Tác giả: Trần Kinh Chi
NXB: Quân Đội nhân dân
Năm xuât bản: 2000
Số hoá sách: 10con3, ptlinh
Kính dâng hương hồn Bác muôn vàn kính yêu
Kính tặng những cán bộ, chiến sĩ bảo vệ an ninh quân đội
nhân dân Việt Nam, những nhà khoa học, những cán bộ và công
nhân viên đã cống hiến toàn bộ tinh thần, sức lực
cho sự nghiệp: để Bác Hồ sống mãi với nhân dân. LỜI GIỚI THIỆU
Công tác giữ gìn lâu dài và bảo vệ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây
dựng Lăng của Người là một nhiệm vụ trọng đại, có ý nghĩa lịch sử chính
trị to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta.
Ngay từ những ngày đầu, đồng chí Thiếu tướng Trần Kinh Chi với cương vị
là Cục trưởng Cục Bảo vệ - an ninh quân đội đã được Quân ủy Trung ương
chỉ định vào Ban chỉ đạo giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ, trực thuộc
Quân ủy Trung ương. Quá trình thực hiện nhiệm vụ vẻ vang này có nhiều
lực lượng, trong đó có nhiều cán bộ, chiến sĩ Bảo vệ - an ninh quân đội
được huy động tham gia, đó là một vinh dự lớn.
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50, ngày thành lập Cục Bảo vệ - an ninh quân
đội (20.7.1950-20.7.2000), đồng chí Trần Kinh Chi đã kể lại những công
việc mà cán bộ, chiến sĩ Bảo vệ - an ninh quân đội đã tiến hành, trong
những năm tháng đầu tiên với những khó khăn gian khổ, nhưng đã vượt
qua, để góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn lâu dài
thi hài Bác Hồ và xây dựng Lăng của Người; góp phần minh họa, làm phong
phú lịch sử truyền thống của Ngành Bảo vệ - an ninh quân đội trong 50
năm xây dựng và trưởng thành.
Cục Bảo vệ - an ninh quân đội xin trân trọng giới thiệu cuốn sách:
“NHỮNG THÁNG NĂM THAM GIA GIỮ GÌN LÂU DÀI VÀ BẢO VỆ THI HÀI CHỦ TỊCH HỒ
CHÍ MINH” cùng bạn đọc.
LỜI GIỚI THIỆU
Công tác giữ gìn lâu dài và bảo vệ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây
dựng Lăng của Người là một nhiệm vụ trọng đại, có ý nghĩa lịch sử chính
trị to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta.
Ngay từ những ngày đầu, đồng chí Thiếu tướng Trần Kinh Chi với cương vị
là Cục trưởng Cục Bảo vệ - an ninh quân đội đã được Quân ủy Trung ương
chỉ định vào Ban chỉ đạo giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ, trực thuộc
Quân ủy Trung ương. Quá trình thực hiện nhiệm vụ vẻ vang này có nhiều
lực lượng, trong đó có nhiều cán bộ, chiến sĩ Bảo vệ - an ninh quân đội
được huy động tham gia, đó là một vinh dự lớn.
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50, ngày thành lập Cục Bảo vệ - an ninh quân
đội (20.7.1950-20.7.2000), đồng chí Trần Kinh Chi đã kể lại những công
việc mà cán bộ, chiến sĩ Bảo vệ - an ninh quân đội đã tiến hành, trong
những năm tháng đầu tiên với những khó khăn gian khổ, nhưng đã vượt
qua, để góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn lâu dài
thi hài Bác Hồ và xây dựng Lăng của Người; góp phần minh họa, làm phong
phú lịch sử truyền thống của Ngành Bảo vệ - an ninh quân đội trong 50
năm xây dựng và trưởng thành.
Cục Bảo vệ - an ninh quân đội xin trân trọng giới thiệu cuốn sách:
“NHỮNG THÁNG NĂM THAM GIA GIỮ GÌN LÂU DÀI VÀ BẢO VỆ THI HÀI CHỦ TỊCH HỒ
CHÍ MINH” cùng bạn đọc.
I. TỔ Y TẾ ĐẶC BIỆT VÀ NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐẶC BIỆT.
Bước sang những năm của thập kỷ sáu mươi, Bác của chúng ta vẫn làm việc
với nhịp độ khẩn trương như trước đây, nhưng qua theo dõi của các bác
sĩ thì rõ ràng sức khỏe của Bác ngày càng suy giảm. Ngay từ giữa năm
1966, sau chuyến đi thăm đồng bào tỉnh Thái Bình trở về, Bác đã bị liệt
nhẹ nửa người bên trái, đi lại phải dùng gậy. Nhờ sự rèn luyện phi
thường của Bác và sự chăm sóc tận tình của các bác sĩ sức khỏe của Bác
dần dần hồi phục, nhưng đây vẫn là dấu hiệu không bình thường đầu tiên
nói lên sự suy giảm sức khỏe của Bác.
Trước tình hình đó, tháng 5 năm 1967, sau lễ mừng thọ lần thứ 77 của
Người, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị
bất thường do đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng chủ
trì để bàn về việc chăm sóc sức khỏe của Bác và những công việc phải
chuẩn bị để đáp ứng khi tình huống xấu nhất xảy ra, trong đó có việc
giữ gìn thi hài Bác khi Bác qua đời. Xuất phát từ tình cảm và nguyện
vọng sâu xa của nhân dân cả nước đối với Bác để nêu ra vấn đề lớn lao
này, mặc dầu các đồng chí trong Bộ Chính trị rất hiểu sinh thời Bác Hồ
là một lãnh tụ giản dị, thanh cao; Người không muốn có một sự tôn vinh
đặc biệt nào đối với mình, lại cũng không muốn sau khi mình qua đời
đồng bào, đồng chí phải hao tâm tổn lực vì những việc tang lễ, điếu
phúng, chứ đừng nói gì đền đài lăng tẩm.
Cũng chính vì thế mà Bộ Chính trị quyết định không xin ý kiến Bác về vấn đề này.
Hội nghị Bộ Chính trị đã quyết định:
- Cử các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương trực tiếp thường xuyên theo dõi và chăm sóc sức khỏe của Bác.
- Giao Quân ủy Trung ương chuẩn bị những công việc cần thiết về tổ chức
tiến hành công tác giữ gìn lâu dài thi hài Bác khi Bác qua đời. Trong
đó trước mắt chọn một số cán bộ y tế giỏi cử đi Liên Xô học tập về khoa
học giữ gìn thi hài.
- Cử đồng chí Lê Thanh Nghị thay mặt Đảng và Chính phủ ta sang Liên Xô
để đề nghị Đảng và Nhà nước Liên Xô giúp đỡ việc giữ gìn thi hài Bác,
xây dựng Lăng của Người và tiếp nhận cán bộ Việt Nam sang học tập khoa
học giữ gìn lâu dài thi hài.
Mọi công việc về chuẩn bị giữ gìn thi hài Bác phải tuân thủ nguyên tắc
tuyệt đối giữ bí mật để tránh gây ra hoang mang lo lắng trong Đảng,
trong nhân dân và để đề phòng âm mưu hành động phá hoại của địch. Việc
giữ bí mật cũng còn là để giấu Bác, vì nếu biết Bác sẽ không cho phép
triển khai thực hiện chủ trương này.
Cũng trong năm 1967, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quyết định thành
lập Ban tổ chức lễ quốc tang (Ban A) dành cho việc tổ chức lễ tang Bác
Hồ và Bác Tôn khi Người qua đời. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng được cử làm
Trưởng ban. Đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài - thành
viên Ban A, đã đi Liên Xô, Bun-ga-ri, tìm hiểu, nghiên cứu về tổ chức
lễ quốc tang của nước bạn.
Các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng vô cùng cảm
động trước sự tin cậy của Đảng, của Nhà nước đối với quân đội và hạ
quyết tâm động viên cán bộ, chiến sĩ quân đội làm thật tốt nhiệm vụ
này. Bước đầu Quân ủy Trung ương giao cho đồng chí Thiếu tướng, Phó chủ
nhiệm Tổng cục Chính trị Phạm Ngọc Mậu và đồng chí đại tá Phó tổng tham
mưu trưởng Phùng Thế Tài điều hành mọi công tác cụ thể cần thiết, sau
này cần đến đâu thì mở rộng tổ chức, hoạt động đến đó. Như vậy công
việc dễ giữ được bí mật hơn.
Là Cục trưởng Cục Bảo vệ quân đội lúc đó, tôi sớm được đồng chí Phạm
Ngọc Mậu, đồng chí Phùng Thế Tài cho biết quyết định của Trung ương
Đảng, Quân ủy Trung ương và đưa vào dự kiến tiến trình công tác để huy
động cán bộ, chiến sĩ trong Cục triển khai các mặt công tác bảo mật -
phòng gian, bảo vệ an toàn cho nhiệm vụ cực kỳ quan trọng này.
Sau khi nhận được sự chấp thuận của Trung ương Đảng và Nhà nước Liên
Xô, một tổ y tế đặc biệt của ta gồm ba đồng chí được giao nhiệm vụ bí
mật lên đường sang Liên Xô học tập. Đó là các đồng chí:
Nguyễn Gia Quyền - thiếu tá bác sĩ, Chủ nhiệm khoa giải phẫu Viện quân y 108.
Lê Ngọc Mẫn - bác sĩ phụ trách khoa nội tiết Bệnh viện Bạch Mai.
Lê Điều - bác sĩ phụ trách khoa ngoại bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô.
Đồng chí Nguyễn Gia Quyền được cử làm tổ trưởng.
Chuyến đi của tổ y tế đặc biệt được bảo mật chặt chẽ. Các đồng chí được
nhận nhiệm vụ đã giữ tuyệt đối bí mật mục đích của chuyến đi, ngay cả
với gia đình và bạn bè.
Ngày 2 tháng 9 năm 1967, đoàn bí mật đi ô tô từ Hà Nội lên Đồng Đăng và từ đó đi xe lửa liên vận qua Trung Quốc sang Liên Xô.
Nội dung học tập của tổ là công tác ướp, giữ thi hài trong giai đoạn
đầu (theo bạn thì những giai đoạn tiếp sau, các chuyên gia Liên Xô sẽ
trực tiếp đảm nhiệm). Tổ y tế đặc biệt học tập ngay tại Viện khoa học
giữ gìn thi hài Lê-nin với sự giúp đỡ tận tình của đồng chí Xéc-gây
Sê-gây-ê-vích Đê-bốp - Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô,
Phó chủ tịch viện Hàn lâm y học Liên Xô, Viện trưởng Viện khoa học giữ
gìn thi hài Lê-nin, trực tiếp chỉ đạo và hướng dẫn.
Chương trình học gồm hai phần: lý thuyết và thực hành. Tài liệu nghiên
cứu chủ yếu là tài liệu về giữ gìn thi hài từ cổ chí kim trên thế giới,
tiêu biểu là các thi hài của Ai Cập thời cổ đại, Liên Xô, Mỹ. Tiếp đến
là nghiên cứu, thực hành công tác bảo quản thi hài của những người già
trên 60 tuổi.
Nội dung học tập là vấn đề hết sức mới mẻ, thời gian dành cho học tập
không nhiều, nên anh em đã phải động viên nhau dồn hết tâm lực vào học
tập; nhiều hôm phải làm việc suốt ngày trong phòng kín không khí ngột
ngạt khó thở bởi các mùi hóa chất, ban ngày học tập thực hành tại Viện,
đêm về khách sạn lại họp tổ trao đổi kinh nghiệm, đọc thêm tài liệu.
Qua bảy tháng, tổ y tế đặc biệt đã học hết nội dung chương trình do bạn
đề ra. Bạn đánh giá cao kết quả học tập của tổ. Khóa học kết thúc,
trước khi lên đường về nước, tổ y tế đặc biệt đã cùng bạn trao đổi về
chế độ, nền nếp quan hệ công tác giữa Việt Nam - Liên Xô về nội dung
công việc mà Việt Nam tự làm khi tổ y tế đặc biệt về nước. Liên Xô đã
cấp cho tổ ba bộ dụng cụ đại phẫu thuật và một số dụng cụ chuyên dụng
đặc biệt.
Tháng 4 năm 1968 tổ y tế lên đường về nước. Ngay khi về tới Hà Nội, tổ
đã trực tiếp báo cáo công việc với đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Quân
ủy Trung ương. Theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương, chúng tôi nhanh
chóng hoàn tất công tác chuẩn bị, trước hết là về công tác tổ chức để
tổ y tế đặc biệt bắt tay vào nhiệm vụ.
Tháng 6 năm 1968, tổ y tế đặc biệt được thành lập gồm sáu đồng chí.
Thiếu tá bác sĩ Nguyễn Gia Quyển - tổ trưởng.
Đại úy bác sĩ Lê Ngọc Mẫn.
Thượng úy bác sĩ Lê Điều.
Thiếu úy bác sĩ Nguyễn Văn Châu.
Y sĩ Nguyễn Trọng Hát.
Hộ lý trưởng Phạm Ngọc Ảm.
Đến cuối năm 1968, Ban tổ chức Trung ương Đảng và Tổng cục Chính trị
quyết định chính thức điều sáu đồng chí nói trên vào quân đội và thuộc
biên chế Viện quân y 108.
Ít ngày sau, tổ y tế đặc biệt đã đề nghị bổ sung cho tổ một kỹ sư vi
sinh vật là đồng chí Doãn Huy Nghi có nhiệm vụ chuyên nghiên cứu về
chống nấm mốc trên thi hài.
Trong hoàn cảnh chiến tranh trên cả nước đang ở vào thời kỳ rất quyết
liệt nên việc giữ bí mật công tác chuẩn bị của việc giữ gìn thi hài Bác
Hồ là rất quan trọng, vì công việc chuẩn bị cho việc giữ gìn thi hài
Bác Hồ có nhiều việc phải làm: vừa phải xúc tiến công tác xây đựng tổ
chức, vừa phải quan hệ với nhiều cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân
đội để lo trang bị những cơ sở vật chất cần thiết và triển khai những
công tác chuyên môn cần làm ngay của tổ y tế đặc biệt, lại vừa phải lo
làm thật tốt công tác bảo vệ. Để giữ được bí mật, tổ y tế đặc biệt
không tổ chức thành một đơn vị độc lập mà được biên chế trong khoa giải
phẫu của Viện quân y 108. Đồng chí Nguyễn Gia Quyền vẫn trực tiếp giữ
cương vị Chủ nhiệm khoa, điều hành công việc chung của khoa nhưng chủ
yếu là làm công tác của tổ y tế đặc biệt. Đồng chí Hát và đồng chí Ảm
vốn là cán bộ của khoa, do vậy mà tránh được sự chú ý của mọi người.
Công việc của tổ y tế đặc biệt trong thời gian này là:
Tổ chức bồi dưỡng học tập nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, nhân viên
trong tổ; tiếp tục sưu tầm thêm những tài liệu chuyên môn và cả những
tài liệu về phương pháp ướp xác cổ truyền phương Đông.
Chuẩn bị trang thiết bị cần thiết, ngoài số dụng cụ Liên Xô đã cấp, tổ
còn phân công nhau đi tìm thêm dụng cụ ở các cơ sở y tế trong và ngoài
quân đội; đặt làm các phương tiện công tác ở các nghệ nhân, các xí
nghiệp, các kỹ sư ở Trường đại học Bách khoa và xí nghiệp đá An Dương…
Cuối cùng tất cả dụng cụ chuyên dùng cần thiết đều đã được chuẩn bị chu
đáo.
Công việc khó khăn nhất của tổ là phải tìm kiếm được tử thi dùng vào
công tác thực nghiệm để học tập rút kinh nghiệm. Nhưng với sự cố gắng
của tổ và sự hỗ trợ của các đồng chí lãnh đạo thì vấn đề khó khăn đó đã
được giải quyết. Đây là cơ sở khoa học và vật chất đầu tiên để các đồng
chí trong tổ y tế đặc biệt vận dụng những điều đế học tập được ở Liên
Xô về khoa học giữ gìn thi hài và áp dụng kỹ thuật chống nấm, mốc thi
hài (kỹ thuật này phía Liên Xô yêu cầu Việt Nam chịu trách nhiệm); công
việc này còn kết hợp với sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm của
Việt Nam đã tích lũy được từ trước. Cơ sở này ngày càng phát triển và
chính là tiền thân của viện khoa
học giữ gìn thi hài Bác Hồ được chính thức thành lập từ năm 1976.
Bên cạnh việc triển khai những công việc chuẩn bị nói trên, chúng tôi
thấy ngay từ bấy giờ phải thường xuyên theo dõi chặt chẽ tình hình sức
khỏe của Bác nên đã đề nghị Bộ Chính trị cho phép đồng chí Lê Ngọc Mẫn
được vào Phủ Chủ tịch cùng đồng chí Như Thế Bảo theo dõi và chăm sóc
sức khỏe của Bác. Ngày 28 tháng 3 năm 1969, đồng chí Lê Ngọc Mẫn vào
Phủ Chủ tịch nhận nhiệm vụ. Có thêm bác sĩ Lê Ngọc Mẫn bên cạnh bác sĩ
Nhữ Thế Bảo chăm sóc sức khỏe Bác, chúng tôi sẽ luôn có được những
thông tin chính xác về sức khỏe của Người, để không bị bất ngờ.
Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương, Phạm Ngọc Mậu đã đến tận
nơi nghe tổ y tế đặc biệt báo cáo, kiểm tra, nhất là sau khi quan sát
trực tiếp kết quả thực nghiệm… hết sức hài lòng. Đã có thể khẳng định
công tác chuẩn bị làm rất tốt.
Cuối năm 1968, đồng chí Phó viện trưởng Viện khoa học giữ gìn thi hài
Lê-nin sang kiểm tra xem xét công việc chuẩn bị tại chỗ và kết quả
nghiên cứu thí nghiệm của tổ y tế đặc biệt. Là một nhà khoa học, đồng
chí đã có những đánh giá nghiêm khắc, khách quan về từng việc một. Khi
được biết đồng chí đã hoàn toàn hài lòng về công tác chuẩn bị để giữ
gìn và bảo quản thi hài Bác giai đoạn đầu, chúng tôi mới thực sự cảm
thấy nhẹ nhõm, tự tin hơn.
Tháng 3 năm 1969, đồng chí Nguyễn Gia Quyền lại được cử sang Liên Xô để
báo cáo kết quả thí nghiệm và quy trình kỹ thuật dự kiến tiến hành
trong giai đoạn đầu khi Bác qua đời, đồng thời cũng đề nghị Viện giữ
gìn thi hài Lê-nin giúp đỡ cung cấp cho một số Vật tư quý hiếm phục vụ
cho nhiệm vụ trọng đại này.Trong khi tổ y tế đặc biệt tiến hành những công tác chuẩn bị, Quân ủy
Trung ương đã giao cho Bộ Tư lệnh Công binh nghiên cứu và xây dựng một
công trình để làm công tác khoa học giữ gìn thi hài và bảo quản thi
hài. Đồng chí thượng tá Trần Bá Đặng - Phó tư lệnh Binh chủng Công binh
trực tiếp chỉ đạo thi công.
Theo đề nghị của tổ y tế đặc biệt, công trình này phải bao gồm các hạng
mục: Phòng giải phẫu thi thể, kho để thuốc men, dụng cụ y tế, phòng làm
thuốc thi hài, phòng lưu giữ bảo vệ thi hài khi làm thuốc xong, phòng
thay quần áo vô trùng, phòng chờ và nghỉ ngơi của cán bộ khi làm việc
tại đây và các phòng vệ sinh.
Công trình này phải có độ vững chắc, chống được bom đạn ở mức độ nhất
định, có thiết bị điều hòa nhiệt độ để bảo đảm nhiệt độ thường xuyên là
160C, độ ẩm 75 phần trăm, không có gió lùa, vô trùng tuyệt đối, đặc
biệt phải giữ được bí mật an toàn tuyệt đối.
Sau một quá trình nghiên cứu kỹ, Quân ủy Trung ương, đồng chí Nguyễn
Lương Bằng xem xét và Bộ Chính trị phê chuẩn địa điểm thi công công
trình ở phần phía sau nhà tang lễ của Viện quân y 108. Địa điểm này đáp
ứng được những yêu cầu cơ bản về kỹ thuật và bảo đảm an ninh, đồng thời
có thể tận dụng được một số căn nhà đã có sẵn. Nơi này cũng sát nơi làm
việc của khoa giải phẫu bệnh lý, thuận tiện cho sự đi lại làm việc của
tổ y tế đặc biệt, ít người qua lại nên bảo đảm được yếu tố bí mật.
Bộ Tư lệnh Công binh giao nhiệm vụ thiết kế công trình cho các đồng chí
Nguyễn Trọng Quyền, Bùi Danh Chiêu, Lâm Sinh, Trần Thanh Vân. Lực lượng
thi công cũng được chọn rất kỹ từ Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 259, do đồng
chí Trần Sỹ Yêm chỉ huy.
Giai đoạn thi công công trình cũng là thời điểm mà công tác bảo vệ an
ninh cần phải được tăng cường. Bởi vì, muốn hay không thì diện những
người tiếp xúc với nhiệm vụ xây dựng công trình bí mật này ngày một
tăng lên. Tập thể cán bộ chỉ huy Cục Bảo vệ rất lo lắng, mặc dù chúng
tôi đã triển khai mọi phương án bảo vệ, đã kiểm tra rà soát kỹ lưỡng
các đối tượng tiếp xúc với nhiệm vụ. Hàng ngày anh Phùng Thế Tài và tôi
vẫn thay nhau có mặt tại công trường. Nhưng chúng tôi cố gắng để càng
ít người biết tới sự có mặt của mình càng tốt.
Khi công trình thi công, nhà tang lễ của Quân y viện 108 vẫn hoạt động.
Chúng tôi cũng không làm xáo trộn những công việc bình thường ở nơi
này. Vào những ngày bệnh viện có tang lễ, đơn vị thi công ngừng hoạt
động; anh em ở yên tại trại, không tiếp xúc với bất kỳ ai; thư từ của
anh em cũng không được gửi về công trường, và anh em đều được quán
triệt là không được phép nói đến công việc của mình với bất kỳ ai, mặc
dù chính anh em công binh cũng không biết mình đang xây dựng công trình
gì.
Tôi nhớ lại trong quá trình triển khai nhiệm vụ này có một chi tiết về
kỹ thuật mà chúng ta đã phải xử lý rất vất vả, khó khăn. Ngày nay,
chúng ta có thể tìm thấy bất cứ đâu những máy điều hòa nhiệt độ có chất
lượng cao kích thước gọn nhẹ. Nhưng hồi đó thật quá hiếm hoi; máy điều
hòa do Liên Xô cung cấp thì to lớn, cồng kềnh, khi đặt vào trong phòng
độ rung rất lớn, lại không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật.
Chúng tôi bàn đi tính lại “nát cả óc”, chưa biết xử lý việc này ra sao
thì các anh em công binh đề xuất huy động một bộ điều hòa nhiệt độ hiện
đang lắp đặt ở một công trình trong An toàn khu bí mật để thay thế máy
của Liên Xô. Đề nghị này của anh em công binh đả được chấp thuận ngay.
Thế là vấn đề gay cấn đó đã được giải quyết.
Cuối năm 1968, công trình mang mật danh 75A đã hoàn thành. Đoàn chuyên
gia y tế Liên Xô sang kiểm tra đã hết sức ngạc nhiên. Bạn không ngờ
trong điều kiện có nhiều khó khăn, thiếu thốn mà Việt Nam vẫn xây dựng
được một công trình phục vụ công tác chuyên môn có chất lượng cao như
vậy. Nó chẳng có những nét gì đặc sắc về mặt kiến trúc, nhưng là một
công trình lịch sử, bởi nơi đây đã chứng kiến những giây phút đau
thương của dân tộc ta, khi Bác ra đi. Công trình nhỏ bé này cũng là tấm
lòng của những người lính dành cho Bác - vị Tổng tư lệnh tối cao của
mình. Công trình đã được bàn giao cho tổ y tế đặc biệt quản lý, sử
dụng. Từ đó không còn nỗi lo lằng, ngại rằng khi Bác mất mà công trình
vẫn chưa có và tổ y tế đặc biệt đã bớt được nhiều khó khăn về địa điểm
làm việc.
Sau khi công trình 75A được nghiệm thu thì việc xây dựng một công trình
khác được đặt ra. Đó là nơi sẽ quàn thi hài Bác trong những ngày tang
lễ. Địa điểm được chọn là Hội trường Ba Đình. Không một nơi nào xứng
đáng hơn để được chọn làm nơi để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiễn
đưa Bác tới cõi vĩnh hằng.
Nhưng muốn bảo đảm an toàn tuyệt đối thi hài Bác trong những ngày tang
lễ thì tại đây phải có một công trình đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật như ở
75A dù chỉ là để sử dụng trong thời gian tang lễ. Công trình ở Ba Đình
còn đòi hỏi những tiêu chuẩn khác với 75A vì nơi đây sẽ quy tụ rất đông
người tới viếng Bác; sự biến đổi về nhiệt độ, độ ẩm sẽ khác với 75A và
công tác bảo vệ an ninh đặt ra nhiều vấn đề rất gay cấn, phức tạp. Đồng
thời phải đạt được sự trang trọng tôn nghiêm nhất.
Sau khi được Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị phê chuẩn phương án,
anh Phùng Thế Tài và tôi nhiều lần tới Hội trường Ba Đình để xem xét
quan sát hiện trường. Chúng tôi từng bước hoàn chỉnh phương án bảo vệ
tuyệt đối an toàn cho lễ quốc tang. Anh Tài tỉ mỉ tính từng mét cự ly
từ nơi các đoàn đến viếng tới nơi đặt vòng hoa. Chúng tôi xem lại từng
khâu trong các hạng mục của công trình mới, được đặt tên là công trình
75B. Công trình sẽ gồm các hạng mục như: nơi đặt bàn thờ Bác, nơi đặt
hòm kính thi hài Bác, nơi điều hành, một trung tâm điều hòa nhiệt độ
cho hòm kính đặt thi hài và một số công trình tiếp cận ở ngoại vi.
Công trình 75B có thuận lợi là Hội trường Ba Đình đã có sẵn một số hạng
mục công trình có thể cải tạo thêm để sử dụng. Vì đã có kinh nghiệm qua
việc thi công 75A, nên công việc thi công không gặp nhiều khó khăn.
Điều phức tạp nhất vẫn là việc giữ gìn bí mật. Vì thế mọi công việc đều
được tiến hành vào ban đêm, và một số cơ quan liên quan cũng chỉ biết
đây là việc tu bổ có tính chất bình thường của Hội trường Ba Đình mà
thôi.
Khó khăn, phức tạp nhất trong công trình 75B là việc thi công hòm kính
đặt thi hài Bác. Mẫu thiết kế đã có nhưng việc tìm những tấm kính khổ
lớn, loại kính không vỡ, dày, trong suốt, không có gợn sóng và phải
khắc phục được hiện tượng đọng hơi nước, ngưng tụ ở mặt kính khi chạy
máy điều hòa nhiệt độ. Chúng ta đã gửi yêu cầu sang Liên Xô để xin loại
kính này, nhưng sẽ phải chờ rất lâu. Chúng tôi lo lắng. Nếu như hòm
kính chưa xong mà Bác qua đời thì vô cùng lúng túng.
May mắn sao, sau một thời gian tìm kiếm khắp nơi chúng tôi phát hiện Bộ
Xây dựng của ta cũng đã từng nhập một số kính như vậy để phục vụ cho
một số công trình khác. Lần hồi tìm kiếm mãi, thì ra ngay dưới tầng hầm
của Hội trường Ba Đình vẫn còn có một lô kính như vậy.
Tới đây, tôi đặc biệt cảm phục bộ đội công binh của chúng ta. Nếu không
vì thi công công trình này thì chúng ta cũng không biết rằng, chính bộ
đội công binh của ta lại có những người thợ tài hoa như vậy. Việc thi
công hòm kính phức tạp khó khăn đến vậy mà bộ đội ta cũng đã làm được,
mà làm rất tốt. Đến nỗi, các chuyên gia Liên Xô sau khi cho vận hành
chạy thử các thiết bị điều hòa phục vụ hòm kính đều ngạc nhiên, hòm
kính đã đạt tới mọi tiêu chuẩn kỹ thuật mà các chuyên gia bạn đề ra.
Vào đầu năm 1969, công trình 75A đã được hoàn thành về cơ bản; công tác
bảo quản, hoàn thiện được tiếp tục tiến hành tới tháng 8 năm 1969.
Chúng tôi triển khai kế hoạch bảo vệ công trình đồng thời tiến hành
những công tác chuẩn bị khác, trong đó có việc cùng các cơ quan Nhà
nước, các đơn vị bạn chuẩn bị cho lễ quốc tang. Trong lịch sử, ta chưa
từng có kinh nghiệm tổ chức quốc tang lớn. Nhất là lại chuẩn bị tang lễ
cho vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Công tác bảo vệ phải được triển khai
trên cả hai hướng là: bảo vệ bí mật, an toàn cho kế hoạch bảo quản giữ
gìn lâu dài thi hài Bác và bảo vệ tuyệt đối trật tự an toàn, trang
nghiêm, trọng thể cho lễ quốc tang. Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề này,
chúng tôi rất cần phải phối hợp tốt với nhiều cơ quan của Bộ Quốc phòng
và các cơ quan khác của Nhà nước. Nhưng vì tính chất bí mật tuyệt đối
của công việc, chúng tôi lại không được phép xin sự giúp đỡ rộng rãi,
cũng không được phép xin ý kiến tham khảo của nhiều người, nhiều cơ
quan. Mấy anh em chúng tôi đành động viên nhau phải huy động tối đa
năng lực của mỗi người mà hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Trung đoàn 144 - đơn vị bảo vệ trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, là đơn vị
được huy động vào công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ trọng đại này. Cùng
với Ban chỉ huy trung đoàn, anh Phùng Thế Tài và tôi đã chọn ra 50 đồng
chí làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ hai công trình 75A và 75B, đồng thời
lo bảo vệ cuộc di chuyển thi hài. Bộ phận này do thượng úy Nguyễn Văn
Mộc chỉ huy; bộ phận thứ hai gồm 150 đồng chí được chọn để phục vụ tang
lễ. Các phương án di chuyển thi hài, phục vụ nghi thức quốc tang phải
được luyện tập kỹ càng đến từng động tác, như: gác tiêu binh danh dự,
khiêng linh cữu, đưa vòng hoa, bảo vệ tiếp cận các vị lãnh đạo Đảng,
Nhà nước ta và các đoàn khách quốc tế tới viếng Bác.
Bên cạnh lực lượng phục vụ bên trong, Cục Bảo vệ cũng tổ chức một số
khá đông cán bộ, chiến sĩ của Cục làm nhiệm vụ canh gác công khai, canh
gác bí mật, trinh sát bí mật bảo đảm an ninh cho các công trình và
những tuyến đường di chuyển thi hài của Bác.
Đó là những ngày đêm vô cùng căng thẳng, sôi động, đầy lo âu đối với chúng tôi.
Đêm đêm, các chiến sĩ có mặt tại vị trí luyện tập âm thầm, lặng lẽ
nhưng rất vất vả. Vất vả nhất có lẽ là nhóm khiêng linh cữu. Các đồng
chí đã phải luyện tập hàng trăm lần để phối hợp nhịp nhàng từng động
tác, chính xác từng mi-li-mét và làm sao để đạt đến trình độ điêu luyện
nhất. Các chiến sĩ tiêu binh phải tập đứng nghiêm đêm này qua đêm khác.
Và điều khó khăn nhất mà chúng tôi phải nói với anh em là khi vào tang
lễ phải tập dồn nén mọi nỗi xúc động dâng trào. Có thể cả hàng nghìn,
hàng vạn người tới dự tang lễ sẽ khóc, nhưng các chiến sĩ tiêu binh
không được phép rơi lệ; các chiến sĩ bảo vệ tiếp cận phải luôn tỉnh
táo, không được đắm chìm vào nỗi đau thương mà sao nhãng dù chỉ một
giây, nhiệm vụ của mình. Thực tế sau này đã chứng minh rằng đó là một
điều vô cùng khó khăn khi cả Quảng trường vang lên tiếng nấc, khi các
cháu thiếu niên gào lên gọi Bác, khi cả trời xanh cũng ào ào đổ lệ, thì
bản lĩnh những người lính cận vệ phải rắn rỏi nhường nào mới kìm nén
được lòng mình để hoàn thành nhiệm vụ. Có đồng chí, trong khi luyện tập
đã không nén nổi xúc động khi nghĩ tới lúc phải tiễn đưa Bác ra đi.
Chúng tôi cũng vậy, mỗi một lần tới cùng luyện tập với anh em ai nấy
đều thấy lòng mình nhói đau. Ai cũng muốn rằng đây chỉ là tình huống
giả tưởng, hoặc ít nhất nó càng lâu xảy ra càng tốt. Một đêm, sau khi
duyệt lại một lần toàn bộ đội hình và xem anh em thao tác các động tác,
anh Phùng Thế Tài và tôi đều chung tâm trạng mong rằng điều đau thương
ấy không bao giờ xảy ra. Nhưng cả hai chúng tôi đều biết, đó là điều
không thể nào tránh khỏi.
II. MỘT NGÀY VÀ MÃI MÃI
Vào một ngày Tết Kỷ Dậu (1969), Bác dành chuyến xuất hành đầu năm cho
bộ đội Phòng không - Không quân; bởi Bác hiểu rằng, trong tương lai bộ
đội Phòng không - Không quân ta còn phải đương đầu với không lực Hoa Kỳ
- một lực lượng không quân hùng hậu và hiếu chiến bậc nhất thế giới.
Hình như Bác linh cảm thấy rằng, một trận quyết chiến vĩ đại nhất định
sẽ xảy ra ngay trên bầu trời Hà Nội và Bác đặt niềm tin vào lực lượng
bộ đội Phòng không - Không quân nhân dân Việt Nam.
Lần này, tháp tùng Bác đi chúc Tết bộ đội, tôi luôn xúc động, nhói đau
con tim, bởi vì tôi cũng đang được tham gia vào một công việc mà tôi
không bao giờ muốn nó xảy ra. Tôi muốn nói to lên với các đồng chí của
mình: “Các đồng chí ơi, sức khỏe của Bác không tốt lắm. Bác gắng gượng
lắm mới tới được với anh em ta đấy!”. Tôi muốn hét lên như vậy khi nhìn
thấy những gương mặt hân hoan của các đồng chí cán bộ, bộ đội ở Bộ Tư
lệnh Phòng không - Không quân, họ như bị tiếng nói ấm áp và nụ cười
hiền hậu của Người “thôi miên” mà không biết rằng đây là lần cuối cùng
được nhìn thấy Bác, được gặp Bác.
Sau khi thăm bộ đội Phòng không - Không quân, Bác còn lên thăm và còn
chúc Tết nhân dân huyện Bất Bạt, Hà Tây. Bác tới làng Vật Lại anh hùng,
dừng chân ngồi nghỉ trên đồi Vật Lại, ngắm nhìn núi Tản Viên với một
cõi lòng thanh thản như một người đã thoát tục. Bác đã trồng cây đa
trên gồi Vật Lại. Cây đa đó đến nay vẫn tỏa bóng mát xanh tươi. Đó là
cây cuối cùng Bác để lại cho đời. Đó cũng là di chúc, là lời hiệu triệu
của Người gửi tới muôn đời sau về trách nhiệm của mỗi con người với
thiên nhiên cây cỏ về cách ứng xử của con người với thiên nhiên. Bác
tin rằng mọi cuộc chiến tranh rồi cũng đi qua, nhưng cuộc đấu tranh và
sinh tồn của con người chỉ có một cách, đó là sống hòa đồng với thiên
nhiên, tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên. Bởi thiên nhiên chính là con
người và con người cũng là một phần của thiên thiên tươi đẹp.
Trong dịp sinh nhật Bác năm 1969, có một buổi gặp mặt của Bác với các
tướng lĩnh, chỉ huy, lãnh đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng, quân khu, quân
binh chủng dự hội nghị quân chính toàn quân. Tại phòng họp của Phủ thủ
tướng, buổi gặp mặt có Bác, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ
Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào… Bác nói chuyện, động viên, nhắc
nhở cán bộ dự hội nghị. Anh Vương Thừa Vũ thay mặt cho các tướng lĩnh,
cán bộ cao cấp toàn quân kính chúc sức khỏe Bác và tặng hoa chúc mừng
nhân ngày sinh nhật Bác. Bác tặng lại các đại biểu và chúc các đại biểu
sau hội nghị về cần cố gắng hơn nữa, có nhiều hoa chiến công hơn nữa.
Sau buổi gặp gỡ này, các bác sĩ chăm sóc sức khoẻ cho Bác vô cùng lo
lắng, báo cáo với Bộ Chính trị rằng Bác đã có dấu hiệu nhồi máu cơ tim
bước đầu. Bộ Chính trị quyết định cho mời bác sĩ Trung Quốc sang điều
trị cho Bác. Nhưng, từ tháng 8 năm 1969 mới thật sự là những ngày đầy
lo âu về bệnh tình của Bác.
Ngày 12 tháng 8 năm 1969, tuy trời nổi cơn giông nhưng nghe tin phái
đoàn ngoại giao ta ở Pa-ri vừa về nước, Bác lập tức tới nhà nghỉ Hồ Tây
thăm anh em trong đoàn. Bác tới để nghe tình hình và động viên tinh
thần anh em trong cuộc đấu tranh trên bàn hội nghị; sau đó Bác lại đi
thăm, kiểm tra công tác bảo vệ đê điều chống bão lụt của Hà Nội.
Khi về Bác bị cảm lạnh. Ngày hôm sau, Bác có triệu chứng ho nhiều. Ngày
23 tháng 8 năm 1969 bác sĩ phải dùng thuốc kháng sinh tiêm cho Bác và
thực hành điện tim, thấy có dấu hiệu nhồi máu cơ tim thành sau tim.
Ngày 28 tháng 8 năm 1969 tim Bác có dấu hiệu loạn nhịp và rối loạn phần
tuyến nhĩ thất. Trước tình hình sức khỏe cửa Bác ngày càng có nhiều dấu
hiệu xấu, trung tuần tháng 8 năm 1969 Quân ủy Trung ương ra quyết định
thành lập Ban chỉ đạo công tác giữ gìn thi hài Bác trực thuộc Quân ủy
Trung ương. Ban chỉ đạo gồm các đồng chí:
Thiếu tướng Lê Quang Đạo, ủy viên Trung ương Đảng - ủy viên Quân ủy
Trung ương - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - Trưởng ban.
Thiếu tướng Phạm Ngọc Mậu - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Đại tá Phùng Thế Tài - Phó Tổng tham mưu trưởng.
Đại tá Vũ Văn Cẩn - Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Cục trưởng Cục Quân y.
Đại tá Trần Kinh Chi - Cục trưởng Cục Bảo vệ quân đội.
Ban chỉ đạo phân công đồng chí Phùng Thế Tài làm Phó ban và tôi là ủy
viên thường trực, điều hành mọi công việc cụ thể của Ban chỉ đạo. Từ
thời gian này, Ban chỉ đạo đã huy động thêm lực lượng nhằm đáp ứng với
tình hình ngày một khẩn trương.
Theo dõi từng ngày, từng giờ sức khỏe của Bác, chúng tôi biết thời điểm
nghiệt ngã nhất đang đến gần. Ban chỉ đạo khẩn trương xúc tiến công
việc kiểm tra mọi khâu trong công tác chuẩn bị; khẩn trương hoàn thành
các công việc còn chưa hoàn thiện; đình chỉ mọi việc đi phép, đi học
của cán bộ, chiến sĩ có liên quan đến nhiệm vụ.
Cục Bảo vệ và Trung đoàn 144 tổ chức ngay một đoàn xe làm nhiệm vụ di
chuyển thi hài Bác, gồm năm chiếc: hai xe cứu thương, ba xe Gat, chọn
các đồng chí: Nguyễn Văn Thinh lái xe của Tổng cục Hậu cần, Nguyễn Văn
Nhứt lái xe của Bộ Tổng tham mưu, Nguyễn Văn Hợp lái xe cứu thương của
Viện quân y 108 làm nhiệm vụ lái xe cứu thương. Còn các xe khác do lái
xe cửa Cục Bảo vệ đảm nhiệm. Hàng đêm, đoàn xe tập hành quân từ địa
điểm này đến địa điểm khác theo những con đường khác nhau (có phương
án).
Một số cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 144 và Cục Bảo vệ đã được chọn
và luyện tập, mặc trang phục cảnh sát hoặc hóa trang là người dân bình
thường, ém và tuần tra ở các con đường mà đoàn xe đi qua; mọi tình
huống xấu có thể xảy ra (xe hỏng, kẹt, tắc đường, gặp tai nạn, phá
hoại…) đều được lường tính trước và vạch sẵn giải pháp xử trí.
Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng được giao chuẩn bị nhà cửa, sửa chữa trang
bị nội thất vào loại tốt nhất, chuẩn bị đội ngũ phục vụ, chuẩn bị hai
xe du lịch, cử người nấu ăn, lái xe, công vụ cùng hai cán bộ Cục Bảo vệ
- an ninh quân đội (đồng chí Vũ Quang Kha phiên dịch, đồng chí Hoan -
cán bộ bảo vệ tiếp cận) và một tiểu đội cảnh vệ của Trung đoàn 144 hình
thành một bộ phận công tác phục vụ đoàn chuyên gia y tế Liên Xô. Đồng
chí Vũ Quang Kha được cử phụ trách chung.
Một số cán bộ của Bộ Tư lệnh Công binh, Trung đoàn 144 và một số cán
bộ, chiến sĩ Cục Bảo vệ - an ninh quân đội (Tống Xuân Đài, Mạc Hồ, Nhu,
Tấn…) chuyên trách làm mọi công tác do Ban chỉ đạo điều hành.
Đồng chí Nguyễn Văn Hanh - Trưởng phòng Cục Bảo vệ - an ninh quân đội
được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý các bộ phận có trách nhiệm trực
tiếp phục vụ ở công trình 75A, 75B.
Cuối tháng 8 năm 1969, Ban chỉ đạo kiểm tra lại tất cả các công trình,
các đơn vị và mọi công tác chuẩn bị. Sau đó, chúng tôi chính thức báo
cáo với các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Lương và
Bộ Chính trị: Mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất với chất lượng cao
nhất. Tất cả mọi người, mọi bộ phận, mọi công trình đều đã sẵn sàng cho
tình huống xấu nhất xảy ra.
Trong thời gian này, thấy tình hình sức khỏe của Bác ngay càng giảm sút
nghiêm trọng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã điện thông báo cho Bộ
Chính trị Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, đề nghị cho đoàn y tế làm
nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác Hồ, sang Hà Nội ngay.
Ngày 28 tháng 8 năm 1969 đoàn cán bộ y tế Liên Xô đến Hà Nội. Đoàn gồm
sáu đồng chí, do đồng chí S.Đê bốp - viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm
khoa học Liên Xô, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm y học Liên Xô, Viện trưởng
Viện khoa học giữ gìn thi hài Lê-nin làm trưởng đoàn.
Ngay khi tới Hà Nội, đoàn đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
ta tiếp và làm việc. Sau đó, đoàn tiến hành kiểm tra các công trình 75A
và 75B, kiểm tra công việc chuẩn bị của tổ y tế đặc biệt. Sau khi kiểm
tra xong, đoàn kết luận: Đã có đủ điều kiện để tiến hành công tác giữ
gìn thi hài Bác giai đoạn đầu để phục vụ lễ viếng và lễ tang Bác. Nghe
vậy, Ban chỉ đạo chúng tôi thực sự như trút được một gánh nặng.Trong khi ấy ở phòng bệnh của Bác, hàng ngày các bác sĩ vẫn thay nhau
theo dõi và chăm sóc sức khỏe của Bác; các đồng chí trong Bộ Chính trị
vẫn tới thăm và báo cáo tình hình của cả nước với Bác. Mỗi tin vui từ
chiến trường miền Nam đều làm cho Bác vui thêm.
Ngày 30 tháng 8 năm 1969, đồng chí Phạm Văn Đồng sang thăm và báo cáo
tình hình chuẩn bị ngày lễ Quốc khánh 2-9. Nghe báo cáo xong, Bác dặn:
“Các chú phải nhớ bắn pháo hoa để động viên tinh thần nhân dân”. Nhưng
do tình hình sức khỏe của Bác đang trầm trọng như vậy, ai còn tâm trạng
nào đế bắn pháo hoa nữa?
Ngày 31 tháng 8 năm 1969, nghe tin bộ đội phòng không bắn rơi máy bay
không người lái của kỹ (chiếc máy bay này bị bắn rơi ngày 30-8) Bác rất
phấn khởi. Người bảo Văn phòng Chủ tịch nước lập tức gửi lẵng hoa chúc
mừng và khen ngợi bộ đội phòng không. Các chiến sĩ Sư đoàn phòng không
361 không ngờ rằng, đó là lẵng hoa cuối cùng mà họ thay mặt quân và dân
ta được đón nhận từ lãnh tụ kính yêu.
Hôm đó, tâm trạng Bác rất vui, Người đã gắng ăn hết một bát cháo. Các
đồng chí phục vụ bên Bác mừng khôn tả. Các bác sĩ chăm sóc Bác vừa ngạc
nhiên, vừa lo lắng. Họ hiểu rằng, chính tin vui thắng trận đã tạo nên
điều kỳ diệu đó. Nhưng đó chỉ là tình trạng nhất thời.
Và thời điểm khắc nghiệt nhất đã đến: Sáng 2 tháng 9 năm 1969, cả nước
đang hân hoan trong ngày Quốc khánh. Chưa ai hay biết gì về một nỗi đau
thương lớn đang xảy ra thì trong căn nhà nhỏ, giản dị, cách căn nhà sàn
của Bác không xa, trên một chiếc giường gỗ trải chiếu đơn sơ, Bác Hồ
kính yêu của cả dân tộc ta đang trút những hơi thở cuối cùng. Vây quanh
Bác là các đồng chí trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng, các giáo sư,
bác sĩ, nhân viên y tế được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Bác.
Đồng chí Vũ Kỳ - người phục vụ thân cận nhất của Bác ngồi bên đầu
giường với chiếc quạt lá cọ trên tay không ngừng quạt nhẹ cho Bác.
Nhưng rồi, đúng 9 giờ 47 phút, trái tim Bác ngừng đập.
Chiếc quạt lá cọ rời khỏi tay, đồng chí Vũ Kỳ gục xuống khóc nức nở.
Các bác sĩ vẫn không ngừng xoa bóp, hô hấp nhân tạo với hy vọng mong
manh rằng, trái tim vĩ đại tràn đầy yêu thương của Bác sẽ đập trở lại.
Nhưng tất cả đã vô vọng. Một giờ sau, khi trao đổi với các bác sĩ làm
công tác cấp cứu, đồng chí Phạm Văn Đồng đau đớn khoát tay ra lệnh:
“Thôi, các đồng chí để yên cho Bác nghỉ!”. Tất cả mọi người có mặt bên
giường Bác đều òa lên khóc nức nở. Tình hình trên liên tục được thông
báo về 75A.
Tại công trình 75A, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng
Thế Tài và tôi luôn bám sát tình hình ở Phủ Chủ tịch qua máy điện
thoại. Các chuyên gia Liên Xô và tổ y tế đặc biệt đã được lệnh sẵn sàng.
10 giờ, tôi đau đớn buông máy điện thoại, nói với các anh có mặt tại
75A “Bác mất rồi”. Anh Phùng Thế Tài vừa khóc vừa ra lệnh cho mọi
người: “Tất cả vào vị trí”.
Tôi cũng gạt nước mắt lao ra xe chỉ huy, 11 giờ, chúng tôi được lệnh
cho xe tới Phủ Chủ tịch. Trên xe còn có các đồng chí Nguyễn Gia Quyền,
Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Văn Hát, tổ y tế đặc biệt và đồng chí Đỗ Hải -
Chính ủy Trung đoàn 144.
Tới cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe dừng lại, riêng chiếc xe cứu thương mang
biển số PH1468 do đồng chí Nguyễn Văn Hợp lái được lệnh đi tiếp. Xe vừa
đến trước cửa ngôi nhà sàn của Bác, đã thấy đồng chí Trần Quốc Hoàn ra
đón. Anh Hoàn ôm lấy tôi, vừa khóc vừa nói: “Sự việc xảy ra rồi! Các
đồng chí phải bình tĩnh làm tốt nhiệm vụ của mình”. Khi nhìn thấy tôi
và tổ y tế đặc biệt tiến vào, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng vừa khóc, vừa
vẫy tay ra lệnh: “Thôi, mọi người hãy dãn ra cho các đồng chí chuyên
môn làm nhiệm vụ”.
Chúng tôi tiến vào. Nhìn thấy Bác nằm thanh thản trên giường, nước mắt
tôi trào ra. Nhưng tôi chợt hiểu rằng, đây là lúc mà mình phải tỉnh táo
nhất; mình là cận vệ của Bác Hồ, lúc này mình phải bảo vệ Bác như tất
cả những lần Bác đi công tác. Nghĩ vậy, tôi trấn tĩnh lại cùng các đồng
chí trong tổ y tế đặc biệt tiến vào. “Các đồng chí thận trọng” - Tôi
nhắc nhở trong khi mọi người chuyển Bác từ giường sang cáng thương. Tôi
vẫn đi bên cạnh Bác trên quãng đường từ nhà ra xe. Lúc này tôi không
còn chú ý tới mọi người xung quanh. “Tất cả dãn ra cho Bác đi” hình như
tôi đã ra lệnh như vậy. Mọi người dãn sang hai bên tạo thành một đội
danh dự. Đó là tất cả các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị - những người
học trò ưu tú của Bác.
Khi Bác đã yên vị trên xe, tôi quan sát nhanh tôi ra lệnh: “Lên
đường!”. Chiếc xe nhẹ nhàng lăn bánh ra cổng Phủ Chủ tịch. Lúc đó, tất
cả các xe đều giữ đúng vị trí, giữ đúng cự ly. Đoàn xe hộ tống Bác qua
các phố Phan Đình Phùng, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Lê Thánh Tông
về 75A… Trên xe chỉ huy, tôi quan sát thấy phố phường Hà Nội vẫn bình
yên, cuộc sống vẫn ồn ào, sôi động với bầu không khí ngày Quốc khánh.
Mọi người đâu biết một mất mát lớn lao, một nỗi đau khôn cùng đang đến
với họ. Ở những ngã ba đường, tôi thoáng nhìn thấy các chiến sĩ cảnh vệ
đang làm nhiệm vụ. Họ đứng nghiêm khi đoàn xe đi qua. Nhìn ánh mắt
những người lính, tôi hiểu rằng họ đang gửi lời chào vĩnh biệt Bác kính
yêu. Là những người biết một cuộc chia ly lớn nhất trong lịch sử dân
tộc đã tới, nhưng họ vẫn phải yên lặng, tỉnh táo. Họ là những chiến sĩ
cảnh vệ đang bảo vệ cho một chuyến đi của lãnh tụ. Họ không được rời vị
trí, không được để lệ rơi.
Khi xe dừng lại trước công trình 75A, mọi người ùa ra đón. Tôi chỉ kịp
nhảy xuống xe báo cáo với các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo,
Phùng Thế Tài: “Thưa các anh! Bác đã tới!”
Sau này, mỗi khi ngoài trời đổ mưa là tôi lại có cảm giác ớn lạnh, rùng
mình. Cuộc đời tôi tuy đã trải qua không ít những ngày gian khổ, hiểm
nguy, trải qua không ít những đau thương, mất mát, nhưng chưa bao giờ
tôi phải sống một ngày nặng nề, đau đớn đến vậy. Vào những ngày Bác
mất, Hà Nội lúc nào cũng như bị đè nặng dưới một bầu trời u ám, sũng
nước. Tin về nỗi đau lớn của dân tộc chưa được phép loan đi nhưng dường
như dần dần mọi người Hà Nội và cả cỏ cây thiên nhiên Hà Nội đều cảm
được nỗi mất mát lớn lao đó. Trong đời tôi đã nhiều lần được bảo vệ
tiếp cận Bác, trong những chuyến đi công tác, nhưng chưa bao giờ có
chuyến đi nào buồn đến như vậy.
Suốt chặng đường từ Phủ Chủ tịch đến 75A, tôi luôn cắn răng tự nhủ với
mình “Không được khóc! Không được rơi nước mắt”. Nhưng lúc này, sau khi
làm biên bản khám nghiệm xong, các chuyên gia y tế của Liên Xô và của
tổ y tế đặc biệt bắt đầu đưa thi hài Bác vào buồng đặc biệt thì tôi
không sao kìm nén được nữa.
Trong buồng đặc biệt lúc đó có đoàn chuyên gia y tế Liên Xô, các đồng
chí trong tổ y tế đặc biệt, anh Phùng Thế Tài và tôi lui tới ra vào
theo dõi tiến trình công việc để báo cáo kịp thời với các đồng chí lãnh
đạo đồng thời cũng làm nhiệm vụ săn sóc các chuyên gia Liên Xô và Việt
Nam.
Nội dung và yêu cầu chung của khoa học giữ gìn lâu dài thi hài là:
- Phải bảo đảm cho thi hài không rữa nát (dù là bộ phận), không teo
quắt, không nấm mốc, không đen sạm. Là thi hài “thực” chứ không phải
giả tạo.
- Phải giữ được những nét đặc trưng của thi hài như khi còn sống, đặc
biệt là các bộ phận mặt, mắt, miệng, mũi, tai, râu, tóc và hai bàn tay.
- Phải giữ thi hài được lâu dài.
- Phải đảm bảo được yêu cầu có thể để đông đảo người tới viếng thăm trong điều kiện môi trường bình thường.
Theo chúng tôi được biết, khoa học giữ gìn thi hài với nội dung và yêu
cầu như trên thì trên thế giới cho đến lúc đó chỉ mới có Liên Xô làm
chứ không thấy nước nào khác.
Các đồng chí trong tổ y tế đặc biệt của Việt Nam đã từng là những nhà
chuyên môn giỏi, đã được học tập, thực hành công tác giữ gìn thi hài
trong hai năm có thể đảm đương nhiệm vụ đối với Bác, nhưng xuất phát từ
tinh thần trách nhiệm cao, từ tấm lòng yêu kính Bác nên giáo sư viện sĩ
La-phu-khin và giáo sư Mi-khai-lốp đã trực tiếp làm công tác y tế với
thi hài Bác cùng với sự phụ giúp của hai bác sĩ là Nguyễn Gia Quyền và
Lê Điều - thành viên của tổ y tế đặc biệt Việt Nam. Trong phòng im
phăng phắc. Tôi như nghe được nhịp đập của trái tim mỗi người, hai đồng
chí chuyên gia cũng rất xúc động. Sau khi mọi động tác chuẩn bị đã hoàn
tất, đồng chí La-phu-khin và đồng chí Mi-khai-lốp đứng lặng trước Bác
vài giây rồi mới ngẩng lên ra lệnh “bắt đầu”.
Có một điều đặc biệt là tuy tuổi cao, sức yếu nhưng hệ thống mạch máu
của Người về cơ bản vẫn thông suốt đến các hệ thống mao mạch. Điều đó
chứng tỏ sinh thời Người rất chăm chỉ rèn luyện thân thể. Đây cũng là
một thuận lợi rất cơ bản cho công tác giữ gìn thi hài Bác. Bởi vì, để
giữ gìn lâu dài, thi hài Bác phải được trau chuốt đến từng mao mạch. Đó
là công việc hết sức tỉ mỉ. Các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm công
việc đó với một tấm lòng yêu thương, trân trọng lãnh tụ và với tinh
thần khoa học rất cao và một tài năng tuyệt vời.
Nhưng đó là công việc của các nhà khoa học. Riêng với tôi, ngày 2 tháng
9 năm 1969 là một ngày không thể nào phai mờ trong ký ức. Cũng từ ngày
hôm đó tôi hiểu ra rằng, nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ, nhất là bảo vệ những
di sản tinh thần của Người vẫn là một nhiệm vụ trọng đại của những
người lính thuộc thế hệ chúng tôi và rồi chúng tôi sẽ phải giao lại
nhiệm vụ thiêng liêng ấy cho các thế hệ mai sau. Nhiệm vụ của người bảo
vệ vì thế, không chỉ dừng lại ở một không gian, thời gian nhất định.
Bác đã ra đi, nhưng những người lính cận vệ của Người luôn ở bên Người,
luôn sẵn sàng hành động để bảo vệ những giá trị thiêng liêng mà Người
để lại cho dân tộc, cho Đảng và cho cả nhân loại. Đó là điều quan trọng
mà tôi đã nhận thức sâu sắc được trong ngày bi tráng ấy. III. “ĐỜI TUÔN NƯỚC MẮT, TRỜI TUÔN MƯA”
Ngày 3 tháng 9 năm 1969 tin về bệnh tật trầm trọng của Bác được loan
tới mỗi người dân Việt Nam. Trong những ngày ấy, cả nước hướng về Thủ
đô Hà Nội, sống trong lo âu, khắc khoải. Ai cũng mong đợi có một sự kỳ
diệu nào đó khiến Bác qua khỏi cơn hiểm nghèo để tiếp tục lãnh đạo Đảng
ta, nhân dân ta đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tới ngày
toàn thắng. Trong những ngày ấy, những người lính bảo vệ chúng tôi cùng
với các anh trong Ban chỉ đạo tổ y tế đặc biệt và đoàn chuyên gia vẫn
ngày đêm ăn ngủ tại 75A để hoàn tất mọi công việc. Chúng tôi vẫn phải
kìm nén để giữ bí mật. Sáu giờ sáng ngày 4 tháng 9 năm 1969, Đài tiếng
nói Việt Nam đưa tin: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ trần”. Đến lúc này
khi tin dữ đã loan đi cả nước, khi tiếng nhạc Chiêu hồn tử sĩ đã âm
vang cả non sông đất nước, nỗi đau trong mỗi chúng tôi mới có cái cớ để
vỡ ùa ra. Nhiều đồng chí đã khóc nức nở, khóc để bù lại nỗi đau kìm nén
trong lòng mấy ngày qua, vì thương nhớ Bác kính yêu. Vị cha già dân tộc
- người đã mang lại ánh sáng niềm tin cho nhân dân Việt Nam thoát khỏi
kiếp sống lầm than - nô lệ, nay không còn nữa.
Nhưng chúng tôi không được quá bi lụy. Hàng nghìn công việc đang chờ
chúng tôi hoàn tất để chuẩn bị cho lễ truy điệu và những ngày quốc tang
sắp tới. Ban lễ tang Nhà nước thông báo chương trình lễ tang và kế
hoạch lễ viếng Bác tại Hội trường Ba Đình.
Là người thường trực của Ban chỉ đạo việc giữ gìn và bảo quản lâu dài
thi hài Bác, tôi phải thường xuyên bám trụ tại 75A để xử trí những công
việc cuối cùng, chuẩn bị để đưa Bác về Ba Đình. Nhưng với cương vị là
Cục trưởng Cục Bảo vệ, tôi cũng vô cùng lo lắng về nhiệm vụ bảo vệ an
toàn cho những ngày quốc lễ trọng đại sắp tới. Mặc dù trước đó Ban lễ
tang Nhà nước đã được thành lập; chúng tôi đã cùng với Bộ Công an và Bộ
Tổng tham mưu bàn bạc rất kỹ phương án bảo vệ an toàn cho lễ tang,
nhưng đến lúc này, khi vào công việc cụ thể mới thấy vô cùng lo lắng.
Đúng là “tang gia bối rối”. Nhưng phải nói rằng bộ máy của Cục Bảo vệ
hoạt động rất nhịp nhàng, các đồng chí phụ trách các bộ phận đều hiểu
rất rõ nhiệm vụ của mình nên chúng tôi đã nhanh chóng triển khai được
đội hình để làm nhiệm vụ. Vì vậy, tôi vẫn có nhiều thời gian để dành
cho việc bảo vệ Bác ở 75A và cùng với các đồng chí trong Ban chỉ đạo
chuẩn bị đưa Bác về Hội trường Ba Đình.
Ngày 5 tháng 9 năm 1969, chúng tôi kiểm tra lại một lượt các công việc
ở 75B (Hội trường Ba Đình) trong đó có việc vận hành thử máy móc, bố
trí đội hình bảo vệ, phối hợp hiệp đồng với các bộ phận của Ban tang lễ
Nhà nước. 20 giờ ngày 5 tháng 9 năm 1969, được lệnh của Ban tang lễ Nhà
nước và Ban chỉ đạo bảo vệ giữ gìn lâu dài thi hài Bác, tôi đã trực
tiếp chỉ huy đoàn xe đưa thi hài Bác Hồ từ 75A tới Hội trường Ba Đình.
Ngoài năm xe hộ tống còn có xe chở các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần
Quốc Hoàn và các đồng chí trong Ban chỉ đạo gồm: Lê Quang Đạo, Phạm
Ngọc Mậu, Phùng Thế Tài, Vũ Văn Cẩn, các chuyên gia y tế Liên Xô và tổ
y tế đặc biệt. Đoàn xe đi theo lộ trình đã được bảo vệ qua các đường Lê
Thánh Tông, Nguyễn Hữu Huân, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật rẽ về
đường Hàng Đậu, Phan Đình Phùng rồi tiến vào Hội trường Ba Đình. Đúng
21 giờ, hệ thống đèn chiếu sáng khu vực đường Bắc Sơn, Quảng trường Ba
Đình vừa tắt; các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đã có mặt
đầy đủ để đón Bác vào Hội trường Ba Đình. Các hệ thống kỹ thuật của
công trình 75B đã hoạt động. Thi hài Bác được đặt trên giường gỗ trải
nệm trắng trong chiếc quan tài kính trong suốt đặt giữa bục lễ đài.
Phía sau là bàn thờ Bác. Hương trầm đã được đốt lên. Các đồng chí lãnh
đạo Đảng, Nhà nước ta từ phút này thay nhau túc trực bên linh cữu của
Người.
Trời vẫn mưa không ngớt. Mưa lúc khoan, lúc nhặt, lúc nhỏ, lúc to. Trời
đất cũng ngậm ngùi tuôn lệ. Đêm ấy người Hà Nội không ngủ, nhiều ô cửa
vẫn sáng đèn. Trên những con đường Bắc Sơn, Hoàng Diệu, Phan Đình
Phùng, Hoàng Văn Thụ, các chiến sĩ bảo vệ, cảnh sát âm thầm đi lại làm
nhiệm vụ, nhiều đoàn đại biểu quốc tế cũng đã lên đường tới Hà Nội, chờ
tới giờ phút được tới viếng Bác.
Ba giờ sáng ngày 6 tháng 9 năm 1969 Ban tổ chức lễ tang, Ban chỉ đạo
công tác giữ gìn thi hài Bác, cùng các chuyên gia y tế Việt Nam - Liên
Xô đã tiến hành tổng kiểm tra về kỹ thuật và các mặt chuẩn bị cho ngày
viếng đầu tiên. Khi đặt các thiết bị đo kiểm tra, thấy mọi yếu tố về
nhiệt độ, độ ẩm, độ vô trùng đều đạt tiêu chuẩn tốt, đồng chí S.Đê-bốp,
trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô không nén nổi xúc động ôm chầm lấy đồng
chí Nguyễn Gia Quyền - tổ y tế đặc biệt của Việt Nam và đồng chí Trần
Bá Đặng - Phó tư lệnh Công binh, người trực tiếp chỉ huy bộ đội công
binh xây dựng công trình 75B và khen “Tốt, rất tốt”. Các đồng chí trong
Ban lễ tang Nhà nước và Ban chỉ đạo cũng thật sự yên lòng, khi thấy mọi
công việc cho tới giờ phút này đã hoàn toàn trôi chảy, thuận lợi.
Tôi cũng trút được một nỗi lo lớn. Kiểm tra kỹ thuật ở Hội trường Ba
Đình xong, tôi đi một vòng kiểm tra công tác bảo vệ. Bởi vì chỉ còn một
hai giờ nữa lễ viếng sẽ bắt đầu. Lúc đó các đoàn đại biểu sẽ tới, nhân
dân cũng sẽ ùa tới. Người đến sẽ rất đông. Công tác bảo vệ sẽ vô cùng
phức tạp.
Chúng tôi chọn Câu lạc bộ Ba Đình trên đường Hoàng Văn Thụ làm địa điểm
tập kết của các đoàn đến viếng. Trước khi tiếp cận với khu vực quàn
linh cữu của Bác, mọi người cần có một quãng thời gian để chấn chỉnh
lại đội hình, để tĩnh tâm. Những chiến sĩ bảo vệ cũng cần có một khoảng
không gian nhất định để quan sát bảo đảm không để lọt bất kỳ một hiện
tượng nghi ngờ, một hành vi thiếu nghiêm túc nào. Tuy còn một vài giờ
nữa mới tới lễ viếng, nhưng các cán bộ được phân công cũng đã có mặt ở
vị trí của mình, các chiến sĩ cảnh vệ cũng đã sẵn sàng trong tư thế làm
nhiệm vụ. Cùng với chúng tôi, các chiến sĩ cảnh sát trật tự, cảnh sát
bảo vệ cũng đã có mặt ở vị trí của mình.
Đúng 6 giờ sáng ngày 6 tháng 9 năm 1969 lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh
bắt đầu cử hành tại Hội trường Ba Đình. Đoàn đầu tiên là các đồng chí
lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Tiếng nhạc Chiêu hồn tử sĩ vang lên, hương
trầm nghi ngút. Trước khi cử hành lễ viếng, đồng chí Phạm Văn Đồng mắt
đẫm lệ, bắt tay cảm ơn các chuyên gia Liên Xô, các đồng chí trong tổ y
tế đặc biệt và bộ đội công binh, bộ đội bảo vệ của quân đội ta trong
những ngày qua đã làm việc hết mình để ngày hôm nay nhân dân cả nước sẽ
được nhìn thấy thi hài Bác và từ ngày hôm nay sẽ bắt đầu một sự nghiệp
lâu dài, gìn giữ và bảo vệ thi hài Bác cho các thế hệ mai sau viếng
thăm. Thủ tướng hỏi “Anh em có yêu cầu gì không?”. Đồng chí Trần Bá
Đặng đề nghị cho phép anh em trong tổ y tế đặc biệt, anh em công binh
và bảo vệ được chụp ảnh trước linh cữu của Bác. Thủ tướng đồng ý và
những hình ảnh đó đến hôm nay còn được lưu giữ tại phòng truyền thống
của Bộ Tư lệnh Công binh, Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều
nơi khác.
Sau lễ viếng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, bắt đầu tới
các đoàn đại biểu các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, các đoàn đại
biểu quốc tế các đoàn đại biểu của các địa phương… lần lượt tới viếng
Bác.
Ban tổ chức lễ tang Nhà nước và Ban chỉ đạo đã tính tới khả năng số
người đến viếng Bác sẽ rất đông; những người đến viếng Bác sẽ quá đau
thương xúc động nên có thể sẽ có nhiều trường hợp phải cấp cứu. Một tổ
y tế được tăng cường cho tổ y tế đặc biệt để làm nhiệm vụ chung quanh
khu lễ đài. Bộ Y tế cũng tăng cường các tổ cấp cứu của các bệnh viện ở
Hà Nội tới túc trực ở khu vực xung quanh Ba Đình làm nhiệm vụ chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân ta tới viếng Bác. Sự phòng ngừa ấy đã không thừa.
Rất nhiều cụ già, các cháu nhỏ khóc nhiều và quá xúc động đã ngất đi,
phải cần tới sự trợ giúp của cán bộ, nhân viên y tế. Ngay cả các đoàn
ngoại giao nước ngoài tới viếng Bác, nhiều người cũng đã không cầm được
nước mắt.
Trời vẫn mưa không ngừng. Dòng người xếp hàng chờ viếng Bác kéo dài suốt đường Hoàng Văn Thụ kéo dài cả sang đường Hoàng Diệu.
Các chiến sĩ cảnh vệ ướt đẫm dưới trời mưa, nhưng không một ai rời vị trí. Nhiều đồng chí bị nhiễm nước mưa đã cảm lạnh.
Tôi còn nhớ một hình ảnh vô cùng xúc động. Vào cuối ngày viếng thứ hai,
mà dòng người tới xếp hàng vẫn đông nghịt. Một tốp ba bốn em nhỏ vừa
khóc vừa dắt díu nhau đi dọc theo dòng người. Vừa lúc chúng tôi đi kiểm
tra qua, thấy vậy tôi gọi các cháu đến hỏi và biết các cháu tận trên Hà
Bắc về từ hôm qua để tìm cơ hội vào viếng Bác. Vì các cháu đi tự do,
không nằm trong đoàn nào nên không được xếp vào viếng. Đã gần hết ngày
thứ hai, có vài đồng bạc các cháu mua bánh mì ăn hết rồi mà vẫn không
được vào viếng Bác nên các cháu tủi thân mà khóc. Hiểu rõ tình cảm của
các cháu với Bác Hồ, tôi liền thương lượng với một đoàn đại biểu địa
phương cho các cháu đi kèm để được vào viếng Bác. Các cháu vô cùng xúc
động, cảm ơn tôi rối rít. Tôi vội vã quay đi, thầm gạt nước mắt. Bởi
tôi biết, dù sao các em vẫn là những đứa trẻ may mắn; có thể còn rất
nhiều em bé từ khắp các nơi đổ về Hà Nội trong mấy ngày nay nhưng không
dễ gì có được cơ hội vào viếng Bác.
Dù dòng người chờ đợi vào viếng Bác vẫn ngày một kéo dài tưởng không
bao giờ dứt, nhưng do yêu cầu của công tác bảo vệ giữ gìn lâu dài thi
hài Bác nên không thể để Bác quá lâu ở Hội trường Ba Đình. Trung ương
Đảng và Bộ Chính trị cũng cho rằng, không nên kéo dài không khí đau
thương như vậy mà phải nhanh chóng ổn định tinh thần cho quân dân ta để
còn sản xuất, chiến đấu. Vì vậy, Trung ương Đảng và Chính phủ cùng Ban
tổ chức lễ tang đã quyết định ngừng lễ viếng từ đêm 8 tháng 9 để chuẩn
bị cử hành lễ truy điệu Bác trọng thể, uy nghiêm tại Quảng trường Ba
Đình vào ngày hôm sau.
Ba ngày (từ ngày 6 đến 8 tháng 9), anh em chúng tôi rất mệt mỏi, căng
thẳng. Hệ thần kinh và trái tim mỗi người đã được thử thách tối đa. Mỗi
người đến viếng chỉ có vài phút, chứng kiến không khí đau thương trước
linh của Bác Hồ. Còn anh em cảnh vệ, tiêu binh, các đồng chí trong Ban
tang lễ, Ban chỉ đạo tổ y tế đặc biệt thì phải liên tục có mặt tại hội
trường, đắm chìm trong không khí đau thương ấy, đến đá cũng cỏ thể tan
ra, huống chi là lòng người. Vì thế, tôi vô cùng cảm phục anh em cảnh
vệ, tiêu binh, bảo vệ làm nhiệm vụ liên tục trong ba ngày. Chúng tôi
những cán bộ đã dày dạn, dù sao cũng đã được thử thách rèn luyện, anh
em còn rất trẻ mà đã vượt qua quãng thời gian nặng nề như vậy quả là
một nỗ lực cố gắng lớn.
Nhưng nhiệm vụ ngày mai còn nặng nề hơn. Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ Bác ở
công trình 75B, chúng tôi còn phải lo phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tổng
tham mưu và các cơ quan khác triển khai làm nhiệm vụ bao vệ cho buổi lễ
truy điệu trên Quảng trường Ba Đình với hàng chục vạn đồng bào tham
gia. Các đồng chí trong Ban tang lễ Nhà nước đã quên ăn quên ngủ mấy
ngày liền, tiếp đó lại phải chuẩn bị cho một nghi lễ quốc gia lớn như
vậy thật không đơn giản. Nhưng vì lòng kính yêu Bác, vì lòng tự hào dân
tộc, vì sự ủy thác thiêng liêng của đồng bào cả nước, nhất là đồng bào
miền Nam, Ban tang lễ Nhà nước đã tổ chức thành công một nghi lễ Nhà
nước với quy mô lớn, trang nghiêm, vô cùng cảm động.
Trên lễ đài Quảng trường Ba Đình, nơi ngày xưa Bác Hồ kính yêu đọc
Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng
chí Bí Thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Lê Duẩn đã đọc bài
điếu văn lịch sử, biểu thị lòng tiếc thương vô hạn của Đảng ta, nhân
dân ta, non sông đất nước ta trước sự mất mát vô cùng lớn lao này.
Những lời thề trước anh linh của Bác đã được tuyên đọc trong tiếng đáp
vang dội “Xin thề” của hàng vạn đồng bào.
Tiếng nhạc trầm hùng cất lên hòa với tiếng mưa rơi, tiếng khóc nức nở
của các cháu thiếu niên, nhi đồng, tiếng nấc nghẹn của hàng vạn con
người, tạo nên một bản bi ca khúc sâu vào lòng nhân dân cả nước.
Nhưng, khi cả Quảng trường rền vang lời thề trung thành với lý tưởng
thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, đoàn kết một lòng quyết
tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc thì trong sâu thẳm
tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam đều hiểu rằng: Bác Hồ sẽ sống mãi
trong sự nghiệp của chúng ta, sống mãi với non sông, đất nước Việt Nam
ta…
*
* *
Trong Ban chỉ đạo giữ gìn lâu dài thi hài Bác, tôi được phân công là ủy
viên thường trực, trực tiếp giải quyết mọi công việc, Nhưng trong tâm
thức sâu xa, tôi vẫn tự hào với tư cách là một người lính cận vệ của
Bác Hồ. Khi Bác còn sống, tôi đã nhiều lần được hành quân cùng Người;
nay Bác đã qua đời, nhưng tôi vẫn được cùng đi với Bác nhiều chặng
đường gian nan nữa. Tôi hiểu rằng, giờ đây việc bảo vệ an toàn cho
Người vẫn là một trọng trách vô cùng lớn lao trước Đảng, trước nhân
dân, trước quân đội.
Lễ truy điệu đã kết thúc nhưng nhân dân vẫn không chịu ra về. Mưa vẫn
rơi tầm tã trên Quảng trường. Những dòng người vẫn nối nhau đứng trên
các ngả đường hướng về Hội trường Ba Đình. Tình cảm đó của nhân dân ta
thật đáng trân trọng, nhưng đối với chúng tôi những người phải chuẩn bị
cho một cuộc hành quân đưa Bác về công trình 75A thì thật khó xử.
Để nhanh chóng rời khỏi tầm quan sát của đông đảo nhân dân còn nán lại
trên Quảng trường (tình huống này đã dự kiến trước), chúng tôi chọn một
lộ trình đặc biệt. Sau khi rời Quảng trường, đoàn xe sẽ rẽ ngang vào
cổng Tây, thành Hà Nội, nơi đặt trụ sở làm việc của các cơ quan Bộ Quốc
phòng, sau đó theo đường Nguyễn Tri Phương trong thành đi ra Cửa Nam
rồi theo đường Tràng Thi, Tràng Tiền, Lê Thánh Tông về 75A. Đó là một
lộ trình bất ngờ, sẽ đảm bảo giữ được bí mật.
Đúng như chúng tôi dự kiến, đoàn xe hộ tống thi hài Bác phải rất vất vả
mới rẽ qua được những đoàn người vẫn đang đội mưa đứng trên Quảng
trường và trên đường Bắc Sơn. Khi đoàn xe vào được cổng thành phía Tây
tôi mới tạm bớt lo lắng.
Gần 22 giờ ngày 9 tháng 9 năm 1969, thi hài Bác đã về đến 75A an toàn.
Các chuyên gia Liên Xô và tổ y tế đặc biệt lập tức tiến hành công tác
kiểm tra kỹ thuật. Khi các thông số kỹ thuật chỉ rõ độ an toàn tuyệt
đối của thi hài Bác, chúng tôi mới yên tâm. Ban chỉ đạo một lần nữa cảm
ơn các đồng chí chuyên gia Liên Xô. Mấy ngày qua, các đồng chí đã cùng
sát cánh với chúng tôi để vượt qua biết bao thử thách. Tôi hiểu rằng,
rồi đây chúng tôi sẽ còn phải làm việc nhiều với nhau, còn phải trông
đợi ở các bạn sự cảm thông sâu sắc nhất với nhân dân Việt Nam.
IV. MỘT QUYẾT ĐỊNH SÁNG SUỐT
Trong khi tiến hành lễ tang Bác, đoàn chuyên gia Liên Xô đã nêu ra một
vấn đề hệ trọng quan hệ tới việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Đó là,
theo yêu cầu của bạn, sau khi cử hành lễ tang xong, sẽ đưa thi hài của
Bác sang Liên Xô để bảo quản và giữ gìn lâu dài. Các chuyên gia bạn nêu
lý do: chỉ có ở Mát-xcơ-va mới có đủ điều kiện về môi trường và kỹ
thuật để giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Việt Nam đang có chiến tranh,
không thể lường trước được những tình huống phức tạp có thể xảy ra. Đây
là lần đầu tiên chuyên gia bạn chính thức nêu ra yêu cầu và cũng là một
vấn đề mà ta phải lựa chọn, có quyết tâm và đối sách kịp thời, không
thể trì hoãn.
Ban chỉ đạo lập tức phân tích tình hình rồi xin ý kiến Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.
Sau khi phân tích, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cho rằng: xét về
mặt tình cảm nhân dân cả nước, chúng ta không thể đưa Bác đi xa. Điều
này sẽ ảnh hưởng tới tâm tư tình cảm của nhân dân, sẽ không được nhân
dân đồng tình ủng hộ. Nếu đưa Bác đi, chúng ta sẽ không có cơ hội làm
chủ được kỹ thuật. Mặt khác đường sang Liên Xô rất xa xôi và ai có thể
lường trước được những vấn đề phức tạp khác xảy ra…
Hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước, Ban chỉ đạo đã chủ động bàn bạc
và thống nhất: Tìm mọi cách thuyết phục chuyên gia bạn để bạn hiểu rằng
nhân dân Việt Nam có tình cảm đặc biệt với Bác Hồ, người Việt Nam có
những truyền thống đặc biệt, không thể trái ý nguyện của nhân dân nên
không thể đưa thi hài Bác sang Liên Xô được. Từ đó, tranh thủ tối đa
các chuyên gia để bạn có ý kiến với lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô
giúp ta bảo quản giữ gìn thi hài Bác ở Việt Nam. Để thực hiện quyết tâm
đó, Ban chỉ đạo chúng tôi khẩn trương tiến hành một số công việc: Một
mặt, chúng tôi tranh thủ đưa các chuyên gia đi thăm nhân dân ta viếng
Bác tại Ba Đình và ở nhiều nơi trong những ngày này, để họ tận mắt
chứng kiến tình cảm của nhân dân Việt Nam với Bác, từ đó tranh thủ ý
kiến của bạn. Mặt khác, đồng chí Vũ Văn Cẩn, lúc đó vừa được bổ nhiệm
làm Bộ trưởng Y tế cùng với tôi tổ chức một cuộc họp rộng rãi với các
nhà khoa học Việt Nam tại Hội trường Ba Đình.
Vấn đề rất hệ trọng được đặt ra trước những nhà khoa học Việt Nam là
phía Liên Xô yêu cầu đưa thi hài Bác sang Liên Xô để giữ gìn và bảo
quản lâu dài. Như vậy liệu nhân dân ta có đồng tình không? Giới khoa
học chúng ta suy nghĩ như thế nào? Liệu chúng ta có thể giữ gìn thi hài
Bác trong điều kiện Việt Nam hay không? Chúng tôi đã không hề bất ngờ
khi các nhà khoa học của chúng ta đã dứt khoát gạt ra một bên khả năng
đưa thi hài Bác ra nước ngoài để gìn giữ lâu dài. Các nhà khoa học Việt
Nam đã thảo luận nghiêm túc kỹ lưỡng và đều nhất trí: Tuy chưa có kinh
nghiệm thực tế về lĩnh vực này, nhưng các nhà khoa học của chúng ta
cũng đã nghiên cứu nhiều về mộ cổ, về các loại xác ướp về những phương
pháp gìn giữ thi hài truyền thống. Tất cả các nhà khoa học có mặt đều
tình nguyện đóng góp khả năng, trí tuệ của mình vào nhiệm vụ trọng đại
này và đề nghị chúng tôi báo cáo Bộ Chính trị quyết tâm của các nhà
khoa học Việt Nam.
Những kiến nghị tâm huyết đó chúng tôi đã trân trọng chuyển tới các
đồng chí trong Bộ Chính trị. Thêm một lần nữa các đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước ta càng củng cố quyết tâm giữ gìn lâu dài thi hài Bác
tại Việt Nam. Bộ Chính trị cũng đã xác định rằng: Nếu như phía bạn
không đồng ý giúp chúng ta gìn giữ lâu dài thi hài Bác ngay tại Việt
Nam thì chúng ta sẽ tiến hành hỏa táng thi hài của Người, như lời Người
đã căn dặn khi còn sống.
Ý kiến của Bộ Chính trị Đảng ta được đồng chí Lê Duẩn trực tiếp trao
đổi với đồng chí A.Kô-sy-ghin, ủy viên Bộ Chính trị Đảng cộng sản Liên
Xô, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đang ở Hà Nội dự lễ tang Bác,
các đồng chí Liên Xô cũng ngỡ ngàng trước quyết tâm của Đảng, Nhà nước
và nhân dân Việt Nam và đồng chí A.Kô-sy-ghin đã đề nghị để đồng chí
tham khảo ý kiến của các chuyên gia y tế Liên Xô trước khi quyết định.
Cuộc tham khảo ý kiến của đồng chí A.Kô-sy-ghin với đoàn chuyên gia y
tế do đồng chí S.Đê-bốp dẫn đầu đã diễn ra ngay sau đó. Đồng chí
S.Đê-bốp nói lại với Ban chỉ đạo rằng: Các chuyên gia y tế Liên Xô, sau
những ngày làm việc tại Việt Nam đã hiểu rõ tình cảm của nhân dân ta
đối với Bác Hồ, các đồng chí ấy cũng đã thấy rõ khả năng tiếp thu khoa
học của các thành viên trong tổ y tế đặc biệt của ta nên đã có niềm
tin. Vì vậy, đồng chí S.Đê-bốp đã báo cáo với đồng chí A.Kô-sy-ghin
rằng việc đưa Bác Hồ sang Liên Xô là không phù hợp với nguyện vọng của
nhân dân Việt Nam, nhưng việc giữ gìn thi hài Bác Hồ lâu dài tại Việt
Nam sẽ gặp nhiều khó khăn. Tuy vày, nếu có sự quyết tâm của hai Nhà
nước, hai Đảng và sự nỗ lực của giới khoa học hai nước thì việc đó có
khả năng thực hiện được. Đồng chí A.Kô-sy-ghin cũng hiểu điều này và
hỏi thêm: “Nếu để thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam thì việc bảo
quản gìn giữ lâu dài sẽ phải giải quyết những vấn đề gì?”. Đồng chí S
Đê-bốp trả lời vì không tính đến khả năng sẽ gìn giữ thi hài Bác Hồ lâu
dài ở Việt Nam, nên khi sang chúng tôi không mang đầy đủ hóa chất dự
trữ và một số thiết bị cần thiết. Những hóa chất, thiết bị này phải có
tại Việt Nam chậm nhất là từ bốn đến năn ngày”.
Đồng chí A.Kô-sy-ghin suy nghĩ một lát rồi nói: “Tôi thay mặt Bộ Chính
trị Ban Chấp hành Đảng cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên Xô sang Việt
Nam dự tang lễ Hồ Chủ tịch. Ở đây tôi đã hiểu rõ nguyện vọng chính đáng
của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Vì vậy tôi quyết định chấp
thuận đề nghị của phía Việt Nam và tôi sẽ chịu trách nhiệm với quyết
định đó. Đồng chí hãy thông báo cho các chuyên gia y tế của ta và Việt
Nam về quyết định đó. Sau đó thu xếp về Liên Xô cùng với tôi để lấy hóa
chất, thiết bị rồi quay lại Việt Nam ngay bằng chiếc chuyên cơ này”. Bộ
Chính trị và Quân ủy Trung ương của ta cũng đã được thông báo ngay ý
kiến quyết định đó của phía Liên Xô.
Công tác giữ gìn thi hài là một khoa học đòi hỏi sự tham gia của nhiều
chuyên ngành khác nhau. Ở Liên Xô có cả một Viện khoa học giữ gìn thi
hài Lê-nin đã hoạt động từ khi Lê-nin qua đời tới thời điểm này. Kho
tàng tri thức, kinh nghiệm của Viện là một chỗ dựa vững chắc cho chúng
ta trong khi tiến hành nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Vấn đề là
làm thế nào để dần dần những tri thức khoa học, công nghệ đó được các
nhà khoa học Việt Nam lĩnh hội để đến một lúc nào đó tự mình đảm nhiệm
mọi việc giữ gìn và bảo quản lâu dài thi hài Bác. Trong lúc này, chúng
ta chưa dám đặt ra vấn đề đó với bạn. Bởi vì, việc cung cấp những thông
tin công nghệ còn rất bí mật này cho một quốc gia khác không phải là
chuyện đơn giản. Trước mắt, chúng ta hãy hài lòng và tin tưởng vào sự
giúp đỡ vô tư, tận tình của Đảng, Nhà nước và các chuyên gia Liên Xô.
Công tác giữ gìn thi hài Bác tại Việt Nam chính thức bắt đầu từ khi
đồng chí Viện trưởng S.Đê-bốp từ Mát-xcơ-va trở lại Hà Nội mang theo
các trang thiết bị, máy móc, hóa chất cần thiết. Chuyến chuyên cơ đặc
biệt đó tới Việt Nam chỉ sau hơn ba ngày kể từ ngày 9 tháng 9 năm 1969.
Trước đó, tổ y tế đặc biệt của chúng ta đã tìm mọi cách để có được 320
lít nước mềm, đúng tiêu chuẩn theo yêu cầu của đoàn chuyên gia y tế
Liên Xô. Biết chúng tôi sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn, Bộ Chính
trị đã cho phép chúng tôi có thể yêu cầu trưng dụng bất cứ vật tư gì, ở
bất kỳ cơ quan nào, mà trên đất nước Việt Nam có thể tìm được để phục
vụ cho nhiệm vụ này. Bộ Chính trị cũng ra một chỉ thị đặc biệt về chăm
sóc, bảo vệ các chuyên gia y tế Liên Xô như một sự biểu lộ lòng biết ơn
của nhân dân Việt Nam đối với những người có công lao đặc biệt với nhân
dân ta, đất nước ta.
Cho đến ngày hôm nay, chúng tôi càng thấm thía hơn về phương châm ứng
xử tình nghĩa, thủy chung trước sau như một ấy, mà trong những năm sau
này, khi tình hình chính trị ở Liên Xô biến động dẫn đến Nhà nước Liên
Xô tan rã, nhưng các chuyên gia y tế Liên Xô vẫn tận tình với nhiệm vụ
giữ gìn thi hài Bác cho tới những ngày cuối cùng, khi chúng ta đã làm
chủ được công nghệ, đủ điều kiện về khoa học, kỹ thuật và vật chất để
tự đảm đương lấy công việc thiêng liêng này. Tinh thần độc lập, tự chủ
của Đảng và nhân dân ta đã đưa chúng ta tới đích ngay cả trong lĩnh vực
khoa học đầy mới mẻ này.
*
* *
Công trình 75A đã trở thành trung tâm của mọi hoạt động. Làm việc
thường xuyên ở đây là tổ y tế đặc biệt, các chuyên gia y tế Liên Xô, tổ
kỹ thuật, phân đội cảnh vệ và một số nhân viên phục vụ. Để tập trung
đầu mối quản lý, Ban chỉ đạo đã tạm thời chỉ định trung tá Nguyễn Văn
Hanh - Trưởng phòng Cục Bảo vệ quân đội làm chính ủy, đồng chí Nguyễn
Gia Quyền làm đoàn trưởng đơn vị hỗn hợp này.
Hàng ngày, các chuyên gia y tế Liên Xô đến làm việc tại 75A. Để bảo vệ
bí mật, chúng tôi đã có phương án ngụy trang, đi lại rất chu đáo. Vì
thế trong suốt thời gian hoạt động, chúng tôi vẫn hoàn toàn giữ được bí
mật cho nhiệm vụ ở 75A.
Giai đoạn kỹ thuật đầu tiên trong quy trình kỹ thuật giữ gìn lâu dài
thi hài Bác là việc làm vệ sinh, tẩy rửa lại toàn bộ hệ thống mạch máu.
Thông thường ở những người cao tuổi, các vi mạch thường bị tắc nghẽn,
nhất là các vi huyết quản ở mắt, mũi, môi, tai, các ngón chân, ngón
tay. Bác Hồ là một hiện tượng đặc biệt. Các mạch máu của Bác hầu như
không hề bị tắc nghẽn, vì thế Bác tỉnh táo tinh tường cho tới tận khi
trút hơi thở cuối cùng. Tuy vậy, các vi mạch này vẫn phải được làm
thông thoáng, bởi dù chỉ là sự tắc nghẽn tạm thời, cục bộ nhưng cũng sẽ
gây đến sự đột biến trên da thịt.
Yêu cầu của công tác chỉnh, định hình là phải bảo tồn nguyên vẹn thi
thể, bảo tồn nguyên vẹn những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời.
Làm sao, để mọi người dân Việt Nam, dù chỉ được nhìn thấy ảnh Bác hay
hình ảnh Người trên phim ảnh, khi tới viếng vẫn nhận ra những nét thân
quen của Bác Hồ kính yêu.
Để phục vụ cho nhiệm vụ chỉnh, định hình, chúng tôi đã thu thập, sưu tầm hàng nghìn bức ảnh chụp Bác trong mọi hoàn cảnh.
Năm 1995, khi Nhà nước Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết tan
rã, các chuyên gia bạn vẫn tiếp tục công tác giúp đỡ chúng ta một thời
gian. Chúng ta đã tranh thủ tình cảm chân thành của các chuyên gia bạn
để bạn giúp đỡ chúng ta nắm vững được kiến thức, công nghệ của lĩnh vực
khoa học này. Bạn đã bàn giao việc giữ gìn thi hài Bác cho phía Việt
Nam.
Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nhà nước
ta quyết tâm giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ trên đất nước ta là một
quyết định vô cùng sáng suốt. Quyết định đó xuất phát từ tình cảm đặc
biệt sâu sắc của nhân dân ta, Đảng ta và quân đội ta với Bác Hồ. Quyết
định đó cũng thể hiện tinh thần tự lực, tự cường mà khi sinh thời Bác
luôn coi là phương châm hành động của mọi người cách mạng Việt Nam.
Quyết định đó cũng là một quyết định hợp lòng dân, được nhân dân từ Bắc
chí Nam ủng hộ. Đồng bào miền Nam, sau ngày đất nước thống nhất, đã có
thể nhanh chóng về Hà Nội thăm Bác Hồ. Đó cũng là điều mà đồng bào hậu
phương lớn miền Bắc đã làm trọn nghĩa vẹn tình với đồng bào miền Nam
ruột thịt. Bác Hồ vẫn sống mãi, vẫn mãi mãi là biểu tượng cho tinh thần
đoàn kết dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta.
V. DƯỚI CHÂN NÚI TẢN
Tản Viên Sơn (còn gọi là núi Ba Vì) là một rặng núi thiêng, nằm trong
vùng đất địa linh nhân kiệt phía tây Thủ đô Hà Nội. Tản Viên gắn liền
với truyền thuyết về vị tối linh thượng đẳng thần Sơn Tinh. Đó là
truyền thuyết về cuộc đấu tranh không mệt mỏi của nhân dân ta với thiên
nhiên khắc nghiệt để xây dựng nên quê hương, đất nước. Vùng đất ở giáp
hai con sông lớn: sông Đà và sông Hồng từ nghìn năm xưa được gọi là xứ
Đoài, nơi phát tích của nhiều vị anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng,
Phùng Hưng, Ngô Quyền…; đồng thời cũng là nơi sinh ra những nghệ sĩ có
tiếng như Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, Phùng Khắc Khoan…
Sinh thời Bác Hồ nhiều lần lên Ba Vì nghỉ ngơi và làm việc. Chính Bác
đã chọn một cánh rừng gần Đá Chông, ven sông Đà, để xây dựng một nhà
nghỉ cho Trung ương. Nhà nghỉ này được gọi là K9. Nhiều đồng chí lãnh
đạo Đảng, Nhà nước ta, nhiều vị khách quốc tế đã lên đây nghỉ ngơi và
làm việc với Bác. Tháng 2 năm 1969, tuy sức khỏe đã giảm sút, Bác vẫn
quyết định lên Ba Vì, thăm bà con xã Vật Lại anh hùng và trồng cây đa
trên đồi Vật Lại. Điều đó chứng tỏ tình cảm của Bác với vùng đất “địa
linh nhân kiệt” này rất sâu nặng.
Sau khi hoàn thành hai công trình 75A và 75B, Bộ Chính trị và Quân ủy
Trung ương yêu cầu Ban chỉ đạo chúng tôi phải nhanh chóng chuẩn bị một
công trình ở bên ngoài Thủ đô để sẵn sàng đối phó với tình hình chiến
tranh và những tình huống thiên tai bất ngờ. Theo ý kiến của Ban chỉ
đạo, anh Phùng Thế Tài và tôi cùng nghiên cứu, chọn địa điểm. Cả hai
chúng tôi đều dễ dàng gặp nhau khi đưa ra ý kiến chọn K9 là nơi xây
dựng một công trình cho việc bảo vệ và gìn giữ lâu dài thi hài Bác.
Để có tư liệu làm luận cứ chắc chắn cho phương án chọn K9, chúng tôi
lần lượt lên kiểm tra lại K9 và cùng với đồng chí Trần Bá Đặng, Bộ Tư
lệnh Công binh bắt tay vào việc xây dựng kế hoạch thi công công trình
mới ở K9. Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn đã đồng ý với
phương án của Ban chỉ đạo và báo cáo với Bộ Chính trị, Quân ủy Trung
ương. Sau khi nghiên cứu, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đồng ý
với phương án chọn K9 làm căn cứ cho nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn lâu dài
thi hài Bác.
Sở dĩ K9 được chọn vì những lý do sau: Thứ nhất K9 nằm trong dải rừng
nối liền với núi Ba Vì nên có nhiều thuận lợi trong việc giữ bí mật.
Thứ hai K9 không quá xa Thủ đô, di chuyển tương đối thuận lợi, bố trí
sinh hoạt đi lại làm việc cho chuyên gia cũng thuận lợi. K9 có sản một
số công trình sẽ thuận hơn cho việc thi công. K9 xa dân, địa hình thuận
lợi cho việc bảo vệ và cơ động trong những tình huống đặc biệt và cuối
cùng, có một lý lẽ không được nêu lên thành lời nhưng ai cũng hiểu: nơi
đây lúc sinh thời Bác Hồ rất yêu thích.
Ngay sau lễ quốc tang, theo lệnh của Ban chỉ đạo, một đoàn cán bộ,
chiến sĩ của Bộ Tư lệnh Công binh và Trung đoàn 144 cũng do đồng chí
Nguyễn Văn Hanh phụ trách đã có mặt để khảo sát thiết kế cải tạo công
trình và nhận bàn giao toàn bộ khu vực K9 do Văn phòng Trung ương Đảng
và các đơn vị công an vũ trang trao lại. Đồng chí Nguyễn Văn Hanh là
một trưởng phòng nghiệp vụ của Cục Bảo vệ, được giao nhiệm vụ này. Đồng
chí Hanh hiểu rằng, ngoài các yếu tố kỹ thuật, công trình này phải hội
đủ các yêu cầu về công tác an ninh, phòng thủ, bảo mật. Vì thế Ban chỉ
đạo hoàn toàn yên tâm, tin cậy ở tổ công tác này.
Theo kết cấu cũ, K9 là một cụm công trình gồm một nhà sàn dành cho Bác
nghỉ ngơi, làm việc, hội họp, một nhà hai tầng dành cho cán bộ và khách
tới làm việc với Bác, hai ngôi nhà dành cho đội cảnh vệ vũ trang và anh
em phục vụ. Các công trình hầm ngầm gồm có một hầm tránh bom kiên cố
kết cấu bê tông cốt thép và có thiết bị phòng hóa. Khu ngoại vi là rừng
rậm, phía bắc giáp với sông Đà. Đường lên K9 còn rất khó đi, từ ngã ba
thị xã Sơn Tây trở vào là đường đất đỏ nhiều ổ gà. Từ trên cao nhìn
xuống, các công trình của K9 nằm trong một vệt rừng và cũng không có
những đặc điểm đột xuất dễ bị chú ý.
Phương châm chỉ đạo là tận dụng tối đa các công trình đã có, hạn chế
xây dựng công trình mới lộ thiên, tránh gây ra những biến dạng đột xuất
cho địa hình. Từ những công trình cũ, phương án cải tạo được đưa ra là:
xây dựng thêm một buồng kính cạnh nhà hai tầng làm “buồng đặc biệt” nơi
để dụng cụ y tế thuốc men và nơi làm thuốc. Cải tạo hầm ngầm để có thể
đưa thi hài Bác xuống và khi cần có đủ điều kiện làm thuốc tại đó. Đây
là một hạng mục công trình khó khăn, đòi hỏi nhiều sự sáng tạo và công
sức của bộ đội.
Một ban chỉ huy công trình được thành lập do đồng chí thượng tá Phó tư
lệnh Công binh Trần Bá Đặng chỉ đạo trực tiếp, gồm các đồng chí: Lương
Soạn, Nguyễn Trọng Quyền, Nguyễn Trung Thành, Cao Đàm, Lam Sinh, Bùi
Danh Chiêu, Hoàng Quang Bá, Phạm Hoàng Vân… Lực lượng thi công chủ yếu
vẫn là Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 259 công binh - đơn vị đã có kinh nghiệm
thi công hai công trình 75A và 75B.
Thật khó tả hết tinh thần lao động quên mình và trí thông minh, sáng
tạo tuyệt vời của những người lính công binh Việt Nam. Nếu như trong
điều kiện thi công những công trình bình thường, không đòi hỏi tính
chất bí mật cao đến thế thì việc huy động tiềm năng kỹ thuật khí tài để
xây dựng những công trình này không phải là việc khó. Nhưng cái khó là
không được tăng thêm lực lượng, không được sử dụng những khí tài gây
ồn, gây nổ, những thiết bị chiếu sáng tỏa rộng và cao, không được mở
rộng diện tham khảo ý kiến về phương pháp thi công. Tất cả phải âm thầm
lặng lẽ mà làm và phải đạt độ chính xác cao, chất lượng tốt.
Công việc khó khăn, nặng nhọc nhất là phải cải tạo hầm ngầm để có thể
biến nơi đây thành một la-bô ngầm, đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật như ở 75A
và tăng cường thêm khả năng chống bom và tên lửa các loại. Với trí
thông minh sáng tạo vốn có, các cán bộ, chiến sĩ công binh đã đưa ra
những giải pháp thi công rất độc đáo: Để cải tạo hầm ngầm và đưa máy
móc thiết bị xuống hầm phải đào một giếng rộng năm mét, sâu sáu mét
ngay từ nóc bê tông của hầm ngầm. Phải sử dụng khoan tay để phá kết cấu
bê tông, cứ năm xăng-ti-mét vuông phải khoan một mũi, tổng cộng phải
khoan tới 1.800 mũi khoan mới tạo ra một cửa để đưa bốn tấn thiết bị,
trong điều kiện không thể dùng cần cẩu mà phải dùng tời tay để đưa
xuống hầm ngầm. Sau đó phải thi công một thiết bị để di chuyển thi hài
Bác xuống hầm mà không dùng đến người khiêng để bảo đảm tuyệt đối an
toàn. Thiết bị đó là một bộ giá đỡ có bánh xe trượt trên hai đường ray
uốn cong theo độ dốc (tới 600). Hộp thi hài sẽ được đặt trên giá đỡ,
luôn giữ được cân bằng dù di chuyển bằng tay, hoặc dùng tời bằng điện.
Tác giả sáng kiến này là kỹ sư cơ khí Nguyễn Trung Thành và Vũ Quý Khôi
- bộ đội công binh.
Hệ thông cấp điện cho công trình cũng phải được lắp đặt và tính toán
lại. Ngoài việc củng cố hệ thống điện lưới quốc gia, còn phải lắp đặt
ba tổ máy đi-ê-zen. Bộ phận kỹ thuật điện do kỹ sư Nguyễn Trung Thành
đã thiết kế lắp đặt ba cụm máy đi-ê-zen theo thế chân vạc. Để bảo đảm
nguồn điện liên tục một hệ thống đóng, cắt nguồn điện dự phòng, tự động
đã được lắp đặt hệ thống tự động này có thể đảm bảo đưa một trạm
đi-ê-zen vào hoạt động ngay khi nguồn điện lưới quốc gia bị mất và còn
có khả năng chọn trạm đi-ê-zen khác thay thế khi cần thiết. Ngoài ra
còn lắp đặt hệ thống điều khiển từ xa đối với các máy điều hòa nhiệt độ
trong công trình để tránh phải đi lại nhiều, ảnh hưởng tới nhiệt độ và
độ ẩm trong phòng để thi hài.
Về nước sạch, để công trình hoạt động được cũng phải thường xuyên có
hàng trăm mét khối nước mỗi ngày, chưa kể nước sinh hoạt cho cán bộ,
chiến sĩ.
K9 nằm trên độ cao 250 mét so với mực nước biển, nguồn nước cũng rất
khó khăn. Để khắc phục khó khăn này kỹ sư Hoàng Trung Bá đã thiết kế
một hệ thống khai thác và sử dụng nước rất tiết kiệm, có hiệu quả.
Tất cả những sáng kiến “tự động hóa” này phải đặt vào bối cảnh năm
1969, chúng ta mới thấy hết được những khó khăn và những ý nghĩa quan
trọng của công tác thiết kế thi công. Các chiến sĩ công binh, những
người trực tiếp lao động trên công trình đã trải qua những tháng ngày
vô cùng gian khổ. Khả năng cung cấp có hạn do ở xa dân, xa chợ búa, lại
phải hạn chế đi lại nên bữa ăn của anh em rất đạm bạc. Ngoài ra, anh em
còn phải chấp hành nghiêm ngặt chế độ bảo mật, không đi lại, không tiếp
xúc với dân, không phơi phóng linh tinh, thậm chí không cả thư từ trong
những ngày làm tiệc tại công trình, Nhưng, tuy thiếu thốn, gian khổ,
lao động cường độ cao, anh em vẫn rất vui vẻ, tự hào khi được Đảng, Nhà
nước, quân đội giao cho thi công một công trình đặc biệt nên họ đã thi
đua nhau, đạt năng suất cao, đẩy nhanh tiến độ công trình.
Đến ngày 15 tháng 12 năm 1969, công trình K9 hoàn thành những chi tiết
cuối cùng, vượt mức thời gian quy định 10 ngày. Đơn vị thi công rút
quân về, chỉ để lại 20 cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vận hành công
trình, do đồng chí Đinh Viết Phụng chỉ huy.
Ban chỉ đạo chúng tôi lên kiểm tra công trình trước, sau đó mời đoàn
chuyên gia Liên Xô lên kiểm tra chất lượng và những yêu cầu kỹ thuật
đặc biệt của công trình. Sau khi xem xét, đoàn chuyên gia Liên Xô vô
cùng ngạc nhiên trước trình độ thi công của công binh Việt Nam. Bạn hết
sức hài lòng và những chỉ tiêu yêu cầu về kỹ thuật của một công trình
phức tạp như vậy đều đạt tiêu chuẩn; ngoài ra nơi ăn chốn ở, nơi sinh
hoạt của chuyên gia cũng khiến đoàn rất hài lòng. Khi được hỏi cảm nghĩ
về công trình này, đồng chí trưởng đoàn chuyên gia nói ngay: “Không thể
tốt hơn, Liên Xô chưa có tiền lệ, chưa có kinh nghiệm xây dựng những
công trình kiểu này nên chúng tôi không hiểu bằng cách nào các đồng chí
có thể hoàn thành công trình này nhanh đến như vậy. Tất cả các chỉ tiêu
kỹ thuật đều tốt. Và phong cảnh ở nơi này thì thật tuyệt vời”.
Khi tôi tiết lộ rằng, đây là nơi Bác Hồ đã chọn làm nơi nghỉ và làm
việc của mình trong những điều kiện đặc biệt thì các chuyên gia bạn đều
thốt lên “Bác Hồ quả là một hiền nhân”. Đúng vậy, chỉ có các bậc hiền
nhân trong thiên hạ mới có sự đồng cảm với thiên nhiên đến vậy.
Công trình K9 đã hoàn thành. Từ đây công trình được mang mật danh mới - K84Trong thời gian thi công công trình K84, Ban chỉ đạo chúng tôi còn phải
tiến hành một lúc rất nhiều công việc khác nhau. Một mặt, vẫn phải theo
dõi, duy trì đều đặn những công việc đang tiến hành ở 75A của đoàn
chuyên gia y tế Liên Xô (giai đoạn làm thuốc cơ bản cho thi hài Bác vẫn
đang tiến hành); một mặt theo dõi quá trình thi công ở K84 và chuẩn bị
phương án để khi K84 hoàn thành, được lệnh của Bộ Chính trị và Quân ủy
Trung ương sẽ tiến hành đưa thi hài Bác lên trên đó.
Yêu cầu của cuộc hành quân di chuyển được đặt ra là: tuyệt đối an toàn,
tuyệt đối bí mật. Anh Phùng Thế Tài và tôi phải chuẩn bị cho cuộc hành
quân di chuyển này thật chu đáo. Các chuyên gia Liên Xô chưa hề có kinh
nghiệm gì về việc này. Họ cũng hiểu rằng, khả năng Mỹ tiếp tục mở rộng
cuộc chiến tranh ra miền Bắc, thậm chí đánh phá Thủ đô Hà Nội là rất
lớn, để thi hài Bác tại Thủ đô lúc này là nguy hiểm, nhưng di chuyển
một chặng đường xa như vậy sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Các chuyên gia
bạn chỉ nêu ra cho ta mấy yêu cầu nghiêm ngặt: trong khi di chuyển
tuyệt đối không được để rung xóc. Bạn nêu một tiêu chuẩn: đặt một cốc
nước đầy cách miệng ba xăng ti-mét trên hòm thi hài khi di chuyển nước
không sánh ra là được và vẫn phải bảo đảm chế độ vô trùng, các số liệu
kỹ thuật về nhiệt độ, độ ẩm không được mảy may thay đổi phải như ở
“buồng đặc biệt” trong quá trình di chuyển và thời gian di chuyển không
được kéo dài quá bốn giờ. Đây thật là một yêu cầu rất cao so với hoàn
cảnh khoa học kỹ thuật lạc hậu, đường sá hư hỏng nhiều, lại trong hoàn
cảnh chiến tranh lúc đó.
Chúng tôi đã có một số cuộc họp để bàn chọn phương án hành quân. Từ Hà
Nội lên K84 có thể đi bằng đường bộ, đường thủy và đường không. Sau khi
phân tích, Ban chỉ đạo thấy rằng, đường không và đường thủy có một số
ưu điểm, nhưng nguy cơ lớn hơn, khó khắc phục hơn. Vì vậy, đã nhất trí
chọn phương án hành quân bằng đường bộ, phương án này tuy có nhiều khó
khăn nhưng có thể chủ động khắc phục được cả về mặt bảo đảm kỹ thuật
lẫn công tác bảo vệ bí mật, an toàn.
Để thực hiện phương án hành quân theo đường bộ phải nghiên cứu, giải
quyết một số mặt: giải pháp về y tế phương tiện di chuyển; đường sá, kỹ
thuật di chuyển để chống rung xóc và công tác hiệp đồng bảo vệ bí mật,
an toàn dọc đường hành quân.
Về y tế chúng tôi đã tính toán đến việc thi hài Bác được đặt trong hòm
gỗ xung quanh được chèn, kê kích chắc chắn. Hòm gỗ và thùng xe phải
được tẩy rửa đảm bảo chế độ vô trừng nghiêm ngặt và sẽ dùng hai khối
nước đá để bảo đảm nhiệt độ và độ ẩm trong thùng xe đặt thi hài.
Về phương tiện, sau khi nghiên cứu thí nghiệm nhiều loại xe, chúng tôi
thấy chỉ có loại xe vận tải Zin 157 là loại xe thích hợp. Vì Zin 157 có
ba cầu, độ rung xóc ít và có thể cải tiến một số chi tiết để giảm độ
rung xóc xuống thấp nhất. Zin 157 thùng xe rộng tuy vẫn chưa đủ diện
tích để đặt máy điều hòa và máy phát điện đi kèm, nhưng có thể thực
hiện chế độ bảo ôn bằng nước đá như đã làm khi di chuyển thi hài Bác từ
75A đến 75B.
Xưởng X49, thuộc Bộ Tư lệnh Công trình được giao nhiệm vụ cải tạo một
xe Zin 157 theo tiêu chuẩn kể trên. Sau ba tuần, một chiếc xe Zin 157
đặc biệt đã ra đời tuy nhìn vẻ ngoài không có gì đặc biệt khiến có thể
gây chú ý, nhưng bên trong thùng xe đã được chia thành ba ngăn, hai bên
là hai ngăn chứa nước đá, có hệ thống an toàn để không xô lệch, có thể
thoát nước, ở giữa là nơi đặt hòm gỗ lớn đựng thi hài, dưới có lò xo và
đệm cao su. Thùng xe có vách ngăn, có lỗ thông hơi, có cửa kính để quan
sát trên ca bin, trong thùng xe có hai ghế tựa bọc vải giả da dùng cho
nhân viên y tế đặc biệt.
Bộ Tư lệnh Thông tin được lệnh đóng hai hòm gỗ lớn (kích thước 2,1m x
1,1m x 0,70m), một đựng hòm thi hài, một hòm đựng bể thủy tinh trung
tính, một dụng cụ đặc biệt quý hiếm dùng để làm thuốc thi hài; ngay ở
Liên Xô cũng chỉ có một chiếc duy nhất dùng cho việc bảo quản thi hài
Lê-nin.
Tất cả những công việc trên đây được tiến hành với tinh thần bảo mật
rất cao. Các cán bộ bảo vệ của Cục Bảo vệ được phân công đã bám sát
công việc, nắm chắc các đối tượng tiếp xúc với công việc và có những
phương án bảo mật phòng gian thích hợp với từng đối tượng. Nếu nói một
câu như vậy, có vẻ như công việc này thật đơn giản, nhưng trong thực tế
nó rất phức tạp. Chỉ cần sơ suất ở một khâu nhỏ, khiến kẻ thù của chúng
ta nắm được thông tin, thì có thể gây ra những hiểm họa khôn lường.
Công tác bảo vệ cho một chiến dịch như vậy đã được tiến hành chu đáo
nghiêm mật ở tất cả các khâu. Bên cạnh việc chọn, chuẩn bị phương tiện,
chúng tôi còn phải tiến hành khảo sát lại từng mét của hơn bảy chục cây
số đường từ 75A lên K84. Nói là khảo sát kiểm tra từng mét đường quả là
không ngoa. Bởi vì cho tới ngày hành quân thì từ các chiến sĩ bảo vệ,
lái xe đến cán bộ chỉ huy đều thuộc từng ổ gà trên chặng đường kể trên.
Những đoạn đường quá xấu được các lực lượng bảo đảm giao thông của tỉnh
Hà Tây khẩn trương sửa chữa. Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây nhận
được yêu cầu sửa chữa nâng cấp những đoạn đường trên với lý do thông
thường, vì cũng không thể gây nên sự chú ý khi huy động lực lượng công
nhân quá đông trên con đường này. Những đoạn còn lại, bộ đội Trung đoàn
144 sẽ khắc phục dần qua những ngày luyện tập hành quân.
Khi các loại phương tiện đã chuẩn bị xong, chúng tôi bắt đầu giai đoạn
luyện tập. Ban chỉ đạo cho rằng phải dành càng nhiều thời gian cho anh
em luyện tập càng tốt để khi vào cuộc anh em đều thành thục, đều thuộc
từng mét đường. Ban chỉ đạo và những người chỉ huy cuộc hành quân cũng
phải cùng luyện tập với anh em.
Từ cuối tháng 9 năm 1969, chúng tôi bắt đầu luyện tập. Đêm đêm, chiếc
xe Zin 157 chở đủ trọng lượng quy định, lặng lẽ rời công trình 75A. Để
kiểm tra độ rung xóc, một cốc nước đầy cách miệng ba xăng-ti-mét được
đặt trên nắp chiếc hòm gỗ để kiểm tra. Hễ nơi nào có độ rung xóc lớn là
xe dừng lại, đánh dấu đoạn đường xấu, để khắc phục ngay, những đoạn
đường cần sửa lớn thì sẽ để lại khắc phục trước khi đoàn xe chính thức
hành quân chừng ba mươi phút để bảo đảm bí mật.
Ngoài các lái xe luyện tập, các lực lượng làm công tác bảo vệ an toàn
cho cuộc hành quân gồm lực lượng của Cục Bảo vệ và Trung đoàn 144, các
đơn vị thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện tăng cường cũng phải
luyện tập. Từ phương án rải quân, cắm chốt, tuần tra, phối hợp hành
động giữa các bộ phận khi có tình huống… đều phải luyện tập nhiều đêm
cho thật nhuần nhuyễn. Nhuần nhuyễn thành thục đến độ, ai cũng phải
biết khi xe chính tới chỗ nào thì mình sẽ ở đâu sẽ phải tìm gì. Tôi và
anh Phùng Thế Tài cũng thường xuyên thay nhau luyện tập với anh em
trong suốt ba tháng trời ròng rã, trong khi đó chúng tôi vẫn phải bám
cả hai đầu K84 và 75A để chỉ đạo công việc.
Trung đoàn 144 ngoài nhiệm vụ cảnh giới, bảo vệ còn có một việc nặng là
sửa đường. Những đoạn đường đặc biệt dự định chỉ tiến hành sửa vào
trước giờ xuất phát ba mươi phút, Trung đoàn đã có phương án tập kết
vật liệu, dụng cụ chu đáo, nhưng vẫn ngụy trang đánh lạc hướng chú ý
của nhân dân và tai mắt của địch. Công việc này phải rất khôn khéo và
tế nhị. Bài học về công tác bảo vệ cho chiến dịch này rất đáng được rút
kinh nghiệm để làm phong phú thêm kinh nghiệm cho công tác bảo vệ của
quân đội ta.
Trong khi đó tiến độ công việc ở K84 rất thuận lợi. Với tinh thần lao
động quên mình và trí thông minh, sáng tạo, bộ đội công binh đã hoàn
thành công trình trước thời hạn với chất lượng rất cao như tôi đã kể ở
phần trên.
Đêm 20 tháng 12 năm 1969, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương,
Trần Quốc Hoàn họp cùng Ban chỉ đạo và nghe báo cáo lại toàn bộ công
việc ở K84, công việc ở 75A, công việc chuẩn bị hành quân di chuyển thi
hài Bác lên K84. Hội nghị đã xem xét lại từng chi tiết của mỗi loại
công việc và đặc biệt chú ý tới kế hoạch hành quân của Ban chỉ đạo.
Chúng tôi rất hiểu sự lo lắng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
ta, khi lần đầu tiên chúng ta phải đi chuyển thi hài Bác ra khỏi Thủ
đô. Vấn đề tình cảm là một chuyện, nhưng an toàn lại là vấn đề liên
quan đến một việc cực kỳ quan trọng của Đảng, của Nhà nước ta. Các đồng
chí lãnh đạo đã nhấn mạnh rằng khi còn sống, sức khỏe, tính mạng của
Bác quan trọng với đất nước như thế nào, thì nay vấn đề an toàn tuyệt
đối cho thi hài Bác cũng quan trọng với đất nước như vậy. Đây là trách
nhiệm của Đảng, của Nhà nước, của quân đội trước nhân dân. Vì vậy,
không được phép phạm bất kỳ một sai lầm nhỏ nào.
Quyết tâm của Ban chỉ đạo đã được phổ biến tới từng bộ phận. Giờ hành
động đã đến. Từ đồng chí lái xe đến chúng tôi, đều hiểu rằng một cuộc
hành quân lớn đang ở phía trước. Chúng tôi sẽ lại cùng hành quân với
Bác Hồ kính yêu.
Ngày 22 tháng 12 năm 1969 - ngày lễ sinh nhật lần thứ 25 của quân đội
ta. Như thường lệ cả nước hân hoan chào mừng. Tuy nhiên, ngày lễ năm
nay buồn hơn mọi năm vì Bác đã ra đi, nhưng những người lính trên khắp
hai miền Nam - Bắc vẫn hướng về Thủ đô để báo công với Bác.
Tổ y tế đặc biệt được lệnh cử người cùng hai chuyên gia Liên Xô mang bể
thủy tinh trung tính và thuốc men, dụng cụ y tế lên K84 trước.
Trung đoàn 144 được lệnh bí mật rải quân dọc đường, các trạm thông tin
liên lạc dọc đường được thiết lập. Lệnh cho tất cả những bộ phận, khi
làm nhiệm vụ trên đường đều phải cải trang để giữ bí mật.
Ngày 23 tháng 12 năm 1969, Cục Bảo vệ và Trung đoàn 144 đã rải quân xong, K84 báo về mọi việc trên đó đã sẵn sàng.
Chiều 23 tháng 12 năm 1969, Ban chỉ đạo hội ý và soát lại công việc lấn cuối.
Đúng 23 giờ ngày 23 tháng 12 năm 1969, cuộc hành quân bắt đầu. Các đồng
chí đại diện Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Trung ương cục miền Nam,
các đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Ban chỉ đạo có mặt để tiễn Bác.
Tôi được Ban chỉ đạo giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc hành quân này. Sau khi
báo cáo các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, tôi ra
lệnh xuất phát. Đoàn xe bắt đầu lăn bánh. Xe đi đầu là xe Gát 69 bảo
ôn, bảo vệ phía trước. Tiếp theo là xe Zin 157 chở thi hài. Đồng chí
Nguyễn Văn Thinh, đội trưởng đội xe Tổng cục Hậu cần lái. Tôi ngồi bên
ghế phải chỉ huy. Trong thùng xe là đồng chí Nguyễn Gia Quyền và đồng
chí I-go chuyên gia y tế Liên Xô. Tôi kiểm tra điện thoại liên lạc với
anh Quyền rồi nói với Thinh: “Chúng ta đi”. Sau xe Zin 157 là một xe
Gát 69 bảo ôn, bảo vệ phía sau. Tiếp đến là xe chở các chuyên gia y tế
Liên Xô và xe chở các đồng chí trong Ban chỉ đạo, cuối cùng là một xe
bảo vệ của Trung đoàn 144.
Đêm Hà Nội yên tĩnh lạ thường. Đoàn xe lặng lẽ lăn bánh trong ánh đèn
đường. Người Hà Nội lúc này đã yên giấc ngủ; chỉ còn rất ít người đi
lại trên đường Hà Nội, nhưng không biết rằng Bác Hồ đang rời Thủ đô.
Ngồi trong ca bin xe chở thi hài Bác; tôi thầm hứa với nhân dân Hà Nội
rằng nhất định chúng tôi sẽ bảo vệ, giữ gìn an toàn tuyệt đối thi hài
Bác; một ngày kia, khi đất nước thanh bình, sẽ đưa Bác trở về Lăng để
hàng ngày nhân dân cả nước có thể tới thăm viếng, tới báo công với
Người.
Đêm đưa thi hài Bác rời Thủ đô, trong lòng tôi đã vững tin ở những
quyết định của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí
Minh tại Hà Nội. Tuy vậy, chúng tôi cũng hình dung được trong quá trình
thực hiện quyết định của Đảng, Nhà nước sẽ còn gặp nhiều khó khăn thử
thách. Cuộc hành quân đêm nay của Bác cháu tôi không phải là cuộc hành
quân duy nhất.
Trên đường đi tôi vẫn duy trì liên lạc với các bộ phận cảnh giới trên
đường và cứ 10 phút tôi lại gọi cho bác sĩ Nguyễn Gia Quyền qua điện
thoại “Tình hình dưới ấy ra sao?”. Anh Quyền không rời khỏi chiếc kính
đeo mắt đặt trên nắp hòm đựng thi hài để kiểm tra độ rung xóc, tiếng
anh vang lên trong máy điện thoại: “Báo cáo tốt, không có gì đặc biệt
xảy ra”.
Ra khỏi Hà Nội, chúng tôi vẫn thận trọng lần từng mét đường. Ở những
đoạn đường xấu, các chiến sĩ Trung đoàn 144 đã có mặt và khắc phục
trước khi đoàn xe tới. Khi đoàn xe đi qua, anh em lại phải xóa ngay mọi
dấu vết của sự sửa chữa đặc biệt đó. Đây là một động tác thận trọng, để
bảo đảm không ai được biết có một đoàn xe đặc biệt vừa qua đây đêm hôm
trước.
Xe chạy qua đập Phùng rồi lên con đường ven đê sông Hồng. Trước mặt là
quê hương tôi. Nhìn những làng xóm của quê hương bình yên ngủ trong
bóng đêm, lòng tôi trào lên một cảm xúc đặc biệt. Tôi nhớ lại những
ngày mới bước chân ra đi làm cách mạng. Không biết bao nhiêu lần tôi và
các đồng chí của tôi đã đi trên con đường này. Nay, người còn, người
mất, không ai biết rằng đêm nay tôi đang đưa Bác Hồ đi qua quê hương
mình, đi trên những con đường mà năm xưa chúng tôi vẫn từng đi. Nhớ lại
lần được bảo vệ Bác trong chuyến người lên thăm và làm việc ở Trường Võ
bị Trần Quốc Tuấn (6-1946), hồi đó tôi đã cùng các đồng chí của mình
đón đoàn xe của Bác đi qua con đường này. Đêm nay, tôi lại được bảo vệ
tiếp cận cho Bác trên đường về nơi nghỉ ngơi ở quê hương Sơn Tây của
mình. Buồn vui lẫn lộn, tự nhiên tôi nói với đồng chí lái xe: “Đây là
quê hương mình đấy. Thinh ạ”. Thinh vẫn đang căng mắt, tập trung vào
từng mét đường ngập ngừng đáp lại: “Vâng”. Tiếng bác sĩ Nguyễn Gia
Quyền lại vang lên trong máy: “Báo cáo anh, tình hình dưới này yên ổn,
độ rung xóc không đáng kể!”. Cảm ơn bác sĩ Quyền, cảm ơn các đồng chí.
Bác vẫn bình yên trong giấc ngủ.
Đến ngã ba Sơn Tây, tôi ra lệnh cho đoàn xe dừng lại nghỉ giải lao mươi
phút theo đúng phương án hành quân. Các đồng chí lái xe được phép ra
khỏi xe, thư giãn, uống một hớp trà nóng. Các chuyên gia bạn nghe báo
cáo tình hình trên xe chính rồi uống mỗi người một chén rượu cho ấm
người. Đúng mười phút tôi ra lệnh tiếp tục hành quân.
Bốn giờ sáng ngày 24 tháng 12 năm 1969 đoàn xe tới K84, đã thấy các
đồng chí chuyên gia và anh Phùng Thế Tài đón trước cửa nhà kính. Tất cả
dồn đến trước xe chính với những câu hỏi dồn dập. Nguyễn Gia Quyền và
I-go từ trên xe bước xuống, anh Phùng Thế Tài nằm tay I-go lắc mạnh:
“yên ổn không?”, “Đồng chí có lạnh lắm không?”. I-go cười hồn nhiên:
“Yên ổn, tốt, tốt lắm”. Mọi người có mặt trước nhà kính đều thở phào
nhẹ nhõm. Tôi bước tới, nắm chặt tay anh Phùng Thế Tài, xúc động nghẹn
ngào: “Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ”.
Hòm thi hài của Bác nhanh chóng chuyển vào nhà kính. Chỉ một lát sau
thi hài Bác được đặt lên chiếc giường đuy-ra trải nệm trắng y hệt như ở
75A. Cuộc kiểm tra y tế sau đó xác nhận cuộc hành quân di chuyển đã
không có ảnh hưởng gì tới thi hài Bác. Lòng tôi thấy thanh thản lạ lùng.
Từ đó, K84 dưới chân núi Tản Viên bắt đầu thay thế 75A làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác. VI. NHỮNG THÁNG NGÀY GIAN KHỔ
Trong sự tĩnh lặng, thanh khiết của núi rừng những công việc trong giai
đoạn tiến hành kỹ thuật cơ bản giữ gìn lâu dài thi hài Bác đang được
tiến hành. Các chuyên gia Liên Xô đã kiên nhẫn chịu đựng mọi gian khổ
trong cuộc sống dã ngoại ở K84 để hoàn thành tốt nhất công việc hệ
trọng này. Ban chỉ đạo chúng tôi được sự cho phép của Bộ Chính trị và
Quân ủy Trung ương, đã tìm mọi cách để việc ăn ở, sinh hoạt của các
chuyên gia bạn tại K84 vẫn đàng hoàng, ổn định như ở Hà Nội. Trong thời
điểm đó, để thực hiện được yêu cầu này không phải là chuyện đơn giản.
Nhưng điều đáng nói nhất là cuộc sống của những cán bộ, chiến sĩ của
chúng ta tại K84. Tuy cũng được trên quan tâm tối đa, nhưng đời sống
của anh em vẫn vô cùng khó khăn. Một mặt, do yêu cầu bảo mật nên anh em
phải hạn chế đi lại, hạn chế sinh hoạt tập thể. Việc tiếp phẩm cũng
phải được tiến hành sao cho người dân bên ngoài K84 không thể qua việc
đi chợ mua bán của các đồng chí tiếp phẩm mà đoán ra hoạt động của K84.
Mặt khác, về tổ chức chưa thống nhất, tiêu chuẩn chế độ của anh em vẫn
do nhiều đơn vị khác nhau đảm nhiệm, nên rất phức tạp. Bữa ăn hàng ngày
của anh em do đó rất đạm bạc: cơm độn ngô, rau rừng, một chút thực phẩm
khô… Tuy vậy, trong các bộ phận không ai nghe thấy một lời kêu ca, phàn
nàn.
Sau khi nghiên cứu, Ban chỉ đạo chúng tôi thấy rằng, phải nhanh chóng
thành lập một đơn vị thống nhất, khắc phục tình hình hiện nay, để anh
em yên tâm công tác, để công việc bảo đảm quy về một mối sẽ tốt hơn và
quan trọng là chỉ có quy về một mối thì mới bảo đảm được việc bảo mật,
bảo vệ an ninh cho K84.
Ngày 16 tháng 2 năm 1970 Bộ Tổng tham mưu đã ra quyết định chính thức
thành lập Đoàn 69 trực thuộc Bộ Tổng tham mưu. Ban chỉ huy đoàn gồm:
đồng chí Nguyễn Gia Quyền - Đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Hanh làm
Chính ủy; Cục Bảo vệ tăng cường thêm đồng chí Vũ Văn Quán làm trợ lý
chính trị kiêm phụ trách công tác phục vụ đoàn chuyên gia. Ít lâu sau,
Quân ủy Trung ương cũng ra quyết định thành lập Đảng ủy Đoàn 69 gồm các
đồng chí: Nguyễn Văn Hanh (Bí thư), Nguyễn Gia Quyền, Nguyễn Văn Mộc,
Vũ Văn Quán, Đinh Viết Phụng.
Từ đây, quân đội ta đã có một đơn vị chính thức làm nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác.
Trung tuần tháng 5 năm 1970, giai đoạn tiến hành kỹ thuật cơ bản giữ
gìn lâu dài thi hài Bác đã hoàn thành. Ngày 23 tháng 5 năm 1970, một
phái đoàn gồm các nhà khoa học hàng đầu do Đảng và Chính phủ Liền Xô cử
sang để kiểm tra, đánh giá kết quả công tác giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Một Hội đồng khoa học liên quốc gia được thành lập. Về phía
Liên Xô có: giáo sư viện sĩ Krac-pki là trưởng đoàn, giáo sư viện sĩ
Mác-da-chốp, các giáo sư La-pu-khin, Ku-pri-a-nốp và trưởng đoàn chuyên
gia y tế Liên Xô tại Việt Nam S.Đê-bốp. Phía Việt Nam có các đồng chí:
Vũ Văn Cẩn - Bộ trưởng Bộ Y tế thành viên Ban chỉ đạo, các đồng chí
Phùng Thế Tài, Trần Kinh Chi thành viên Ban chỉ đạo và đồng chí Nguyễn
Gia Quyền - Đoàn trưởng Đoàn 69, tổ trưởng tổ y tế đặc biệt của Việt
Nam.
Hội đồng đã làm việc tại K84. Sau hai ngày kiểm tra, thí nghiệm, xem
xét các thông số kỹ thuật, các quy trình công nghệ và các chi tiết khác
Hội đồng đã đi đến kết luận:
Qua tám tháng làm công tác khoa học giữ gìn thi hài Bác, mặc dù phải di
chuyển xa, trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn nhưng kết quả đạt được là
rất tốt. Thể trạng thi hài Hồ Chủ tịch rất tốt.
Những nét đặc trưng trên gương mặt và trên cơ thể (đặc biệt là trên hai
tay) của Hồ Chủ tịch lúc sinh thời được bảo tồn nguyên vẹn, đầy đủ. Thi
hài Hồ Chủ tịch có đầy đủ những yếu tố để giữ gìn lâu dài và đã có thể
đưa thi hài Hồ Chủ tịch ra chiêm ngưỡng, viếng thăm.
Ngày 29 tháng 5 năm 1970, văn bản kết luận của Hội đồng liên quốc gia
Việt - Xô đã được ký kết và được báo cáo ngay lên các đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước của hai quốc gia.
Đây là một tin vui lớn đến với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Đây
cũng là kết quả công lao bao ngày gian khổ, lao động miệt mài, nghiêm
túc của cán bộ khoa học hai nước, của Ban chỉ đạo, của cán bộ, chiến sĩ
Đoàn 69 và nhiều cơ quan, đơn vị khác đã tham gia vào nhiệm vụ trọng
đại này.
Ngày 22 tháng 8 năm 1970, đồng chí Vũ Văn Cẩn, ủy viên Ban chỉ đạo lên
K84 làm công tác chuẩn bị đón đoàn đại biểu Trung ương Đảng và Quân ủy
Trung ương lên viếng Bác. Sáng ngày 23 tháng 8 năm 1970, tại phòng đặt
thi hài Bác, lễ viếng đã diễn ra trang nghiêm, giản dị và vô cùng cảm
động. Đồng chí Lê Duẩn, dẫn đầu đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương
Đảng và Quân ủy Trung ương viếng Bác. Nhìn thấy hình hài Bác sau gần
một năm xa vắng, nhiều đồng chí đã không cầm được nước mắt. Đồng chí Lê
Duẩn thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam cảm ơn các chuyên gia
y tế Liên Xô, biểu dương cán bộ chiến sĩ Đoàn 69 đã hoàn thành đặc biệt
xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Đồng chí Tổng bí
thư đã đi thăm toàn bộ công trình K84 và khen ngợi tài trí, tinh thần
lao động của bộ đội Việt Nam.
Nhân dịp này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đón tiếp và có những cử
chỉ chăm sóc, thăm hỏi đặc biệt với các đồng chí thành viên trong Hội
đồng khoa học Liên Xô và các chuyên gia y tế Liên Xô. Những cử chỉ này
vừa biểu lộ lòng biết ơn, thủy chung của Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt
Nam với bạn; vừa là những việc làm, chuẩn bị cho những kế hoạch hợp
tác, giúp đỡ lâu dài của phía Liên Xô với việc bảo quản lâu dài thi hài
và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau một năm Bác ra đi, Đảng, Nhà nước và quân đội ta đã làm tất cả mọi
điều, kể cả những điều vượt quá khả năng của đất nước mình, để thực
hiện ý nguyện của nhân dân Việt Nam, là giữ hình hài Bác cho con cháu
mai sau được chiêm ngưỡng. Trong buổi đi viếng Bác và thăm công trình
K84, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã xúc động nói với chúng tôi: “Chúng
ta đã không phụ lòng tin cậy của đồng bào cả nước, nhất là với đồng bào
miền Nam ruột thịt”. Đến thời điểm này, công tác kỹ thuật đã đủ điều
kiện để có thể tổ chức cho nhân dân viếng thăm nếu như đã có Lăng và có
đủ những điều kiện xã hội thuận lợi. Nhưng thời cơ ấy chưa tới vì đất
nước vẫn còn trong thời kỳ chiến tranh.
*
* *
Trong những ngày đó, Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20
trở ra, nhưng chúng ta vẫn cảnh giác với mọi lời tuyên bố “hòa bình”
kiểu này của Mỹ. Các lực lượng phòng không ta vẫn sẵn sàng đánh trả mọi
cuộc tiến công bất ngờ của không quân Mỹ. Và một sự cố nghiêm trọng có
liên quan đến việc bảo vệ thi hài Bác đã xảy ra:
Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 11 năm 1970, đế quốc Mỹ bất ngờ mở cuộc tập
kích đường không xuống ven thị xã Sơn Tây hòng cướp lại số giặc lái mà
ta đã từng giam giữ tại một nhà giam nhỏ ở đây. Số giặc lái này đã được
chuyển đi từ sáu tháng trước đó. Nên bọn biệt kích Mỹ đã đổ quân xuống
một trại giam bỏ không.
Điều hết sức quan tâm là cuộc tập kích của địch đã được tổ chức với quy
mô lớn, có phương án chặt chẽ và rất bất ngờ khiến các lực lượng vũ
trang địa phương ở khu vực đó không kịp phản ứng.
Ngay ngày hôm sau, tôi trực tiếp bảo vệ đồng chí Võ Nguyên Giáp lên
quan sát tại chỗ để đánh giá tình hình. Các đồng chí Văn Tiến Dũng,
Phạm Ngọc Mậu, Phùng Thế Tài cũng lập tức có mặt để xem xét, đánh giá
sự kiện này.
Tuy Mỹ không đạt được kết quả trong cuộc hành quân ăn cướp này, nhưng
sự kiện trên đây đã khiến chúng tôi xem xét lại một số vấn đề an ninh,
trong nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.
Ban chỉ đạo chúng tôi đã họp xem xét lại khả năng phòng thủ K84. Thực
lòng, chúng tôi cũng hơi giật mình trước sự kiện này. Phân tích tình
hình, chúng tôi thấy rằng: Khả năng tổ chức những cuộc tập kích bất ngờ
kiểu này của Mỹ có thể vẫn xảy ra, kể cả ở khu vực K84. K84 nằm trong
khu vực địch đã trinh sát đường không để chuẩn bị cho cú đột kích vừa
qua (vì K84 chỉ cách trại giam có 20 ki-lô-mét đường chim bay). Lại nằm
trên tuyến đường bay thường xuyên của máy bay Mỹ từ Thái Lan qua Lào
tới Việt Nam để đánh phá. Tuy nằm trong dải rừng núi liền từ Ba Vì
xuống, lại chỉ có vài công trình, có thể địch chưa chú ý tới, nhưng
phải đề phòng khả năng ta đã để lộ trong thời gian qua, khi phải sử
dụng nhiều xe cộ đi lại khu vực này, lại có cả người nước ngoài lui tới
nên phải tính đến khả năng địch thu thập được một vài tin tức nào đó,
khiến địch đặt giả thiết rằng nơi này có thể là nơi sơ tán tù binh từ
trại giam mà chúng vừa vồ hụt.
Trên cơ sở phân tích như vậy, chúng tôi thực sự lo ngại và quyết định
báo cáo lên Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương xin được đưa Bác trở lại
75A. Ở 75A, nếu làm tốt công tác bảo mật, bố phòng chặt chẽ thì vẫn bảo
đảm được an toàn. Địch không thể liều lĩnh đột nhập vào một thành phố
đông dân cư như vậy. Nếu điều đó xảy ra thì khả năng đánh trả của ta sẽ
tốt hơn nhiều so với ở K84. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhất
trí với đề nghị này.
Chúng tôi lập tức chuẩn bị phương án hành quân, đưa Bác trở lại 75A.
Ngày 25 tháng 11 năm 1970, tôi và anh Phùng Thế Tài lên khu K84 phổ
biến kế hoạch di chuyển, phương án hành quân, phương án bố trí lực
lượng ở lại bảo vệ K84.
Ngày 1 tháng 12 năm 1970, một số cán bộ trong tổ y tế đặc biệt và chuyên gia Liên Xô về 75A chuẩn bị về mặt kỹ thuật để đón Bác.
22 giờ ngày 3 tháng 12 năm 1970 đoàn xe chở thi hài Bác lăn bánh rời
K84. Do đã có kinh nghiệm trong chuyến di chuyển trước đây và do chuẩn
bị chu đáo nên chúng tôi đã tiến hành cuộc hành quân di chuyển này rất
thuận lợi nhanh chóng, an toàn.
3 giờ sáng ngày 4 tháng 12 năm 1970 đoàn xe tới 75A. Khi chiếc xe chính
dừng lại trước cửa công trình 75A, các chuyên gia Liên Xô kiểm tra ngay
hai miếng gạc trắng được đặt trên bàn tay Bác, hai miếng gạc vẫn nằm
nguyên vị trí cũ và không hề thấm nước hay chuyển màu. Mọi người phấn
khởi. Thi hài Bác lập tức được đưa vào buồng đặc biệt.
Khi mọi công việc hoàn tất thì một ngày mới đã bắt đầu. Hôm nay, Bác Hồ
đã trở lại Thủ đô, nhưng người dân Hà Nội không mấy ai biết điều đó.
Ngay trong gia đình tôi cũng vậy, vợ tôi và các con tôi chỉ thấy hồi
này tôi ít phải đi công tác xa hơn và hình như tôi có vẻ vui hơn. Kể từ
hôm địch tập kích Sơn Tây, anh em trong Ban chỉ đạo chúng tôi như ngồi
trên đống lửa. Nay đã đưa được Bác trở về trong lòng Hà Nội, chúng tôi
đã thực sự yên tâm. Nhân dân Hà Nội sẽ bảo vệ Bác.
Trở về Hà Nội, công việc của các chuyên gia y tế và anh em Đoàn 69
dường như thuận lợi rất nhiều. Đời sống vật chất, đời sống tinh thần
được cải thiện rõ rệt. Nhưng riêng công tác bảo vệ, bảo mật thì đứng
trước những thử thách không nhỏ. Chúng tôi đã huy động các cán bộ
chuyên môn của Cục Bảo vệ phối hợp với Bộ Công an hình thành những
tuyến an ninh từ xa để bảo vệ mục tiêu. Công tác giáo dục cũng được
tăng cường để cán bộ, chiến sĩ thấy rõ trách nhiệm nặng nề của mình, tự
giác thực hiện các chế độ bảo mật, các phân đội cảnh vệ thường xuyên
tập dượt phương án bảo vệ mục tiêu. Bộ Tổng tham mưu cũng điều động, bố
trí mạng lưới phòng không, phòng chống biệt kích đột kích ở phía sông
Hồng. Tất cả những hoạt động trên được tiến hành kín đáo, ngụy trang
cẩn thận để tránh mọi tai mắt của địch.
Công việc của 75A đi vào nền nếp và thời gian cứ lặng lẽ trôi. Nhưng
trong thâm tâm sâu xa tôi vẫn có linh cảm rằng Bác cháu chúng tôi còn
gặp nhiều gian nan thử thách.
Mùa mưa năm 1971 đã ập đến thật khác thường. Mưa như trút nước ngày này
qua ngày khác. Các nhà khoa học về khí tượng cho biết 50 năm nay mới
lại có một năm có lượng mưa lớn đến như vậy. Vào giữa tháng 8, mực nước
trên các triền sông tiếp tục dâng cao, mực nước sông Hồng ở Hà Nội đã
lên đến mức kỷ lục 14,10 mét. Ở một vài nơi trên miền Bắc đã có hiện
tượng vỡ đê. Sông Hồng cuồn cuộn, đục ngầu, gầm lên hung hãn như muốn
hất tung mọi trói buộc. Hà Nội thực sự bị đe dọa, Ủy ban phòng chống
lụt bão Trung ương đã yêu cầu nhân dân Hà Nội chuẩn bị rời khỏi những
vùng đất thấp.
Ban chỉ đạo họp khẩn cấp. Một mặt chúng tôi ra lệnh cho anh em ở 75A
sẵn sàng đưa thi hài Bác lên nhà cao tầng khi tình huống xấu xảy ra;
một mặt tôi và anh Phùng Thế Tài cùng một số cán bộ lập tức đi trực
thăng quan sát khu vực Sơn Tây. Cống Ngọc Nhị ở Quảng Oai bị vỡ đã kịp
thời hàn khẩu, nhưng lượng nước tràn vào rất lớn, đường Sơn Tây đi
Trung Hà ngập sâu trong nước. Nhưng khi chúng tôi bay quan sát tuyến
đường Hà Nội - Sơn Tây - Bất Bạt (tuyến lên K84) thấy không bị ngập
nhiều lắm.
Lúc này, ở Đoàn 69, anh Nguyễn Văn Hanh đi Liên Xô, anh Nguyễn Gia
Quyền ngày đêm phải túc trực bên Bác, vì thế tôi phải thường xuyên có
mặt ở 75A để trực tiếp chỉ huy mọi công việc, sẵn sàng đương đầu với
nước lũ.
Ngày 18 tháng 8 năm 1971, đê Cống Thôn bị vỡ gây ra lụt lớn ở các tỉnh
Hà Bắc, Hải Hưng. Nhiều vùng dân cư đông đúc chìm ngập trong nước lũ.
Trời vẫn mưa như trút. Hà Nội xao động, ai nấy đều lo chuẩn bị phòng
lụt. Chính phủ ra lệnh dùng mọi biện pháp để cứu trợ đồng bào ở những
vùng bị ngập lụt, hạn chế tối đa thiệt hại về người và của cho nhân dân.
1 giờ chiểu ngày 18 tháng 8 năm 1971, anh Phùng Thế Tài trực tiếp phóng
xe đến thông báo quyết định của Quân ủy Trung ương, khẩn trương di
chuyển thi hài Bác về K84 trong thời gian ngắn nhất.
Một cuộc họp khẩn cấp được tổ chức tại 75A để triển khai mệnh lệnh.
Suốt đêm 18 tháng 8 năm 1971, chúng tôi chạy đôn chạy đáo để hối thúc
các bộ phận chuẩn bị hành quân.
8 giờ sáng ngày 19 tháng 8 năm 1971, toàn đơn vị và phương tiện đã sẵn
sàng. Tôi lập tức phổ biến lệnh hành quân. Theo kế hoạch tôi cùng một
số anh em đi trước kiểm tra đường và chuẩn bị K84. Đồng chí Trần Quốc
Hoàn và anh Phùng Thế Tài sẽ tháp tùng Bác, hành quân cùng đơn vị.
Lần này trong đội hình hành quân có thêm một xe lội nước bánh hơi (xe
Páp). Xe này được Ban chỉ đạo điều về từ đầu mùa mưa, đã được chỉnh
trang, tu sửa để vừa làm xe ứng cứu dọc đường vừa sẵn sàng dùng như một
xe dự bị. Đoàn xe cắm cờ hỏa tốc của Ủy ban phòng chống bão lụt vừa để
ngụy trang, vừa để có thể đi vào mọi đường cấm mà không phải dừng lại
giải thích với cảnh sát.
Chiếc xe Páp được đẩy lên trước làm xe trinh sát dấn đường. Đoàn xe
chạy trong mưa như trút, đường lại lầy lội nên đi rất chậm. Mọi chế độ
bảo vệ an toàn cho thi hài vẫn được áp dụng nghiêm ngặt. Đoàn xe kiên
nhẫn dò dẫm tiến về phía trước trong màn mưa dày đặc.
Khi chỉ còn cách K84 chừng 4 ki-lô-mét thì đoàn xe bị sa lầy vì một
đoạn ngập nước lầy lội. Chiếc xe chính tuy là Zin 157 ba cầu nhưng vẫn
không thể đi được vì nếu đẩy cầu, lãng ga cho xe vượt lên thì độ rung
xóc rất lớn, xe có thể bị giật cục, nẩy lên, rất nguy hiểm cho sự an
toàn thi hài Bác. Do được đi trước dò đường, nên tôi đã chuẩn bị sẵn
một bộ tời để vượt qua đoạn lầy này. Khi vượt được đoạn lầy, rẽ vào
đường lên K84 thì đã 5 giờ chiều. Nghĩa là đã sáu giờ hành quân. Tôi và
các anh trong Ban chỉ đạo lo thắt ruột, vì như vậy là đã quá thời gian
kỹ thuật cho phép. Nhưng khó khăn chưa phải là hết. Ngay gần cổng K84
có một quãng đường võng, thấp ngập nước, nước ở đây lại chảy xiết và
ngày một dâng cao. Mọi người nhìn nhau ai cũng lo đến tái nhợt cả
người. Đây chính là lúc sống còn. Không thể chần chừ do dự nữa. Một
phương án táo bạo được đưa ra. Chúng tôi chuyển hòm thi hài Bác từ xe
Zin 157 sang xe cứu thương, rồi phải tìm cách đưa cả xe cứa thương lên
xe Páp. Muốn vậy phải dùng hai thanh ray bắc cầu từ mặt đường lên thùng
xe Páp; thùng xe Páp không có sàn phẳng, phải lắp gỗ ghép lại thành
sàn. Khi xe cứu thương nổ máy bò lên thì cùng lúc xe Páp dùng tời hỗ
trợ kéo xe cứu thương. Công việc này rất khó khăn. Tất cả trông cậy vào
tài nghệ và hệ thần kinh bằng “thép” của lái xe. Đồng chí Nguyễn Văn
Sướng là một lái xe kỳ cựu đã nhận nhiệm vụ khó khăn này. Mọi người nín
thở, dán mắt vào hai thanh ray. Chiếc xe cứu thương từ từ nhích lên
từng chút một. Tai họa có thể ập đến bất kỳ lúc nào.
Nhưng rồi mọi việc đã trôi chảy, chiếc xe cứu thương ngự vững trên
thùng xe Páp. Xe Páp từ từ lăn bánh tiến vào K84. Khi tới trước cửa nhà
kính thì hai thanh ray lại được bắc lên. Bây giờ chiếc xe cứu thương
lại phải lăn theo hai thanh ray đó trở xuống, một cú lùi thật vô cùng
khó khăn.
Mọi người lại thêm một lần nữa nín thở. Không gian im phăng phắc. Khi
chiếc xe cứu thương đã ngừng chuyển động, cả bốn bánh xe thăng bằng
trên mặt đất, mọi người mới ồ lên, chạy ùa cả lại.
Vì quá căng thẳng, đồng chí Nguyễn Văn Sướng ngất xỉu ngay trên vòng tay lái.
Thi hài Bác lập tức được chuyển vào phòng đặc biệt. Phải chờ đến khi
các chuyên gia y tế Liên Xô kiểm tra kỹ thuật xong, thấy các thông số
kỹ thuật vẫn bảo đảm, mọi người mới thực sự thở phào nhẹ nhõm như trút
được gánh nặng ngàn cân. Anh Phùng Thế Tài quá xúc động, cao hứng tuyên
bố: “Hôm nay toàn đơn vị và chuyên gia sẽ liên hoan mừng thắng lợi của
cuộc hành quân lịch sử này”.
Do lũ lụt mà phải đưa Bác trở lại K84. Nhớ lại sự kiện lịch sử đột kích
ở Sơn Tây, chúng tôi lập tức triển khai ngay phương án bảo vệ an ninh
và phòng thủ K84. Theo yêu cầu của Ban chỉ đạo, Bộ Tổng tham mưu đã
tăng cường một lực lượng tinh nhuệ lên K84, gồm:
Một đại đội bộ binh của Trung đoàn 144 có nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ vòng ngoài.
Ba khẩu đội 14,5 ly thuộc Tiểu đoàn 20 Sư đoàn 361 được điều lên bố trí
trên ba ngọn đồi trong khu vực tạo thành thế chân kiềng, vừa sẵn sàng
đánh máy bay bay thấp vừa sẵn sàng chống trả các cuộc đột nhập.
Ba chiếc xe tăng T34 có trang bị ĐKZ84 của Trường sĩ quan Thiết giáp được điều về bố trí xung quanh khu vực nhà kính.
Các phương án chống đột nhập được hình thành để các đơn vị căn cứ vào
đó luyện tập. Các hệ thống công sự, hầm hào được tu sửa, những bãi
trống xung quanh khu vực K84 đều được cắm chông để chống địch đổ bộ
đường không. Cục Bảo vệ đã tăng cường cán bộ, tổ chức nhiều nhóm trinh
sát độc lập hoạt động xung quanh khu vực để bảo đảm an ninh, thu thập
các tin tức, phòng gian, bảo mật.
Huy động một lực lượng tăng cường lớn tới khu vực K84, chúng tôi gặp
rất nhiều khó khăn. Vì những lực lượng này đều là lực lượng tăng cường,
không nằm trong biên chế của Đoàn 69 nên công tác quản lý công tác bảo
đảm hậu cần rất phức tạp. Chúng tôi phải thường xuyên liên hệ với các
đơn vị chủ quản, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy, chỉ huy Đoàn 69 để đảm
bảo tốt nhất đời sống cho anh em trong điều kiện có thể.
Đó là những tháng ngày nền kinh tế đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng
nề, phải ưu tiên tất cả cho tiền tuyến, nên hết sức khó khăn. Bảo đảm
lương thực cho bộ đội được ăn no đã là chuyện không đơn giản rồi. Anh
em tăng cường lại không được đi lại tìm phương cách cải thiện đời sống,
nên khó khăn càng chồng chất. Có thời điểm Đoàn 69 đã phải lo “chạy ăn
từng bữa”.
Trong khi ấy, các chuyên gia lên làm việc ở K84 vẫn được bảo đảm sinh
hoạt rất chu đáo. Các chuyên gia cũng biết điều đó vì thế họ rất cảm
thông với chúng ta và càng nhiệt tình chu đáo hơn trong nhiệm vụ giữ
gìn lâu dài thi hài Bác.
Tuy đã yên ổn ở K84 nhưng trong thâm tâm Ban chỉ đạo chúng tôi vẫn lo
lắng về sự an toàn. Chúng tôi biết, đế quốc Mỹ sẽ không chịu dừng tay
nếu không đi những nước cờ phiêu lưu cuối cùng. Nếu địch mở rộng cuộc
chiến tranh phá hoại thì K84 rất có thể là một mục tiêu. Hơn nữa K84
lại nằm trên tuyến máy bay địch thường bay qua để trở về các sân bay ở
Thái Lan sau mỗi phi vụ đánh phá ở Hà Nội và vùng lân cận. Kỹ thuật
phát hiện mục tiêu của địch đã ở trình độ cao; trường hợp chúng phát
hiện được một chi tiết nhỏ, dù chưa rõ là mục tiêu gì nhưng trên đường
đi đánh phá trở về còn dư bom, dư đạn, chúng trút xuống khu vực này thì
sẽ rất nguy hiểm. Vì thế ngay sau khi mọi việc ở K84 đi vào ổn định,
tôi và anh Phùng Thế Tài đã nghĩ tới việc phải đi tìm một căn cứ mới,
bí mật hơn, an toàn hơn để sẵn sàng cho phương án phải chuyển thi hài
Bác khỏi K84. Anh Phùng Thế Tài nói với tôi: “Chúng ta phải đi tìm một
hang đá vừa đủ rộng, thuận tiện đi lại, xa dân cư hơn, bí mật hơn”. Thế
là tôi và anh Phùng Thế Tài lặng lẽ hành quân lên Ba Vì, chúng tôi vượt
qua cao độ 200, 400 rồi 800, 1000… Nhưng Ba Vì về cơ bản là núi đất,
không có hang động, độ dốc rất cao, những đường có sẵn thì cheo leo,
gập ghềnh không thể mở rộng vì sợ lộ bí mật. Vì thế khu vực núi Ba Vì
nhanh chóng được loại khỏi khả năng lựa chọn. Một hôm, đứng trên một
điểm cao ở khu vực K84 nhìn sang bên kia sông Đà, tôi chợt nghĩ “có thể
ở bên kia sông Đà sẽ có một nơi lý tưởng như vậy”. VII. BÊN KIA SÔNG ĐÀ
Được sự đồng ý của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo giao
cho tôi nhiệm vụ đi trinh sát chuẩn bị vị trí mới ở bên kia sông Đà.
Vào đầu tháng 5 năm 1972, tôi chỉ huy một nhóm cán bộ, bí mật vượt sông
Đà, hướng về nơi có những triền núi đá thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
Chúng tôi lặn lội hai tuần trong khu vực này nhưng vẫn chưa tìm được
nơi thích hợp. Nơi thì có hang nhưng hẹp, khó cải tạo; nơi thì quá xa
đường vận chuyển, mở đường mới thì khó giữ bí mật. Những ngày lặn lội
đi tìm căn cứ dự phòng cho K84, là những ngày đế quốc Mỹ tăng cường
đánh phá miền Bắc. Đêm đêm, nghe bản tin qua ra-đi-ô, tôi vô cùng lo
lắng. Trong Ban chỉ đạo, tôi là ủy viên thường trực, phải trực tiếp đảm
nhiệm mọi công việc, nhưng tôi còn là Cục trưởng Cục Bảo vệ, là người
phải chịu trách nhiệm về bảo vệ an ninh cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài
thi hài Bác, trách nhiệm cá nhân của tôi với nhiệm vụ này rất nặng nề.
Chúng tôi, những người lính cận vệ cho Bác, bao nhiêu năm qua, dù trong
tình huống khó khăn, hiểm nghèo như thế nào vẫn luôn hoàn thành sứ mệnh
của mình, bây giờ cũng chính là thời điểm thử thách, vẫn kiên nhẫn vượt
qua. Đối với quân đội, bảo vệ an toàn cho thi hài Bác là trách nhiệm
lớn, cũng là danh dự Đảng, nhân dân tin tưởng quân đội nên phó thác
nhiệm vụ nặng nề và vinh dự này. Quân ủy Trung ương, mặc dù phải lo chỉ
đạo toàn quân đánh giặc ở cả hai miền, vẫn dành nhiều tâm huyết cho
nhiệm vụ này. Vì thế, chúng tôi không thể phụ lòng.
Sau nhiều ngày lặn lội, tìm kiếm, chúng tôi chợt nhớ tới một hang đá
dành làm căn cứ dự phòng cho cơ quan chỉ huy trong những tình huống đặc
biệt ở khu vực T.S. Chúng tôi lập tức tới đó khảo sát và nhận thấy nơi
này là phù hợp hơn cả để xây dựng một căn cứ mới. Căn cứ này mang mật
danh H21.
H21 là một hang đá sâu 70 mét nằm trong một núi đá lớn trong cả một dải
núi đá trùng điệp, đã từng được sửa chữa cải tạo sơ qua địa hình không
có những nét đặc biệt để dễ nhận dạng. Hang đá này nằm cách đường giao
thông liên tỉnh 200 mét, cách K84 chừng 15 ki-lô-mét đường chim bay.
Muốn từ K84 qua H21 phải vượt sông Đà, phải cải tạo mở rộng một đường
mòn nối từ bờ sông lên tỉnh lộ chừng 5 ki-lô-mét.
Những kết quả khảo sát của chúng tôi được báo cáo ngay với Ban chỉ đạo,
Ban chỉ đạo đã xem xét tỉ mỉ phương án này rồi đồng ý và đề nghị Quân
ủy Trung ương xem xét, phê duyệt. Quân ủy cũng nhanh chóng đồng ý việc
chọn H21 làm căn cứ dự phòng cho K84 và yêu cầu Ban chỉ đạo nhanh chóng
xúc tiến thi công, xây dựng căn cứ mới.
Ngày 15 tháng 6 năm 1972, đoàn cán bộ Bộ Tư lệnh Công binh do đồng chí
Lương Soạn dẫn đầu lập tức đi khảo sát, xây dựng kế hoạch thi công. Mấy
ngày sau, lực lượng thi công thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 3, Trung đoàn
259 đã có mặt tại công trường.
Tuy đã có kinh nghiệm thi công các công trình ngầm và cải tạo các hang
động, nhưng các chiến sĩ công binh đã phải làm việc trong điều kiện vô
cùng khó khăn. Vào thời điểm này, ở khu vực thi công mưa nắng thất
thường, hơi núi bốc lên ngùn ngụt, muỗi vắt sinh sôi nảy nở nhiều như
trấu, lại có nhiều rắn rết. Bộ đội phải thi công cả ban đêm để kịp tiến
độ, và để giữ bí mật bởi vì H21 chỉ cách tỉnh lộ 200 mét. Sau hai mươi
ngày đêm lao động cực nhọc, các chiến sĩ công binh đã hoàn thành một
khối lượng công việc ngoài sức tưởng tượng: đục phá 70 mét khối đất đá,
đào một giếng với khối lượng 25 mét khối đất, xây 5 buồng công tác, 3
bể chứa nước, lắp đặt toàn bộ thiết bị trạm điện, trạm bơm, hệ thống
cung cấp và thoát nước, làm đường trong hang, làm cửa hang…
Để có thiết bị cho công trình, các chiến sĩ đoàn xe của công binh đã
phải vượt qua bom đạn, đi lấy thiết bị ở Đông Anh, có lần bị trúng bom,
xe và thiết bị hư hỏng nhưng rất may không có người hy sinh.
Mức độ đánh phá miền Bắc của giặc Mỹ mỗi ngày một gia tăng. Ban chỉ đạo
yêu cầu khẩn trương hoàn tất công trình để đưa thi hài Bác qua H21. Các
chuyên gia Liên Xô cũng đã tới kiểm tra công trình và đánh giá cao tinh
thần lao động sáng tạo của Công binh Việt Nam; hài lòng về chất lượng
kỹ thuật của công trình, đặc biệt là hệ thống thông gió, cống thoát
nước. Những ý kiến góp ý sửa chữa của các chuyên gia lập tức được đáp
ứng ngay.
Ngay khi bắt đầu thi công công trình, Cục Bảo vệ và Trung đoàn 144 đã
lập tức được lệnh nghiên cứu, khảo sát, chuẩn bị phương án di chuyển.
Sau chuyến di chuyển chạy lụt lần trước, Ban chỉ đạo đã quyết định cho
cải tạo xe Páp làm xe chính vì nhận thấy dùng xe Páp thuận lợi hơn, vừa
là xe ba cầu có tời bánh hơi, có sàn rộng có thể để máy điều hòa máy
phát điện được, lại có thể di chuyển trong điều kiện sông nước, lầy
lội. Xe Zin 157 trở thành xe hỗ trợ, dự phòng.
Cùng với các cán bộ của Cục Bảo vệ và Trung đoàn 144, tôi trực tiếp xây
dựng phương án, tổ chức tập luyện và sau đó trực tiếp chỉ huy cuộc hành
quân di chuyển này.
Thế là Bác cháu tôi lại chuẩn bị vượt sông Đà.
*
* *
Sau nhiều lần khảo sát, tính toán, chạy thử, chúng tôi vạch ra một kế hoạch hành quân.
Thời điểm này đang là mùa mưa lũ; nước sông Đà lên cao, chảy xiết và
rất hung dữ. Do đó từ K84 không thể đi thẳng sang bến bên kia, vì như
vậy sẽ phải bơi ngược dòng 4 ki-lô-mét, rất nguy hiểm. Sau khi tính
toán, chúng tôi quyết định một lộ trình như sau:
Từ K84 vận chuyển bộ trên đường 15 ki-lô-mét đến một bến phà có sẵn. Đây sẽ là bến xuống.
Từ bến xuống, xe Páp chở thi hài chạy xuôi dòng, được ba xe lội nước
bánh xích K61 của Bộ Tư lệnh Công binh hộ tống để mở luồng, cản các
loại vật trên mặt sông như củi gỗ va vào xe chính và sẵn sàng kéo, kích
khi xe chính chết máy hoặc bị trôi. Quãng đường thủy này có độ dài 3,5
ki-lô-mét.
Tới bến lên đã có hai xe hộ tống trực sẵn, trong đó có xe Zin 157 sẵn
sàng kích kéo, hỗ trợ cho xe chính khi lên bến. Tại bến lên đã đào sẵn
một âu thuyền để xe Páp nhẹ nhàng dạt vào rồi từ đó dùng tời kéo lên
bờ, giảm bớt độ rung xóc. Ở bến lên bố trí sẵn một hệ thống đèn tín
hiệu để hướng dẫn xe chính cập bến an toàn.
Từ bến lên tới đường liên tỉnh dài 5 ki-lô-mét, đường phải cải tạo. Bộ
đội Trung đoàn 144 vừa sửa đường, vừa làm công tác bảo vệ.
Một số cán bộ của Cục Bảo vệ cũng được tăng cường lên để làm nhiệm vụ
bảo vệ an ninh cho khu vực H21. Chúng tôi đặc biệt chú ý tới việc bảo
vệ từ xa, lập những tổ trinh sát bí mật thường xuyên đi lại, tiếp cận
với nhân dân để nắm dư luận và phát hiện 98 những sơ hở của ta ở khu
vực H21 để sửa chữa, đề phòng.
Vào thời điểm này, sông Đà đã vào mùa lũ, những trận mưa đầu mùa ở
thượng nguồn đổ xuống khiến nước sông dâng cao, cuồn cuộn chảy. Mỗi lần
nhìn dòng sông Đà, tôi lại trào lên một nỗi lo khôn tả. Tuy mọi chi
tiết kỹ thuật của cuộc hành quân đều đã được tính toán chi tiết, tỉ mỉ,
nhưng không ai dám nói rằng đã lường trước được mọi rủi ro. Một lần
hành quân tập khi xe Páp từ bến bò lên dốc có tời kéo hỗ trợ nhưng tời
đã bị đứt, đây là tình huống tập nhưng cũng khiến chúng tôi vô cùng lo
lắng. Nhưng cũng nhờ luyện tập mà ta phát hiện được những sơ suất để
kịp thời khắc phục ngay.
Ngày 11 tháng 7 năm 1972, lúc 21 giờ, mưa gió vẫn vù vù, trời tối đen
như mực. Ban chỉ đạo cùng các đồng chí chuyên gia và cán bộ Đoàn 69, Bộ
Tư lệnh Công binh có mặt đầy đủ để tổ chức hành quân đưa thi hài Bác
vượt sông Đà sang H21.
Chưa bao giờ sông Đà lại lộ rõ vẻ uy nghiêm, huyền bí như vậy. Tuy
không tin ở sức mạnh của những đấng siêu nhiên, nhưng tôi vẫn thầm mong
các quý nhân phù trợ cho chúng tôi thuận buồm xuôi gió. Khi chiếc xe
chính vừa chạm vào làn nước sông Đà, trong lòng tôi bỗng cảm thấy dạt
dào một xúc cảm thật khó tả. Nhớ lại những hình ảnh Bác hành quân ra
trận, mỗi lần nghỉ giải lao, Bác đều chọn những con suối đẹp để dừng
chân, Bác yêu thiên nhiên sông suối nước Nam, nhất định sông suối nước
Nam không bao giờ phụ lòng Bác.
Những vệt đèn pha của chiếc xe lội nước rạch những luồng sáng chói gắt
trên mặt sông ngầu đục. Ba xe hộ tống vẫn bám sát xe chính gạt đi tất
cả những chướng ngại vật, những cành cây, khúc gỗ trôi nổi trên sông.
Tại bến lên, thỉnh thoảng đèn hiệu lại lóe sáng. Chắc các đồng chí bên
ấy sốt ruột lắm. Phải, đêm nay tất cả chúng tôi cùng thao thức với sông
Đà.
Cuộc hành quân vượt sông thuận lợi nhiều hơn chúng tôi dự kiến. Ở bến
lên, nhờ chuẩn bị kỹ, nên chiếc xe chính được tời lên một cách nhẹ
nhàng. Đoạn đường làm gấp từ bến lên tới đường liên tỉnh và từ đường
liên tỉnh vào H21 cũng đã được chuẩn bị kỹ càng từng đoạn một, nên xe
chính hầu như không gặp trở ngại gì, nhẹ nhàng an toàn dừng bánh trước
H21.
Lúc đó là 0 giờ 15 phút ngày 12 tháng 7 năm 1972. Dãy núi đá bên kia
sông Đà đứng uy nghiêm trầm mặc trong bóng đêm như một đạo quân khổng
lồ đang đón chào vị anh hùng của dân tộc.
Trong ánh đèn điện hư ảo của hang đá H21, tôi ghi vào nhật ký công tác:
“0 giờ 15 phút ngày 12 tháng 7 năm 1972. Đưa Bác vượt sông sang H21 an
toàn tuyệt đối. Ban chỉ đạo và các chuyên gia đều vui mừng. Nơi này có
thể bảo đảm an toàn cho Bác trong mọi tình huống…”.
*
* *
Bác ở H21, công việc bảo vệ an ninh, công tác bảo đảm kỹ thuật, công
tác hậu cần trở nên khó khăn, phức tạp bội phần. Đoàn 69 phải căng ra,
chia làm ba bộ phận: một bộ phận ở 75A, một bộ phận ở K84 và một bộ
phận ở H21. Tuy H21 giờ đây là điểm chủ yếu, nhưng K84 lẫn là nơi đi
về, là căn cứ hậu cần, là nơi nghiên cứu khoa học, nơi nghỉ ngơi cho
chuyên gia nên cũng không thể lơ là. Lực lượng tăng cường bảo vệ K84
cũng được lệnh rút dần. Phương pháp bảo vệ an ninh, phòng thủ ở H21
phải thay đổi. Bộ đã điều một số đơn vị về đóng quân dã ngoại ở gần khu
vực đó để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ mục tiêu, tuy nhiên từ chỉ huy đến
chiến sĩ cũng không được biết họ đang bảo vệ mục tiêu gì. Bộ đội phòng
không - không quân được lệnh theo dõi sát sao và thường xuyên có lực
lượng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời khu vực K84 và H21. Cục Bảo
vệ bố trí nhiều tổ, nhóm trinh sát hoạt động thường xuyên ở khu vực này
để nắm tình hình. Trung đoàn 144, bố trí một lực lượng tinh nhuệ bảo vệ
H21. Bộ đội công binh vận hành, bảo trì công trình phải làm lán tạm
xung quanh H21 để ở nên rất gian khổ. Tổ y tế đặc biệt càng vất vả hơn
vì ở đây không có điều kiện, phải gồng gánh trang bị, quần áo qua rừng
rồi vượt sông về K84 để giặt giũ sấy hấp trang phục công tác, rồi lại
chuyển sang H21.
Các chuyên gia Liên Xô cũng phải vất vả hơn nhiều. Mỗi tuần hai lần
đoàn chuyên gia Liên Xô từ và Nội lên K84, chờ trời tối mới vượt sông
sang H21 để làm việc rồi lại trở về K84 trước khi trời sáng. Những cuộc
hành quân như vậy kéo dài liên tục nhiều tháng, nhưng các chuyên gia
bạn không một lời kêu ca phàn nàn. Ban chỉ đạo chúng tôi thường yêu cầu
Đoàn 69 củng cố lại nơi ăn, ở bảo đảm sinh hoạt tốt nhất cho chuyên
gia, vì thế các chuyên gia rất hài lòng. Tôi còn nhớ, hồi đó trong một
lần tâm sự, một đồng chí chuyên gia đã nói: “Chúng tôi ở đây cũng đầy
đủ thoải mái như ở Hà Nội, thậm chí còn yên tĩnh thoáng đãng hơn… Các
đồng chí đừng băn khoăn gì nữa. Việt Nam đang đánh Mỹ, còn rất nhiều
việc phải làm”.
Được nghe những lời chân tình như vậy, chúng tôi cũng mát lòng. Theo
đạo lý của người Việt Nam, các chuyên gia bạn từ phương trời xa đến để
cùng mình, lo việc hiếu nghĩa, đã là một cái ơn mà nhân dân Việt Nam
luôn phải ghi nhớ.
Trung tuần tháng 12 năm 1972, Mỹ dùng máy bay B52 đánh phá Hà Nội và
nhiều thành phố khác. Quân dân ta đã làm nên một trận “Điện Biên Phủ
trên không” vô cùng oanh liệt, khiến cho “canh bạc” cuối cùng của đế
quốc Mỹ trở nên vô hiệu.
Đầu năm 1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết. Đế quốc Mỹ đã chấp nhận thất
bại, cam kết chấm dứt vĩnh viễn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc và
triệt thoái toàn bộ quân đội Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam. Tin vui ấy làm
nức lòng cả nước, đặc biệt các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 lại càng vui
hơn. Hiệp định Pa-ri đã mở ra những điều kiện thuận lợi để có thể đưa
Bác trở lại K84 hoặc 75A, công việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây
Lăng Bác sẽ gặp nhiều thuận lợi.
Ban chỉ đạo chúng tôi lập tức xin chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ
Chính trị về việc di chuyển thi hài Bác về K84. Được sự đồng ý của Quân
ủy Trung ương và Bộ Chính trị, ngày 27 tháng 1 năm 1973 (vào trước Tết
ông Táo một ngày), đồng chí Nguyễn Văn Hanh - Chính ủy Đoàn 69 được
lệnh về Hà Nội làm việc với Ban chỉ đạo nhận kế hoạch hành quân di
chuyển thi hài Bác từ H21 về K84.
Kế hoạch hành quân di chuyển lần này về cơ bản vẫn như phương án cũ.
Nhưng lần này xe Páp chở thi hài Bác sẽ đi xuôi dòng rồi sang thẳng bến
trước K84 chứ không ngược lên bến xuống cũ.
Công việc chuẩn bị được tiến hành rất khẩn trương, nhưng vẫn tỉ mỉ, chu
đáo. Ban chỉ đạo chúng tôi vẫn không bỏ qua bất kỳ một khâu nào không
xem xét kỹ. Đúng chiều 30 Tết âm lịch, mọi công việc đã chuẩn bị xong.
Ban chỉ đạo quyết định cho anh em nghỉ ăn Tết, đồng thời cũng để có
thời gian kiểm tra lại lần cuối mọi khâu chuẩn bị trước khi phát lệnh
hành quân.
Ngày 8 tháng 2 năm 1973 (mùng bốn Tết), sau khi Ban chỉ đạo và các
chuyên gia Liên Xô kiểm tra xong lần cuối cùng mọi khâu chuẩn bị, chúng
tôi chính thức ra lệnh hành quân.
21 giờ ngày 8 tháng 2 năm 1973, đoàn xe hộ tống thi hài Bác rời H21.
Lần này nước sông Đà thấp, dòng chảy nhẹ nhàng nên chúng tôi tin rằng
sẽ thuận lợi hơn. Tới bến sông, chiếc xe Páp chở thi hài và hai xe hộ
tống xuống sông một cách nhẹ nhàng rồi bơi xuôi một đoạn nhằm bờ bên
kia, theo tín hiệu đèn rẽ vào bến K84. Trên bến sông, tất cả cán bộ,
chiến sĩ ở K84 cùng Ban chỉ đạo và chuyên gia đều có mặt. Hòm đựng thi
hài Bác được chuyển bằng tay từ bến sông lên nhà kính một cách lặng lẽ,
an toàn.
Khi thi hài Bác đã bình yên an tọa trong nhà kính thì trời cũng vừa hừng sáng. Một ngày mới ở K84 lại bắt đầu.
Ít ngày sau đó, theo lệnh của Ban chỉ đạo, H21 đã hoàn thành sứ mệnh của mình, được xây lấp cửa hang, xóa hết mọi dấu vết.
Những ngày gian khổ bên kia sông Đà của những cán bộ, chiến sĩ làm
nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác cũng đã chấm dứt.
Nhìn lại chặng đường từ khi Bác ra đi (9-1969) đến thời điểm này, Ban
chỉ đạo chúng tôi không khỏi ngạc nhiên, tự hào. Từ chỗ chúng ta chưa
hiểu biết gì về lĩnh vực này, đến quyết tâm gìn giữ lâu dài thi hài Bác
tại Việt Nam, trải qua gần 5 năm trời lận đận với 5 cuộc hành quân di
chuyển, xây dựng 3 công trình… đến hôm nay, chúng ta vẫn giữ gìn tuyệt
đối an toàn thi hài Bác. Lòng kính yêu lãnh tụ, trách nhiệm trước Đảng,
trước nhân dân và danh dự người chiến sĩ là sức mạnh giúp chúng tôi
vượt qua muôn ngàn khó khăn. Tình đồng chí cao cả dựa trên tinh thần
cộng sản hòa quyện với đạo đức, nhân nghĩa, lòng thủy chung son sắt của
người Việt Nam, đã khiến chúng ta và các chuyên gia bạn đoàn kết một
lòng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hai Đảng, hai dân tộc, hai nền
khoa học, để biến điều tưởng như không thể, thành điều được khẳng định
là hoàn toàn có thể.
Việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác ở Việt Nam trong điều kiện khí hậu
khắc nghiệt, nền kinh tế còn lạc hậu nghèo nàn, lại có chiến tranh phải
di chuyển nhiều… chắc hẳn sẽ là những kinh nghiệm khoa học quý giá đóng
góp vào lĩnh vực khoa học rất chuyên biệt này của thế giới.
Riêng đối với Ban chỉ đạo và cá nhân tôi, những năm tháng này là thời
gian chúng tôi có một cuộc sống đặc biệt phong phú. Chúng tôi đã học
được nhiều điều hiểu biết thêm nhiều điều về một lĩnh vực mà trước đó,
chúng tôi không hề có chút kinh nghiệm nào. Đặc biệt, chúng tôi đã có
được bài học về những phương pháp ứng xử, mối quan hệ giữa con người
với con người. Chúng tôi cũng thấy rõ hơn tình cảm sâu nặng của cán bộ,
chiến sĩ và nhân dân ta với Bác Hồ kính yêu. Nếu không có sự lao động
quên mình và lòng trung thành vô hạn của cán bộ và chiến sĩ thì chúng
tôi không thể vượt qua được những khó khăn chồng chất như vậy để hoàn
thành nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác trong những năm tháng khó
khăn gian khổ vừa qua.
Trong sổ tay công tác của tôi vào ngày hôm đó có ghi: “Bác đã trở về
K84 an toàn, Hiệp đinh Pa-ri đã được ký kết. Thời cơ hoàn thành việc
xây dựng Lăng để đưa Bác trở về Thủ đô đã đến…”. |