lắng nghe ý kiến anh em. Từ thực tế ấy sẽ giúp cho tôi nhiều suy nghĩ đúng. Tuy đã ngoài 50 tuổi, với chiếc ô che nắng che mưa, đùm bánh mì hoặc khoai lang luộc, bi đông nước, tôi cùng cơ quan các ngành ngày này tháng khác leo đèo lội suối, đi nghiên cứu cụ thể khắp các bãi cát, sình lầy sú vẹt, cửa sông, cửa lạch, hải đảo, biển khơi...


Lúc đó cán bộ ta, một số đã được học kinh nghiệm phòng ngự của một số nước anh em qua đại biến thế giới lần thứ hai, một số chưa được học tập mà chỉ có kinh nghiệm thực tế bản thân.

Vì vậy quan điểm, tư tưởng tác chiến có những vấn đề cụ thể chưa được thống nhất.

Khi đến các lữ đoàn, trung đoàn phòng thủ, anh em đều phàn nàn là bờ biển, biên giới dài mênh mông, nhiệm vụ rộng, nhưng quân ít, vũ khí, trang bị ít. Anh em đều có gợi ý nhờ tôi báo cáo Bộ, xin thêm quân, xin thêm trang bị và phân công nhiệm vụ hẹp lại. Tôi không trách anh em, vì đó là thực tế và quân có chừng ấy, trang bị có chừng ấy cũng là thực tế. Nhưng trước thực tế ấy quán triệt quan điểm quân sự của Đảng ta, với truyền thống nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta thì nên suy nghĩ và giải quyết như thế nào cho đúng.
Tôi cười vui và kể lại cho anh em nghe chuyện ngày xưa khi Nguyễn Trái đi qua sông Bạch Đằng, ông đã nhớ lại, tại đây Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nam Hán và quân Nguyên, giết Hoàng Thao và Toa Đô, Ô Mã Nhi. Nguyễn Trái đã tức cảnh làm hai câu thơ:

“Quan hà bách nhị do thiên thiết
Hào kiệt công danh thử địa tằng"

tạm dịch:

Non sông hiểm trở, hai người có thể chống lại được một trăm người là do trời định.
Hào kiệt công danh cũng có từ đây.


Và một câu ngạn ngữ của tổ tiên ta để lại:

“Hiểm địa nhất phu địch vạn nhân"

tạm dịch:

Lợi dụng địa thế hiểm trở, một người có thể chống được vạn người.


Tôi nói thêm cho anh em rõ, địa hình đất nước ta thật là đặc biệt, phía tây và phía bắc thì rừng núi hiểm trở, phía - đông và đông nam thì sông ngòi luồng lạch chia cắt, ruộng nước mênh mông, từng quãng có dãy núi nhô ra sát mép biển. Chỉ địa hình ấy cũng đã giúp cho ta một thế trận, hiểm và mạnh biết chừng nào, nếu ta biết triệt để lợi dụng và cải tạo nó thì ít thành nhiều, yếu hoá mạnh, một người có thể chống lại trăm ngàn người.


Tuy nhiên, có vấn đề vô cùng quan trọng khác, đó là thế chiến tranh nhân dân. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn dân. "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Phải tổ chức làng, bản, thôn, xóm thành pháo đài, phải thực hiện lời Bác Hồ dạy: "Mỗi người dân là một dũng sĩ...", thế trận của ta là bao gồm cả chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ... Riêng chủ lực cũng không phải chỗ nào cũng dàn quân ra. Phòng thủ kiểu đó thì bao nhiêu quân cũng thiếu, bao nhiêu vũ khí cũng không đủ. Vì vậy phải hình thành từng khu vực, có trọng điểm. Lấy điểm khống chế diện, lấy diện bảo vệ điểm, liên hoàn hỗ trợ cho nhau, liên hoàn hỗ trợ cho nhau, hiện đại kết hợp với thô sơ tự chế tạo mưu mẹo, nghi binh: v.v. Nhất định chúng ta sẽ hình thành được các khu vục phòng thủ vừng chắc trên toàn tuyến biên giới, ven biển và nội địa...


Từ quan điểm trên đây, được các cấp bộ Đảng, chính quyền địa phương nhất trí, các đơn vị phòng thủ của ta bổ sung phương án, tổ chức lại lực lượng, sắp xếp lại thế trận, thấy tù tin vững tâm hơn trước nhiều. Đó là thế trận tác chiến bảo vệ từng khu vực của chiến tranh nhân dân. Từ các đội thiếu niên nhi đồng đến các đội nam nữ dân quân, lão dân quân cũng sẵn sàng tham gia đánh giặc bảo vệ địa phương. Đó là sức mạnh tập thể xã hội chủ nghĩa ở các địa phương được quân sự hoá. Sau này, thực tế đã chứng minh biết bao nhiêu toán gián điệp, biệt kích, trinh sát của địch từ miền Nam tung ra địa bàn quân khu đã bị dân quân ta tóm gọn. Tàu biệt kích của địch ra đã bị dân quân đánh chìm. Máy bay do thám của địch bị bộ đội tiền tiêu ta bắn rơi, v.v.


Tuy nhiên khi nghiên cứu bố trí thế trận cụ thể, chúng - tôi cũng phải trao đổi nhiều vì một số cán bộ ta học tập kinh nghiệm của nước ngoài, nhưng không biết chọn lọc vận dụng vào thực tiễn con người, đất nước và điều kiện trang bị vật chất thực tế của ta, của đơn vị để tác chiến với một đối tượng mới.
Thế trận dàn mành mành, hướng về một phía (!), bố trí phòng thủ như vậy thì dù nhiều cũng trở thành ít, mạnh thành yếu; dù có tuyến 1, tuyến 2, tuyến 3 đến tuyến thứ mấy chăng nữa cũng sẽ yếu.


Cũng chừng ấy quân, chừng ấy trang bị vũ khí, chúng tôi bàn bạc với anh em xoay lại thế bố trí. Đó là thế chân vạc tam giác nhỏ trong tam giác lớn, đánh được địch từ các hướng tới. Trên trời, dưới biển, phía sau, bên sườn, địch từ hướng nào tới, ta vẫn giữ được thế chủ động, khi tập trung hướng này, lúc tập trung hướng khác, đánh dẻo dai liên tục. Các cụm điểm tựa liên hoàn hỗ trợ cho nhau, tích cực vận động tấn công đập vào sau lưng, bên sườn quần địch. Hết sức quán triệt tư tưởng chủ động tiến công trong tác chiến phòng thủ trong bố trí thế trận, trong sử dụng lực lượng, v.v.

Để anh em cán bộ cơ sở dễ nhớ những điểm chính, tôi tóm lại những ý chính về cấu trúc và bố trí trận địa:

- Tam giác nhỏ trong tam giác lớn

- Chéo nhỏ trong chéo lớn

- Độc lập trong liên hoàn

- Chủ động trong bị động

- Điểm khống chế diện, diện bảo vệ điểm

- Nhiều tầng có chiều sâu

- Kết hợp: xa với gần, trong với ngoài, trước với sau, trên với dưới

- Hiểm hoè, bí mật, chéo sườn, thúc hông

- Cơ động rộng rãi, thoải mái, tập trung

- Thế cọp rình heo, thế mèo vồ chuột.

Về cách đánh:

- Phát hiện địch từ xa Làm chậm bước tiến của địch

- Làm địch mệt mỏi tiêu hao, lừa địch vào thế bất lợi

- Địch động ta phải động hơn

- Cắm trà phá lưới, rút lẫy bẻ thói

- Bí mật bất ngờ, đột nhiên, mãnh liệt

- Giữ mẹ, dắt con, xoay tròn bốn phía

- Kết hợp dũng mưu, dùng nhiều lối đánh

- Vận động tấn công, thúc hông chặt sườn...


Bài văn vần này, sau được anh em đơn vị hưởng ứng sửa chữa thành các đoạn ca dao ngắn. Để giúp cán bộ cơ sở bố trí cụ thể, phù hợp với cách đánh của ta, tôi thường cùng cán bộ tác chiến, kỹ thuật công trình đi xem xét từng vị trí cụ thể, nghiên cứu bố trí từng hỏa khí súng máy, súng ĐKZ, pháo chống tăng..., có một vấn đề cũng phải tranh luận khá chật vật. Một số anh em quan niệm bố trí hỏa khí trong phòng ngự làm sao phải bắn được nhiều hướng, bắn được xa, phát huy hết tính năng của hỏa khí. Vì vậy có trận địa pháo, anh em đặt nghênh ngang trên đỉnh núi. Tôi thường nói đùa là con gà ngồi trên mâm xôi. Có những khẩu súng chống tăng, khẩu súng máy đặt ngay ở mỏm đất cao nhất, ở cổng làng, ở ngã ba ngã tư đường cái. Tất nhiên tôi không bác bỏ hoàn toàn cách bố trì này. Nhưng bố trí theo kiểu Trương Phi vỗ ngực: "Bớ ta đây!...", như vậy không sớm thì muộn cũng sẽ bị diệt.


Anh em giở lý ra là theo tính toán thì một phương tiện chống tăng, một phương tiện chống đổ bộ diệt được mấy tăng, mấy xuồng đổ bộ là hết đời... Vậy thì ta cũng phải có số lượng bao nhiêu vũ khí đó mới đủ sức đánh lại bao nhiêu xe tăng, bao nhiêu phương tiện đổ bộ của địch. Nghe anh em trình bày tôi lo quá. Trệch rồi! lệch cả nhận thức lẫn quan điểm rồi!


Tôi không bác bỏ cách tính toán của anh em, nhưng đối với ta, người không đông, công nghiệp quốc phòng còn nghèo, không thể đánh theo kiểu đó được. Ta phải đánh thắng kẻ địch có đông quân hơn ta, có nhiều vũ khí hiện đại hơn ta, có tầm bắn xa hơn vũ khí của ta. Ta chưa với tới địch thì nó đã với tới ta trước.


Đối với ta nếu có nhiều vũ khí hiện đại để đánh địch thì càng tốt. Nhưng nếu không có đủ vũ khí này thì phải tìm trăm phương ngàn kế khác đánh địch. Diệt địch, nhưng phải giữ mình. Đánh giặc phải có hy sinh, nhưng tìm mọi cách tốt nhất cho quần chúng đỡ đổ xương máu, đỡ phải hy sinh. Hỏa khí của ta phải diệt được nhiều địch nhất, tuổi thọ phải kéo dài nhất chứ không phải diệt được 3 - 4 xe tăng địch thì hết đời. Vì vậy phải mưu mẹo, phải tinh khôn. Tuyệt đối không được đánh theo kiểu "đọ vàng với tư bản", không được bài binh bố trận theo kiểu bày hàng xén.


Chính vì dân tộc ta có cách đánh truyền thống mưu trí, thông minh mà đã thắng nhiều đội quân xâm lược có số lượng đông hơn ta nhiều lần, có trang bị kỹ thuật hiện đại hơn ta nhiều lần.


Sau khi giải thích cho anh em và bố trí thực tế tại trận địa, tôi cho xây dựng một công sự kiên cố. Công sự được xây dựng bằng bê tông cốt thép, có lỗ châu mai nhỏ để tăng sức đề kháng. Chúng tôi dùng lần lượt các loại hỏa khí bắn thử, thì rõ ràng là phát này chưa trúng thì phát sau sẽ tin; súng này bắn không vỡ thì loại khác sẽ phá tan...


Rõ ràng là bê tông cốt thép, đạn to, súng lớn mà bố trí lộ liễu cũng không có tác dùng là bao, sớm muộn cũng bị diệt. Tôi cho anh em đi xem một khu chốt phòng thủ khác với tư cách là đối phương phán đoán xem trận địa và các hỏa khí của ta bố trí như thế nào? Có đồng chí ngồi ngay ở miệng lỗ châu mai mà không biết, phán đoán bố trí của ta sai trệch cả.


Tôi kết luận: bí mật là cường độ mạnh nhất, trong chiến đấu đối phương cũng chủ quan phán đoán ta như vậy. Ta bố trí phòng thủ mưu mẹo, có chỉ huy thao lược linh hoạt nữa thì dù chúng có số lượng đông gấp hơn ta bao nhiêu lần cũng chỉ là nhưng bia thịt mà thôi; có vũ khí, trang bị hiện đại cũng sa vào bẫy của ta mà thôi.


Mỗi lần bố trí phía ta xong tôi lại ra phía trước, đứng vào cương vị đối phương xem xét phán đoán ta, sau đó lại bổ sung phương án. Năm 1961, khi nghiên cứu ở khu giới tuyến tạm thời Vĩnh Linh, tôi đi suốt dọc bờ sông Bến Hải từ phía đông lên mạn đồi núi phía tây, với danh nghĩa là đoàn cán bộ nghiên cứu chống lụt của Trung ương về địa phương kiểm tra. Chúng tôi đi trên bờ, bọn nguỵ quân Sài Gòn có một tổ đi thuyền dưới sông, chửi đổng khiêu khích, vài tên đi xe đạp ở bờ sông bên kia...


Ta với địch là đấu tranh giai cấp, là một mất một còn, nhưng lúc đó cán bộ cơ sở của ta chân phương quá, xây dựng biết bao nhiêu trụ sở, nhà ngói, lò vôi, lò gạch, v.v. Nhưng nhà là nhà, lò vôi là lò vôi, không biết xây thành thế trận, không dám xây thành ổ chiến đấu, làm sẵn lỗ châu mai khi cần chỉ việc đẩy hòn gạch ra là bắn được. Anh em sợ vi phạm hiệp nghị Giơ-ne-vơ. Tôi nói: đấu tranh giai cấp, kẻ thù thì nham hiểm, nếu ta ngây thơ như vậy thì bị diệt lúc nào không biết. Đây là một vấn đề cụ thể trong xây dựng kinh tế phải kết hợp với quốc phòng. Chúng tôi bàn với anh em, mọi việc xây dựng nhà cửa, đường sá, thuỷ lợi, v.v. đều phải kết hợp chặt chẽ với phương án tác chiến phòng thủ, phải hình thành các cụm chiến đấu liên hoàn...


Xem xét bố trí xong, tôi muốn đứng ra phía trước quan sát lại trận địa của mình xem sao. Không có cách nào khác, tôi và vài cán bộ giúp việc phải đi bộ qua cầu Hiền Lương đến giữa sông nhìn về bờ Bắc... Mấy tên lính nguỵ từ bờ bên kia hối hả chạy ra cầu quát tháo:

- Đi đâu? đi đâu? các anh là ai? chỉ được đến giữa cầu thôi không được đi quá.

Chúng giơ súng gạt chúng tôi trở lại. Một cán bộ đi theo tôi ra đôi co với chúng một lát, để chúng tôi có nhiều thì giờ xem xét nhìn lại phía trận địa của mình ở bờ Bắc. Tôi chợt nhìn ra cái mố cầu: ôi! đó có thể là một hỏa điểm bí mật nhô ra, bắn dọc ven sông nếu kẻ địch dùng thuyền, dùng xuồng đổ bộ lên bờ Bắc...
Phải khẩn trương, bí mật, cải tạo ngay cái mồ cầu đó.

CÓ KẾ HOẠCH TỈ MỈ, NHƯNG PHẢI ỨNG PHÓ GIỎI MỚI GIÀNH ĐƯỢC THẮNG LỢI


Khi chuẩn bị chiến đấu, kế hoạch phải chu đáo, tỉ mỉ, phải dự kiến đầy đủ những tình huống có thể xảy ra và tuỳ tình hình cụ thể mà chuẩn bị với mức độ khác nhau theo những tình huống đó. Trong kế hoạch phải hết sức mưu mẹo, linh hoạt, phải nghi binh đánh lừa địch.


Mặc dù đã dự kiến đầy đủ như vậy, nhưng trong chiến đấu tình huống xảy ra cũng có khi đúng nhiều, có khi đúng ít, cũng có khi hoàn toàn không đúng với kế hoạch. Nói chung là tình huống diễn biến muôn màu muôn vẻ, vô cùng phức tạp. Lúc đó, nếu người chỉ huy cứ khăng khăng giữ kế hoạch cũ thì rất nguy hiểm, có thể lâm vào tình trạng bị động và sẽ đi từ bị động này đến bị động khác. Vì vậy bất cứ trường hợp nào, khi đã xuất trận yêu cầu người chỉ huy phải nắm chắc kế hoạch cơ bản đã chuẩn bị sân, nhưng lại phải ứng phó giỏi. Ta thường nói "tuỳ cơ ứng biến", tức là tuỳ tình hình địa hình, địch, ta lúc đó mà xử trí cho thích hợp. ứng phó giỏi không phải là bản năng bẩm sinh. Muốn ứng phó giỏi trước tiên phải có gan đánh địch, có quyết tâm diệt địch cao, từ đó sẽ tìm ra được nhiều cách xử trí. Có gan đánh lại phải có bản lĩnh nghệ thuật quân sự. Có bản lĩnh đánh thắng không phải chỉ cần học cho biết, cho thuộc những điều lệnh, nguyên tắc chiến đấu. Ví như một người học võ, không phải chỉ học thuộc bài để biểu diễn cho có thứ tự, cho đẹp mắt là giỏi, mà phải từ những động tác cơ bản, những bài cơ bản ấy nâng lên trình độ thục luyện, vận dụng trở thành “ngoại tài" để đánh gục đối thủ. Muốn vận dụng giỏi, muốn có "ngoại tài" thì cần ra sức luyện tập trong thực tế Có bản lĩnh rồi và có thực tế ấy sẽ nảy sinh ra mọi cách ứng phó giỏi. Dân gian ta có câu: "trăm hay không bằng tay quen" là như vậy? Cho nên phải rèn luyện và rèn luyện thật nhiều trong thực tế, hết sức tránh tự mình trói buộc mình vào sách vở, công thức. Từ sách vở, công thức phải tiến lên vận dụng nhiều, ứng phó giỏi.


Sau đây là một số mẩu chuyện ứng phó của đơn vị và bản thân tôi:

Trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, sau khi đại đoàn bố trí đánh phục kích trên đường số 4 bị trượt, địch từ Thất Khê lên chiếm quả đồi Khau Luông tấn công nhứ vào Đông Khê, rồi bất thình lình tạt sang phía tây với âm mưu của Lơ-pa-giơ là đi tắt đường mòn sang dãy đồi 477 để đón Sác-tông. Ta tấn công Khau Luông đêm hôm trước không thành, đang chuẩn bị kế hoạch tập kích Khau Luông lần thứ hai. Lúc đó, trên cho biết là địch sẽ đi sang phía tây. Tôi phát hiện một eo đá của dãy núi Cốc Xá rất hiểm trở, nếu để địch lọt qua eo này thì quân ta khó mà có đường đuổi đánh địch, và nếu để quân Lơ-pa-giơ gặp được quân Sác-tông hợp thành một lực lượng lớn thì ta khó mà tiêu diệt. Cho nên, đại đoàn lập tức điều tiểu đoàn 18 vượt qua các dãy núi đá ngay trong đêm để nhanh chóng chiếm giữ bằng được eo đó, nhằm chia cắt không cho Lơ-pa-giơ qua phía tây. Quả nhiên ta với địch tranh chấp eo này rất ác liệt, cuối cùng ta chiếm được eo, buộc Lơ-pa-giơ phải vón lại ở dây núi Cốc Xá và bị tiêu diệt.


Trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952, trên giao nhiệm vụ trong một tuần phải giải quyết xong phân khu Nghĩa Lộ. Kế hoạch của đại đoàn định hài đêm sẽ tiêu diệt xong vị trí Pú Chạng và Nghĩa Lộ phố. Kế hoạch đề ra như vậy, nhưng khi tác chiến, chỉ sau ba giờ đồng hồ quân ta đã tiêu diệt xong vị trí Pú Chạng. Chúng tôi tính toán thời gian và lực lượng, thấy cồn đủ sức để đánh luôn vị trì Nghĩa Lộ phố ngay trong đêm đó. Sự tính toán và cân nhắc này được báo cáo với đảng ủy đại đoàn, sau đó hạ quyết tâm chuyển sang đánh ngay vị trí Nghĩa Lộ phố và tới 5 giờ sáng thì hoàn toàn giải quyết xong. Như vậy trong một đêm đơn vị đã đánh hai cứ điểm, tiêu diệt và bắt sống gần 600 tên địch (bắt sống 412 tên).


Trong chiến dịch mùa hè tiếp sau chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi nhận nhiệm vụ dùng một trung đoàn tăng cường thêm một tiểu đoàn hoạt động ở khu vực Bắc Ninh và - Bắt Giang để thực hiện mục đích của chiến dịch là đánh tiêu diệt một bộ phận địch và tiêu hao rộng rãi giừ chân địch lại, làm áp lực cho hội nghị Giơ-ne-vơ. Với lực lượng nhỏ như vậy làm sao đạt được nhiệm vụ trên? Trung đoàn X nhận nhiệm vụ tiêu diệt vị trí Cầu Lồ. Còn tiểu đoàn tăng cường thì đại đoàn cho phan tán từng tổ nhỏ xuống các xã thuộc mấy tỉnh trên để dìu dắt dân quân du kích, tổ chức bao vây và đánh lấn càe vị trí địch. Dân quân du kích đã bao vây, đánh lấn hơn 30 vị trí địch, tiêu hao, đánh tỉa địch ở mọi lúc, mọi nơi, gây cho chúng nhiều khó khăn: hết lương ăn, nước uống, bị khốn đốn trong các vị trí, đi đứng không yên. Thế mà chúng tôi đã tạo ra một màng lưới rộng khắp và mạnh mẽ giữa bộ đội chủ lực với dân quân du kích, kìm chân 4 binh đoàn của địch từ phía Phả Lại trong suốt một thời gian dài không nhúc nhích được một bước cho đến khi có lệnh đình chiến.


Tôi nêu thêm một vài thí dụ của các đồng chí chỉ huy khác.

Tiểu đoàn X sau khi tấn công tiêu diệt cứ điểm được lệnh để một bộ phận nhỏ ở lại giữ vững cứ điểm, bảo đảm cho chủ lực làm nhiệm vụ khác. Theo kế hoạch chuẩn bị thì bộ phận nhỏ đó sẽ lợi dụng công sự, ụ súng của địch để chiến đấu, đồng thời cho một số binh lực ra bí mật bố trí ở một xóm nhỏ gần đấy nhằm khi địch tập trung tấn công chiếm lại cứ điểm, sẽ bất ngờ xuất kích đánh vào bên sườn và sau lưng chúng. Nhưng thực tế chiến sự lại diễn biến hoàn toàn khác với phương án đã chuẩn bị.

Mờ sáng hôm sau, quân địch kéo đến, nhưng không đánh chiếm cứ điểm ngay mà trước tiên cho máy bay, đại bác oanh tạc dữ dội xóm nhỏ. Khoảng 8 giờ, chúng chia làm 3 mũi tiến vào đánh chiếm xóm nhỏ. Đơn vị ở đây buộc phải chiến đấu. Anh em chiến đấu rất dũng cảm, linh hoạt, chỉ dùng vài tổ chiến đấu đã ngăn chặn cánh chủ yếu của địch, số còn lại bí mật cơ động theo bờ tre, bờ mương, bất ngờ xuất kích tiêu diệt một bộ phận địch ở cánh thứ yếu. Bọn địch này chạy tán loạn, bọn địch ở các hướng kia cũng phải lui theo. Quân địch tập trung đông hơn, tấn công nhiều đợt nhưng đều bị đánh bật ra cánh đồng. Chúng chuyển hướng tập trung đột phá vào phía khác. Một bộ phận nhỏ của ta ở trong cứ điểm theo đường đã chuẩn bị sẵn, bí mật vận động ra đánh vào trận địa hỏa lực của chúng. Bị đánh một đòn bất ngờ, quân địch bỏ chạy ra xa. Chiều hôm đó, quân địch không tấn công nữa, chúng dàn quân bao vây lực lượng ta ở xóm nhỏ. Vừa chập tối, quân ta ở trong cứ điểm lại bí mật luồn ra đập vào sau lưng chúng. Nghe tiếng súng nổ, bộ phận ở xóm nhỏ trong vòng vây của địch đã nhanh chóng nổ súng phồl hợp, rồi bí mật luồn ra ngoài. Sau khi ra khỏi vòng vây, thấy địch sơ hở, chủ quan, mà thời gian ban đêm còn nhiều, các chiến sĩ ta "tiếc rẻ" đã quay lại đập cho chúng một đòn nữa rồi mới chịu rút. Ý định chiếm lại cứ điểm của địch không thành công. Lực lượng ta tuy nhỏ nhưng luôn luôn giành chủ động, tiêu diệt nhiều địch, làm tròn nhiệm vụ, chính vì cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đó đã có bản lĩnh chiến đấu cao và ứng phó giỏi.


Ngược lại, một đơn vị nhỏ khác, sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, tiến quân về đồng bằng làm nhiệm vụ bao vây đánh lấn một cứ điểm. Trong khi quân ta đang tập trung bao vây bắn tỉa địch, không chú ý cảnh giới sau lưng, bên sườn thì bị một cánh quân của địch ở nơi khác bí mật vận động tới đánh vào sau lưng. Người chỉ huy đã lúng túng không biết xử trí ra sao, chống cự yếu ớt, rồi ra lệnh cho đơn vị rút. Bị quân địch từ trong đánh ra, ngoài đánh vào, đơn vị tuy rút lui được nhưng cũng bị tổn thất một số. Thế là không những không hoàn thành nhiệm vụ mà còn bị tổn thất, ảnh hưởng đến khí thế đang trên đà chiến thắng của bộ đội. Về nguyên nhân có thể do dự kiến phương án tác chiến và kế hoạch không chu đáo như tiến hành bao vây đánh lấn địch ở cứ điểm mà không tổ chức đánh máy bay, đánh địch trên trời đổ xuống, đánh địch tập kích từ sau lưng, v.v..; cũng có thể do tinh thần chiến đấu của người chỉ huy không vừng vàng trong lúc gay go, ác liệt. Nhưng dù thế nào chăng nữa, nguyên nhân trực tiếp nhìn thấy ngay vẫn là người chỉ huy kém linh hoạt ứng phó. Nếu người chỉ huy có bản lĩnh, ứng phó giỏi, các chiến sĩ thiện chiến thì phắc rằng tình hình sẽ khác, kẻ địch không dễ gì gây cho ta tổn thất.


Tình huống diễn biến trong chiến đấu rất mau lẹ và vô cùng phức tạp. Người chỉ huy phải ứng phó giỏi để luôn luôn giành chủ động tạo bất ngờ để chiến thắng. Muốn ứng phó giỏi, cần phải rèn luyện thật nhiều trong mọi tình huống, với những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Rèn luyện trong hoàn cảnh càng khó khăn, phức tạp, trong tình huống càng ác liệt, khẩn trương, thì khi chiến đấu sẽ vững vàng, đủ minh mẫn để nhận xét tình hình, xử trì thích hợp. Tuyệt đối tránh chủ quan, thoả mãn, hoặc chỉ quyết tâm chiến thắng trên khẩu hiệu, mà không chịu trau dồi nâng cao bản lĩnh chiến đấu và trình độ chuẩn bị, tổ chức chu đáo.

CÓ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÁNH CÀNG TỐT, NẾU KHÔNG CÓ ĐỦ ĐIỀU KIỆN THÌ TỰ TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÁNH THẮNG

Quyết tâm đánh thắng giặc không phải chỉ là một khẩu hiệu chung chung theo ý muốn chủ quan. Thắng lợi của một trận chiến đấu là do tác động của nhiều điều kiện bên ngoài và sự nỗ lực chủ quan của những người tham gia trận đánh. Khi chuẩn bị một trận đánh (vị trí địch có công sự vững chắc, tập kích, phục kích, đánh quân đổ bộ đường không, bao vây tấn công liên tục quân địch, vận động tấn công kết hợp với chốt chặn địch, v.v.) hay là một đợt hoạt động, một chiến dịch, người chỉ huy phải xét kỹ tới toàn bộ những điều kiện cần có để giành thắng lợi. Trong thực tế chiến đấu, những điều kiện để đánh thắng rất ít khi có đầy đủ ngay từ khi nhận nhiệm vụ, rất ít trường hợp có đầy đủ như ý muốn người chỉ huy. Khi cấp trên giao nhiêm vụ cho cấp dưới là đã xét tới những điều kiện cơ bản để đánh thắng đã có và những điều kiện cơ bản, những điều kiện cụ thể còn thiếu hoặc chưa có nhưng cấp dưới có thể tạo ra. Có khi điều kiện thuận lợi có rất ít, trước mắt, nhìn bề ngoài thấy nhiều khó khăn lớn tưởng chừng như không khắc phục nổi. Nhưng sau khi suy nghi những điều kiện cơ bản để đánh thắng, vững lòng tin ở trí tuệ và sức mạnh của quần chúng, người chỉ huy cấp trên vẫn ra lệnh chiến đấu. Lúc ấy chính là lúc biểu hiện lòng trung thành, trí sáng suốt, tinh thần anh dũng quả cảm và tài năng của người chỉ huy cấp dưới. Lúc ấy chính là lúc cấp dưới phải vắt óc suy nghĩ, cùng quần chúng nỗ lực vượt bậc tạo ra những điều kiện chưa có hoác chưa đầy đủ để chấp hành không điều kiện mệnh lệnh của cấp tiên. Có chừng ấy người, có chừng ấy súng, lương thực, vật chất khác cũng chỉ có chừng ấy, nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi phải đánh và nhất định phải đánh thắng, không được trù trù do dự; trách nhiệm chính trị không cho phép chúng ta buông trôi thả lỏng, vin cớ này cớ khác để che đậy cho sự lười biếng, dao động sợ chết, thoái thác nhiệm vụ. Vượt qua mọi hiểm nghèo, khắc phục mọi khó khăn trong chiến đấu, người chỉ huy sê lớn lên rất nhanh chóng, sẽ cứng rắn thêm như thép được tôi luyện, như vàng được thử lửa. Trong điều kiện ta còn yếu hơn địch về trang bị kỹ thuật, còn nghèo hơn địch về vật chất, khí tài, để đánh thắng địch, yêu cầu sự nỗ lực chủ quan của các cấp và các lực lượng tham gia trận đánh phải rất cao. Cán bộ chỉ huy chúng ta lớn lên trong khó khăn, dày dạn trung gian lao, cứng rắn trong hiểm nghèo. Chính vì vậy mà người chỉ huy quân đội cách mạng trở nên trí dũng song toàn, biết bao nhiêu bài học hay, tấm gương tốt còn lưu truyền mãi mãi về sau. Tuy nhiên, trong vườn hoa rộng lớn vừa tươi đẹp vừa thơm ngát ấy cũng không tránh khỏi một vài bông hoa bị sâu đục hoặc chim rỉa. Cá biệt có cán bộ khi nhận nhiệm vụ đã vin lý do này lý do khác đưa ra muôn vàn khó khăn ghê gớm và vin cớ nọ cớ kia để thoái thác nhiệm vụ, bỏ dở công việc, làm không đến nơi đến chốn, làm sai làm hỏng, làm thiệt thời cho cách mạng. Thí dụ: Khi nhận nhiệm vụ tác chiến ở chiến trường rừng núi xa xôi thì vin cớ không có người dẫn đường sợ đi chậm, đi lạc, vin cớ thiếu gạo, thiếu đạn, sợ tiếp tế không kịp..., đặt điều kiện với cách mạng, mặc cả với cấp trên, yêu cầu cấp đủ cái này, giải quyết cái kia mới làm được nhiệm vụ, mới đánh hoặc mới đánh thắng. Nói như vậy không có ý nghĩa là không được phép nêu khó khăn, không được xin thêm điều này điều nọ, mà yêu cầu người chỉ huy khi nhận nhiệm vụ phải với tinh thần phấn khởi, lạc quan, tích cực cách mạng, thấy được thuận lợi để phát huy và thấy được khó khăn để cùng tập. thể bàn bạc tìm biện pháp khắc phục. Còn thắc mắc điều gì cứ. hỏi, cần xin thêm cái gì cứ nói, tìm mọi cách, tạo mọi điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ. Đó là thái độ đúng đắn thể hiện bản chất tư tưởng tốt đẹp của người chỉ huy. Trường hợp tự mình thấy không đủ khả năng đảm đương nhiệm vụ cũng cần nói rõ nhưng... khì đã nhận, dù khó khăn đến mấy, cửng kiên quyết khác phục, . tạo mọi điều kiện để đánh thắng. Dẫn chứng trong mục “quân lệnh như sơn” là một trong những bài học tốt về “tự tạo điều kiện để đánh thắng". Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã cùng nhau khắc phục những khó khăn vô cùng lớn lao. Thiếu gạo thì vừa hành quân vừa đánh giặc, vừa cử người đi các vùng rừng núi xa xôi cùng nhân dân giải quyết gạo cho bộ đội. Không biết đường đi thì tự tìm đường, nhờ dân dẫn đường, bắt địch dẫn đường. Thiếu đạn thì thực hiện khi cần mới bắn, đã bắn là trúng, lấy súng đạn của địch để trang bị cho mình, v.v. Đó chính là người chỉ huy biết tích cực tự tạo thêm điều kiện để đánh thắng.


Vừa qua, có đơn vị nhận lệnh đi tác chiến trong khi số đạn còn rất ít, nhưng đơn vị cứ xuất phát, người chỉ huy tìm mọi cách đưa đạn chạy theo sau. Có đơn vị nhận nhiệm vụ đánh địch không biết đường đi, không có người dẫn đường, nhưng người chỉ huy đã biết quan sát đường đi của máy bay địch, nghe tiếng súng của địch để tìm đến mục tiêu tác chiến.


Những bài học về tự tạo điều kiện để đánh và đánh thắng địch có rất nhiều. Trước kia và hiện nay đều có. Nhưng bài học mấu chốt vẫn là vấn đề tư tưởng "dám đánh", "dám nhận mới nhiệm vụ khó khăn nhất". Có nhiệt tình cách mạng, tư tưởng thông suốt, từ đó ta cùng quần chúng tìm ra muôn vàn biện pháp, tạo ra nhiều điều kiện để đánh thắng.

LÚC KHÓ KHĂN CÓ TIẾNG NÓI CỦA CÁN BỘ, KHI GAY GO CÓ MẶT NGƯỜI CHỈ HUY


Trong chiến đấu, nhất là lúc gặp tình huống gay go ác liệt cấp dưới và chiến sĩ thường chăm chú theo dõi tinh thần, thái độ và tác phong của người chỉ huy. Lúc đó, nếu người chỉ huy nhìn trước nhìn sau, mắt tròn mắt dẹt, hấp tấp vội vàng, đúng ta lúng túng thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lòng tin của cấp dưới. Cho nên yêu cầu người chỉ huy phải hết sức bình tĩnh, điềm đạm, suy nghĩ chín chắn nhưng khẩn trương, tháo vát, có quyết tâm rõ ràng, ra mệnh lệnh kiên quyết. Làm được như thế, đội ngũ sẽ được củng cố, quyết tâm sẽ vững chắc, tinh thần chiến đấu sẽ nâng cao, tác phong chiến đấu sẽ dũng mãnh, từ khó khăn có thể chuyển thành thuận lợi bại chuyển thành thắng.


Lúc khó khăn, càng là cấp chỉ huy trực tiếp càng cần xông xáo, gương mẫu. Khi cần thiết phải thâm nhập xuống cấp dưới, đi đến nơi, giải quyết tại chỗ. Trường hợp do điều kiện nào đó không đi đến được, hoặc nếu bỏ vị trí chỉ huy mà đi không có lợi cho việc chỉ huy chung, thì nhất thiết người chỉ huy không được buông trôi thả lỏng, thoái thác trách nhiệm, mặc cho dưới hành động, nếu xảy ra sai sót thì đổ cho dưới. Dù hoàn cảnh thế nào đi chăng nữa, người chỉ huy trực tiếp hoặc người có trách nhiệm với trận đánh nhất định phải có thái độ rõ ràng, phải có tiếng nói của mình với tinh thần phụ trách cao.


Trong trận Tu Vũ, chiến dịch Hoà Bình năm 1951, khi quân ta đang chiếm lĩnh trận địa thì địch bắn ra rất dữ, làm cho cán bộ, chiến sĩ có người bị thương vong, vũ khí có một số bị hỏng. Trong cán bộ đã có ý kiến đề nghị rút không đánh hoặc hoan khi khác sẽ đánh, v.v. Giữa lúc ấy, đồng khí Song Hào với cương vị bí thư đảng ủy và chính ủy đại đoàn đã chỉ thị rõ ràng, phân tích cụ thể, củng cố quyết tâm cho các cán bộ chỉ huy và đảng ủy cấp dưới. Một lời nói tuy ngắn ngủi nhưng đã làm cho cấp dưới bình tĩnh, sáng suốt thêm và vững tin thêm. Một lời nói của người chỉ huy lúc ấy là vô cùng quý giá và rất quan trọng.


Ngược lại, trong một trận đánh quyết liệt khác, có cán bộ chỉ huy cấp trên cùng đi với sở chỉ huy cấp dưới để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ huy được chặt chẽ và kịp thời. Thế nhưng, khi đơn vị gặp tình huống rất khó xử trí, nên rút hay nên đánh, cẩn tung đội dự bị ra chưa, chiếm giữ khu vực đã chiếm được hay rời khỏi trận địa, v.v. thì người chỉ huy ấy đã trốn trách nhiệm, giao phó cho dưới, không có thái độ dứt khoát, trả lời với dưới là: "tuỳ theo tình hình, liệu mà xử trí". Câu trả lời bâng quơ đó của cấp trên làm cho cấp dưới hiểu như thế nào và quyết tâm ra sao? Như vậy đã không giúp ích gì cho cấp dưới, sự có mặt của cấp trên cũng bằng thừa và chỉ làm rối bận thêm cho cấp dưới mà thôi. Đó là một thiếu sót rất lớn của người chỉ huy. Tổn thất của trận đánh, người chỉ huy cấp trên đi theo đó cũng phải chịu phần lớn trách nhiệm. Đó chính là quan điểm quần chúng, quan điểm giai cấp, tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy trong quân đội cách mạng trước sinh mệnh của quần chúng, trước thành bại của sự nghiệp cách mạng.

Dưới đây, tôi kể một mẩu chuyện nhỏ khác mà bản thân đã trải qua.

Đầu tháng giêng năm 1947, tại mặt trận Hà Nội, sau khi phát hiện quân địch từ phía Lò Lợn chuẩn bị tấn công xuống Thanh Nhàn, Vểnh Tuy hòng bất ngờ đánh úp tiêu diệt một đơn vị Vệ quốc đoàn của ta ở đây; thay mặt Bộ chỉ huy mặt trận1 (Lúc này đồng chí Vương Thừa Vũ là chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội - Bĩ), tôi cấp tốc đi xuống đơn vị ấy góp ý kiến chuẩn bị đánh địch, đồng thời phổ biến kinh nghiệm tác chiến của các đơn ví tây bắc Hà Nội. Đường vòng từ phía tây bắc xuống đông nam Hà Nội khá xa. Tôi đi bộ rất vội vã, đến nơi giữa lúc đơn vị đang dàn quân bố trí. Tôi cùng đồng chí trung đội trưởng ngồi trong miếu ở chân đê bàn bạc kế hoạch, bố trí lực lượng. Đang làm việc, chúng tôi nghe thấy tiếng cơ giới của địch mỗi lúc một gần. Bộ đội ta đã bố trí xong rồi. Không thấy gì khả nghi, cơ giới của đính tiến rất nhanh ập ngay tới nơi. Tôi và đồng chí trung đội trưởng rút súng lục bắn, ra lệnh nổ súng và hô "xung phong!”. Súng máy ta bắn vùi đầu toán địch đi trước. Tôi chạy lao lên mặt đê, chĩa súng bắn thẳng vào đầu những tên giặc đang chạy nhốn nháo. Đồng chí quân giới cùng đi với tôi, gọi to: “Đồng chí! Đồng chí hãy ở lại đây!”. Nhưng muộn rồi, tôi và đồng chí trung đội trưởng đang xông lên đánh giáp lá cà với địch. Các chiến sĩ vừa nghe súng lệnh, tiếng thét xung phong của chúng tôi thì đã thấy chúng tôi lao về phía địch. Lập tức các chiến sĩ từ các phía xông ra, hét vang trời quần nhau với địch. Khí thế của quân ta rất dũng mãnh, quân địch bị đánh rất bất ngờ, đội ngũ rối loạn, những tên sống sốt phải quay đầu tháo chạy. Quân ta truy kích tới gần vị trí Lò Lợn.


Sau trận đánh, tôi suy nghĩ về bản thân mình xem hành động như thế có phải là anh hùng cá nhân không? Với tình huống ấy còn cách nào, thái độ nào nữa không? Thấy địch ập đến trước mặt, nếu người chỉ huy hoảng hốt rút chạy thì tình hình thực tế sẽ đưa đến tai họa như thế nào? Ở tình huống khẩn cấp ấy mà người chỉ huy cứ ở phía sau hô xung phong suông có ổn không? Trong khi cấp dưới, chiến sĩ đang chăm chú theo dõi thái độ của mình, đặt hết niềm tin vào người chỉ huy cấp trên, thấy mình như vậy anh em sẽ nghĩ sao? Liệu tất cả mọi người có dũng cảm xung phong không? Tôi không thể nào quả quyết rằng nếu lúc đó tôi cứ ngồi lại rồi hô anh em tiến thì mọi việc có được thuận lợi như thế không? Tình huống đó vạch cho tôi chỉ có một thái độ, một con đường là gương mẫu xung phong lao lên tiêu diệt địch và tôi cảm thấy rằng thái độ đó đã có tác dụng phần nào đối với cán bộ cấp dưới và các chiến sĩ trong trận đánh.

Sau này có nhiều trận chiến đấu khác, tôi thường gặp trường hợp gần giống như vậy. Với tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy, tôi cứ nói, cứ làm theo tình hình thực tế lúc đó thực ra trong thâm tâm tôi không hề nghĩ đến những chữ "gương mẫu”, "xung phong", "có mặt"... Mãi về sau, anh em ngồi "bù khú” với nhau kể lại chuyện cũ, tôi nói rõ: Cán bộ cấp dưới và chiến sĩ có khi để ý cả cử chỉ, thái độ rất nhỏ từ câu nói, nụ cười, đến cả cái nhếch mép của người chỉ huy cấp trên. Cử chỉ, thái độ ấy dù rất nhỏ nhưng đã có tác dụng rất lớn đối với mọi người xung quanh. Năm 1950, trong chiến dịch Biên Giới, giua lúc tình huống vô cùng khẩn cấp, đại đoàn đang xuất kích vận động tấn công tiêu diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông thì tôi bị chảy máu dạ dày, bụng đau quặn, người tái dần rồi ngã vật ra. Đồng chí Minh Tâm, bác sĩ, khuyên tôi nằm nghỉ để tiếp máu. Tôi sốt ruột vô cùng, đòi cáng đi theo đơn vị xuất kích. Điện thoại cũng kéo đi theo. Chuông điện thoại réo liên hồi. Tôi cầm ống nghe. Tiếng đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp dõng dạc và ấm áp:

- Sao tiếng nói lại khàn khàn thế?

Tôi trả lời:

- Tôi bị chảy máu dạ dày.

Sau khi hỏi thăm sức khoẻ, căn dặn ân cần, đồng chí hỏi tình hình chiến sự và chỉ thị bổ sung một số điểm về nhiệm vụ.

Tôi thấy khoẻ hẳn lên, tiếng nói của người chỉ huy cấp trên đến với tôi rất đúng lúc. Tôi ốm đau, đó là khó khăn của bản thân, nhưng cũng quan hệ tới đơn vị. Tiếng nói của đồng chí Đại tướng đã an ủi, khích lệ tôi rất lớn. Tôi muốn vùng dậy bám sát đơn vị, nhưng mệt quá, không dậy được. Tôi vẫn nằm, nhờ một đồng chí quay điện thoại để tôi nói chuyện với đồng chí đại đoàn phó về ý định tác chiến mà tôi vừa báo cáo với cấp trên. Tin tôi bị chảy máu dạ dày truyền đi rất nhanh qua các chiến sĩ thông tin, các cán bộ tham mưu. Nhưng lúc đó, mệnh lệnh của tôi vẫn truyền đi đều đặn tới các đơn vị. Các cán bộ cấp dưới vẫn nghe thấy tiếng nói của tôi. Lúc ấy, tôi cho rằng thái độ và việc làm như thế là tất nhiên đối với trách nhiệm của người chỉ huy. Thực ra cũng đúng như vậy. Về sau anh em kể lại, giữa lúc tình huống khẩn cấp như thế, được tin người chỉ huy trực tiếp của mình bị mệt, nếu gián đoạn chỉ huy thì không thể nào tránh khỏi sù xúc động lo lắng. Nhưng cũng giữa lúc ấy lại được nghe tiếng nói, được chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy thì niềm tin, sự phấn chấn, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ lại tăng lên rất nhiều. Về sau này, trong một vài chiến dịch khác, tôi lại gặp tình huống éo le như trên. Nhưng mọi việc giải quyết lại có kinh nghiệm hơn.


Ngoài ra có những trường hợp, nếu chỉ dùng mệnh lệnh, dùng lời nói cũng chưa đủ bảo đảm công việc thành công chắc chắn, thì người chỉ huy phải trực tiếp đến tận nơi, bắt tay vào hành động thực sự.


Thí dụ: Việc đi chuẩn bị chiến trường trong chiến dịch Tây Bắc. Muốn lọt vào tận sào huyệt địch để điều tra tình hình, cần phải vượt qua một chặng đường rừng rất gian khổ, phải đồi phó với địch rất căng thẳng và nguy hiểm. Là một đại đoàn trưởng trực tiếp nhận nhiệm vụ này, tôi cũng biết trước những khó khăn ấy. Nhưng tôi đã cùng đi với anh em, cũng leo núi cao, vượt suối lũ, lẩn tránh địch phục kích, cơm đùm cơm nắm, đi vào sâu tận sào huyệt địch. Tôi cũng cùng anh em nằm sát vị trí giặc suốt hai ngày liền để nghiên cứu nắm quy luật hoạt động của địch. Chính tinh thần, thái độ đó đã thúc đẩy cán bộ cán cấp trong đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường nghiên cứu địa hình, nghiên cứu địch đến nơi đến chốn, cấp trực tiếp chiến đấu càng nghiên cứu tỉ mỉ, cụ thể hơn, bò vào tận hàng rào dây thép gai của địch, xem xét từng mô đất, từng lùm cây, bố trí cụ thể từng khẩu súng, từng mũi đột kích, v.v. Sự có mặt của người chỉ huy trong những lúc khó khăn, nguy hiểm là rất quan trọng. Chuẩn bị chu đáo như vậy, tất nhiên khi tác chiến sẽ có nhiều thuận lợi, bảo đảm chiến thắng.


Những trận đánh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sở chỉ huy đại đoàn chúng tôi thường ở cách mục tiêu tấn công không ngoài 2 ki-lô-mét, có trận cần thiết chúng tôi chia nhau xuống các sở chỉ huy trung đoàn. Sở chỉ huy trung đoàn chỉ cách mục tiêu 500 - 600 mét, tiểu đoàn đi sát với đại đội chủ công, đại đội đi ngay sau trung đội chủ công. Do đó, chúng tôi luôn luôn nắm chắc được tình hình và xử trí kịp thời.


Vừa qua, trong chiến đấu với bọn giặc xâm lược, ỷ lại vào hỏa lực của máy bay là chính, có vùng chúng dùng nhiều hỏa lực của pháo mặt đất và pháo hạm, sở chỉ huy các cấp cần tuỳ theo tình hình cụ thể mà bố trí cho thích hợp. Nhưng bất cứ ở trường hợp nào, sở chỉ huy đặt ở đâu thì người chỉ huy cũng phải nắm được tình hình địch, tình hình ta, hiểu được diễn biến của chiến sự để có quyết tâm kịp thời và chính xác. Hết sức tránh vì quá chú ý đến an toàn mà đặt sở chỉ huy quá xa, chỉ huy cách bức, khoán trắng cho cấp dưới, sẽ không bảo đảm cuộc chiến đấu thu được thắng lợi toàn vẹn, có khi còn gặp nhiều khó khăn.

HÀNH QUÂN, TRÚ QUÂN VÀ THU QUÂN

Hành quân, trú quân và thu quân là những giai đoạn rất quan trọng bảo đảm cho trận đánh thắng lợi toàn vẹn.

Hành quân là giai đoạn chiến đấu cũng tức là giai đoạn của chiến thuật. Khi hành quân, tổ chức không chu đáo, đội hình không chặt chẽ, thu dung không gọn, động viên nhiệm vụ không triệt để sâu sắc, các tổ chức công tác chính trị hoạt động không tốt để cho đội hình kéo dài, lếch thếch rơi rớt dọc đường sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến sức chiến đấu của bộ đội và sẽ bị động lúng túng khi gặp địch phục kích hoặc đánh lén. Tóm lại, những việc trên có làm tốt, nhưng tổ chức chiến đấu trong khi hành quân không tốt, như không có trinh sát tung đi tướt, không có trinh sát sục sạo bên sườn, phía sau của ngay bản thân đội hình, vị trí chỉ huy các cấp không thích hợp, thông tin truyền lệnh không thông suốt, không có dự kiến tỉ mỉ, cụ thể phương án tác chiến dọc đường thì dễ bị địch dùng bộ binh, máy bay hoặc dùng hỏa lực tập kích bất ngờ. Lúc đó, đội hình hành quân sẽ bị rối loạn, lực lượng dễ bị tiêu hao, người chỉ huy khó chỉ huy, khó nắm quân. Đó cũng là mối lo lắng lớn đối với người cán bộ trong việc chỉ huy bộ đội hành quân chiến đấu.


Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đại đoàn X đã cùng các đơn vị bạn tham gia nhiều chiến dịch. Lịch sử chiến đấu của đại đoàn là lịch sử của quá trình hành quán liên tục, đường dài vạn dặm. Đi để đánh, đánh xong lại đi, đi hết chiến trường này đến chiến trường khác. Ra đi trở lại, lại ra đi.
Có những con đường đại đoàn đã đi qua không biết bao nhiêu lần. Đánh xong chiến dịch Biên Giới lại tiến về đánh ở trung du, xong trung du lại sang Đông Bắc, xong Đông Bắc xuống Hà Nam Ninh, rồi đi Tây Bắc, đi mặt trận phía tây đi biên giới. v.v. Có những chặng đường đi hàng chục đêm liền. Thí dụ: Cuộc hành quân của đại đoàn từ Đông Bắc xuống Hà Nam Ninh cũng đã đặt ra cho đại đoàn nhiều vấn đề mới mẻ trong việc tổ chức chỉ huy và lãnh đạo. Từ rừng núi xuống đồng bằng làm sao giữ được bí mật khỏi bị địch phát giác và không bị máy bay, pháo binh địch oanh tạc? Đường xa, đi đêm nhiều, bộ đội sẽ mệt mỏi rơi rớt nhiều, làm sao bảo đảm được quân số chiến đấu? Thời gian mở màn chiến dịch rất gấp rút, nhiệm vụ của đại đoàn rất nặng nề phải phối hợp với các đơn vị bạn, bảo đảm hành động ăn khớp.


Sau khi nhận nhiệm vụ của cấp trên, đảng ủy đại đoàn nghiên cứu quán triệt và ra quyết nghị: “Tuyệt đối giữ bí mật, bảo đảm quân số cao nhất tham gia chiến đấu, chấp hành đúng thời gian mở màn chiến dịch...". Cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần tiến hành đặt kế hoạch hành quân tính toán cụ thể từng chặng đường đì, quy định thời gian xuất phát, tổ chức chỉ huy điều chỉnh xuống thuyền qua sông, v.v. Mỗi chặng đường đều tổ chức đội tiền trạm đi trước chuẩn bị địa điểm trú quân, tìm mọi cách bảo đảm cho đơn vị tới nơi vào địa điểm trật tự, tranh thủ nghỉ ngơi được ngay; tổ chức đội thu dung ở từng chặng đường để thu vét những anh em ốm yếu, đau chân tụt lại sau; từng chặng có nơi ăn nghỉ, khi cần phải tổ chức khiêng cáng anh em ốm yếu đến trạm điều trị. Phải tổ chức từng chặng đi cho phù hợp với sức khoẻ của từng loại, luôn luôn động viên anh em. Phải có người bảo vệ anh em được an toàn. Tổ chức thu dung tốt tức là tiếp tục hoàn thành giai đoạn hành quân tốt, nên yêu cầu người phụ trách công tác thu dung phải hết sức nhẫn nại tổ chức chu đáo và tích cực mọi biện pháp vén quân cho gọn.


Trong khi hành quân, cán bộ các cấp phân công nhau mỗi người đi ở một vị trí thích hợp. Thí dụ: Cán bộ quân sự cấp trưởng đi đầu hàng quân, cấp phó đi đoạn giữa, chính trị viên đi sau đội hình, hoặc tuỳ tình hình có thể chuyển vị trí giữa cấp phó và chính trị viên, hoặc cấp trưởng và chính trị viên đi gần nhau để tiện trao đổi. Các cán bộ thay nhau chạy lên chạy xuống duy trì trật tự đội hình hành quân, luôn luôn đôn đốc động viên bộ đội, giúp đỡ anh em ốm yếu. Từng chặng nghỉ ngắn, cán bộ đi hỏi han săn sóc sức khoẻ của anh em, nhắc anh em đừng nằm xuống đất, giữ gìn súng đạn, ăn uống ra sao, v.v. Tất cả những tình cảm thắm thiết đó của cán bộ làm cho chiến sĩ rất cảm động, tình thương yêu gắn bó sâu sắc dù mệt nhưng cũng không muốn rời đơn vị, đã tụt lại nhưng cũng cố gắng đuổi theo kịp đơn vị để được đi làm nhiệm vụ.
Trong hành quân, tổ chức động viên liên tục, hoạt động văn nghệ thường xuyên để bộ đội quên gian khổ, quên mệt nhọc. Từng chặng đường có khẩu hiệu động viên, hò, vè, ca dao. Hoạt động của tổ ba người dí dỏm vui tươi. Đảng viên, đoàn viên luôn luôn gương mẫu, săn sóc anh em, cởi mở, trò chuyện với quần chúng. Các chiến sĩ tích cực giúp ñôõ động viên mang vác hộ nhau, dìu nhau đi đến nơi đến chốn, quyết tâm đi nhanh, đi gọn, làm tròn nhiệm vụ. Đơn vị nào cũng thi đua động viên mọi người đi tới đích một trăm phần trăm.


Trong hành quân có những công việc tưởng chừng như đơn giản, nhưng nếu người chỉ huy không tính toán hết, không giải quyết cụ thể thì sẽ trở thành vấn đề lớn, ảnh hưởng đến hành quân. Thí dụ: Trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952, đường hành quân của đại đoàn từ mép sông Hồng vào tới Nghĩa Lộ, theo đường ô tô, chỉ dài chừng 85 ki-lô-mét, nhưng là đường rừng, leo đèo, lội suối nhiều, có chặng đường lội qua 21 khúc suối, có đoạn đường leo đèo nửa ngày mới tới đỉnh và nửa ngày mới xuống đến chân dốc. Chúng tôi đã tính toán nếu một vài người đi thì chỉ mất 3 ngày nhưng nếu cả đại đoàn thì chắc chắn 3 ngày không thể tới nơi mà phải 4 ngày hoặc hơn nữa. Tổ chức vượt sông bằng nhiều bến, tổ chức sang sông rất chu đáo mạng thông tin rải ở mé sông xuống các bến điều khiển từng đơn vị xuống thuyền. Số người, số đợt sang trật tự, nhanh chóng. Sau 2 giờ đồng hồ, đại đoàn đã vượt qua sông gọn ghẽ. Nhưng do chưa tính đến đường từ bờ sông toả đi các ngả, chưa tổ chức cụ thể đơn vị nào đi trước, đơn vị nào đi sau, nên khi bộ đội vừa sang sông hết cũng là lúc trời tối mù mịt, mưa to gió lớn, đội hình ùn lại, chen nhau rất lộn xộn, lùng nhùng suốt đêm, thỉnh thoảng mới nhích được vài bước, có lúc phải đứng tại chỗ hàng giờ. Trời vẫn mưa. Đường trơn, bùn lầy lội. Đi không được, ngồi nghỉ thì không có chỗ. Đến khi trời sáng bạch vẫn nhùng nhằng, đi không ra đi, đứng không ra đứng. Một đêm ròng đại đoàn đi chưa được đầy 3 ki-lô-mét. Cuộc hành quân vẫn tiếp tục, nhưng mới được hai ngày bộ đội đã mệt mỏi. Các đơn vị đề nghị cho bộ đội nghỉ lại ngủ để lấy sức. Nhưng vì thời gian gấp, yêu cầu đi nhanh, đại đoàn đã giải quyết bằng cách: đơn vị đi đầu rẽ sang hai bên đường cho anh em ngủ vài giờ, đơn vị sau đi vượt đơn vị trước một chặng dài rồi lại tạt sang rìa rừng cho anh em ngủ vài giờ. Các đơn vị thực hiện lần lượt như vậy nên đã giữ được sức khoẻ cho bộ đội, bảo đảm hành quân liên tục và nổ súng mở màn chiến dịch đúng thời gian đã định.

Đợt 2 chiến dịch, đơn vị lại hành quân vượt qua sông Mã, bên kia sông có vị trí địch. Để bảo đảm vượt sông an toàn, dợn vị đã hết sức giữ bí mật bến qua sông, một mặt cho bộ đội bí mật bắc cầu, bố trí một số hỏa lực sẵn sàng chiến đấu, mặt khác quân báo và một tiểu đoàn bộ binh của đại đoàn vượt trước sang bên kia sông bám sát vị trì địch. bố trí yểm hộ cho toàn đơn vị vượt sông. Cuộc hành quân vượt sông của đại đoàn được chuẩn bị và tổ chức chu đáo, tỉ mỉ đã bảo đảm cho toàn đơn vị sang sông nhanh chóng và gọn ghẽ.
Trong trú quân, cán bộ chỉ huy lo ngại nhất là khi đơn vị bố trí đội hình không có thế, tuần tra canh gác không nghiêm mật; tổ chức kỷ luật không chặt chẽ; kế hoạch đánh địch dưới đất trên không không có hoặc có nhưng sơ sài chung chung vài nét đại cương, v.v.


Tất cả những thiếu sót sẽ dẫn tới lộ bí mật. Khi địch oanh tạc hoặc địch đánh bất ngờ thì dễ bị rối loạn đội hình, bị động lúng túng, không điều động được quân, bộ đội có thể bị tổn thất nặng hoặc tan vỡ đội hình, và như vậy mục đích của trú quân sẽ không còn nữa. Bộ đội không được nghỉ ngơi, sức khoẻ không được hồi phục, công việc chuẩn bị chiến đấu không làm được v.v. Nhưng muốn trú quân tốt thì trước hết tổ chức hành quân phải tốt.


Quan hệ giữa hành quân và trú quân rất khăng khít. Công tác của đội tiền trạm và đội thu dung rất quan trọng. Tiền trạm cẩu thả, thu dung lếch thếch không những hành quân nát đội hình mà trú quân cũng nát đội hình. Trong kháng chiến chúng ta tổ chức đội tiền trạm thường có cán bộ tác chiến: tổ trinh sát, thông tin và liên lạc., dân vận, bảo vệ, hậu cần, vệ binh, v.v. Cán bộ tham mưu của đại đoàn phụ trách chỉ huy anh em đi trước gấp rút tiến hành mọi việc, từ việc đánh dấu đường, chuẩn bị cầu phà đến việc tung trinh sát nắm tình hình địch. Cán bộ dân vận, bảo vệ liên hệ với cấp ủy và chính quyền địa phương, với dân quân tự vệ, v.v. nắm tình hình địa phương, tình hình phản động nội địa, cùng địa phương tổ chức tuần tra canh gác, theo dõi bọn nghi vấn, bảo đảm an toàn khi trú quân. Bộ phận tác chiến thường cùng địa phương xem xét địa hình, có dự kiến những phương án tác chiến để đề đạt với cán bộ chỉ huy. Song song với việc trên, các đội tiền trạm trước đây còn đặt ngay trạm liên lạc, lộ tiêu bằng ám hiệu, ký hiệu riêng, tổ chức đón và dẫn đường vào địa điểm trú quân thật nhanh và trật tự. Chuẩn bị xong mọi việc, tuỳ tình hình, đội tiền trạm có thể để một đồng chí cán bộ ở lại chỉ huy một số anh em đón bộ đội còn tất cả vọt đi trước. Bộ phận ở lại, sau khi dẫn bộ đội vào nơi trú quân ổn định, có thể vọt lên đuổi kịp đội tiền trạm tiếp tục làm nhiệm vụ chặng đường sau.


Công việc đưa bộ đội tiến vào khu vực trú quân rất quan trọng. Bộ đội giữ được sức khoẻ hay không, khâu công tác này cũng là một trong những khâu hệ trọng. Khi bộ đội tới nơi, cần đưa ngay vào nơi trú quân nhanh, gọn, trật tự. Như vậy bộ đội đỡ mệt, tranh thủ được nhiều thời gian nghỉ ngơi. Khi vào nơi trú quân, cán bộ phải phân công nhau làm ngay việc chuẩn bị tác chiến theo các phương án dự kiến, xem xét địa hình, đôn đốc hướng dẫn làm chỗ nghỉ, đào công sự. Nếu thời gian ngắn thì lấy việc chuẩn bị tác chiến và làm công sự làm chính, bảo đảm có hầm hố tránh máy bay địch oanh tạc, có hầm ho đánh địch tập kích đường không, đường bộ... Cấp dưỡng phải bảo đảm làm bếp nước thật nhanh nhưng không để khói, lửa lộ ra ngoài.


Sau khi có quyết tâm và chuẩn bị xong kế hoạch tác chiến, lập tức phổ biến ngay cho bộ đội quán triệt. Nếu có thời gian thì diễn tập thử. Các việc tuần tra canh gác, tổ chức bảo đảm vệ sinh phòng bệnh đều tiến hành song song.


Quá trình hành quân là quá trình theo dõi bộ đội về mọi mặt sinh hoạt, tình hình tư tưởng, chấp hành chính sách. Vì vậy, khi gần tới hoặc tới khu vực trú quân là lập tức hội ý trao đổi, sau đó biểu dương mặt tốt, phê bình mặt xấu, phổ biến kinh nghiệm kịp thời và dự kiến luôn công tác lãnh đạo khổng hành quân tiếp sau.


Cán bộ chỉ huy chiến đấu giỏi phải là cán bộ tổ chức thu quân giỏi, đơn vị thiện chiến phải là đơn vị lui quân có trật tự gọn theo kế hoạch và mệnh lệnh của người chỉ huy và sẵn sàng đánh ngáy được trận khác. Nếu lui quân không tốt, bộ đồi hành động tuỳ tiện không theo kế hoạch, không theo mệnh lệnh người chỉ huy; mặt khác người chỉ huy không có kế hoạch cụ thể, không tổ chức chu đáo, không thường xuyên giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho bộ đội, bản thân cán bộ thiếu trách nhiệm chính trị thì dù chiến đấu có anh dũng đến mấy cũng không tránh khỏi tổn thất. Trong kháng chiến có nhùng đơn vị khi đánh thì rất tốt, có tổ chức chu đáo, đánh nhanh, gọn nhưng khi lui quân thì tuỳ tiện, luộm thuộm, mạnh ai người nấy rút. Ai nhanh lui trước, ai chậm lui sau, cán bộ đi đằng cán bộ, chiến sĩ đi đằng chiến sĩ nên đã bị tổn thất nhiều hơn khi trực tiếp chiến đấu. Trong trận Non Nước, chiến dịch Hà Nam Ninh năm 1951, đánh xong, kế hoạch lui quân không chu đáo, thiếu tổ chức đơn vị nào lui trước, đơn vị nào lui sau, lui tới đâu, đơn vị nào yểm hộ, đơn vị nào đánh viện, v.v., do đó khi lui quân không những số thương vong tăng lên tương đương với khi đánh mà còn ảnh hưởng xấu tới tư tưởng bộ đội. Trong trận Pú Chạng, chiến dịch Tây Bắc năm 1952, khi giải quyết xong đồn, quân ta kéo vào rất ùn. Chỉ huy ra lệnh một số đơn vị phải lui ra nhưng mệnh lệnh không được chấp hành triệt để, nên khi máy bay địch oanh tạc, bộ đội đã bị thương vong thêm một số. Càng thua đau, quân địch ngoan cố càng tăng thêm phương tiện cơ động, tăng quân, chiến sự sẽ càng khẩn trương, phức tạp, nên việc tổ chức lui quân, sẵn sàng chiến đấu liên tục càng phải chu đáo, tỉ mỉ, cụ thể và nghiêm ngặt. Nếu sau trận đánh một thời gian dài vẫn chưa thu quân xong thì không những trận đó thương vong tăng thêm mà tư tưởng bộ đội sẽ sụt xuống, tổ chức sẽ xộc xệch, chỉ huy sẽ bị động lúng túng liên tiếp. Để bảo đảm thu quân được chu đáo, chúng tôi thường tổ chức đội tải thương hỏa tuyến bám sát ngay xung kích để giải quyết thương binh, tử sĩ đội thu dọn chiến trường cũng bám sát bộ đội, đánh xong đến đâu mọi việc thu dọn vận chuyển giải quyết gọn đến đó; tổ chức các trạm cấp cứu bám sát bộ đội và từng cấp tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn ở từng chặng thích hợp; kết hợp nhiệm vụ giữa đội vận tải với đội tải thương như khi ra tải đạn, khi về tải thương; quy định đường đi, đường về, quy định những gì chuyển trước, không gì chuyển sau; có kế hoạch tỉ mỉ, cụ thể giải quyết thương binh, tử sĩ; tổ chức đơn vị yểm hộ cho bộ đội lui quân, đơn vị đánh máy bay, đánh viện; tổ chức trinh sát tiếp tục toả đi bám địch; quy định từ tổ ba người trở lên nắm quân số, vũ khí, giữ vững đội hình, sẵn sàng chiến đấu liên tục. Trách nhiệm quản lý đơn vị là trách nhiệm của mọi người từ người chiến sĩ, tổ trưởng ba người trở lên đều phải làm ngay trong quá trình tác chiến và lui quân. Mọi người phải đề cao trách nhiệm chính trị, bảo đảm tổ chức của đơn vị luôn chặt chẽ, sẵn sàng chiến đấu. Chiến sĩ bám sát tổ ba người, cấp dưới tìm cấp trên, nhanh chóng củng cố đội ngũ để sẵn sàng đánh tiếp trận khác.


Hành quân, trú quân và lui quân đều là những công việc rất quan trọng để bảo đảm chiến đấu thắng lợi trọn vẹn. Ba việc đó liên quan mật thiết với nhau. Hành quân có tốt thì trú quân mới tốt. Ngược lại hành quân, trú quân, chiến đấu tốt nhưng lui quân dở thì tổn thất vẫn tăng lên, trận chiến đấu không phải là thắng lợi toàn vẹn.

LÃNH ĐẠO TƯ TƯỞNG, BẢO ĐẢM TỔ CHỨC


Một đơn vị trước khi xuất trận cần có khí thế bừng bừng sôi sục, có gan vượt qua mọi khó khăn trở ngại, lướt qua mọi ác liệt gian nan, tin ở sức mình nhất định chiến thắng. Đó là một trong những điều kiện mấu chốt nhất để bảo đảm đánh thắng. Có được như vậy là nhờ sự lãnh đạo sát sao, trực tiếp của chi bộ Đáng, của đảng ủy và của các đồng chí thủ trưởng quân chính và cơ quan các cấp. Ở đây, tôi không nói về kinh nghiệm lãnh đạo tư tưởng mà chỉ kể lại một số kinh nghiệm của người chỉ huy căn cứ vào yêu cầu lãnh đạo tư tưởng phải bảo đảm tổ chức như thế nào? Trong thực tế chiến đấu, có trường hợp tổ chức còn thiếu sót, kỹ thuật, chiến thuật còn yếu nhưng do tinh thần, tư tưởng tốt, nên vẫn bảo đảm chiến đấu thắng lợi. Nhưng đó không phải là điều hoàn toàn tốt. Vì thắng lợi mà thương vong nhiều, tổn thất lớn cũng là điều thiệt thòi cho cách mạng. Nguyện vọng của quần chúng, lợi ích của cách mạng đòi hỏi đánh thắng giặc nhưng tổn thất càng ít càng tốt, thậm chí tránh được mọi tổn thất mà giành thắng lợi lớn lại càng hoan nghênh. Vì vậy, trong khi làm tốt công tác tư tưởng, phải hết sức lo lắng vấn đề bảo đảm tổ chức. Thí dụ: Bộ đội chuẩn bị đi chiến đấu trong điều kiện máy bay, pháo binh địch hoạt động rất ác liệt địch lại có nhiều xe tăng, xe bọc thép hoặc bộ đội có khi phải tác chiến ở địa hình trống trải, v.v. Công tác chính trị đã làm cho bộ đội căm thù giặc, quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa của trận đánh hoặc chiến dịch, mỗi người và mỗi đơn vị đã thấy rõ trách nhiệm của bản thân mình, hăng hái nhận mọi nhiệm vụ khó khăn nguy hiểm, kiên quyết, giành thắng lợi. Đó là vấn đề cơ bản đã được giải quyết. Nhưng nếu dừng lại ở mức đó thì hoàn toàn sai lầm. Không được chỉ có quyết tâm đánh thắng trong hội nghị, trên giấy tờ, với những kế hoạch trừu tượng, với những khẩu hiệu chung chung, mà phải biến từ những nội dung tinh thần trên trở thành những biện pháp tổ chức cụ thể. Thí dụ: Công tác chính trị đã lãnh đạo giải quyết tư tưởng bộ đội không sợ máy bay, pháo binh địch. Với lòng căm thù giặc sâu sắc, với khí thế chiến đấu rất cao, bộ đội có gan lướt qua mọi ác liệt, xốc tới tiêu diệt giặc. Nhưng muốn cho tinh thần, tư tưởng tốt ấy càng được củng cố vừng chắc, càng được phát huy cao độ, đúng với tư tưởng chỉ đạo tác chiến của ta là "tiêu diệt giặc, bảo vệ mình", người chỉ huy các cấp phải hết sức đi sâu vào vấn đề bảo đảm tổ chức. Nếu cần và có thể thì tăng cường thêm súng bắn máy bay tổ chức phân công rõ ràng những bộ phận bắn máy bay khi ta chiếm lĩnh, khi bị bắn phá, khi bộ đội xung phong, khi lui quân, v.v. Tổ chức nghi binh, làm công sự, nguỵ trang, sơ tán, luôn luôn cơ động, giữ gìn bí mật. Huấn luyện cho bộ đội bắn máy bay địch cũng giỏi, tránh máy bay địch cũng tài. Dừng chân lại là làm ngay công sự, bố trí ngay màng lưới quan sát, trinh sát, có ngay kế hoạch đánh địch dưới đất và trên không. Phải thực hiện được: ta ở đâu địch cũng không biết, ta đi đâu địch cũng không hay, bộ đội trang bị vừa gọn gàng vừa bảo đảm sẵn sàng chiến đấu. Tổ chức chỉ huy phải chặt chẽ, kỷ luật hành quân, trú quân phải nghiêm minh. Bộ đội giỏi ứng phó với các tình huống đánh gặp địch, chững địch phục kích, đánh địch đổ bộ đường không, đánh địch oanh tạc, v.v.


Tất cả những điều đó làm được tốt thì tinh thần, tư tưởng của bộ đội càng cao, chiến thắng địch càng lớn, tổn thất của ta càng ít.

Trong kháng chiến chống xâm lược, để giải quyết tư tưởng đối với pháo binh địch, đi đôi với công tác chính trị, có nhiều đơn vị đã tổ chức kiềm chế pháo binh địch rất giỏi . Chỉ cần vài khẩu cối 60 hoặc 81 mi-li-mét đưa sát gần trận địa pháo của địch, khi địch vừa nổ súng bắn vào đơn vị bạn thì ta bất ngờ bắn dập đầu chúng, hoặc bắn "cầm canh" suốt thời gian yêu cầu phải kiềm chế, làm cho súng địch bị hỏng, pháo thủ địch bị chết. Có trận, pháo binh địch chỉ bắn được vài phát, hoặc có trận pháo binh địch câm họng từ đầu đến cuối. Mặt khác, khi chiếm lĩnh trận địa, bộ đội ta làm công sự rất nhanh, chỉ một thời gian ngắn hố cá nhân đã xong, phát triển thành hào giao thông nối liền từ người nọ đến người kia, đơn vị nọ đến đơn vị kia... Trong khi đó, quân ta tấn công nghi binh nơi này, quấy rối nơi khác, làm cho pháo binh địch bắn phân tán, bắn nhầm vào nhau, bắn vào chỗ không có quân ta. Các đơn vị còn huấn luyện cho bộ đội giỏi ẩn nấp, vọt tiến, tránh hoặc vượt qua làn đạn pháo binh địch. Nhiều đơn vị có sáng kiến bện những nùi rơm để bộ đội đeo vào lưng, che trên đầu chống mảnh đạn đại bác nổ trên không của địch. Phát huy quân sự dân chủ, phát huy trì tuệ của quần chúng, bộ đội ta đã tìm ra được muôn vàn cách để tiêu diệt địch, bảo vệ mình. Đánh thắng giặc mà tổn thất ít hoặc không tổn thất thì tinh thần chiến đấu của bộ đội càng cao, khí thế càng thêm dũng mãnh. Đó là mối quan hệ giữa bảo đảm tổ chức và lãnh đạo tư tưởng. Nhưng cần nhắc rằng: tổ chức tốt, kỹ thuật chiến đấu giỏi, vũ khí tốt, đạn dược nhiều, nhưng sợ địch, không dám đánh địch, thấy địch có nhiều máy bay nhiều pháo binh. nhiều bom đạn. nhiều xe tăng, xe bọc sắt, đông quân, v.v. mà dao động, do dự thiếu quyết tâm tiêu diệt địch thì không thể nào giành được thắng lợi. có khi còn bị tổn thất lớn và cái tốt cái hay kia cũng chẳng có giá trị gì. Thủ tiêu chiến đấu, thoái thác nhiệm vụ, không dám đánh địch thì sớm muộn cũng bị địch đánh đau, hối không kịp. Cho nên, vấn đề mấu chốt vẫn là vấn đề giáo dục chính trị, giải quyết tư tưởng "không sợ địch, quyết đánh địch, quyết giành thắng lợi". Đi đôi với vấn đề mấu chốt ấy, biện pháp tổ chức phải được coi trọng.


Người chỉ huy phải suy nghĩ nhiều, bỏ nhiều công sức vào vấn đề bảo đảm tổ chức, làm thật tỉ mỉ, cụ thể, làm thực sự, làm đến nơi đến chốn, phải cùng quẩn chúng bàn bạc tìm ra mọi cách làm cho tư tưởng bộ đội càng vững mạnh để kiên quyết giành thắng lợi trong bất kỳ nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nào. Người chỉ huy phải luôn luôn chú ý phát hiện tình hình tư tưởng của bộ đội, phải thấy trước mọi vấn đề lãnh đạo tư tưởng, bảo đảm tổ chức, đừng để tư tưởng phát sinh thành hành động, lúc đó mới đuổi theo “chữa cháy". Người chỉ huy không được coi nhẹ vấn đề tư tưởng, không được bỏ qua khi đã phát hiện thấy tư tưởng sai lầm, vì như vậy nhất định sẽ dẫn đến những vấn đề phức tạp, gay go đối với việc hoàn thành nhiệm vụ, bấy giờ có hối cũng không kịp. Ngược lại, người chỉ huy biết coi trọng phát hiện tư tưởng, giải quyết tư tưởng đồng thời chu đáo, tỉ mỉ trong công tác tổ chức bảo đảm vật chất thì sẽ vượt được mọi khó khăn trở ngại để đánh thắng.


Một thí dụ về vấn đề lãnh đạo tư tưởng, bảo đảm tổ chức trong chiến dịch Trung Du cuối năm 1950. Lúc đó, phần lớn bộ đội chủ lực của ta vẫn chỉ quen hoạt động ở địa hình rừng núi, nên khi xuống đồng bằng thì rất bỡ ngỡ, lo ngại máy bay, pháo binh địch. Cấp trên đã chỉ đạo bộ đội chủ lực rèn luyện hành quân "bôn tập" vượt mấy chục ki-lô-mét tới trung du đánh địch, đánh nhanh, giải quyết nhanh, rồi lại "bôn tập" trở về địa hình kín đáo. Để chấp hành ý định đó và góp phần giải quyết những lo ngại trên, người chỉ huy trực tiếp còn phải giải quyết nhiều vấn đề khác thuộc phạm vi tổ chức, như giáo dục huấn luyện cách giữ bí mật nơi trú quân, đường hành quân, tổ chức cảnh giới, làm công sự, nguỵ trang khi tạm dừng cũng như khi đóng quân, v.v. Cán bộ đi chuẩn bị chiến trường phải hết sức tỉ mỉ, cụ thể, không mơ hồ trừu tượng. Kế hoạch tác chiến và mọi tổ chức bảo đảm chiến đấu phải thật chu đáo, làm cho mọi người tin tưởng chắc thắng. Đối với bộ đội. phải xây dựng cho anh em một quyết tâm đã đánh địch thì phải đánh mạnh, bám sát địch mà đánh, hành quân, trú quân, lui quân đều phải phục tùng nghiêm chỉnh mọi quy định chung, có tổ chức, có trật tự... Làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng và bảo đảm tổ chức, nên đợt I chiến dịch các đơn vị đều tránh được những tổn thất do máy bay, pháo binh địch gây ra. Đến đợt II, đại đoàn đánh phục kích trên đường Vĩnh Yên - Tam Đảo (tức là trận Thanh Vân - Đạo Tú - Long Trì - Cẩm Trạch) . Trận đánh diễn ra từ sáng sớm đến chiều tối. Trên trời thường xuyên có 12 máy bay chiến đấu của địch lồng lộn bắn phá, nhưng bộ đội ta vẫn bám sát địch mà đánh, nên máy bay của chúng đã không làm gì được. Máy bay, pháo binh địch nhiều, nhưng chúng ta đã tránh được tổn thất. Riêng trận đánh ở phía nam Vĩnh Yên có thương vong một ít, vì đơn vị làm nhiệm vụ bố trí ngăn chặn địch khi chiếm lĩnh ở đồi trọc không đào công sự, ngụy trang.


Lãnh đạo tư tưởng, bảo đảm tổ chức là vấn đề rất quan trọng để đưa bộ đội đi nhanh, đi gọn đến chiến trường và để bộ đội vượt qua mọi khó khăn, ác liệt để đánh thắng địch. Vì vậy là cán bộ trực tiếp càng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm chính trị. hết sức coi trọng việc lãnh đạo tư tưởng, bảo đảm tổ chức để luôn luôn chiến thắng quân thù. 

 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam