Tác giả: Phan Hoàng
Nhà xuất bản: Trẻ
Năm xuất bản: 1999
Số hoá: ptlinh
Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam
Kính tặng Mẹ, người đàn bà chịu nhiều đau khổ bất hạnh vì chiến tranh
Lời tựa
Tôi đã đọc từng bài viết về các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam
của Phan Hoàng trên từng số tạp chí Kiến thức ngày nay, với tôi vừa thú
vị vừa bổ ích.
Nhìn lại tác phẩm văn học ta viết về hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc, nhân vật chính nổi bật, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong loòn
bạn đọc là những chiến sĩ cầm súng, là các cô du kích, là cán bộ hoạt
động trong lòng địch, chúng ta rất ít gặp nhân vật là các vị tướng, nếu
có thì nhân vật ấy chỉ thoáng qua, rất mờ nhạt. Trong lúc ấy, ở ngoài
đời những danh tướng là những con người đáng ghi trong lịch sử.
Chúng ta, ai cũng biết rằng: bất cứ cuộc chiến tranh nào, bất cứ ở đâu
và từ xưa đến nay, chiến tranh không thể thiếu các vị tướng. Chính họ
là những người góp phần quan trọng, nếu không nói là quyết định sự
thành bại của các cuộc chiến.
Với tư cách là người đọc, nhiều lúc tôi khao khát muốn được biết về con
người, con người tướng, con người đời thường, con người ngoài trận mạc,
con người trong gia đình và bổn phận của người chồng, người cha… rất
muốn biết và chia sẻ tâm trạng của một vị tướng trước và sau những trận
đánh. Không có một trận đánh nào mà không có chiến sĩ hi sinh. Những vị
tướng nghĩ gì về sanh mạng của hàng ngàn chiến sĩ dưới sự chỉ huy của
mình.
Văn học viết về chiến tranh, mảng này như còn bỏ trống nếu không nói là
thiếu sót. Vì sao? Tôi nghĩ-chẳng biết có dúng hay không, đội ngũ nhà
văn của ta, phần lớn xuất thân từ quân đội, nhà văn không chỉ thông cảm
hay chia sẻ mà nhà văn cùng một số phận với người chiến sĩ. Trong đời
sống hàng ngày, nhà văn và chiến sĩ là mối quan hệ tình đồng đội, tình
bạn bè. Nhờ đó, nhà văn đã có đủ chất liệu sống từ thực tế mà xây dựng
nhân vật cho tác phẩm của mình.
Đối với các vị tướng thì nhà văn không có được mối quan hệ mật thiết
như chiến sĩ và, các cấp chỉ huy trực tiếp của nhà văn chưa phải là
tướng. Hình như chưa có nhà văn nào là bạn của một vị tướng, và cũng
hình như chưa có vị tướng nào có một người bạn thân là nhà văn. Chính
cái khoảng cách này mà nhà văn không có đủ vốn sống để tạo thành nhân
vật.
Để bù lại phần nào trong cái khoảng trống ấy, tạp chí Kiến thức ngày
nay đã có sáng kiến ghi chép lại (một phần nào) về cuộc đời của các
tướng lĩnh. Đây chưa phải là tác phẩm văn học, nhưng những bài phỏng
vấn do Phan Hoàng thực hiện đã thuyết phục tôi và bạn đọc vì sự trung
thực, xúc cảm của tôi không bị lừa dối, sự xúc cảm của tôi cũng chân
thật như những tiếng nói chân thật, giản dị và gần gũi của các vị tướng.
Những bài phỏng vấn của Phan Hoàng đăng rải rác trên chuyên mục “Mỗi kỳ
một nhân vật” của Kiến thức ngày nay được gom lại thành tập Phỏng vấn
các tướng lĩnh Việt Nam, với tôi là một quyển sách quí cần được phổ
biến rộng rãi đến bạn đọc. Tôi cũng rất mong tác giả viết tiếp đề tài
sống động này, để tôi và bạn đọc được đọc thêm về cuộc đời và sự nghiệp
đáng kính trọng của các tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam chúng ta.
Ngày 20.4.1997
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng
Thượng tướng Hoàng Cầm
Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lang thang nay đây mai đó, phải đi lính khố xanh
cho Pháp để kiếm sống, Hoàng Cầm được giác ngộ cách mạng, trở thành một
tướng lĩnh nổi tiếng của quân đội, có mặt ở nhiều “điểm nóng quan trọng
trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Những đội quân chủ
lực thiện chiến do tướng Hoàng Cầm chỉ huy luôn là nỗi kinh hoàng của
quân thù. Cuộc đời binh nghiệp gian khổ và kiên cường của ông trải từ
chiến khu Việt Bắc ngút ngàn với chiến thắng Điện Biên lẫy lừng đến
những cánh rừng của miền Đông đất đỏ, từ đường phố Sài Gòn với Chiến
dịch Hồ Chí Minh lịch sử đến đường phố Phnôm Pênh giải phóng nước bạn
khỏi nạn diệt chủng. Ông luôn được giao nhiều trọng trách, cả thời
chiến lẫn thời bình: sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, sư đoàn trưởng Sư đoàn
9, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền
Nam, tư lệnh kiêm chính uỷ Quân đoàn 4, phó tư lệnh Đoàn 719, tư lệnh
kiêm chính uỷ Quân khu 4,… Trước khi trở thành “tướng về hưu”, ông giữ
chức Tổng thanh tra quân đọi hàm Thượng tướng, được Nhà nước tặng
thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Bản lĩnh và kinh nghiệm trậnn mạc của
tướng Hoàng Cầ là tài sản quí giá của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Lịch sử quân đội trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc xuất
hiên một sự trùng hợp: có ba người lính cùng mang tên Hoàng Cầm đều rất
nổi tiếng. Một Hoàng Cầm nhà thơ, tác giả bài Bên kia sông Đuống, Mưa
Thuận Thành, Lá diêu bông,… từng là trưởng Đoàn Văn công Tổng cục Chính
trị. Một Hoàng Cầm anh nuôi, sáng chế bếp Hoàng Cầm không khói huyền
thoại từ thời kháng chiến chống Pháp. Và một Hoàng Cầm danh tướng, thi
thoảng cũng làm thơ… tình dành tặng vợ!
Tướng Hoàng Cầm thường được đồng đội gọi thân mật Năm Thạch, tên thật
là Đỗ Văn Cầm, tuổi Thân sinh ngày 30 tháng 4 năm 1920 ở xã Cao Sơn,
huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây. Theo phong trào trong quân đội, sau Cách
mạng tháng Tám nhiều người đã lấy họ Hoàng như: Hoàng Văn Thái, Hoàng
Sâm, Hoàng Minh Thảo, Hoàng Mười, Hoàng Điền, Hoàng Kiện, Hoàng Tùng,
Hoàng Đan, Hoàng Phương,… và cái tên Hoàng Cầm cũng xuất hiện từ đó.
Năm 1960, Hoàng Cầm được phong quân hàm Đại tá. Năm 1974, ông được
thăng Thiếu tướng khi đang chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ. Năm 1982,
trong lúc chỉ huy bộ đội tình nguyện ở Campuchia, Hoàng Cầm được thăng
Trung tướng. Năm 1987, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế từ biên giới
Lào-Thái trở về, ông được vinh thăng Thượng tướng, trở thành Tổng thanh
tra quân đội, nay là thanh tra Bộ Quốc phòng. Ông còn được bầu làm uỷ
viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá V và khoá VI.
Hoàng Cầm là vị chỉ huy rất có duyên với những trận đánh lớn. Trong
chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn Sông Lô
trực tiếp bắt sống tướng De Castrie. Đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, Hoàng
Cầm là tư lệnh Quân đoàn 4 đánh mở “cánh cửa thép” Xuân lộc, tiêu điểm
quan trọng nhất, ác liệt nhất trên đường đại quân tiến vào giải phóng
Sài Gòn; rồi chịu trách nhiệm tiếp quản dinh Độc Lập cùng nội các Tổng
thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hoà. Chiến tranh biên giới Tây
Nam xảy ra, Tư lệnh Hoàng Cầm là vị chỉ huy cao nhất có mặt đầu tiên ở
thủ đô Phnôm Pênh khi cùng Quân đoàn 4 tiến sáng giải phóng nước bạn
khỏi ách diệt chủng Pol Pot-Iêng Sary. Chưa hết. Chỉ một thời gian ngắn
sau, tướng Hoàng Cầm lại hành quân sang “điểm nóng” tranh chấp ở biên
giới Tây Nam Lào, toàn quyền chỉ huy bộ đội tình nguyện giữ yên bờ cõi
cho nước bạn suốt nhiều năm liền.
Một trưa tháng Ba, tôi cùng đồng nghiệp Huỳnh Hiếu của báo Phú Yên đến
thăm ông và xin “cái hẹn” cho một cuộc phỏng vấn. Không ngờ, tướng
Hoàng Cầm đề nghị làm việc ngay “để khỏi mất công nhà báo”! Tác phong
đầy chất nhà binh của vị tướng già, gây cho chúng tôi sự cảm kích lớn
lao.
-Thưa Thượng tướng, trước khi bước vào con đường binh nghiệp, thời thiếu niên của Thượng tướng gắn bó nơi đâu?
-Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tây. Mẹ mất năm tôi
bốn tuổi, đến năm mười hai tuổi thì mất cha. Nhà có bốn anh em, do hoàn
cảnh như vậy, mỗi người phân tán lưu lạc một nơi. Tôi đi ở đậu cho
người ta năm năm, dưới hình thức con nuôi, nhưng cách đối xử và công
việc chẳng khác đứa ở. Khi làm mộ táng cho cha mẹ tôi, họ đưa 3 đồng
tiền Đông Dương, đến khi tôi bỏ đi thì họ đòi lại. Tôi ở nhờ làm thuê
hết nhà này sang nhà khác, cho đến năm 20 tuổi tôi bỏ làng ra đi, lưu
lạc từ Hà Đông đến Hà Nội với nhiều nghề lặt vặt kiếm sống.
Cuộc sống vô gia cư của một anh nhà quê không đồng dính túi, buộc tôi
phải đi lính khố xanh cho Pháp. Hai năm ở Lai Châu, rồi Việt Minh tuyên
truyền, tôi tham gia hoạt động cách mạng. Từ Cách mạng tháng Tám tôi
vào Cứu quốc quân, Vệ quốc đoàn, Giải phóng quân tham gia mặt trận Sơn
la năm 1947. Lúc bấy giờ, tôi vẫn nghĩ chỉ tham gia quân đội một thời
gian rồi quay về quê kiếm vốn buôn bán làm ăn…
-Nhưng rồi cuối cùng Thượng tướng đã gắn bó cả đời mình với con đường
binh nghiệp. Những ngày đầu tiên gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam để
lại ấn tượng gì trong cuộc đời Thượng tướng?
-Lớp thanh niên chúng tôi là lớp thanh niên mất nước, được giác ngộ
tinh thần dân tộc, đánh đổ thực dân, cứu nước. Họ rất bình dị và trong
sáng, sẵn sàng hi sinh đến giọt máu cuối cùng. Sau này, chúng tôi mới
được giác ngộ giai cấp, kết nạp vào Đảng. Từ Tổng khởi nghĩa tháng
8-1945 cho đến cuối năm 1947, chúng tôi đánh giặc chủ yếu từ vũ khí
cướp được của giặc. Ăn uống thì dựa vào nhân dân. Chỉ đến năm 1948 trở
đi thì quân ta mới có chế độ về khí tài, lương thực thực phẩm, quân
trang… Trong đội quân hỗn hợp ấy, chúng tôi đã lớn lên và trưởng thành.
Tôi còn nhớ đôi câu đối vui ghép đầy đủ tên chiến sĩ tiểu đội đầu tiên
của tôi:
Thám Hữu Đào Lan Cầm Thượng Thuý
Thanh Liêm Miêu Miễn Thưởng Vân Sì
Hiện nay chỉ còn lại tôi, anh Vân Sì và anh Thưởng, nhưng anh Thưởng thì lâu nay cũng bặt tin.-Gần nửa thế kỷ chinh chiến, những nhiệm vụ chủ yếu nào Thượng tướng từng đảm trách?
-Từ năm 1946 đến 1949 tôi ở Trung đoàn 148 tham gia mặt trận Sơn La,
đánh nhau với Quốc dân đảng. Năm 1949 tôi về Trung đoàn Sông Lô (209)
làm Tiểu đoàn phó, rồi tiểu đoàn trưởng đánh Đông Khê với quân Pháp.
Ngày 12 tháng 9 năm 1950, khi chuẩn bị cho trận đánh đầu tiên này trong
Chiến dịch Cao Bắc Lạng giải phóng biên giới, tôi là tiểu đoàn trưởng
duy nhất được Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho triệu tập lên sở chỉ huy
gặp Bác Hồ. Sau khi nghe tôi báo cáo tình hình chuẩn bị của tiểu đoàn,
Bác hỏi:
- Chú có tin trận này quân ta nhất định thắng không?
- Thưa Bác, cháu tin ạ!
Chiến dịch kết thúc thắng lợi, tôi được cử làm trung đoàn trưởng Trung
đoàn Sông Lô, tiếp tục chiến đấu trên chiến trường Bắc Bộ. Năm 1954,
tham gia Điện Biên Phủ, trung đoàn tôi là đơn vị chủ lực, bắt sống
tướng De Castrie. Sau Điện Biên, tôi về làm Sư đoàn phó kiêm Tham mưu
trưởng Sư đoàn 312, khi anh Lê Trọng Tấn và anh Trần Độ chuyển công
tác, tôi lên làm Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ vào cuối 1954.
Mười năm sau, cuối năm 1964 thì tôi được lệnh vào Nam chiến đấu. Tôi
tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch như Phước Long-Đồng Xoài, Bàu
Bàng-Dầu Tiếng, Đường 13, Lộc Ninh… Và cuối cùng là chỉ huy trận đánh
Xuân Lộc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trước khi về làm tư lệnh
Quân đoàn 4, tôi được cử làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ Tư
lệnh Quân giải phóng miền Nam.
Đến năm 1979 tôi đưa Quân đoàn 4 sang giải phóng Campuchia. Năm 1981
tôi lên làm Phó tư lệnh đoàn 719 mà anh Lê Đức Anh làm Tư lệnh, chỉ huy
bộ đội làm nghĩa vụ quốc tế ở nước bạn. Tháng 5 năm 1982 tôi về nước
nhận nhiệm vụ tư lệnh kiêm chính uỷ Quân khu 4, đưa cả Sư đoàn 341
theo. Bấy giờ, tình hình Lào bất ổn, tôi được lệnh đưa quân sang đất
nước Triệu Voi và ở đấy năm năm. Sau đó, tôi về Hà Nội làm Tổng thanh
tra quân đội năm năm nữa, rồi mới về nghỉ hưu chữa bệnh. Cuộc đời binh
nghiệp của tôi có thể tóm tắt như thế.
-Vâng, chỉ cần có thế các nhà văn cũng đã đủ tư liệu viết nên một pho
sách quí giá; nhưng thưa Thượng tướng, cuộc đời Hoàng Cầm không chỉ có
thế mà còn được biết đến với nhiều giai thoại kỳ thú hơn nhiều. Chẳng
hạn như chuyến bí mật vượt đại dương lần đầu vào Nam chiến đấu…
-(Cười lớn) Chuyến đi nhớ đời đấy. Một ngày cuối năm 1964, tôi và anh
Trần Độ từ Hà Nội bay sang Quảng Châu, Trung Quốc. Bấy giờ, Trung Quốc
đang giúp Campuchia xây dựng tuyến đường sắt Sihanoukville-Phnôm Pênh.
Chúng tôi cải trang thành công nhân máy tàu trên một chuyến tàu biển
chở sắt đường ray sang Campuchia phục vụ công trình trên. Con tàu bắt
đầu nhổ neo vào một buổi sáng dày đặc sương mù, lần lượt vượt qua nhiều
“điểm nóng” nguy hiểm, hết Hoàng Sa rồi tới Trường Sa do hải quân Việt
Nam cộng hoà kiểm soát. Nhằm đánh lạc hướng tình báo địch, con tàu chạy
xuống gần đảo quốc Singapore rồi bẻ lái đột ngột hướng lên cảng
Sihanoukville. Hải trình kết thúc an toàn sau một tuần hồi hộp vượt đại
dương.
-Sau đó, Thượng tướng sang chiến trường B2 bằng cách nào?
-Đến đây thì dễ rồi. Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia đúng hẹn đi xe hơi
xuống cảng. Trên xe có 4 người. Hai người xuống xe để tôi và anh Trần
Độ thế vào, chạy về Phnôm Pênh. Tới vùng ngoại ô, cơ sở của ta bố trí
anh Ba Râu chờ đón sang xe chạy thẳng về nhà kho một thương gia Hoa
kiều nằm ngay trung tâm thủ đô. Ít hôm sao, tôi và anh Trần Độ giả Việt
kiều đi chơi cuối tuần bằng xe dịch lịch rồi chạy ù sang biên giới nước
ta. Anh Huỳnh Kháng Minh chờ sẵn đón chúng tôi. Ba anh em đèo nhau bằng
“ngựa sắt” theo đường mòn cắt rừng qua ngả Cà Tum về Cục R, đang đóng ở
Tân Biên thuộc Tây Ninh. Anh Huỳnh Kháng Minh về sau được cử làm Thứ
trưởng Bộ thông tin tuyên truyền Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam
và đã hy sinh trên đường công tác.
-Được biết, sau đó Thượng tướng hai lần trở lại Hà Nội cũng qua đường Phnôm Phênh.
-Nhưng không phải bằng đường biển nữa mà bằng đường hàng không. Tôi lấy
hộ chiếu giả Việt kiều, mua vé Hãng Air France bay sang Quảng Châu rồi
mới quay về Hà Nội. Bọn tình báo địch đâu có ngờ các tướng “Việt Cộng”
gây cho chúng mất ăn mất ngủ ở chiến trường B2, lại có thể ngang nhiên
một cách đàng hoàng, công khai trước mặt chúng như vậy.
-Nghe nói, khi mới đến Phnôm Pênh lần đầu, Thượng tướng còn muốn nghe cả đài miền Bắc…
-Sau này nghĩ lại mới giật mình. May mà lúc ấy anh chủ nhà là thương
gia Hoa kiều cản kịp thời, bảo với tôi và anh Trần Độ rằng ở tầng trên
đang có địch!
-Thưa Thượng Tướng, là người trực tiếp thành lập và chỉ huy Quân đoàn
4, quân đoàn chủ lực đầu của Quân giải phóng miền Nam, xin Thượng tướng
cho biết vài nét về quân đoàn này?
-Sau một thời gian vào B2, tôi được lệnh xây dựng sư đoàn 9 chủ lực đầu
tiên của Quân giải phóng miền Nam. Đây là sư đoàn đàn anh trong cuộc
đối đầu với quân Mỹ, về sau được tuyên dương đơn vị anh hùng. Tôi là Sư
đoàn trưởng, còn anh Lê Văn Tưởng là Chính uỷ đầu tiên. Sau đó, tôi
được cử làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Miền. Bấy giờ anh Trần Văn
Trà là Tư lệnh thay anh Hoàng Văn Thái. Tôi nhận lệnh thành lập thành
lập Quân đoàn 4 vào ngày 20-7-1974, từ 2 sư đoàn chủ lực là Sư đoàn 7
và 9 cùng một số tiểu đoàn binh chủng độc lập. Tôi được phân công làm
Tư lệnh, anh Bùi Cát Vũ-Phó tư lệnh, Hoàng Khánh Nghĩa-Tham mưu trưởng,
Ba Vinh-hậu cần. Đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Hoàng Thế Thiện về làm
Chính uỷ. Khi sang Campuchia thì tôi kiêm luôn Chính uỷ.
-Vai trò Quân đoàn 4 được xác lập ra sao?
-Ngay từ khi thành lập, Quân đoàn 4 đã được giao 2 nhiệm vụ chính. Thứ
nhất, là đơn vị chủ lực của B2 (từ khu 6 trở vào), có nhiệm vụ giải
phóng các đô thị lớn, nhất là Sài Gòn, hỗ trợ du kích chiến tranh, xây
dựng cơ sở. Thứ hai, là đơn vị cơ động của vùng Nam Đông Dương; chính
vì vậy mà năm 1979 Quân đoàn 4 mới tiến vào giải phóng Phnôm Pênh.
Sau khi thành lập, vào ngày 12-12-1974, Quân đoàn 4 tiến hành đánh
chiếm và giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long. Đây là trận đánh rất có ý
nghĩa chiến lược, vì qua đó, biết được tình hình mạnh yếu của địch,
cũng như thấy được thời cơ đã đến mà Trung ương đề ra sách lược mới.
Tiếp theo đó, Quân đoàn 4 tiến đánh Bình Long qua Bắc Tây Ninh, Dầu
Tiếng, Chơn Thành; đánh từ Mỏ Vẹt đến La Ngà qua Hoài Đức, Tánh Linh,
Bà Rịa để hình thành bàn đạp bao vây Sài Gòn từ nhiều hướng. Sau chiến
thắng Dầu Tiếng tháng 3-1075, Sư đoàn 9 được lệnh tách khỏi quân đoàn
chuyển về làm lực lượng nòng cốt cho Đoàn 232 chiến đấu phía tây nam
Sài Gòn. Bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, phiên chế Quân đoàn 4 có ba
sư chủ lực là Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 được thành lập từ hai
trung đoàn chủ lực của Quân khu 7. -Trận đánh Xuân Lộc nổi tiếng của Quân đoàn 4, theo Thượng tướng, có
vai trò như thế nào trong toàn bộ Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử?
-Trận Xuân Lộc kéo dài mười ngày từ 9 tháng 4 đến 19 tháng 4 năm 1975
là trận đánh mở đầu cho chiến dịch và là trận đánh lớn nhất, quyết liệt
nhất, quan trọng nhất trong toàn bộ chiến dịch. Thứ nhất, địch mất Quân
khu 1 và Quân khu 2 nên dồn quân về đây. Thứ hai, Đai tướng Weyand,
Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và là cựu tổng tư lệnh quân Mỹ ở Đông
Dương, được lênh Nhà Trắng bay sang lập phòng tuyến cố thủ Sài Gòn, xem
Xuân Lộc là “cánh cửa thép”, lá chắn cuối cùng để tìm một giải pháp
chính trị. Mất Xuân Lộc là mất tất cả. Do đó, sau khi Xuân Lộc bị quân
ta chiếm thì tướng Weyand liền lên máy bay chuồn về Mỹ, kéo theo tướng
tá chế độ Sài Gòn bỏ chạy, Tổng tham mưu trưởng chạy, Tổng thống chạy…
Sau Xuân Lộc, Quân đoàn 4 tiếp tục đánh chiếm Trảng Bom, Hố Nai, Biên
Hoà, Sở chỉ huy Quân đoàn 3 của nguỵ, sân bay Biên Hoà; rồi tiến thẳng
vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ Quốc phòng, dinh Gia Long, Bộ tư lệnh Hải
quân, kho xăng Nhà Bè...
-Thượng tướng có mặt tại dinh Độc Lập vào lúc nào?
-13 giờ 30’ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trước đó, 12 giờ 30’, Đại đội anh
hùng của Sư đoàn 7 do Chính trị viên Hoàng Cao Đại chỉ huy với 4 xe
tăng dẫn đầu đã tiến vào dinh Độc Lập. Khi tôi vào, được biết Dương Văn
Minh cùng nội các của ông ta từ sáng sớm đến lúc ấy vẫn chưa ăn uống
gì. Tất nhiên, họ sợ hãi không dám ngỏ lời. Tôi liền bảo họ: Các ông có
thể nhờ người nhà đưa cơm nước và đồ cá nhân cần dùng tới, chứ đói sao
chịu nổi… và đêm ấy, tôi cùng anh em binh lính nằm ngay trên hiên dinh
Độc Lập nghỉ ngơi. Dù đang đói ngủ nhưng tôi không tài nào chợp mắt
được. Đã nằm trong dinh Độc Lập rồi mà tôi cứ ngỡ mình đang mơ!
-Thưa Thượng tướng, có ý kiến cho rằng việc đầu hàng vô điều kiện của
Tổng thống Dương Văn Minh là hành động có lợi cho đất nước cho cách
mạng. Thượng tướng nghĩ sao?
-Việc Dương Văn Minh lên làm Tổng thống chế độ Sài Gòn là con bài cuối
cùng của Mỹ nhằm cản bước tiến quân ta, tìm một giải pháp chính trị có
lợi cho chúng. Theo tôi, hành động đầu hàng của Dương Văn Minh là việc
phải làm, không thể khác được, khi quân ta đã tiến đến nơi.
-Trong chiến dịch này, Quân đoàn 4 của Thượng tướng bắt sống bao nhiêu tướng lĩnh của đối phương?
-Khi ở Sóng Thần, anh em bắt sống Chuẩn tướng Lê Minh Đảo-Sư trưởng 18,
còn khi vào Sài Gòn thì bắt sống Trung tướng Lâm Văn Phát-Tư lệnh biệt
khu thủ đô.
-Là Phó chủ tịch Uỷ ban quân quản Sài Gòn sau khi thành phố được giải
phóng, xin Thượng tướng cho biết vài nét về nhiệm vụ lúc đó?
-Sau khi Sài Gòn được giải phóng, Uỷ ban quân quản được thành lập do
anh Trần Văn Trà làm Chủ tịch, tôi làm Phó chủ tịch thường trực, anh Võ
Văn Kiệt, anh Mai Chí Thọ,… làm Phó chủ tịch. Nhiệm vụ chủ yếu lúc bấy
giờ là phục hồi trật tự, ổn định đời sống nhân dân, cho cải tạo lâu dài
và tại chỗ hàng triệu tướng tá, quân lính, viên chức của chế độ cũ…
-Theo Thượng tướng, điều gì tạo nên sức mạnh quyết định để quân ta chiến thắng trong các cuộc giao tranh?
-Đó là đường lối chính trị đúng đắn. Ngoài ra, ta còn hơn đối phương về nghệ thuật chiến tranh.
-Thưa Thượng tướng, trong đời làm quân rồi làm tướng của mình, những
tướng lĩnh nào của Việt Nam đem lại cho Thượng tướng sự mến mộ nhất?
-Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Hai ông này là
bậc thầy của tôi. Ông Giáp bồi dưỡng cho tôi từ khi tôi còn là Tiểu
đoàn trưởng. Sau khi chiến thắng Đông Khê, lần đầu tiên tôi được gặp
Bác Hồ, cũng là lần đầu tôi gặp ông Giáp. Còn ông Thanh là người mà tôi
có dịp gần gũi nhiều khi vào Nam. Ông ấy là một tướng tài, là một Uỷ
viên Bộ chính trị trẻ và là người nâng đỡ rất nhiều đối với thế hệ
chúng tôi-những người lính xuất thân từ tầng lớp nông dân nghèo, không
có trình độ học vấn, nhưng có bản lĩnh và kinh nghiệm qua thực tế chiến
trường, dám xả thân vì cách mạng.
-Còn những người bạn chiến đấu thân thiết nhất của Thượng tướng?
-Anh Lê Thám, anh Vân Sì của tiểu đội đầu tiên. Sau này về Sư đoàn 312
thì có anh Lê Trọng Tấm, Trần Độ, Nam Long, Trần Quân Lập, Thăng Bình…
Khi tôi vào Nam thì có anh Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà. Ngoài ra,
thời gian ở Sư đoàn 9 tôi cũng rất thân với anh Lê Văn Tưởng (Hai
Chân). Ôi, còn bạn chiến đấu thì nhiều lắm!
-Thượng tướng có thể kể đôi nét về tướng Lê Trọng Tấn được không?
-Anh Tấn vừa là bạn rất thân vừa là cấp trên của tôi. Anh ấy thông
minh, quả cảm, rất được bộ đội yêu mến. Tài chỉ huy chiến dịch của anh
khó ai sánh bằng. Tôi rất bất ngờ và đau buồn khi nghe tin anh đột ngột
từ trần lúc đang là Đại tướng Tổng tham mưu trưởng quân đội ta.
-Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tướng Hoàng Thế Thiện là Chính uỷ Quân đoàn 4 do Thượng tướng làm Tư lệnh…
-Vâng. Anh Hoàng Thế Thiện vốn được giác ngộ cách mạng trước tôi. Thời
tôi còn là Đại đội trưởng ở khu 10 trong kháng chiến chống Pháp thì anh
Thiện đã là Chính uỷ đầu tiên Trung đoàn Sông Lô, kiêm Trưởng phòng
chính trị quân khu. Sau này anh ấy trở thành Chính uỷ Sư đoàn 304, rồi
Chính uỷ Bộ tư lệnh phòng không-không quân mà anh Phùng Thế Tài là Tư
lệnh.
Hoàng Thế Thiện là một người hoạt bát, có vóc dáng đẹp, là một chính uỷ
giỏi lại có khả năng về quản lý kinh tế. Vi vậy, hoà bình lập lại, sau
thời gian sang Campuchia làm chuyên gia, anh Thiện được điều về nước
làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục kinh tế. Trước khi
nghỉ hưu, anh ấy được biệt phái sang làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ lao
động, thương binh và xã hội. Tôi nhớ hoài kỷ niệm đêm 30 tháng 4 năm
1975, tôi-Tư lệnh và anh Thiện-Chính uỷ Quân đoàn 4 cùng nằm trò chuyện
và ngủ ngay ngoài hiên dinh Độc Lập. Không mùng mền chiếu gối. Sáng
dậy, muỗi đốt đỏ cả người. Chúng tôi đùa, muỗi Sài Gòn kinh quá! Sau
này, mỗi lần gặp nhau, anh Thiện cũng hay nhắc lại kỷ niệm ấy. Cả hai
cười vang. -Theo Thượng tướng, hạnh phúc lớn nhất của người lính là gì?
-Là hoàn thành nhiệm vụ được giao
-Còn nỗi đau lớn nhất?
-Là không hoàn thành nhiệm vụ. Làm người lính chẳng có gì khổ tâm hơn điều đó.
-Nếu Tổ quốc gặp phải cơn nguy biến, Thượng tướng có tin rằng thế hệ
trẻ hiện nay đủ khả năng bảo vệ vững chắc thành quả thế hệ trước để lại.
-Tôi tin. Bởi người Việt Nam ở thế hệ nào cũng có lòng yêu nước, tự hào
dân tộc. Thế hệ trẻ bây giờ lớn lên trong thời bình, có điều kiện hơn
chúng tôi rất nhiều. Bạn trẻ bây giờ cần ước mơ. Và bất cứ người lính
nào cũng đều cần có mơ ước trở thành một vị tướng. Để thực hiện được
điều đó, không có con đường nào khác hơn là hãy lăn xả vào cuộc sống,
trường đời. Thời thế sẽ tạo anh hùng! Nhưng từ đây đến năm 2000 thì đất
nước chưa có chiến tranh đâu.
-Nếu như được trở lại từ đầu, thì Thượng tướng…
-Tôi sẽ vẫn chọn con đường binh nghiệp. Tại một cuộc họp mặt nhân kỷ
niệm ngày thành lập Trung đoàn Sông Lô, tôi cũng đã nói rằng: Tôi, một
người lính-người lính từ khi còn chưa biết tình yêu là cái gì, đến nay
đã trở thành một cụ già, chưa có lúc nào tôi cảm thấy ân hận vì sự lựa
chọn đường đã đi của mình. Quân đội là trường học lớn-phải nói là
trường đại học tổng hợp. Nếu có phép mầu cho tôi trở lại tuổi hai mươi,
tôi vẫn dứt khoát chọn: Cuộc đời binh nghiệp! (Đôi mắt ông bỗng trở nên
rực sáng hơn cùng nụ cười vang ngân).
-Thế Thượng tướng biết đến “tình yêu là cái gì” từ khi nào?
-Khi về thủ đô Hà Nội, rồi trở ra Chiến khu Việt Bắc. Lúc ấy, tôi có
quen một cô gái Hà Nội bán hàng tạp hóa. Gái Hà thành thì anh biết rồi,
khá xinh (cười)! Chúng tôi dự định tổ chức đám cưới với nhau, nhưng vì
quân Pháp bao vây ráo riết, cô ấy đành ở lại Hà Nội. Không biết cuộc
chiến đấu bao giờ mới kết thúc, sợ cô ấy khổ, nên cuối cùng tôi quyết
định cắt đứt quan hệ. Tình yêu lứa đôi thời chiến là như thế. Luôn phải
sẵn sàng chịu đựng sự hy sinh!
Mãi sau này khi tôi đã 34 tuổi, qua anh Kim Ngọc-cha đẻ của khoán hộ
gia đình trong nông nghiệp, nguyên là Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú, tôi mới
quen cô Thành Kiều Vượng, là vợ tôi bây giờ. Lúc ấy, vợ tôi là cán bộ
ngành thuế, còn bố vợ làm bên công an ở Vĩnh Phú. Biết nhau nhưng ít có
thời gian gặp nhau. Chúng tôi cưới năm 1955. Cưới xong là tôi lên đường
đi công tác ngay. Trải qua mấy mươi năm chung sống bên nhau trên mọi
miền đất nước, bây giờ chúng tôi đã nghỉ hưu, sống với con cháu. Chúng
tôi có năm con, tất cả đều phục vụ trong quân đội. Nghĩa là cả gia đình
đều là lính. Bà nhà tôi cũng là Đại uý về hưu. Năm 1992, nhân sinh nhật
lần thứ sáu mươi của bà nhà, tôi có làm tặng bà bài thơ vui:
Đời em là một giấc mơ
Mơ chồng thắng trận, mơ cờ đảng viên
Chiến tranh mấy mươi năm liền
Mà em vẫn giữ bình yên như người
Đến nay tuổi đã sáu mươi
Năm con bảy cháu mừng vui bên bà
Tuổi em là tuổi con gà
Tuổi anh con khỉ nhưng mà đẹp đôi
Tuy rằng tóc bạc da mồi
Chúng ta vẫn giữ lứa đôi vẹn tròn
Còn trời con nước còn non
Có dân có đảng ta còn sống lâu
Anh thấy tướng mà làm thư như vậy có hay không! (Cười vang).
- Mối tình của ông bà có công lớn của “ông mai” Kim Ngọc. Thượng tướng
có nghĩ việc phục hồi và phong Anh hùng lao động cho Kim Ngọc khi ông
không còn nữa, là quá muộn?
-Muộn còn hơn không. Tôi thực sự xúc động và vui mừng khi nghe tin Kim
Ngọc được phục hồi công trạng. Anh ấy nguyên là Thượng tá chuyển từ
Quân khu Việt Bắc về Vĩnh Phú làm công tác chính quyền. Một con người
có dáng vóc tầm thước, tính cách nhã nhặn, được đồng đội và nhân dân
tin yêu, cả khi phải chịu kỷ luật oan ức. Tôi có gặp lại Kim Ngọc một
lần trước lúc anh mất. Anh vẫn hết sức lạc quan tin vào sự đúng đắn của
phương pháp khoán hộc nông nghiệp do anh đề xướng!
-Thưa, cuộc sống hiện nay của Thượng tướng thế nào?
-Bình thường như mọi người. Lương Thượng tướng một triệu đồng. Lương
hưu bà nhà hơn ba trăm ngàn đồng. Cả hai cộng lại cũng đủ trả tiền điện
nước, nhà thuê cùng cơm rau qua ngày. Khối người lương còn thấp hơn
mình nhiều mà. So với thời kháng chiến thì bây giờ tươm tất hơn nhiều.
-Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, thời gian nào Thượng tướng cảm thấy mình đối mặt với khó khăn nhất?
-Thời làm Tổng thanh tra quân đội.
-Vì sao?
-Luôn luôn phải xử lý, giải quyết hàng vạn đơn thư khiếu tố, khiếu nại.
Mà điều quan trọng là làm sao cho thật dân chủ, công bằng, có tình có
lý thì không phải dễ. Khó khăn lắm anh ạ!
-Thượng tướng suy nghĩ gì về tình trạng tham nhũng đang hoành hành hiên nay.
-Có nhiều nguyên do, nhưng theo tôi, nguyên do chủ yếu vẫn là sự lãnh
đạo của Đảng đối với các cơ sở thiếu chặt chẽ, triệt để. Vì vậy, một số
cán bộ đảng viên thoái hóa đã lợi dụng sơ hở mà tham ô, tham nhũng, tác
oai tác quái.
-Hiện nay sức khỏe của Thượng tướng thế nào?
-Trong chiến tranh tôi bị thương đến 5 lần, nên sức khỏe không được tốt
lắm. Tôi là người đi nhiều, làm việc không biết mệt, ăn uống chẳng
kiêng cữ gì nhiều. Hiện nay, sáng sớm tôi cũng thức dậy tập dưỡng sinh
cho khí huyết lưu thông. Tôi vẫn thường xuyên đọc, nghiên cứu sách báo.
Tôi cũng vừa hoàn thành tập hồi ký Chặng đường mười ngàn ngày cho xuất
bản.
-Thượng tướng có tiên đoán mình sống được mấy mươi năm nữa?
-Tôi cố gắng sống ngoài 80 là tốt rồi. Thời đánh nhau tôi nhiều lần bị
thương nặng, có một lần đã chết nửa tiếng đồng hồ, anh em khiêng chạy
về, nhưng vẫn không chết (cười).
Quên xem đồng hồ, nên theo dòng chảy câu chuyện, cả Thượng tướng Hoàng
Cầm lẫn chúng tôi không nghĩ rằng đã quá 12 giờ 30. Bất giác tôi nhìn
lên vách, thấy tấm ảnh Chủ tịch Tôn Đức Thắng cỡ lớn uy nghi giữa bàn
thờ do tỉnh Tây Ninh tặng Thượng tướng. Dường như hiểu được sự phân vân
của tôi, Thượng tướng bảo: “Ảnh không gian ba chiều đấy. Anh đứng giữa
sẽ thấy chân dung Bác Hồ, đứng bên trái ảnh sẽ thấy chân dung Bác Tôn,
còn đứng bên phải sẽ thấy ảnh cố Tổng bí thư Lê Duẩn”. Rồi ông trỏ tay
sang hướng khác, nở nụ cười hồn nhiên: “Đây là Huân chương Hồ Chí Minh,
tôi được tặng hồi năm 1993; huân chương mà trước đây chỉ khi nào vào
quan tài rồi mới có được!”. Âm giọng vị tướng càng trở nên ấm áp hơn
bắt tay, tiễn chúng tôi ra đến cổng. Trong đôi mắt chân tình và bàn tay
cứng rắn, khô ráp của Thượng tướng Hoàng Cầm, như vẫn hừng hực khí thế
của một trái tim người lính sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.
Vị tướng còn khoe rằng vừa làm được một bài thơ mới hẹn dịp đọc cho
nhau nghe. Là vị tướng trận mạc mà lại rất mê thi ca. Thật đáng quý. Sự
lãng mạn ở tướng Hoàng Cầm làm tôi nhớ đến những vị tướng “nghệ sĩ” như
Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà, Huỳnh Văn Nghệ,
Đinh Đức Thiện, Lê Hai,… và vị tướng đồng hương của ông là Nguyễn Đan
Thành-người từng là bạn thợ may với tướng Lê Trọng Tấn và Trần Đăng
Ninh thời trai trẻ. Nếu như Hoàng Cầm là tướng trận lẫy lừng thì Nguyễn
Đan Thành là tướng nuôi quân nổi tiếng từ Điện Biên Phủ đến dinh Độc
Lập. Tướng Đan Thành sinh năm 1916, tại Hà Đông, trước khi quần áo đời
ở tuối bát tuần, ông đã làm hơn tám trăm bài thơ và in thành ba tập.
Thơ tướng Nguyễn Đan Thành có nhiều bài rất độc đáo, chẳng hạn như bài
khen bạn lính già một cách họm hĩnh:
Tính ông không rượu không trà
Chắc giờ cải khoản đàn bà cũng không…
Rõ ràng, không những biết cầm súng chiến đấu vì độc lập tự do hạnh phúc
cho Tổ quốc, mà mỗi vị tướng mỗi người lính Việt Nam còn mang trong
trái tim mình dòng máu nghệ sĩ!
Thượng tướng Nguyễn Minh Châu
Từ một tiểu đội trưởng hoạt động độc lập, Nguyễn Minh Châu trở thành
một “ông lớn” từng là “nỗi ám ảnh kinh hoàng” đối với kẻ thù ở chiến
trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên suốt hai cuộc kháng chiến. Tướng
Nguyễn Minh Châu là vị chỉ huy trận đánh chiếm đồn Phú Hài ở lầu Ông
Hoàng bằng chiến thuật kỳ tập mở ra cục diện mới trên chiến trường Bình
Thuận lẫn Quân khu 6, rồi chỉ huy trận phục kích Dăkpơ trên đường 19,
bắt sống quan năm sắp được phong tướng Baroux. Tập kết ra Bắc, Nguyễn
Minh Châu có công phát triển phong trào thi đua Ba Nhất nổi tiếng trong
quân đội. Về Nam, ông làm tư lệnh Quân khu 6, tham mưu trưởng Miền, tư
lệnh Đoàn 232. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông là tướng chỉ huy trực
tiếp một trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Sau đó, ông
lại có mặt ở Phnôm Pênh đẩy lùi tập đoàn diệt chủng Pol Pot, làm nghĩa
vụ quốc tế. Về nước, ông được cử làm tư lệnh Quân khu 7, phó tổng thanh
tra quân đội, trưởng đại diện Bộ Quốc phòng tại phía Nam. Ông được Nhà
nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Trong tâm khảm của những
người lính thuộc quyền, Năm Ngà là vị tướng tư lệnh chiến trường kiên
cường, bản lĩnh, quyết đoán, kỷ luật, dạn dày trận mạc và cũng hết sức
độ lượng, chan chứa nghĩa tình.
Thời thơ ấu của thượng tướng Nguyễn Minh Châu là chuỗi ngày mồ côi gian
nan bất hạnh. Tuổi Tân Dậu, Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 8 năm
1921 tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Mới được mấy
tháng tuổi thì mẹ mất. Vị tướng tương lai không kịp nhận biết hình ảnh
người mẹ vắn số. Lên sáu tuổi, bắt đầu cắp sách đến trường làng, nhưng
học được vài năm thì nạn đói hoành hành khắp nơi, Nguyễn Minh Châu cùng
hai người anh phải nghỉ học, phụ cha làm lụng kiếm cái ăn cái mặc qua
ngày. Trước cảnh túng bấn, côi cút của gia đình, cha ông quyết định đi
bước nữa. Người mẹ kế trông nom nhà cửa, ruộng vườn. Nhưng cơm vẫn
không đủ ăn, có lúc phải ăn củ nần cả tháng.
Khổ sở vật chất lẫn tinh thần, chàng thiếu niên đa cảm Nguyễn Minh Châu
cứ miên man tự hỏi: Vì sao cuộc sống cứ đói khổ thế này? Sống như vậy
để làm gì? Nguyễn Minh Châu cảm thấy ngột ngạt, không thể tiếp tục sống
mãi như vậy được, nhất là khi nhìn nhiều người dân quê cả đời sống
nghèo khổ quanh quẩn ở làng, cho tới khi sắp nhắm mắt xuôi tay mà chỉ
biết từ nhà ra chợ. Nguyễn Minh Châu ngày càng buồn tuổi, chán chường,
thất vọng. Mười sáu tuổi, chàng thiếu niên họ Nguyễn đã liều lĩnh trốn
nhà ra đi, với hy vọng tìm một việc làm tốt hơn nghề nông, có thẻ thay
đổi phần nào cuộc sống của mình và gia đình!
Tuy nhiên, Nguyễn Minh Châu mới “giang hồ” gần nửa năm thì người nàh
kiếm bắt về. Vì không có chỗ dựa quen biết, không tiền bạc và nhất là
chưa có giấy thuế thân nên không thể đi xa được. Đành phải “quy cố
hương” chờ cơ hội mới. Và đến năm mười tám tuổi, chàng trai họ Nguyễn
kiếm đủ tiền đóng thuế, lấy giấy thuế thân, chuẩn bị tiếp tục… trốn nhà
tha phương.
Cuộc sống bần cùng vô gia cư đã đưa chàng trai Tây Ninh đến với cách
mạng. Từ trinh sát viên, tiểu đội trưởng hoạt động độc lập, Nguyễn Minh
Châu đã trở thành Tướng tư lệnh chiến trường oai lừng, chỉ huy nhiều
trận đánh lịch sử. Năm 1958, ông được phong Thượng tá-sư đoàn phó Sư
đoàn 305. Tháng 5 năm 1965, sau hai mươi năm trở vè Nam làm tư lệnh
Quân khu 6, ông được thăng quân hàm Đại tá. Tháng 4 năm 1974, ông được
thăng Thiếu tướng khi đang làm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền. Tháng 6
năm 1981, lúc đang công tác ở chiến trường Campuchia, ông được thăng
Trung tướng. Đến tháng 1 năm 1986, ông lên Thượng tướng, giữ chức tư
lệnh Quân khu 7. Nguyễn Minh Châu còn được bầu làm uỷ viên Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá V và khoá VI, uỷ viên Đảng uỷ Quân sự Trung
ương, đại biểu Quốc hội khoá VII và khoá VIII. Ông được Nhà nước tặng
thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.
Tại nhà riêng ở đường Nguyễn Tri Phương khu vực thành Công Binh cũ
thuộc quận Mười, nơi ông và người bạn đời sống bên nhau những năm tháng
hiếm hoi cuối cùng, ngồi ngả lưng trên chiếc salon gỗ Thượng tướng
Nguyễn Minh Châu trầm ngâm hồi tưởng:
-Nhà tôi ở Châu Thành gần chợ, lúc ấy bạn học cũ đang học trung học ở
Sài Gòn thường về chơi, nên cũng biết chút ít tình hình. Khoảng cuối
năm 1939, tôi dành dụm tiền, trốn xuống Sài Gòn, xin vào hãng Delagat
vừa học vừa làm công thợ điện hai năm. Nhưng mới gần một năm, tôi coi
lại mình chẳng học được gì, ngoài việc chỉ biết quay cho máy nổ. Tối
ngày toàn bị sai vặt, xúc than, gánh nước đổ lò. Thấy không có hy vọng
nên tôi xin thôi việc, đi tìm việc làm khác.
Cuối năm 1940, Nhật đưa quân vào nước ta, tuyên truyền đánh đổ thực dân
Pháp, giành độc lập cho Việt Nam. Tôi tưởng thật, đăng ký vào học ba
tháng quân trường, rồi xin chuyển làm thợ mong học được cái nghề. Nhưng
làm mới được một tháng, tôi nghe ngóng tình hình, biết là bọn Nhật giả
dối, nên tôi rủ một người bạn làm chung bỏ trốn. Được bốn ngày thì quân
Nhật tình cờ bắt gặp, đưa chúng tôi về xí nghiệp súng đạn ở Xóm Chiếu
làm lại. Khoảng bốn tháng sau tôi lại tìm cách trốn nữa. Tôi xuống Sáu
Kho ở Tân Thuận, Nhà Bè xin việc. Và từ đây tôi bắt đầu được giác ngộ
hoạt động bí mật, tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn trong Tổng khởi
nghĩa Cách mạng tháng Tám, rồi sau đó vào quân đội.-Thưa Thượng tướng, vì sao Nguyễn Minh Châu lại còn có biệt danh Năm Ngà?
-Nguyễn Minh Châu là tên khai sinh, còn Năm Chon hay Năm Ngà là những
cái tên khác trong kháng chiến. Tôi lấy tên Năm Ngà khi từ ngoài Bắc
trở vào Nam đánh Mỹ. Năm là thứ của tôi trong gia đình. Còn Ngà là tên
vợ tôi, Huỳnh Thị Ngà.
-Lúc Thượng tướng ra Bắc thì bà nhà ở đâu?
-Bà cũng ra Bắc nhưng đi sau một mình với con cái. Tôi chuyển quân đi
trước. Bà một mình ôm con lặn lội theo sau. Trên đường bà bị bệnh rất
nặng, may nhờ có nhiều anh em quen biết cố chạy chữa đưa ra tới Bắc.
Sau đó, tôi vào Nam chiến đấu, rồi sang Campuchia đánh nhau với bọn
diệt chủng Pol Pot, nên vợ chồng ít có thời gian gặp nhau.
-Thượng tướng và bà gặp nhau lần đầu tiên lúc nào?
-Vào năm 1948, lúc tôi đang chiến đấu ở Bình Thuận. Bà ấy người Hàm
Tân, làm cán bộ phụ nữ, mua lúa gạo, thực phẩm tiếp tế cho anh em bộ
đội. Gặp nhau rồi có cảm tình với nhau, sau đó tổ chức đám cưới. Cha bà
ấy nguyên là địa chủ bị địch bắt ép làm việc nhưng ông cụ không làm,
bảo khai báo về cách mạng ông không khai, nên bị chúng xử tử!
-Thượng tướng, một đời xông pha dưới làn tên mũi đạn, có mặt hầu khắp
mọi chiến trường, bây giờ nhìn lại, Thượng tượng có cảm thấy hối tiếc
điều gì không?
-Tôi chả có hối tiếc điều gì cả, mà còn mừng nữa. Thứ nhất là mừng nước
nhà đã được thống nhất, độc lập, nhiệm vụ đời tôi đã hoàn thành. Thứ
hai là mừng tôi vẫn còn sống cho tới hôm nay. Tôi không phải là người
duy tâm, nhưng cứ băn khoăn là chẳng hiểu sao ở chiến trường gian khổ
như vậy, đạn bom như vậy mà tôi không chết. Mặc dù tôi là người bị rất
nhiều bệnh, nhất là bệnh phổi, phải luôn hít thở sâu kết hợp với thuốc
men thường xuyên. Mà lúc đó thuốc men đâu có nhiều. Hơn nữa, tôi là
người luôn có mặt ở nơi nguy hiểm. Hễ nghe anh em báo nơi nào khó khăn,
căng thẳng là tôi lên đường ngay. Trong khi đó, biết bao đồng đội tôi
đã mãi mãi ngã xuống…
-Hình ảnh nào thời trận mạc để lại trong lòng Thượng tướng ấn tượng sâu đậm nhất?
-Người lính. Không có ông tướng nào đem lại cho tôi sự khâm phục bằng
hình ảnh người lính. Họ hồn nhiên, trong sáng, quả cảm, không hề biết
run sợ trước cái chết và chính nhờ sự hy sinh to lớn của hàng vạn người
lính mới sản sinh ra được những vị tướng.
-Còn điều mà Thượng tướng căm ghét nhất trong đời sống thường nhật là gì?
-Những kẻ ham chức quyền, ích kỷ, ăn cắp, tham nhũng.
-Thượng tướng còn nhớ gì về những ngày đầu tiên gia nhập quân đội?
-Cuối năm 1943, tôi được đồng chí Công, một người cộng sản hoạt động bí
mật, tuyên truyền giáo dục cách mạng. Tôi cùng với một người bạn tên
Đức quê ở Bình Định, tham gia dán truyền đơn, khẩu hiệu. Một thằng dán,
một thằng canh. Rồi đồng chí Công giao thêm nhiệm vụ quan sát kho tàng
súng đạn của quân Nhật, ăn cắp mang về cất giấu. Hai đứa tôi đem vũ khí
về được nhiều lắm. Anh Đức là người hết sức dạn dĩ, dũng cảm. Nhưng
chẳng may, trong một lần ăn cắp súng, anh đã bị bắt vào tù, rồi bị tra
tấn đến chết. Điều ân hận là tôi không biễt rõ quê hương và gia đình
người thanh niên miền Trung yêu nước và quả cảm ấy!
Thế rồi đầu năm 1945 tôi bị mất liên lạc với đồng chí Công (sau này trở
thành trung đoàn trưởng, đã hy sinh). Tôi tiếp tục tổ chức một số anh
em đi cướp súng của Nhật. Chúng tôi tổ chức thành một đơn vị hẳn hoi.
Đầu tiên có mấy người, anh em cử tôi làm tiểu đội trưởng, sau đông hơn
thì tôi làm trung đội trưởng, tham gia cướp chính quyền trong Cách mạng
tháng Tám. Khi quân Pháp tái chiếm Nam Bộ, cấp trên cử tôi ra giữ mặt
trận cầu Thị Nghè, cầu Bông của Sài Gòn đánh nhau với quân Pháp.
-Thượng tướng có thể kể rõ hơn về các trận đánh ở mặt trận Thị Nghè
trong những ngày đầu kháng chiến. Đây có phải là trận đầu tiên trong
đời binh nghiệp của Thượng tướng không?
-Chúng tôi đánh nhau với quân Pháp năm trận tại Thị Nghè. Cuối cùng,
chúng bao vây ráo riết, theo lệnh của Uỷ ban kháng chiến hành chánh
miền Đông Nam Bộ, các đơn vị khác rút hết, tôi đánh thêm 3 ngày cho dân
kịp tản cư, rồi mới cho anh em nhảy xuống sông rút lui an toàn. Từ mặt
trận Thị Nghè, tôi mới hiểu thế nào đánh giặc. Và tôi cũng rút ra một
số kinh nghiệm bổ ích.
Thứ nhất là về nghệ thuật chỉ huy: phải biết rõ tình hình địch, hiểu rõ
chỗ yếu chỗ mạmh của mình, để tìm cách đánh phù hợp. Thứ hai là hợp
đồng tác chiến: trước lực lượng đông đảo và ý đồ lấn chiếm của địch,
một mình không thể thắng nổi địch, mà phải hợp đồng tác chiến với các
đơn vị bạn. Thứ ba là phải bám trụ đánh địch. Lúc ấy, bộ đội ta đang
quyết chiến như thế nhưng nhiều đơn vị lại rút lui. Tôi không chịu rút
vì nghĩ rằng chỉ có nước rút tới… biên giới phía Bắc, nghĩa là chịu mất
nước mà thôi. -Sau khi tạm thời rút lui khỏi Sài Gòn, Thượng tướng đưa quân về đâu?
-Tôi chuyển quân về Xuân Lộc, vừa lúc quân Pháp tới, tôi lại tổ chức
phòng thủ. Uỷ ban kháng chiến hành chánh miền Đông ra lệnh lui về Phan
Thiết, giao bộ đội tiếp viện cho mặt trận Khánh Hoà. Xong nhiệm vụ, từ
Phan Thiết tôi trở về Biên Hoà tập hợp anh em ốm đau còn lại, trang bị
súng đạn, chiến đấu trở lại. Lúc ấy được 40-50 người, anh em cử tôi làm
Trung đội trưởng, hoạt động độc lập. Tình hình hết sức phức tạp. Súng
đạn thiếu thốn. Không có sự chỉ đạo thống nhất. Đơn vị tôi bị quân Bình
Xuyên tước súng hoài.
Cuối cùng, tôi gia nhập đoàn quân Nam tiến. Tôi làm Đại đội trưởng Đại
đội Hoàng Hoa Thám làm chủ vùng Hàm Thuận. Nhưng rồi bị bế tắc về chiến
thuật, vì lực lượng võ trang quá yếu. Tôi nghĩ đến cách đánh lấy đồn mà
ít tiêu hao về lực lượng và vật chất kỹ thuật nhất. Sau khi nghiên kỹ
lưỡng, tôi cho đánh đồn Phú Hài ở lầu ông Hoàng, Phan Thiết. Đây là
trận đánh rất có ý nghĩa về mặt chiến thuật, làm thay đổi cả tình hình
quân sự trong tỉnh lúc ấy.
-Thượng tướng có thể giải thích rõ hơn ý nghĩa trận đánh này?
-Trận đánh Phú Hài thiên về tâm lý, nắm lấy sơ hở của địch, bất ngờ
đánh phủ đầu để địch trở tay không kịp. Đồn Phú Hài nằm trên núi, án
ngữ cả một vùng. Dân đến kiếm cá kiếm cua đều bị chúng giết. Tôi bàn
với anh em bằng mọi cách phải tiêu diệt chúng. Lợi dụng thế núi hiểm và
sương mù dày đặc, lính gác không trông thấy, tôi cho ém quân chờ sáng.
Đồn Phú Hài có một quy luật là bọn chỉ huy sáng nào cũng đến đây kiểm
tra. Tôi tổ chức thêm ở ngoài đồn một vòng vây để yểm trợ. Đầu tiên, là
uy hiếp lính gác để chúng buông súng cho anh em giữ. Xâm nhập vào đồn,
vận động tâm lý chiến, giả thư cấp chỉ huy, đề nghị cho kiểm tra và
giao đồn. Đồn Phú Hài là đồn bị quân ta lấy đầu tiên trong kháng chiến
chống Pháp ở Bình Thuận. Sau này anh em gọi đó là ”Chiến thuật kỳ tập”.
-Vậy còn trận phục kích Dăkpơ trên đường 19 bắt sống quan năm Baroux chỉ huy Binh đoàn cơ động 100 của Pháp?
-À, đây là trận đánh được đánh giá oanh liệt vào loại nhất nhì trong
lịch sử kháng chiến chín năm chống Pháp. Sau khi kết thúc, Bác Hồ viết
thư khen gợi và trao cho chúng tôi Huân chương Kháng chiến hạng nhất.
-Xin Thượng tướng cho biết vài nét cụ thể về Binh đoàn 100 của Pháp và diễn tiến trận đánh từng gây chấn động này.
-Năm 1953, Đại tướng nổi tiếng nhất của Pháp lúc ấy là Henri Navarre
được cử sang thay Salan làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở
Đông Dương. Kế hoạch Navarre ra đời. Riêng chiến trường Liên khu 5,
chúng tiến hành Chiến dịch Atlante vượt đèo Cả đánh chiếm vùng tự do
Phú Yên. Ý đồ của Bộ Tổng chỉ huy quân Pháp là tập trung một lực lượng
lớn tổ chức thành những binh đoàn cơ động mạnh, tiến công chiến lược,
chiếm đóng hầu hết các vùng tự do còn lại ở phía Nam.
Đường 19 là con đường huyết mạch của chiến trường Tây Nguyên, riêng
đoạn Pleiku-An Khê là nơi hiểm yếu, ta và địch còn tranh chấp quyết
liệt. Còn tiểu khu An Khê gồm hàng loạt cứ điểm ngoại vi và các vùng
phụ cận, là bàn đạp tiến công xuống vùng tự do duyên hải miền Trung và
là bình phong án ngữ đầu cực đông của đường 19. Nhưng trong chiến cuộc
Đông Xuân 1952-1953 ta đã lần lượt làm chủ nhiều vùng phụ cận An Khê.
Đầu năm 1954, tôi từ Trung đoàn 108 được điều về khôi phục củng cố lại
Trung đoàn 96, hoạt động liên tục trên đường 19, đánh thắng nhiều trận
ở Hà Tam, Măng Giang. Trung đoàn được giao nhiệm vụ sẵn sàng đánh phá
tiểu khu An Khê và tiêu diệt địch rút chạy trên đường 19. Trung đoàn đã
đánh nhiều trận trên đoạn Măng Giang-An Khê, nhưng đoạn suối Dăkpơ thì
chưa đánh trận nào. Tuy hiểm trở, nhưng đoạn đường Dăkpơ lại nằm giữa
hai cứ điểm của địch. Quân Pháp luôn tăng cường trinh sát bằng không
quân, biệt kích thám báo. Từ quan sát hiện trường tôi chọn đoạn suối
Dăkpơ về phía đông để làm yếu điểm phục kích chờ địch. Đoạn này dài tám
trăm mét do Tiểu đoàn 79 phụ trách. Còn đoạn phía tây suối Dăkpơ do
Tiểu đoàn 40 phụ trách. Những đơn vị khác cũng bố trí ở những điểm có
thể phát huy tối đa khả năng tác chiến.
Binh đoàn 100 là lực lượng cơ động mạnh của quân Pháp vừa tham chiến ở
Triều Tiên trong lực lượng Liên Hiệp Quốc được tăng cường cho Đông
Dương vào cuộc chiến cuối cùng của kế hoạch Navarre. Lúc ấy quân ta tổ
chức phản công liên tục trên chiến trường Tây Nguyên, để phối hợp với
Điện Biên Phủ. Chiến dịch Atlante ở duyên hải Phú Yên bị ta bẻ gãy.
Quân Pháp có kế hoạch rút bớt khỏi Tây Nguyên để chi viện cho các hướng
và co cụm lực lượng hình thành các khu vực phòng ngự mạnh. Tinh thần
quân Pháp suy sụp. Bọn chỉ huy Binh đoàn 100 biết rút khỏi tiểu khu An
Khê về Pleiku là nguy hiểm, nhưng vẫn tin tưởng ở lực lượng đông với
nhiều vũ khí tối tân và có Binh đoàn 42 từ Pleiku xuống đón yểm trợ.
Sáng ngày 24 tháng 6 năm 1954, khi nghe tin đoàn xe hơn hai trăm chiếc
của địch rời An Khê xuống đến Kà Tung, cách Dăkpơ khoảng 7 kilômét, tôi
cho tổ chức cuộc họp chớp nhoáng với Ban tham mưu và ra quyết định cụ
thể cho từng đơn vị. Trận đánh bắt đầu vào lúc 12 giờ 30’ ngày 24 tháng
6 và kết thúc vào 12 giờ ngày 25 tháng 6 năm 1954. Chiến sự hết sức ác
liệt. Dù bị đánh bất ngờ nhưng địch tỏ ra cũng ngoan cố, tìm mọi cách
kháng cự, nhưng cuối cùng quân ta cũng giành hoàn toàn thắng lợi.
-Thượng tướng còn nhớ kết quả hiện trường trận đánh?
-Sau khi địch hoàn toàn buông vũ khí, tôi đích thân đi quan sát toàn
trận địa. (Ông đứng lên lấy ra nhật ký cũ kỹ trong ngăn tủ, đọc rõ từng
con số). Kết quả có trên 900 quân Pháp bị chết, còn bị thương nằm rải
rác 600 tên. Tên quan năm sắp được phong tướng Baroux, chỉ huy Binh
đoàn 100 cùng 1280 tên khác bị ta bắt sống. 375 xe các loại bị cháy, bị
hư hỏng; 229 xe còn nguyên hoặc hư hỏng ít… Trung đoàn 96 tiêu diệt
hoàn toàn cánh quân địch rút chạy và giải phóng tiểu khu An Khê.
Trong khí đó, Binh đoàn cơ động 42 của địch do quan năm Sockel chỉ huy
từ Pleiku xuống đón Binh đoàn 100, đã bị Trung đoàn 108 của ta lúc này
do anh Đoàn Khuê chỉ huy, chặn đánh tơi bời, không thực hiện được ý đồ
của chúng. Quan năm Sockel cũng sợ tôi dữ lắm. Hồi ở Bình Thuận nó suýt
chết với tôi mấy lần (cười).
-Như vậy, trong năm 1954 nếu như ở Điện Biên Phủ bộ đội đã bắt sống
quan năm vừa được phong tướng De Castrie thì ở An Khê đã bắt sống quan
năm sắp được phong tướng Baroux.
-Đúng vậy. -Thưa Thượng tướng, thời chống Mỹ Thượng tướng gắn bó với chiến trường nào?
-Cũng ở Nam Trung Bộ. Năm 1954, tôi là tỉnh đội trưởng Bình Thuận đưa
quân tập kết ra Bắc. Năm 1963 tôi trở vào Nam, làm Tư lệnh Quân khu 6.
Sau Tổng tấn công Mậu Thân năm 1968, tôi về làm Tham mưu trưởng Bộ tư
lệnh Miền. Tôi thì khoái trực tiếp đánh nhau, không muốn nhận chức Tham
mưu trưởng, nhưng các anh ở trên thì muốn giúp đỡ bồi dưỡng cho tôi.
Tôi và Ban tham mưu giúp Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền làm kế hoạch
Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975 của B2 và Chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử.
-Thượng tướng còn nhớ gì về những trận đánh của cánh quân Tây Nam –
Đoàn 232 do Thượng tướng chỉ huy tiến vào giải phóng Sài Gòn?
-Đầu năm 1975, Đoàn 232 được thành lập, do tôi làm tư lệnh, anh Trần
Văn Phác làm Chính uỷ, anh Hai Nghiêm và Út Liêm làm Phó tư lệnh, dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của Phó tư lệnh Miền Lê Đức Anh. Lực lượng chính
của Đoàn 232 gồm có Sư đoàn 5 và 302, Trung đoàn bộ binh 16, hai trung
đoàn đặc công…, rồi được bổ sung thêm Sư đoàn 9 của Quân đoàn 4. Sau
cùng, phối thuộc sư đoàn thiếu của Quân khu 8. Mục tiêu của Đoàn 232
trong Chiến dịch Hồ Chí Minh là đánh chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng nha
cảnh sát Sài Gòn.
Trước tiên chúng tôi phải đột phá tuyến phòng thủ thứ nhất từ dòng sông
Vàm Cỏ Đông tới biên giới Campuchia với các tiểu khu, chi khu dày đặc
như Long An, Hậu Nghĩa, Bến Lức, Đức Hoà, Thủ Thừa… Tiếp theo là đập
tan tuyến phòng thủ thứ hai của địch gồm các chiến đoàn nguỵ phòng ngự
hướng tây nam, cắt đứt lộ 14 (nay là Quốc lộ 1), giải phóng dân, hỗ trợ
nhân dân nổi dậy. Cuối cùng là phải tiêu diệt hệ thống phòng thủ ven đô
của địch.
Cuộc chiến đấu tại vùng ven thành phố diễn ra hết sức gay go ác liệt.
Địch cố chặn bước tiến quân ta, hòng bảo vệ bằng được Sài Gòn. Nhưng
chúng đã muộn. Sư đoàn 9 làm nhiệm vụ mũi nhọn, thần tốc đánh chiếm
Biệt khu Thủ đô, phối hợp với Quân đoàn 3 đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Sư
đoàn thiếu của Quân khu 8 thì đánh Chợ Gạo, hai chi khu Cần Giuộc, Cần
Đước, vượt cầu Nhị Thiên Đường và cầu chữ Y đánh chiếm Tổng nha cảnh
sát và Tổng khi xăng dầu Nhà Bè. Nhiệm vụ cuối cùng sau khi đã hoàn
thành các mục tiêu của Sư đoàn 302 là đánh địch phản kích, còn Sư đoàn
5 là chặn địch từ Sài Gòn chạy về miền Tây và từ miền Tây kéo lên Sài
Gòn. Trong quá trình chấp hành nhiệm vụ, tuy địch yếu, nhưng chúng tôi
đều phải vượt qua những đàm lầy, đồn bót dày đặc, khắc phục rất nhiều
khó khăn. Nhất là đơn vị xe cơ giới gần sáu trăm chiếc, không bến bãi
đường sá, phải vượt sông, đầm lầy, nhưng cuối cùng cũng hoàn thành
nhiệm vụ xuất sắc.
-Thượng tướng có mặt ở dinh Độc Lập lúc nào?
-Khoảng hơn 12 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau đó tôi làm công tác quân quản, truy quét tàn quân địch ở ngoại ô Sài Gòn.
-Khi chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, Thượng tướng giữ nhiệm vụ gì?
-Sau khi giải phóng Sài Gòn, tôi phụ trách dọn dẹp tàn quân nguỵ ở các
quân huyện ngoại thành, rồi về làm phó tư lệnh Quân khu 7. Năm 1979,
với tư cách phó tư lệnh tiền phương Quân khu 7, tôi cùng một cánh quân
tiến vào giải phóng Phnôm Pênh, sau đó làm trưởng ban quân sự ở
Campuchia. Trở về nước, tôi tiếp tục tham gia chỉ huy Quân khu 7 với tư
cách phó tư lệnh rồi tư lệnh quân khu vào tháng 6 năm 1982. Gần sáu năm
sau, tháng 1 năm 1988, tôi được Quân uỷ Trung ương điều ra làm phó tổng
thanh tra quân đội. Đến tháng 5 cùng năm, tôi về làm trưởng đại diện Bộ
Quốc phòng tại phía Nam cho đến khi xin nghỉ chữa bệnh cuối năm 1992.
-Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Thượng tướng gần gũi, thân thiết với ai nhất?
-Bạn tri kỷ thì có anh Nguyễn Văn Nghiêm, đã mất rồi. Tôi cũng là người
gần gũi với anh Lê Trọng Tấn nhiều nhất, cả trước khi anh qua đời. Anh
là vị tướng tài, tính tình cường trực, nên anh em ai cũng quí mến. Về
mặt chiến lược, anh Lê Trọng Tấn là một vị tướng giỏi.
-Còn với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh?
-Tôi biết Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ khi còn ở miền Bắc. Lúc ấy, tôi phát động thành công phong trào
ba nhất trong quân đội: chiến thuật, kỹ thuật và nghệ thuật chỉ huy.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh xuống kiểm tra, chấp nhận và nhân rộng điển
hỉnh trong toàn quân. Tướng Nguyễn Chí Thanh cũng với tướng Võ Nguyên
Giáp, Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh… là những vị tường tài ba
của quân đội ta.
Thượng tướng Nguyễn Minh Châu còn cho tôi biết ông mới vừa đến gặp và
trò chuyện với Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang ở thăm Thành phố Hồ Chí
Minh vào những ngày tháng Tư lịch sử này. Ông bảo Đại tướng vẫn còn rất
khoẻ mạnh. Tôi nói: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở giữa tuổi bát tuần vẫn
còn khoẻ, còn thượng tướng thì có thể phấn đấu sống lâu được như Đại
tướng không?”. Ông nở nụ cười rất tươi tắn. Nụ cười hiền hoà trên khuôn
mặt đầy nếp nhăn chiến chinh của vị tướng “thép” Năm Ngà, của “Ông Năm
cụ thể”, “Ông Năm áo ấm”,… những biệt danh trìu mến do bộ đội đặt cho
ông, mà một thời ở chiến trường Nam Trung Bộ hễ nghe đến là đối phương
phải nhụt chí.
Bốn năm rưỡi sau cuộc phỏng vấn trên, vào lúc 5 giờ ngày 23 tháng 10
năm 1999 trái tim của Thượng tướng Nguyễn Minh Châu đã ngừng đập. Thêm
một lão tướng thuộc thế hệ “khai quốc” nữa lại ra đi khi thế ky XX đầy
biến động sắp kết thúc. Để lại sau lưng bao công tích lẫy lừng, các
chiến tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Phan Trọng Tuệ, Vương Thừa
Vũ, Đinh Đức Thiện, Nguyễn Thị Định, Trần Quý Hai, Nguyễn Bá Phát, Cao
Văn Khánh, Chu Văn Tấn, Nguyễn Hữu An, Hoàng Thế Thiện, Giáp Văn Cương,
Tô Ký, Vũ Lăng, Đào Sơn Tây, Nam Long, Đoàn Khuê, Đàm Quang Trung, Đào
Đình Luyện, Lư Giang, Hà Vi Tùng, Thái Dũng, Phạm Kiệt, Doãn Tuế, Lê
Thành Công, Võ Văn Thạnh, Nguyễn Văn Nghiêm, Trần Nguyên Độ, Trần Văn
Trân, Kim Tuấn, Lương Văn Nho, Bùi Thanh Vân, Nguyễn Đệ, Hoàng Điền,…
và bây giờ là Nguyễn Minh Châu, kẻ trước người sau thanh thản bước vào
cõi vĩnh hằng khi nhiệm vụ chiến đấu vì độc lập tự do cho Tổ quốc của
người lính đã hoàn thành.
Thắp nén hương tiễn đưa lão tướng, tôi chợt nhớ đến lời tướng Tư
Chi-Trần Văn Trà trong hồi ký lúc giao nhiệm vụ tư lệnh Đoàn 232 cho
tướng Năm Ngà-Nguyễn Minh Châu: “Đồng chí Năm Ngà, một con người cần cù
và dũng cảm, xem trọng nghĩa tình, đã có nhiều kinh nghiệm vè chỉ huy
chiến đấu của chủ lực từ cuộc kháng chiến chống Pháp ở cực Nam Trung
Bộ…”. Vâng, không những đối với đồng cấp hoặc cấp trên, mà đối với cán
bộ chiến sĩ thuộc quyền, tướng Năm Ngà cũng là con người luôn “xem
trọng nghĩa tình”. Yêu thương lính, quan tâm đến từng việc cụ thể cho
lính, nên ông cũng được lính hết sức thương yêu, kính trọng, nhất là ở
Quân khu 6 cũ, nơi tướng Năm Ngà được xem như người anh cả!
Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, vừa là thuộc cấp vừa là đồng đội sát cánh
nhiều năm với tướng Năm Ngà trên khắp các chiến trường, trong giờ phút
vĩnh biệt người chỉ huy của mình đã xúc động nói rằng: “Cán bộ, chiến
sĩ các lực lượng vũ trang Quân khu 6 trìu mến gọi Thượng tướng Nguyễn
Minh Châu, vị tư lệnh yêu quí của mình là: Anh Năm Ngà! Cái tên đã gắn
bó với bao nhiêu chiến công oanh liệt trên chiến trường Khu 6 gian lao
và anh dũng. Họ kính trọng và tôn vinh anh là người anh cả của mình bởi
đức độ, tài năng và sự đóng góp to lớn của anh đối với trang sử vẻ vang
của các lực lượng vũ trang Quân khu 6”.
Thiếu tướng Phùng Đình Ấm còn cho biết: “Trong công tác và trong chiến
đấu, nhất là trong chiến đấu, anh luôn đòi hỏi ở mình và người chỉ huy
cấp dưới phải thật cụ thể trong từng công việc, từng trận chiến đấu.
Anh thường nói: chiến đấu là vấn đề xương máy, người chỉ huy không được
giản đơn, càng không được qua loa, đại khái. Một trận đánh, nếu không
có sự chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo và cụ thể, hiểu địch hiểu ta cụ thể, thì
chẳng những không bảo đảm chắc thắng mà nhiều khi thất bại, tổn thất
xương máu chiến sĩ không thể lường được”.
Còn thượng tướng Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Phạm Thanh Ngân, trưởng
Ban Lễ tang Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, đọc điếu văn nhấn mạnh:
“Chúng ta sẽ không bao giờ quên người chỉ huy kiên cường, táo bạo, sáng
tạo trong công tác. Người chỉ huy đã mang hết trí tuệ cùng tập thể,
Đảng uỷ, chiến sĩ tham gia xây dựng quân đội trong sạch vững mạnh…”.
Tân Bình, tháng 4 năm 1995-10 năm 1999
Trung tướng Đồng Văn Cống
Là một thanh niên yêu nước sinh ra từ ruộng dồng sông rạch miền Tây Nam
Bộ, trưởng thành trong Cách mạng tháng Tám, Đồng Văn Cống đã trở thành
một người lính, một vị tướng mà chiến tích không tách rời mảnh đất chôn
nhau cắt rốn của mình. Chín năm kháng Pháp, “Bộ đội ông Cống” đã gắn
liền với những chiến thắng Bến Tre, Long Châu Tiền. Nếu như nữ tướng
Nguyễn Thị Định, cùng đồng hương Bến Tre, góp công khai mở con đường
chiến lược Hồ Chí Minh trên biển, thì tướng Đồng Văn Cống lại có công
tổ chức, củng cố vững chắc và hiệu quả con đường lịch sử mang mật danh
55B này. Trở về quê hương, ông được giao trọng trách tư lệnh Quân khu
9, phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam; giữ quyền chỉ huy sở kiêm tư
lệnh Quân đoàn dự bị chiến lược trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông cũng
là tướng tư lệnh tiền phương Quân khu 7, dẫn đầu một cánh quân sang đập
tan tập đoàn diệt chủng Pol Pot giải phóng Phnôm Pênh. Đồng Văn Cống
được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1974, thăng Trung tướng năm 1981 và
được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Trước khi lui về an
nghỉ, vị tướng chiến trường một thời vang danh còn được giao trọng
trách phó tổng thanh tra quân đội. Chúng tôi không thể nào ngờ một con
người hơn nửa cuộc đời nắm rừng, đầm mình sông rạch như ông, mà gần ở
tuổi bát tuần, sức vóc vẫn còn vạm vỡ, cường tráng. Trước sự ngạc nhiên
của chúng tôi, bằng cử chỉ giản dị thân tình, giọng nói đĩnh đạc đậm
chất Nam Bộ, Trung tướng Đồng Văn Cống mở đầu câu chuyện:
-Rất nhiều bạn bè ngạc nhiên trước sức khoẻ của tôi và hỏi tôi các bí
quyết (cười). Chẳng có bí quyết nào đâu. Tôi vốn được cha mẹ và trời
ban cho một sức vóc khỏe mạnh. Thời trẻ tôi từng lặn rất sâu nhiều lần
dưới sông để vớt súng, từng đi bộ hàng trăm cây số hành quân mà chẳng
hề hấn gì. Tôi chỉ chơi thể thao thường xuyên mà thôi. Tôi từng là
tuyển thủ đội A bóng đá tỉnh hồi trước Cách mạng tháng Tám.
-Bây giờ Trung tướng còn chơi môn thể thao nào không?
-Bóng chuyền, bóng bàn và cờ tướng tôi cũng rất thích, nhưng nay không
còn chơi nữa. Sáng sáng tôi chỉ đi bộ 3-4 cây số, từ nhà ra công viên
Lê Văn Tám tập thể dục, rồi về.
-Trung tướng có còn nghiên cứu về công tác quân sự?
-Tôi mới nhận một tập tài liệu dày hơn trăm ngàn trang đánh máy để đọc
và báo cáo trước một cuộc hội nghị. Hàng ngày tôi vẫn đọc sách báo,
nghiên cứu tư liệu để góp ý cho Quân khu 7.
-Thưa Trung tướng, từ bưng biền Nam Bộ thời chín năm chống Pháp, “Bộ
đội Ông Cống” đã là nỗi kinh hoàng cho quân thù. Rồi những năm đánh Mỹ
cái tên Đồng Văn Cống với tư cách tư lệnh Quân khu 9, phó tư lệnh Quân
giải phóng miền Nam lại thường xuyên xuất hiện cả trên báo đài chính
quyền Sài Gòn. Không ít giai thoại được truyền tụng quanh cái tên ấy.
Để thế hệ trẻ hình dung rõ hơn về cuộc đời binh nghiệp của Trung tướng,
xin Trung tướng vui lòng cho biết đôi nét về mình?
-Tôi tuổi Ngọ, sinh năm 1918 tại Bến Tre. Gia đình tôi là nông dân. Ông
cố tôi quê ở Vĩnh Phúc, vì điều kiện mưu sinh mà năm Tự Đức thứ hai đã
di cư vào Nam làm thuê, kiếm sống. Ông nội và cha tôi cũng phải đi ở đợ
làm tá điền cho địa chủ. Đời cha tôi thì có đỡ hơn. Nhờ ông ngoại là
một trung nông, nên khi cha mẹ tôi lấy nhau, ông ngoại đã mua cho ruộng
đất, làm lụng đủ ăn. Cuộc sống cơ cực, không điều kiện đến trường, nên
cả dòng họ tôi chẳng có ai biết chữ. Chỉ đến đời tôi, nhờ là con trai
út nên được gia đình cho ăn học. Nhưng chẳng được bao lâu thì bố mẹ tôi
lần lượt qua đời. Tôi phải nghỉ học ở nhà cày cấy, rồi được giác ngộ và
tham gia hậu cần cách mạng.
Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, tôi làm Bí thư chi bộ xã kiêm tổng uỷ
viên, lãnh đạo nhân dân địa phương nổi dậy cướp chính quyền. Giặc Pháp
tái chiếm Nam Bộ. Tôi cùng anh em tìm được bốn cây súng lửa, cùng giáo
gươm, tổ chức trừ gian diệt tề; tôi thường dùng một cây gươm cướp được
của quân Nhật để đi đánh địch. Quân số tăng dần, chúng tôi tự thành lập
tiểu đội, rồi trung đội do tôi chỉ huy và đến tháng 6 năm 1946 thì
thành lập đại đội.
Chúng tôi vừa đánh giặc vừa cướp vũ khí của giặc để trang bị cho mình.
Lúc ấy chưa có bộ đội chính qui, chỉ có dân quân du kích. Mọi thứ đều
tự túc, chứ chưa có chế đọ về khí tài, quân trang. Đơn vị tôi phát
triển sớm nhất và mạnh nhất tỉnh và khu. Sau đó, cấp trên giao tôi đi
thuyết phục anh em, tổ chức biên chế các lực lượng quân sự ở Bến Tre
thành bảy trung đội, rồi tách bốn trung đội thành lập Chi đội 19 do tôi
chỉ huy hoạt động ở Bến Tre-Gò Công, ba trung đội còn lại thành lập Chi
đội 20 hoạt động ở Trà Vinh-Vĩnh Long. Sang năm 1947, bộ đội phát triển
nhanh, khu tổ chức thành lập Trung đoàn 99 với 2 tiểu đoàn. Tôi trực
tiếp làm Trung đoàn trưởng và phụ trách Tỉnh đội Bến Tre. Tôi cùng anh
em liên tục chiến đấu cho tới khi tập kết ra Bắc 1954. Lúc tập trung
quân tập kết, tôi là Tham mưu trưởng kiêm thường vụ trực của Quân khu
miền Đông.-Thời gian ở miền Bắc, được biết, Trung tướng từng được phân công tổ chức con đường chiến lược 559B…
-Vâng. Ra Bắc, tôi làm sư đoàn phó kiêm bí thư Đản uỷ Sư đoàn 330, sau
đó sang Trung Quốc học quân sự hai năm. Năm 1961, tôi trở về làm Phó tư
lệnh Quân khu 3, rồi được điều về Cục Tác chiến lo tổ chức, củng cố
đường 559A và 559B (tức con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên Trường
Sơn và trên biển). Tôi vốn dân Nam Bộ, rành từng cù lao, con rạch nên
được giao trực tiếp tổ chức, chỉ huy con đường 559B trên biển để đưa vũ
khí về Nam Bộ. Con đường này được tổ chức hết sức bí mật. Ở Bộ chính
trị chỉ có các anh Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ biết. Còn ở Bộ Quốc
phòng thì có anh Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Vịnh và Trần
Văn Trà biết. Cho đến khi tôi vào Nam chiến đấu, mới giao con đường này
lại cho anh Nguyễn Chánh trực tiếp lo liệu.
-Trung tướng trở về Nam lúc nào?
-Tháng 4 năm 1963. Sau ba tháng vượt Trường Sơn, tôi về đến Nam Bộ.
Theo dự kiến, tôi vào Nam lãnh nhiệm vụ Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh
Miền. Tuy nhiên, vừa đến nơi thì có điện của Bộ Quốc phòng quyết định
thành lập các quân khu nhằm đáp ứng tình hình mới trên chiến trường.
Tôi được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9 ở miền Tây Nam Bộ.
-Như vậy Trung tướng lại có dịp tái ngộ với bưng biền Đồng Tháp Mười lừng lẫy năm xưa.
-Miền Tây là quê hương, cũng là nơi tôi được trui rèn trong máu lửa với
bao kỷ niệm hào hùng và đau thương của chín năm kháng chiến chống Pháp.
Rất nhiều người thân và đồng đôi của tôi đã ngã xuống trên chiến khu
này. Đến năm 1964, tôi được phân công làm Phó tư lệnh Miền kiêm Tư lệnh
Quân khu 9. Mấy năm sau, do yêu cầu mới, tôi mới về hẳn Bộ tư lệnh Miền
để chuyên trách công tác quân sự chung.
-Hình như Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam bấy giờ có sự điều chỉnh, bổ sung liên tục.
-Đó là do yêu cầu của chiến trường. Khi Tư lệnh Trần Văn Quang ra Bắc,
anh Trần Văn Trà từ Bắc vào làm Tư lệnh, anh Nguyễn Chí Thanh là Chính
uỷ, anh Trần Độ là Phó chính uỷ, còn tôi cùng anh Lê Trọng Tấn, anh
Nguyễn Hữu Xuyến là Phó tư lệnh. Lúc Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ,
anh Hoàng Văn Thái được bổ sung vào giữ nhiệm vụ Tư lệnh Miền một thời
gian. Anh Thái vì sức khỏe yếu phải về lại Bộ tổng tham mưu, anh Trà
lên thay. Và chị Nguyễn Thị Định cùng các anh Hoàng Cầm, Lê Đức Anh lần
lượt được đề bạt làm Phó tư lệnh Miền. Trước đó, khi anh Nguyễn Chí
Thanh ra Bắc rồi đột ngột qua đời, anh Phạm Hùng là Bí thư Trung ương
Cục được phân công kiêm Chính uỷ, anh Lê Văn Tưởng là phó chính uỷ kiêm
cục trưởng Cục chính trị.
Mỗi người một nhiệm vụ khác nhau, đoàn kết như anh em một nhà, đã đóng
góp tất cả công sức và trí tuệ của mình cho sự nghiệp thống nhất đất
nước.
-Tất nhiên khi đó không có đố kỵ quyền lực…
-Tổ quốc luôn là trên hết. Mỗi người đều ở tư thế sẵn sàng hy sinh tới
giọt máu cuối cùng. Hiện tượng đố kỵ, công thần, tham nhũng không thể
tồn tại trên chiến trường máu lửa!
-Trung tướng còn nhớ gì về những ngày tiến quân vào giải phóng Sài Gòn?
-Tôi không trực tiếp tham gia các mũi tiến công. Nhưng trước đó, tôi đã
tổ chức chu đáo cánh quân phía Nam chuẩn bị tiến vào giải phóng Sài
Gòn. Anh Trần Văn Trà cùng một số đồng chí trong Bộ Tư lệnh Miền được
cử tham gia Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Tình hình lúc ấy theo
tin tức ta nắm được, địch có âm mưu: nếu thất thủ Sài Gòn sẽ rút về bên
kia sông Tiền, cố thủ ở Cần Thơ, để củng cố lực lượng, thành lập chính
phủ bốn thành phần. Tôi là người duy nhất trong Bộ Tư lệnh Miền vốn gốc
dân đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, Quân uỷ Miền họp phân công tôi ở
lại chỉ huy sở để trực, chỉ huy hoạt động phối hợp tác chiến giữa các
quân khu, tỉnh đội; đồng thời tôi kiêm tư lệnh Quân đoàn dự bị, anh
Nguyễn Văn Sĩ-tham mưu phó Miền làm phó tư lệnh, anh Nguyễn Văn
Tòng-cục phó Cục Chính trị làm phó tư lệnh về chính trị, chuẩn bị đối
phó với âm mưu mới của địch, nếu chúng rút về cố thủ ở miền Tây.
-Trung tướng có mặt ở trung tâm Sài Gòn lúc nào?
-Sau khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Bộ Tư lệnh Chiến
dịch Hồ Chí Minh điện tôi xuống chỉ huy sở. Anh Văn Tiến Dũng nói rằng,
Sài Gòn đã được go nên không cần đến Quân đoàn dự bị nữa. Anh phân công
tôi chỉ huy một số bộ phận Bộ Tư lệnh Miền đi tiền trạm vào thành phố
tiếp quản, kiểm kê tài sản và sắp xếp chỗ ở cho các đơn vị, để chuẩn bị
đón Bộ Tư lệnh chiến dịch và Bộ Tư lệnh Miền. Sáng ngày 1 tháng 5 năm
1975, tôi vào dinh Độc Lập.
Nhìn cảnh quần chúng xuống đường đón mừng thành phố giải phóng, đất
nước hoà bình, Nam Bắc thống nhất một nhà, lòng tôi xúc động vô cùng.
Sức mạnh của quần chúng lớn lắm. Với sự thâm nhập vận động của cán bộ
hoạt động thành, khi tướng Dương Văn Minh chưa tuyên bố đầu hàng thì
quần chúng cách mạng đã nổi dậy làm chủ hơn bốn mươi khu vực trong
thành phố. Giải phóng Sài Gòn là sự kết hợp giữa tấn công của bộ đội
chủ lực với sự nổi dậy của các lực lượng quần chúng. Nhìn từng con
đường, từng góc phố, từng ngôi nhà rợp bóng cờ sao, tôi cảm thấy rất
mãn nguyện. Nhiệm vụ của người lính chiến đấu vì nền độc lập tự do của
Tổ quốc đã hoàn thành. Có thể nói, đó là những giờ phút đẹp nhất trong
cuộc đời binh nghiệp mà tôi mơ ước. -Nhưng Trung tướng vẫn chưa được nghỉ ngơi, khi cuộc chiến biên giới Tây Nam Tổ quốc xảy ra…
-Là người lính thì chẳng bao giờ có quyền nghỉ ngơi. Sau giải phóng,
tôi về nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh Quân khu 7. Khi anh Trần Văn Trà ra
Bắc làm Tổng tham mưu phó Bộ tổng tham mưu, thì tôi là quyền tư lệnh
quân khu. Chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, tôi là tư lệnh tiền
phương Quân khu 7, anh Năm Ngà và anh Năm Thành là phó tư lệnh, đưa một
cách quân sang giúp cách mạng Campuchia giải phóng nước bạn thoát khỏi
nạn diệt chủng Pol Pot. Tháng 2 năm 1978, lực lượng Quân khu 7 bắt đầu
chiến dịch phản công, mở rộng địa bàn đến sông Mêkông. Tiếp theo là
chiến dịch giải phóng các tỉnh Xoài Riêng, Krachê và một phần Kompong
Chàm. Cuối cùng, tiến vào giải phóng Phnôm Pênh ngày 7 tháng 1 năm 1979
và truy quét tàn quân Pol Pot đến tận biên giới Thái Lan.
Về nước, tôi tiếp tục làm tư lệnh Quân khu 7, rồi được điều ra Hà Nội
làm phó tổng thanh tra quân đội, cho đến khi về nghỉ an dưỡng chờ quyết
định hưu trí.
-Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, trên cương vị người chỉ huy, Trung tướng đã tham gia bao nhiêu chiến dịch?
-Có mười bốn chiến dịch tôi tham gia với tư cách chỉ huy trưởng hoặc
chỉ huy phó chiến dịch. Chẳng hạn, trong chín năm chống Pháp, tôi chỉ
huy Chiến dịch Bến Tre từ ngày 3 đến 31 tháng 7 năm 1950, rồi Chiến
dịch Sa Đéc-Long Châu Tiền vào tháng 3 năm 1951 mà tôi là chỉ huy
trưởng cánh Long Châu Tiền. Còn trong chống Mỹ thì có: Chiến dịch Xẻo
Rô phá ấp chiến lược năm 1963; Chiến dịch Đông Bắc Campuchia năm 1971
giải phóng bốn tỉnh biên giới nước bạn; Chiến dịch Chen La Hay cuối năm
1971 tiêu diệt và làm tan rã lực lượng chủ lực nòng cốt của quân đội
Lon Nol; Chiến dịch tổng hợp Đồng bằng sông Cửu Long giữa năm 1972 mở
thông biên giới Tây Nam; Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972-1973 giải phóng
toàn bộ Lộc Ninh và vùng biên giới thuộc Khu 8, Chiến dịch Phước Long
đợt hai cuối năm 1974,…
-Trong đó chiến dịch nào Trung tướng gặp khó khăn nhất?
-Các chiến dịch của bộ đội chủ lực đánh lớn, thời gian ngắn. Còn như
chiến dịch phá ấp chiến lược Xẻo Rô ở Bến Tre chẳng hạn, lại hết sức
phức tạp, kéo dài thời gian. Xẻo Rô là con rạch dài gần một trăm cây
số, địch xây dựng hệ thống ấp chiến lược rất kiên cố. Để phá được ấp,
tôi phải cho tiến hành ba bước. Đầu tiên là phá lỏng, bằng cách cho cán
bộ dân vận thâm nhập vận động quần chúng trong các ấp đấu tranh. Bước
hai là phá rã dần. Bước thứ ba là huy động lực lượng tổng hợp dứt điểm.
Chiến dịch Xẻo Rô giải phóng năm xã với hơn một trăm ngàn dân.
-Trung tướng có thể nói vài nét về Chiến dịch Đông Bắc Campuchia?
-Được Mỹ bật đèn xanh, Lon Nol đã lật đổ Sihanouk lên nắm chính quyền ở
Phnôm Pênh. Trung tướng chủ trương ủng hộ Sihanouk, tấn công Lon Nol.
Với dã tâm chống cộng, Lon Nol liền khoá chặt mọi con đường từ
Campuchia dẫn đến căn cứ Lộc Ninh, thủ đô kháng chiến miền Nam bấy giờ,
trong đó có con đường 13 huyết mạch nối Lộc Ninh với miền Bắc. Trong
tình hình đó, cuối năm 1971 Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở Chiến dịch
Đông Bắc Campuchia, dôi tôi làm tư lệnh, hạ quyết tâm khai thông con
đường 13 nối căn cứ Lộc Ninh với Hạ Lào để chuyển một ngàn thương binh
ra Bắc. Để hỗ trợ cho chúng tôi, một cánh quân do anh Trần Văn Trà chỉ
huy đã tiến đánh Kompong Chàm, khai thông một con đường khác trên đất
bạn. Sau gần một tháng chiến đấu, chiến dịch kết thúc thắng lợi. Bộ đội
đã giải phóng bốn tỉnh biên giới Đông Bắc Campuchia là Krachê,
Stungtreng, Môngđôn Kiri và Ratanakeri Côre, Prasnatacan. Lần đầu ta đã
khai thông con đường 13 nối Hạ Lào, và nếu như trước đây chỉ là đường
bộ, gùi thồ thì nay có thể vận chuyển bằng xe cơ giới.
Với sự yểm trợ vũ khí đạn dược và không quân Mỹ, Lon Nol liền tập trung
mười bốn lữ đoàn hòng chiếm lại bốn tỉnh ở Đông Bắc ta vừa giải phóng.
Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở Chiến dịch Chan La Hay chặn địch trên
đường 6, giao tôi làm tư lệnh với một lực lượng gồm Sư đoàn 9 và ba
trung đoàn của C40 phối thuộc. Do lực lượng của ta hơi mỏng, nên phải ở
thế giằng co cả tháng trời. Cho đến ngày 4 tháng 2 năm 1972 chiến dịch
kết thúc. Quân ta đã tiêu diệt gần một nửa quân số địch, làm tan rã lực
lượng chủ lực nòng cốt của chúng, dẫn đến kết liễu số phận của tên độc
tài Lon Nol cùng chế độ do Mỹ dựng lên.
-Thưa Trung tướng, một đời vào sinh ra tử, kỷ niệm đẹp nào thời chinh chiến thường sống lại trong trí nhớ của Trung tướng?
-Kỷ niệm thì nhiều, đẹp cũng có, đau thương cũng có. Tôi nhớ mãi ấn
tượng lần đầu tiên được gặp Bác Hồ tại Hội nghị Quân sự năm 1955 ở Hà
Nội. Đối với mỗi người lính từ chiến trường trở về thì được gặp lãnh tụ
là một điều hết sức thiêng liêng. Tuy Bác chỉ đến trong một thời gian
ngắn nhưng ai cũng xúc động. Từ những ngày còn ở bưng biền Đồng Tháp,
tôi hằng mơ có ngày được gặp Bác, tận mắt nhìn thấy từng bước đi dáng
đứng, từng cử chỉ của Người. Nhìn Bác, nước mắt tôi cứ muốn trào ra.
Sau khi cuộc cải cách ruộng đất mắc nhiều sai lầm, các cán bộ cao cấp
lãnh đạo về nông nghiệp không đủ bản lĩnh thuyết phục nhân dân. Cuối
cùng, tại một hội nghị sửa sai ở Trung ương, Bác đã đến dự và đứng ra
xin lỗi toàn dân. Bác khóc. Cả hội trường khóc theo. Đến những người bị
hại cũng không cầm được nước mắt. Hình ảnh xúc động ấy của Bác gây ấn
tượng mạnh trong tôi về một vị lãnh tụ giản dị, anh minh, có sức cảm
hoá lớn lòng người! -Ngoài ấn tượng về lãnh tụ thì những hình ảnh đồng đội thân thiết nào Trung tướng còn nhớ?
-Tôi nhớ hoài về hình ảnh của một đồng đội, một vị lãnh đạo là anh
Nguyễn Văn Vịnh ở buổi đầu kháng chiến chống Pháp. Bấy giờ, tôi đang
chỉ huy bộ đội chủ lực thì được tin quê nhà Bến Tre bị quân Pháp đánh
chiếm. Tỉnh đội trưởng bệnh nặng, không người thay. Bộ tư lệnh khu 8
mới họp bàn, cử người về phụ trách, nhưng bàn mãi mà không ai thích
hợp. Tôi xin về. Anh Vịnh lúc ấy đang là Chính uỷ khu 8, không đồng ý.
Anh bảo tôi là chỉ huy bộ đội chủ lực, không quen với cơ sở địa phương,
sẽ gặp khó khăn trong việc xây dựng lại từng bước lực lượng dân quân du
kích tỉnh nhà vừa bị địch đánh phá nặng, gây tổn thất lớn. Dù vậy, cuối
cùng do không có người, tôi cũng được phân công về Bến Tre, tập hợp lực
lượng, xây dựng cơ sở, dần dần thành lập lại tiểu đoàn. Khi bắt tay vào
thực tế, tôi mới thấm thía những ý kiến cân nhắc chân thành và sáng
suốt của anh Nguyễn Văn Vịnh.
-Trong các tướng lĩnh quân đội ta, Trung tướng gần gũi và quí mến ai nhất?
-Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Vịnh và Nguyễn Chí Thanh.
-Trung tướng có thể nói vì sao?
-Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lần đầu tiên gặp anh ấy, tôi dã cảm tình
ngay. Không phải vì anh ấy là Bộ trưởng, là Tổng tư lệnh đâu mà vì
những đức tính toát ra từ con người. Khi tổ chức con đường 559B vào
Nam, anh em họp tính toán đi cặp theo Hoàng Sa và Trường Sa, dự kiến
mất 5-6 ngày. Thế là chuyến đầu tiên lên đường. Ngày nào Cục tác chiến
cũng họp giao ban, do anh Giáp chủ trì. Mỗi lần tôi vào họp, anh Giáp
đều hỏi đã có tin tức gì về chuyến tàu chưa. Tôi nhìn anh lắc đầu. Cứ
thế. Anh tỏ ra hết sức lo lắng!
Đến ngày thứ mười một, tôi vào giao ban, anh níu tay tôi hỏi. Tôi cười,
nói đã có điện. Anh mừng quá, lấy bức điện vào đóng cửa phòng, đọc. Khi
bước trở ra, tôi thấy anh chảy nước mắt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là
một đồng chí lãnh đạo cao cấp, là người đứng đầu quân đội mà có tình
cảm sâu sắc với chiến trường như thế. Thấy anh khóc, tôi không cầm lòng
được, cũng khóc theo. Rồi anh Giáp cho mở tất cả thực phẩm dùng đãi
khách quốc tế ở nhà họp Quân uỷ Trung ương, để anh em ăn mừng.
-Với Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, ngoài kỉ niệm nói trên, Trung tướng còn nhớ gì về vị tướng tài ba bạc mệnh này không?
-Nhiều lắm. Với tôi, anh Nguyễn Văn Vịnh là một người anh lớn mà tôi
luôn kính trọng cả về tài năng lẫn nhân cách. Chúng tôi luôn xem nhau
như anh em một nhà. Anh Vịnh nguyên là một học sinh của Pháp, một trí
thức yêu nước trở thành một nhà cách mạng, một vị chỉ huy có bản lĩnh
của quân đội ta. Anh sống rất tình cảm và giúp đỡ anh em cấp dưới một
cách chí tình. Chỉ tiếc anh Vịnh ra đi quá sớm!
Giọng nói Trung tướng Đồng Văn Cống trở nên nghẹn ngào. Ông dừng câu
chuyện hồi lâu. Ánh mắt vị tướng dịu vợi những nỗi niềm khó tả. Vâng,
ông đang hồi tưởng về một người đồng chí, đồng đội thân thiết mà hình
ảnh luôn thường trực, day dứt lòng ông. Gương mặt phúc hậu của vị chiến
tướng chừng như rắn lại. Mái tóc trắng phau càng trắng hơn. Hớp ngụm
nước suối trong, Trung tướng chậm rãi tiếp tục câu chuyện:
-Đối với Quân khu 8 thời chống Pháp, công lao Nguyễn Văn Vịnh rất lớn.
Với tư cách là chính uỷ, anh Vịnh là trung tâm tập hợp đoàn kết mọi lực
lượng-có thể nói là một đội quân ô hợp lúc bấy giờ, bao gồm các chi đội
độc lập ở trong nước lẫn hải ngoại trở về, vừa do Đảng Cộng sản lãnh
đạo, vừa do Đảng dân chủ lãnh đạo. Với sự thuyết phục của anh Vịnh,
nhiều Trung ưong uỷ viên Đảng dân chủ, như anh Nguyễn Đăng chẳng hạn-đã
trở thành đảng viên Cộng sản, được đề bạt làm Phó tư lệnh Quân khu 8,
sau là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp. Nếu hiểu được sự tranh giành quyết
liệt quyền lãnh đạo trong quân khu bấy giờ giữa Đảng Cộng sản và Đảng
Dân chủ thì mới thấy hết công lao của anh Vịnh. Và Quân khu 8 có thể
nói là quân khu ổn định nhất của Nam Bộ vào thời điểm cực kỳ rối ren
này.
-Ông còn nhớ gì thời điểm Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh bị kỷ luật?
-Anh em trong quân đội chúng tôi hoàn toàn không tán thành bản án kỷ
luật quá nặng so với sai sót của anh. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói là
thái độ chấp hành kỷ luật của anh, một đảng viên trung thành, một tướng
lãnh, một cán bộ lãnh đạo gương mẫu-bấy giờ anh đang là Thứ trưởng Bộ
Quốc phòng. Khi anh em đề nghị anh khiếu nại bản án kỷ luật nặng nề,
anh nói: “Chuyện đã như vậy rồi thì thôi. Anh em đừng bàn bạc xôn xao
nữa, không hay. Hãy tập trung vào nhiệm vụ cấp bách hiện nay là đoàn
kết chống Mỹ ở miền Nam!”.
-Tình cảm của Trung tướng đối với Tướng Vịnh thật đặc biệt. Tôi cũng đã
nghe nhiều người nói về nhân cách và tài năng của vị tướng thành Nam
này. Thế còn đối với Đại tướng Hoàng Văn Thái, Trung tướng có kỷ niệm
nào đáng nhớ?
-Đại tướng Hoàng Văn Thái là người cao to, đẹp trai, phong cách đàng
hoàng, giản dị, thái độ luôn điềm tĩnh, chín chắn, tự tin. Khi đứng
trước những vấn đề gay go, khúc mắc, anh Hoàng Văn Thái luôn bình tĩnh,
kiên trì giải quyết vấn đề. Anh không bao giờ tỏ ra khoe khoang thành
tích của mình. Có thể nói, Hoàng Văn Thái là tướng tham mưu tài ba,
điển hình của quân đội ta. Thời gian anh vào Nam làm Tư lệnh Miền,
chúng tôi rất gắn bó với nhau. Có những đêm, tôi cùng anh thức uống trà
bàn công việc, rồi đờn địp với nhau. Tôi đờn theo kiểu tài tử Nam Bộ.
Còn anh Thái đờn theo giai điệu dân gian Bắc Bộ. Có một vài bản, chúng
tôi có thể “phối” lẫn nhau… -Được biết Trung tướng cũng từng là đồng đội thân thiết của nữ tướng Nguyễn Thị Định?
-Chị Ba Định và tôi là người cùng huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Chồng
chị là anh Nguyễn Văn Bích lúc ấy hình như là Tỉnh uỷ viên kiêm Chủ
tịch Mặt trận Bình dân tỉnh. Tôi thì hoạt động bí mật, thường liên lạc
với anh Bích và anh Nguyễn Văn Nguyễn. Tôi gặp chị Ba Định lần đầu
khoảng năm 1936-1937, lúc chị và anh Bích mới thành hôn được vài tháng.
Chị Ba Định là một phụ nữ đảm lược, sống giản dị, có tác phong rất dễ
gần gũi quần chúng. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre thời
chống Mỹ, chị là nhân vật nòng cốt đã trực tiếp lãnh đạo thành công
phong trào Đồng Khởi. Không những giỏi về đấu tranh chính trị, chị Ba
Định còn là nữ tướng sắc sảo, đóng góp nhiều ý kiến hay trên chiến
trường.
-Trung tướng có kỷ niệm vui nào với tướng Định?
-Nhiều kỷ niệm lắm. Tôi nhớ năm 1947-1948, chị Ba Định đứng ra tổ chức
Đại hội phụ nữ tỉnh Bến Tre. Tôi là đai biểu quân sự được mời tới dự.
Tính tôi hay chọc phá. Trong đại hội có “Chương trình thi điền kinh”
được dán chữ lớn trên tấm băng-rôn. Vô tình, chữ “n” của chữ “điền” bị
dán ngược thành chữ “u”. Tôi đến và phát hiện, liền kêu chị Ba lại trêu
chọc. Chị đỏ mặt, cười và đánh tôi: “Đồ mắc dịch, cứ cố tìm cho bằng
được chuyện để chọc phá”.
-Gần đây, Tướng Đỗ Mậu của chế độ Việt Nam cộng hoà xuất bản một cuốn hồi ký, Trung tướng có đọc không?
-Có. Từng là viên tướng nhiều uy quyền của chế độ Sài Gòn cũ, nhưng
những gì Đỗ Mậu thể hiện trong hồi ký, tôi cho là tương đối trung thực.
Tất nhiên, có nhiều điều mà tôi không thể biết hết được.
-Trung tướng nghĩ gì khi đứng trước cảnh có những thanh thiếu niên bây
giờ, trong số ấy có không ít con của những cán bộ, ăn chơi, hút xách,
trác táng, gây rối loạn trật tự an ninh?
-Tôi hết sức buồn và lo lắng. Trong các cuộp họp tôi đều đề cập đến vấn
đề này. Tuy nhiên, số thanh niên bị sa đoạ trước ma lực đồng tiền, theo
tôi, chỉ là một bộ phận nhỏ thôi. Do đó, chúng tôi vẫn hoàn toàn tin
tưởng vào lớp trẻ bây giờ trước vận hội mới của đất nước.
-Thưa Trung tướng, suốt đời chiến đấu, vậy còn thời gian nào Trung tướng dành cho cuộc sống tình cảm riêng tư và gia đình?
-Thế hệ chúng tôi vừa lớn lên là đã lao vào cuộc chiến đấu vì nền độc
lập, tự do của dân tộc, nên thật ít có thời gian nghĩ đến chuyện riêng
tư. Riêng gia đình tôi may mắn là đều được trui rèn trong môi trường
quân nhân, cả vợ lẫn con cái.
-Trung tướng gặp bà nhà trong hoàn cảnh nào?
-Thuở nhỏ chúng tôi là láng giềng của nhau. Cô ấy là một thợ cấy giỏi
có tiếng. Chúng tôi thấy tình tình hợp nhau, thương nhau và xin gia
đình tổ chức đám cưới. Năm tôi mười tám tuổi tham gia cách mạng cũng là
năm chúng tôi thành hôn. Sau đó, cô ấy cũng đi cách mạng và vào quân
đội. Chúng tôi giúp đỡ, sánh vai cùng nhau đi qua những chặng đường
gian khổ lẫn vinh quang của đất nước. Bảy đứa con chúng tôi lần lượt ra
đời trong chiến tranh, nay đã khôn lớn, đều tốt nghiệp đại học và đều
là quân nhân. Đứa con đầu của chúng tôi là Đồng Văn Be, phi công chiến
đấu đã hy sinh trong cuộc đụng độ với không lực Mỹ trên bầu trời miền
Bắc. Còn vợ tôi thì vừa mới mất. Hiện tôi đang sống với một gia đình có
tất cả hai mươi bốn cháu nội, ngoại. Tôi đang ở một “trận chiến” mới là
dạy dỗ, động viên con cháu để chúng trở thành những công dân có ích cho
xã hội.
-Là một tướng lĩnh sinh ra và trưởng thành từ quê hương Đồng khởi Bến
Tre, đây cũng chính là mảnh đất gắn liền với tên tuổi một nhân vật lịch
sử gây nhiều tranh luận là Phan Thanh Giản. Trung tướng có quan điểm ra
sao về vị danh thần triều Nguyễn này?
-Người dân Bến Tre rất quí trọng Phan Thanh Giản. Họ đòi phải có con
đường mang tên ông. Tôi cũng đồng ý như vậy. Phan Thanh Giản là một con
người tài giỏi, trung kiên, yêu nước nhưng yêu nước theo kiểu phong
kiến. Cả hành động uống thuốc độc tuẫn tiết trước khi giao thành Vĩnh
Long cho Pháp cũng phản ánh tinh thần trung quân ái quốc nhưng bất lực
trước thời thế của ông. Chứ ông không phải là bán nước, là phản động.
Các nhà nghiên cứu lịch sử cần sớm có kết luận chính xác về ông.
-Rất tiếc cho tới nay vẫn chưa có một kết luận chính thức của các nhà
khoa học lẫn những người có trách nhiệm về thân thế và sự nghiệp vị
tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ. Quan điểm của Trung tướng chắc chắn sẽ
làm nhiều người bất ngờ!
-Đó là sự thực lịch sử. Anh nên nhớ dân Bến Tre là dân cách mạng gốc,
là dân Đồng Khởi. Và không phải ngẫu nhiên mà họ tôn thờ Phan Thanh
Giản đâu. Phải là con người như thế nào thì mới được họ kính trọng chứ!
Tôi tin lịch sử nhất định sẽ trả lại sự công bằng cho Phan Thanh Giản.
-Vâng, hy vọng điều đó sẽ sớm diễn ra, thưa Trung tướng!
Nắm lấy bàn tay vạm vỡ của Trung tướng Đồng Văn Cống, tôi chúc sức khoẻ
ông và xin phép ra về. Ông ân cần tiễn tôi tận cổng, cười nói: “Khi nào
cần ở tôi điều gì, anh cứ gọi điện”. Cử chỉ mộc mạc, chân tình, đầy
phong cách Nam Bộ của vị tướng già làm tôi xúc động. Tôi như thấy ẩn
hiện nơi ông hình ảnh, cốt cách của những vị anh hùng nông dân áo vải,
chân đất nghĩa sĩ Cần Giuộc trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, của vị anh
hùng Nguyễn Trung Trực với chiến công Nhật Tảo dậy sóng năm nào. Mặc dù
cuộc sống của vị lão tướng đang rất hạnh phúc giữa đàn con cháu ngoan
hiền, nhưng dường như tận sâu thẳm ánh mắt của ông trống vắng điều gì:
phải chăng đó là hình ảnh người vợ-bà Lê Thị Gấp mà ông rất mực thương
yêu, là “điểm tựa” cho ông trên chiến trường dầu sôi lửa bỏng; vậy mà
giờ đây khi đất nước thanh bình, cháu con sum họp thì bà…
Tân Bình, tháng 6 năm 1995
Thiếu tướng Trần Văn Danh
Ngành tình báo luôn đóng vai trong hết sức quan trọng. Và ở đó, đã sản
sinh những nhà tình báo mà sự nghiệp của họ đôi khi như huyền thoại.
Một trong những nhà tình báo Việt Nam nổi tiếng ấy là Trần Văn Danh,
người đứng đầu ngành quân báo miền Nam thời chống Mỹ. Frank Snepp, một
nhân vật cao cấp của CIA Sài Gòn trước năm 1975, trong cuốn Khoảng cách
thời gian vừa phải xuất bản năm 1977 ở New York cũng đã nói rằng Trần
Văn Danh là một trong bốn nhà tình báo quan trọng hàng đầu của Việt
cộng. Từ một học sinh yêu nước của Mười tám thôn Vườn Trầu-Hóc Môn,
Trần Văn Danh trở thành chiến sĩ quân báo quả cảm ở miền Đông Nam Bộ,
rồi dần được giao các nhiệm vụ: tham mưu phó phụ trách tình báo chiến
lược, đặc công và biệt động của Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam,
phó trưởng Đoàn đại biểu Liên hiệp Quân sự bốn bên của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh,
ông chỉ huy lực lượng đặc công và biệt động Sài Gòn, vừa mở đường cho
các cánh quân vừa hạn chế nguy cở đổ nát của thành phố khi đại quân
tiến vào. Từ tướng tình báo, Trần Văn Danh trở thành tướng kinh tế khi
được phân công tiếp quản và xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, rồi đứng
đầu kế hoạch xây dựng công trình thủy điện Trị An. Ông được Nhà nước
phong Anh hùng Lao động năm 1990 và thưởng Huân chương Độc lập hạng
nhất. Vẫn với phong thái của một nhà tình báo, nhìn thẳng vào mắt chúng
tôi, ông nói:
-Thật ra, cuộc đời tôi không có gì đáng nói nhiều đâu. Điều mà tôi mong
muốn là báo chí hãy đề cập đến hàng vạn đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuốn
cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Bởi cuộc chiến tranh của chúng ta
là cuộc chiến tranh nhân dân, mọi thành bại do nhân dân quyết định.
-Nhưng thưa thiếu tướng, cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng.
-Đồng ý. Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân thì thật tai hại.
-Vâng, có lẽ vì vậy mà trong báo cáo của Chủ tịch nước tại kỳ họp thứ
11, Quốc hội khóa IX mới đây, cho rằng chủ nghĩa cá nhân là nguy cơ
“bao trùm lên trên bốn nguy cơ” của đất nước mà Đại hội Đảng giữa nhiệm
kỳ Khóa VII đã chỉ rõ. Thưa Thiếu tướng, Thiếu tướng có suy nghĩ gì về
tình hình đất nước hiện nay?
-Chính sách mở cửa đưa nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được
nâng cao, là điều đáng mừng. Tuy nhiên, nạn mafia, buôn lậu, nhất là
hàng loạt vụ tham nhũng làm tổn hại hàng ngàn tỉ đồng của Nhà nước, làm
mất lòng tin nhân dân, kiềm chế sự phát triển của đất nước, là điều
đáng lo ngại.
-Lăn lộn từ chiến trường lửa đạn đến chiến trường kinh tế, nay đã ở
tuổi “cổ lai hy”, trái tim Thiếu tướng vẫn còn hết sức nhạy cảm trước
thời cuộc, trước vận mệnh quốc gia. Riêng về bản thân mình, có khi nào
nằm hồi tưởng lại, kỷ niệm tuổi ấu thơ chợt hiện về trong tâm khảm
Thiếu tướng không?
-Tuổi thơ của tôi ư? Nhiều lúc tôi không dám nghĩ đến. Mà càng nghĩ thì
càng buồn, càng thương cho người mẹ nghèo bất hạnh của tôi. Mẹ tôi
người Bến Tre, đi làm cô mụ và gặp cha tôi ở Hóc Môn, Sài Gòn. Cha tôi
làm Hương cả trong làng, đã có vợ lớn. Ông nội tôi rất khắt khe. Vì
vậy, mẹ con tôi phải sống cách ly rất xa, bà vừa đi bán hàng rong vừa
trồng rau nuôi heo để nuôi sáu đứa con nhỏ, trong đó chỉ có một mình
tôi là con trai. Khổ cực lắm! Chị em tôi ngày ngày vào rừng Thới Tam
Thôn mót củi giúp mẹ. Tôi tuổi Hợi, sinh năm 1923, do luật phát không
cho phép nên khai sinh tôi lấy họ mẹ. Mẹ tôi là Trần Thị Thảnh. Còn tôi
là Trần Văn Ba. Vì vậy, sau này anh em hay gọi tôi là Ba Trần.
-Thế còn Trần Văn Danh?
-Đó là một tên khác khi tôi vào Đảng. Hồi tôi học lớp nhứt ở thị trấn
Hóc Môn, thấy tôi tên Ba, một ông thầy nói: Mầy tên Ba, mỗi lần kêu tao
phải nói “Ba ơi!”. Ông bảo tôi đổi tên thành Bá. Do đó, tên đi học của
tôi là Trần Văn Bá (cười).
-Sau này lớn lên Thiếu tướng có gặp lại cha.
-Có chứ. Năm mười tám tuổi, tôi đến tuổi đóng thuế thân, cha tôi thừa
nhận là con, từ đó khai sinh mới có tên cha. Chẳng qua, vì lễ giáo mà
mẹ con tôi phải sống riêng, chứ cha tôi rất thương và luôn tìm cách đến
thăm. Về sau, cha tôi trở thành một cơ sở cách mạng, đã được Chính phủ
tặng bằng khen có công với nước. Khi tôi được mười hai tuổi, cha tôi
hay sai tôi bí mật đi rải truyền đơn kêu gọi ủng hộ Đảng Cộng sản Đông
Dương. Ngày tôi lên đường vào chiến khu, ông động viên tôi hãy yên tâm
chuyện gia đình lo cố gắng đánh giặc.
-Thiếu tướng còn nhớ gì về thời tuổi trẻ của mình giữa Mười tám thôn Vườn Trầu nổi tiếng?
-Cuộc sống người nông dân cực kỳ cơ cực, đói khổ. Phong trào yêu nước,
cách mạng ở quê tôi luôn âm ỉ, sôi sục. Năm mười sáu tuổi, tôi thi đậu
trường Bá Nghệ, nay là Trường kỹ thuật Cao Thắng. Tôi rất thích nghề
xây dựng. Tôi mua sách Pháp về toán, lý, hóa để tự học thêm. Vừa học
tôi vừa làm thêm kiếm sống. Ban ngày thì lãnh mẫu mã từ văn phòng các
kiến trúc sư về vẽ, tính toán; trong đó có “hàng” của Kiến trúc sư
Huỳnh Tấn Phát. Ban đêm còn đi làm thêm nghề cơ khí. Nhưng rồi Nhật đảo
chánh Pháp, trường Bá Nghệ đóng cửa, tôi quay về Hóc Môn.
Trước đó, một chiều sau khi ăn cơm ở Chợ Quán, tôi đạp xe về nhà. Đến
ngang rạp Nguyễn Văn Hảo, nay là rạp Công Nhân, tôi phải xuống xe dắt
bộ vì lính Nhật tắm chật đường bên các vòi nước ở lề đường. Chúng tám
trần truồng như nhộng. Thấy vậy, tôi nói: “Nghe nước Nhật tự xưng là
cường quốc, sao chẳng văn minh chút nào, tắm ở truồng”. Ngỡ chỉ nói với
người đi đường, bọn Nhật không nghe được, vì chúng không biết tiếng
Việt. Không ngờ, có một tên trong bọn đang tắm kêu tôi lại bằng tiếng
Việt rất sõi và hỏi tôi vừa nói gì. Tôi cũng nói lại y như vậy. Nó mới
cười mỉa mai: “Tắm truồng không có gì xấu. Mất nước mới là nhục”! Tôi
tức đến tái mặt, muốn đấm thẳng vào mặt nó. Chính điều này giúp tôi
hiểu ra nhiều lẽ, nhen nhóm trong tôi lòng yêu nước và căm thù giặc sâu
sắc. Đúng, mất nước đúng là nỗi nhục lớn nhất!-Cũng từ đó Thiếu tướng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng?
-Vâng. Tháng 7 năm 1945, tôi tham gia tổ chức bí mật Thanh niên Cứu
quốc. Sau đó, đi cướp chính quyền ở Hóc Môn rồi kéo về trung tâm thành
phố. Trên đường đi, ngang bót Đội Có, địch bắn chết chú Tám Thôi-anh bà
Hồ Thị Bi. Một thời gian sau, Pháp tái chiếm Nam Bộ, đưa quân lên Hóc
Môn. Lực lượng cách mạng tạm thời phân tán. Tôi gia nhập đội trinh sát
Quân khu 7, chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ, chiến trường mà tôi gắn bó
gần cả cuộc đời.
-Nghĩa là Thiếu tướng trở thành chiến sĩ tình báo một cách ngẫu nhiên không hề có định hướng trước.
-Tính tôi thích mạo hiểm, cộng với lòng căm thù giặc, tôi không hề biết
run sợ trước cái chết. Địa bàn miền Đông, trong đó có Sài Gòn-Chợ Lớn,
tôi nắm trong tay từng kênh rạch, con hẻm. Năm 1949, tôi được đề bạt
làm tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo tỉnh Thủ-Biên. Khi tập kết ra
Bắc, tôi là phó chính ủy Trung đoàn 556, trung đoàn có nhiều đóng góp
trong suốt chín năm đánh Pháp ở miền Đông Nam Bộ.
-Thiếu tướng trở lại chiến trường miền Nam khi nào?
-Gần sáu năm sau. Ra Bắc, tôi được gắn quân hàm Thiếu tá và đi học văn
hóa lẫn ghiệp vụ chuyên môn tình báo. Đến tháng 12 năm 1960, tôi vượt
Trường Sơn về Nam. Trước khi lên đường, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn có đến
thăm đoàn và chỉ thị rằng: “Các đồng chí ra Bắc đã học tập tốt, nay
nhanh chóng về Nam cùng các đồng chí trước đây ở lại cùng tổ chức quần
chúng nổi dậy, lôi kéo binh lính địch, chiến đấu giải phóng miền Nam,
thống nhất nước nhà. Hiện nay chúng ta vẫn còn một cái nhục là nhục mất
nước”.
Trên đường, tôi bị viêm phổi nặng, cứ ngỡ không qua khỏi. Đường đi lúc
đó muôn vàn khó khăn. Bởi đoàn chúng tôi gần như tiền trạm. Có một kỷ
niệm vui mà tôi nhớ mãi. Khi đoàn đến vùng sông Re thuọc Quảng Nam, vì
đói quá tôi đem một bộ đồ bà ba đen ra buôn người dân tộc đổi một chó
về làm thịt. Người Bắc rất thích thịt chó, còn người Nam trước đây ít
ăn. Anh em trạm giao liên có cho tôi một lon thịt heo nhưng do không có
muối ướp nên bị hôi. Tôi đem thịt chó còn lại trộn với thịt heo để
dành. Sang ngày hôm sau, mở lon thịt ra thị thật bất ngờ: thịt heo
không còn mùi hôi nữa! Nghĩa là nhờ một chất đạm đặc biệt trong thịt
chó đã khử mùi hôi của thịt heo. Một phát hiện thú vị. Tôi liền đi khoe
với anh em (cười sảng khoái)…
-Thưa Thiếu tướng, Thiếu tướng gặp ai đầu tiên và nhận nhiệm vụ gì khi trở lại Nam Bộ?
-Người đầu tiên tôi gặp là anh Mười Cúc-Nguyễn Văn Linh. Tôi về Nam một
thời gian thì Trung ương Cục quyết định thành lập Ban Quân sự Miền, do
anh Trần Văn Quang làm trưởng ban. Tôi được phân công làm trưởng ban
tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền, sau được đề bạt làm
phó tham mưu trưởng Miền phụ trách tình báo, đặc công, biệt động. Công
việc của tôi dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Quân
giải phóng miền Nam, mà cụ thể là các anh Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn
Thái, rồi Phạm Hùng, Trần Văn Trà.
-Thiếu tướng đánh giá thế nào về vai trò của công tác tình báo trong toàn cuộc chiến?
-Qua bảy năm thực hiện Hiệp định Genevè, lực lượng tình báo của ta bị
thất bại rất nặng. Chính quyền Ngô Đình Diệm triệt phá và bắn giết, bỏ
tù hàng loạt cán bộ tình báo. Do đó, khi tôi trở về Nam cũng là lúc ta
bắt tay xây dựng lại ngành tình báo. Bằng cách tăng cường cán bộ từ Ban
Địch tình. Lợi dụng sơ hở của địch do mâu thuẫn nội bộ của chúng, ta đã
giải thoát cán bộ tình báo đang bị tù đày, bố trí hoạt động trở lại. Từ
đó, tìm cách đưa các chiến sĩ tình báo len vào các cơ quan đầu não của
địch để khai thác tin tức, tư liệu như: Tòa Đại sứ Mỹ, Phủ Tổng thống,
Bộ Tổng tham mưu, Đặc ủy Trung ương tình báo, Hạm đội 7,… Có thể nói,
ngành tình báo đã cung cấp những tin tức kịp thời phục vụ đắc lực cho
việc chỉ đạo chiến lược của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Trung ương Cục
và Bộ Chính trị Trung ương Đảng trong việc chỉ đạo chiến tranh.
Như bắt được “mạch”, câu chuyện giữa vị tướng và tôi càng lúc càng thân
tình, cởi mở. Nụ cười “lộ diện” nhiều hơn trên khuôn mặt cương nghị ẩn
dưới chiếc mũ diềm đen và cặp kính màu mà theo ông nó giúp che chắn,
bảo vệ cơ thể tốt hơn. Có lẽ phần nào nhờ vậy, ở giữa tuổi thất tuần,
trông ông vẫn rất “phong độ”. Nếu chưa biết ông mà tình cờ gặp, khó ai
ngờ rằng đây là con người từng nhiều năm nằm rừng ngủ núi, cả thời
chiến lẫn thời bình. Trong giờ “giải lao” giữa câu chuyện, vị tướng cho
tôi xem một số tấm ảnh kỷ niệm thời còn trẻ. Ông bảo:
-Tôi được khen là người có thân hình khỏe đẹp. Tôi ghiền chơi thể thao
lắm, nhất là bóng đá. Chỉ khi ra trận thì thôi, chứ lúc ở chỉ huy sở,
tôi tranh thủ tập luyện và lao động chân tay. -Đầu năm 1973, Thiếu tướng là phó trưởng Đoàn đại biểu Quân sự Chính
phủ cách mạng miền Nam trong Ban Liên hiệp Quân sự bốn bên Trung ương
vào Tân Sơn Nhất thực thi Hiệp định Paris. Thiếu tướng còn nhớ thành
phần của đoàn khi đó gồm những ai? Và ấn tướng nào đáng nhớ khi đặt
chân trở về Sài Gòn?
-Chúng tôi vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hiệp Quân sự bốn bên thật
giống như Quan Công thời Tam Quốc đi dự hội Bàn Đào. Xung quanh kẻ địch
luôn tìm cách bao vây, uy hiếp tứ bề (cười). Một ngày đầu tháng Giêng
năm 1973, tại Sở chỉ huy Miền, sau khi nhận chỉ hụy của Trung ương, tôi
với anh Trần Văn Trà cùng bàn bạc chọn nhân sự, phân công nhiệm vụ,
chuẩn bị tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc, dự kiến tình huống
bất trắc… Tôi thay anh Trà chỉ huy thực hiện mọi công việc. Còn anh Trà
lo Bộ Tư lệnh Miền để bàn phối hợp đấu tránh giữa chiến trường với bàn
hội nghị.
Anh Trần Văn Trà là trưởng đoàn, lúc đó mang quân hàm Trung tướng. Các
phó trưởng đoàn gồm Đại tá Võ Đông Giang, Đại tá Đặng Văn Thu tức Đoàn
Huyên sau này là Thiếu tướng, và tôi. Để giữ bí mật theo yêu cầu của
Trung ương, lúc đó tôi lấy tên là Trần Quốc Minh, mang quân hàm Đại tá.
Đoàn còn có các ủy viên gồm các anh: Nguyễn Văn Sĩ, Nguyễn Văn Hoàn,
Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Tư cùng nhiều đồng chí ở
các bộ phận khác. Ngoài nhiệm vụ phó trưởng đoàn, tôi còn phụ trách
trưởng Tiểu ban hai bên.
Theo thỏa thuận, ngày 28 tháng 11 năm 1973, đoàn vào Sài Gòn bằng máy
bay Mỹ lên đón tại sân bay Thiện Ngôn ở phía Bắc Tây Ninh. Nơi đây vốn
là căn cứ của một chiến đoàn Mỹ chuyển giao cho quân đội Sài Gòn và bị
ta đánh chiếm trong chiến dịch Nguyễn Huệ hồi năm 1972. Bên cạnh đó, đề
phòng sự phản trắc của địch, ta chuẩn bị thêm một địa điểm khác cho
đoàn. Đó là sân bay Lộc Ninh ở phía Bắc Bình Long, sát biên giới cam,
cũng được giải phóng năm 1972.
-Vì sao cuối cùng đoàn lại xuất phát tại Lộc Ninh?
-Vì do địch giở trò phá hoại. Đúng như dự kiến, đến giờ hẹn, máy bay
lên thẳng Mỹ không tới đón, mà thay vào đó là hai máy bay chiến đấu của
quân đội Sài Gòn. Chúng lượn quanh sân bay Thiện Ngôn và ném bom hù
dọa. Ngay tức khắc, ta lên án mạnh mẽ hành động lật lọng đó và quyết
định chuyển điểm hẹn sang Lộc Ninh. Ta đòi Mỹ phải trực tiếp chịu trách
nhiệm bảo đảm an toàn cho đoàn. Và ngày 1 tháng 2 năm 1973, ba đợt máy
bay Mỹ đầu tiên đã lên đón. Lộc Ninh là thị trấn đông dân, được xem như
thủ phủ của vùng giải phóng, nên đồng bào đến đưa tiễn đoàn đại biểu ta
rất đông. Cờ, hoa, biểu ngữ tấp nập như ngày hội. Cũng từ đó, Lộc Ninh
trở thành nơi đưa đón cho các chuyến bay liên lạc hàng tuần của đoàn ta
ở trại David với cơ quan lãnh đạo chỉ huy Miền.
-Và như vậy, Thiếu tướng cùng đoàn đại biểu đã đến điểm “hội Bàn Đào”
-Chưa hết. Chúng tôi vừa xuống máy bay, quân cảnh Sài Gòn chờ sẵn ở Tân
Sơn Nhất, liền cản ngăn và chửi rủa om sòm. Chúng bảo bọn Việt cộng ở
trong rừng bị máy bay bắn chết hết, chỉ còn một vài đứa ốm yếu xanh
xao, sao giờ lại có thăng to cao, mập mạnh, đỏ au thế này? Trong hồi ký
của mình về thời điểm đó, anh Trần Văn Trà cũng nói rằng anh tin ở khả
năng của tôi vì thôi thạo Sài Gòn, hiểu biết nhiều về địch và địch sẽ
nể nang tôi do dáng người bề thế, trắng, mập, chững chạc…
Lúc đó, trước sự truy cản của bọn quân cảnh Sài Gòn, tôi bảo anh Tư Bốn
tức Nguyễn Hữu Trí lại hỏi vì sao không cho mình đi. Tư Bốn tiến đến,
tên chỉ huy quân cảnh ngạc nhiên: “Ủa anh Tư, sao anh ở đây?”. Tư Bốn:
“Tao là trung tá tình báo Việt cộng”. Tên sĩ quan này vốn mắc nợ tiền
Tư Bốn khi anh còn hoạt động bí mật ở Sài Gòn, nên hắn ngại liền giục
bọn lính: “Thôi, tụi bay để anh Tư đi”.
-Đã gần hai mươi lăm năm trôi qua, Thiếu tướng còn nhớ gì về hình ảnh trại David ở Tân Sơn Nhất?
-Trước đó, nó là doanh trại của không quân Mỹ, nằm sát góc tây nam sân
bay. Nghe nói, David vốn là tên của người lính Mỹ đầu tiên chết ở miền
Nam Việt Nam. Khu doanh trại có hình chữ V, gồm ba dãy nhà gỗ quây quần
thành chữ U. Trong lòng chữ U có vài căn nhà xây trệt dùng làm nơi sinh
hoạt tập thể. Đường nội bộ trán nhựa, chạy giữa các dãy nhà. Có sân
quần vợt, bóng rổ, bóng chuyền. Tôi nhớ anh Lê Đức Thọ và Phạm Hùng
từng nói vui rằng, trại David là “vùng giải phóng đầu tiên của ta tại
Sài Gòn” Hai đoàn đại biểu quân sự miền Bắc và miền Nam của ta ở đây
hơn hai năm. Khi Sài Gòn vừa được giải phóng, trại David trở thành “đại
bản doanh” đầu tiên của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đối với tôi,
trại David là điểm dừng chân đầu tiên khi trở về quê hương sau gần hai
mươi năm xa cách. -Không những là tướng chỉ huy tình báo,
Thiếu tướng còn là tướng chỉ huy trận mạc. Trong Chiến dịch Phước Long
mở màn cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975, xuất hiện giai
thoại “Ba ông giải phóng hai bà” nghĩa là sao, thưa Thiếu tướng tướng?
-(Cười) Ba ông là Năm Thạch tức Hoàng Cầm, Năm Ngà tức Nguyễn Minh Châu
và Ba Trần là tôi. Ha bà là… Bà Đen và Bà Rá. Tôi là người trực tiếp
chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen ở Tây Ninh, một trung tâm viễn thông
chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là điểm chỉ đường cho B52 cùng
các loại máy bay hiện đại. Đồng thời, lực lượng do tôi chỉ huy còn thu
hút hỏa lực đối phương là Lữ đoàn Biệt kích dù 81 và hai phần ba phi cơ
chiến đấu F5E Vùng 3 chiến thuật; kiềm chế Sư đoàn 25 bộ binh; phối hợp
cùng cánh quân anh Năm Ngà đang đánh Tánh Linh, Võ Đắc với Sư đoàn 18
của địch; ngăn chặn không cho các lực lượng đối phương yểm trợ Phước
Long-trận địa của Quân đoàn 4 do anh Hoàng Cầm chỉ huy.
Chiến dịch Phước Long là chiến dịch mà lần đầu tiên ta giải phóng hoàn
toàn một tỉnh và giúp ta phát hiện rằng Mỹ không dám đưa quân sang nữa,
để đi đến kế hoạch tác chiến giành thắng lợi quyết định, giải phóng
hoàn toàn miền Nam.
Trong cuốn sách Một chương bi thảm của Dương Hảo do Nhà xuất bản Quân
đội nhân dân ấn hành, Đại tá Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận ngụy
Phạm Bá Hoa đã cay đắng nói rằng: “Cái chính là thất bại Phước Long đã
nói lên thế và lực của quân lực cộng hòa. Chỉ mới đánh một điểm ma đã
không còn lực để đối phó, hỏi vị đánh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Phước
Long là sự kiện nói lên khá rõ hiệu quả chiến lược “Việt Nam hóa” đã
thực hiện trong sáu năm qua. Trước đây, quân đội cộng hòa qua được
nhiều hiểm nghèo là nhờ vào cứu viện của Hoa Kỳ. Họ đã cung cấp đủ mọi
trang bị bù đắp tổn thất, đã chi viện hỏa lực hùng hậu, mãnh mẽ, thậm
chí cả xung lực mới đủ sức chống đỡ. Nay trước thất bại đau đớn, mất cả
một tỉnh mà Mỹ vẫn làm ngơ, mặc dầu ông Thiệu đã nhiều lần gặp Martin
yêu cầu Mỹ can thiệp. Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa cũng đã chính
thức gởi công hàm, rồi tướng Khuyến đã điện đàm trực tiếp với Xmit
(Trước cơ quan DAO)-Tất cả đều là con số không”.
-Hình như những năm đầu của thập niên 1970, Thiếu tướng có đi làm nhiệm vụ quốc tế…
-Có. Tôi sang nước bạn làm nhiệm vụ hai năm, từ 1970-1972. Nhưng… đây là bí mật quốc gia.
-Được biết, Thiếu tướng là vị chỉ huy trực tiếp lực lượng vòng trong
gồm đặc công và biệt động Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Thiếu
tướng còn nhớ gì về diễn biến tình hình lúc đó?
-Trước thắng lợi như chẻ tre của quân ta khắp các chiến trường, cũng
như nắm được tình hình suy yếu cả tài lẫn lực của đối phương, Bộ Chính
trị và Quân ủy Trung ương đã họp thông qua kế hoạch giải phóng Sài Gòn
ngày 24 tháng 4 năm 1975. Từ ngày 21 đến 25 tháng 4, các cánh quân, các
đơn vị đã đến Sở Chỉ huy chiến dịch nhận nhiệm vụ, mục tiêu. Bộ Tư lệnh
chiến dịch gồm các anh: Tư lệnh Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, các
Phó tư lệnh: Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh và Đinh Đức Thiện.
Tôi nhận nhiệm vụ chỉ huy lực lượng vòng trong. Anh Nguyễn Văn Linh phụ
trách phong trào vận động quần chúng nổi dậy. Anh Võ Văn Kiệt làm công
tác tiếp quản thành phố. Anh Lê Đức Thọ, thay mặt Bộ Chính trị Trung
ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo chung.
-Nhiệm vụ cụ thể của lực lượng vòng trong do Thiếu tướng phụ trách là gì?
-Nhiệm vụ chủ yếu của các chiến sĩ đặc công và biệt động là đi tiên
phong chiếm giữ và bảo vệ an toàn mười sáu cây cầu, mở đường cho các
cánh quân; đồng thời “lót ổ” đánh chiếm ba mươi hai cơ sở kho tàng như:
kho xăng, kho gạo, nhà máy điện, nước, khu vực lưu trữ hồ sơ của Đặc ủy
Trung ương tình báo địch,… ngăn chặn sự phá hoại của địch trước khi
chúng hoàn toàn thất thủ.
-Mỗi lần cầm quân ra trận, Thiếu tướng thường suy nghĩ gì, nhất là trận đánh đó có thể gay cho ta nhiều tổn thất?
-Đã ra trận thì phải chấp nhận hy sinh. Không chiến thắng nào không
phải trả giá. Nhưng điều quan trọng là làm sao hạn chế tối đa thương
vong cho chiến sĩ. Người chỉ huy phải xem sự hy sinh của chiến sĩ cũng
là nỗi mất mát của chính mình.
-Với Thiếu tướng, có khi nào gặp phải sự thất bại không?
-Sao lại không! Tôi không bao giờ tán thành chuyện “trăm trận trăm
thắng” cả. Bởi có thất bại mới có thành công. Và không ít lần chính tôi
phải ôm đầu máu, cõng thương binh rút lui về.
-Xin cảm ơn sự thẳng thắng của Thiếu tướng.
-Trên chiến trường, chẳng có con đường nào dọn sẵn cho anh đâu!
-Về trường hợp của tướng Dương Văn Minh, trong sự nghiệp chính trị của
mình, ông ta đã hài lần lên đến đỉnh cao quyền lực. Lần thứ nhất, đứng
đầu Hội đồng Quân nhân, lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, lên làm quốc
trưởng. Lần thứ hai, thay Trần Văn Hương làm tổng thống cuối cùng của
Việt Nam Cộng hòa. Có ý kiến cho rằng, cả hai lần nắm quyền ở Sài Gòn,
tướng Dương Văn Minh đề làm lợi cho cách mạng: phá ấp chiến lược và đầu
hàng vô điều kiện để tránh cho thành phố khỏi đổ nát. Thiếu tướng nghĩ
sao?
-Trước khi đầu hàng vô điều kiện, Dương Văn Minh có thông qua tổ điệp
báo của ta liên lạc với trại David-Tân Sơn Nhất, đề nghị thành lập
chính phủ ba thành phần. Tôi thừa lệnh anh Phạm Hùng, thảo liên tục mấy
công văn trả lời dứt khoát rằng: chỉ có đầu hàng vô điều kiện mà thôi!
Theo tôi, nếu ông Dương Văn Minh đầu hàng vào tối 28 sáng 29 tháng 4
năm 1975 để tránh cho Sài Gòn khỏi bị tàn phá, thì có thể đó là hành
động đáng ghi nhớ. Nhưng, đằng này ông ta đầu hàng khi đại quân chỉ một
guờ sau đã tiến chiếm đến dinh Độc Lập rồi.
-Thưa Thiếu tướng, kỷ niệm nào đáng nhớ của riêng bản thân Thiếu tướng ngày đầu tiên đặt chân vào trung tâm Sài Gòn giải phóng?
-Niềm xúc động, hân hoan của hàng triệu đồng bào chiến sĩ sau cuộc
chiến kéo dài hai mươi năm. Riêng bản thân tôi, nhiệm vụ cho Tổ quốc đã
hoàn thành. Đêm 30 tháng 4 năm 1975, vào khoảng gần một giờ khuya,
trước sự có mặt đông đủ của nhiều đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, ủy
viên Trung ương Đảng và các tướng lĩnh tham gia chiến dịch, anh Phạm
Hùng đã nói: “Bây giờ thắng lợi rồi, anh Trần Văn Trà đã hoàn thành
nhiệm vụ. Với sự có mặt của các đồng chí tham gia chỉ huy chiến dịch,
tất cả đều nhất trí thăng anh Trần Văn Trà hàm Thiếu tướng, nhận nhiệm
vụ phó chủ tịch Ủy ban Quân quản về an ninh và quốc phòng, kiêm tư lệnh
Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố”. Một vinh dự mà tôi không hề nghĩ đến!
-Về mạng lưới tình báo A22 của Vũ Ngọc Nhạ-Huỳnh Văn Trọng trước đó, Thiếu tướng có nắm được gì?
-Khi tôi có mặt ở miền Nam thì tám mươi phần trăm mạng lưới tình báo
này đã bị địch phát hiện và truy bắt. Một điều mà tôi lấy làm tiếc là
về nhân vật Huỳnh Văn Trọng. Tôi muốn nói về cách đối xử không được
thỏa đáng của ta đối với công lao của ông. Huỳnh Văn Trọng là một nhân
sĩ trí thức yêu nước.
-Với kinh nghiệm dày dạn của một nhà tình báo lão thành, theo Thiếu
tướng đâu là thế mạnh cơ bản và quyết định sự thành công của ngành tình
báo Việt Nam?
-Lòng yêu nước. Chiến sĩ tình báo của ta không nhận được nhiều đôla như
nhân viên CIA hay điệp viên các quốc gia khác. Mà sự hy sinh lại hết
sức thầm lặng và lớn lao để góp phần tạo nên những chiến thắng. Biết
bao chiến sĩ tình báo vô danh đã mãi mãi ngã xuống trong lòng địch. Đôi
lúc, họ còn phải gánh chịu những nỗi đau không gì bù đắp nổi (trầm tư
hồi lâu). Có người vì mất liên lạc với chỉ huy, đồng đội song vẫn lặng
lẽ hoạt động với tinh thần tự giác, xả thân, nhưng lại cả đời phải chịu
đựng nhiều thương tổn! Là một chiến sĩ tình báo, tôi hiểu hơn ai hết
nỗi đau ấy. Tôi cũng tự hào trong hàng ngũ đã có những chiến sĩ lập
công lớn được Nhà nước phong tặng anh hùng như các anh Tư Bốn, Bảy
Vĩnh, Hai Trung, chị Ba, chị Tư Trầu, chị Sáu Biết…
-Nhiều người đã từng nói và trên đây Thiếu tướng cũng nhắc lại rằng,
cuộc chiến tranh của chúng ta là chiến tranh nhân dân, mọi thành bại do
nhân dân quyết định. Vậy vai trò nhân dân ở đây cụ thể hóa thế nào,
thưa Thiếu tướng?
-À, tôi xin đơn cử một số thí dụ thế này. Hồi đánh Pháo, cánh quân báo
hay đi về một làng ở Bửu Long, nay là điểm du kích thuộc tỉnh Đồng Nai.
Ngày nọ, địch phát hiện, liền đem lính phục kích trên cánh đồng. Biết
khi trời tối chúng tôi sẽ về, một bác nông dân là cơ sở cách mạng, xách
đèn dầu giả bộ đi soi ếch. Bác đi vào ổ phục kích, đạp lên đầu bọn lính
Pháp đang nằm dưới ruộng. Chúng đứng dậy xí xô xí xà chửi bới om sòm.
Thế là đằng xa, chúng tôi… thoát êm! Hay lần nọ ở Biên Hòa, chúng tôi
sắp bị địch bao vây mà không biết. Một bà bán hàng biết lính đến, bảo
đứa con mình giả bộ chạy trước, bà cầm roi chạy sau quất rượt về phía
chúng tôi đang trú quân. Chạy ngang qua, bà bảo các chú đi nhanh đi chớ
bọn hiến binh, biệt kích sắp bao vây thành phố rồi…
Rất nhiều chuyện như thế. Thử hỏi nếu không dựa vào sự che chở, nuôi
nấng, tiền bạc của nhân dân thì làm sao đánh địch được? Trong cuộc tổng
tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, cũng nhờ sự che chở, giúp đỡ, tiếp tế,
tải thương của nhân dân mà nhiều chiến sĩ, đơn vị mới thoát được vòng
vây của địch, trở về chiến khu.
-Vốn là một nhà tình báo quân sự, vì sao Thiếu tướng được đề bạt làm
thứ trưởng Bộ Năng lượng kiêm trưởng Ban chỉ đạo xây dựng công trình
thủy điện Trị An? Khi nhận nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ này, Thiếu tướng
có e ngại?
-Như tôi đã nói, tôi là người vốn rất thích ngành xây dựng. Sau giải
phóng, tôi làm tư lệnh Quân khu 7 kiêm tư lệnh các lực lượng võ trang
Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi ra Bắc học ở Học viện Chính trị cao cấp
Nguyễn Ái Quốc. Một lần, Tổng bí thư Lê Duẩn đến thăm, có nói đại ý:
Chúng ta thắng lợi, giành được độc lập là sướng rồi. Nhưng có độc lập
mà nước còn nghèo, dân còn đói thì chúng ta cũng chẳng sướng ích gì…
Lời của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã đem lại cho tôi nhiều suy nghĩ.
Sau khi tốt nghiệp, tôi về Thành phố Hồ Chí Minh xin chuyển sang công
tác xây dựng kinh tế, làm phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố. Trước
tình hình thiếu điện trầm trọng, mà muốn công nghiệp hóa thì điện lực
phải đi trước một bước, nên tôi đề ra phương án xây dựng công trình
thủy điện Trị An, được toàn Hội nghị Thành ủy lần thứ 4 khóa III nhất
trí. Anh Võ Văn Kiệt thay mặt cho nhân dân miền Nam đề nghị với Trung
ương cho xây dựng thủy điện Trị An, với phương châm “Nhân dân-Nhà nước
cùng làm”. Sau một thời gian nghiên cứu với sự tham vấn của các chuyên
gia trong và ngoài nước, tôi cùng nhiều đồng chí cách mạng lão thành đã
lặn lội khắp nơi vận động, tập hợp sức người sức của trong nhân dân.
Đồng thời, tranh thủ sự viện trợ quốc tế của các nước anh em, nhất là
Liên Xô.
-Bây giờ mỗi lần trở lại Trị An, điều gì thường gợi lên trong lòng Thiếu tướng trước tiên…
-Tôi không bao giờ quên những hình xảnh xúc động như: một ca sĩ nổi
tiến trước khi mất đã viết di chúc hiến lại một nửa gia sản cho công
trình thủy điện Trị An. Một em bé đã đập con heo đất. Một ông già mù ở
Bắc Mỹ Thuận khi hay tin đoàn vận động cho Trị An đi qua, đã vét túi
mình được 10 đồng, liền đem 5 đồng đến góp vào thùng. Và biết bao hình
ảnh đáng nhớ khác nữa vì dòng điện, vì tương lai đất nước. Gần một trăm
công nhân đã ngã xuống ở Trị An vì sốt rét ác tính. Sự tự di dời của
hàng trăm hộ dân không chút phiền hà. Tấm lòng cao cả, nhiệt thành của
các chuyên gia Liên Xô…
-Thời ở B2, Thiếu tướng sống gần gũi với ai nhiều nhất?
-Nguyễn Chí Thanh và Phạm Hùng. Hai anh rất quí tôi và tôi cũng hết sức thương yêu các anh.
-Thiếu tướng còn nhớ gì về hình ảnh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
-Một nhà lãnh đạo, một vị tướng tài ba và giản dị, khiêm tốn, có sức
thuyết phục lớn. Anh rất được Bác Hồ và Trung ương tin cẩn khi giao
trọng trách vào lãnh đạo cuộc chiến đấu chống Mỹ ở miền Nam.
-Thế còn cố Thủ tướng Phạm Hùng?
-Anh Phạm Hùng cũng là một cán bộ hàng đầu trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, an ninh quốc phòng, từng được giao nhiều trọng trách trong
Đảng, chính phủ và quân đội, đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp
cách mạng dân tộc. Anh là nhà lãnh dạo có tầm nhìn xa về chiến lược, là
một con người thẳng thắn, khẳng khái, đầy bản lĩnh, được truyền tụng
qua nhiều giai thoại. Khianh còn rất trẻ, bị địch bắt giam ở Mỹ Tho.
Anh bị thực dân Pháp kết án tử hình hai lần. Nghe nói khi tòa xử kết án
tử hình anh lần thứ hai, anh dõng dạc nói thẳng vào mặt bọn quan tòa
rằng: Mỗi người chỉ có một cái đầu, lần trước các ông đã xử tôi tử hình
rồi, còn đầu nào nữa mà lại đòi chém! Chẳng lẽ còn cái đầu “con c” cũng
muốn chém luôn sao?
Nhờ phong trào đấu tranh của quần chúng và Hội Hồng thập tự Pháp vận
động chống án tử hình cho anh, nên anh được giảm xuống án chung thân
khổ sai đày đi Côn Đảo. Ở trong tù, Phạm Hùng luôn là tấm gương đấu
tranh kiên cường, là ngọn cờ đầu đối mặt với chế độ khắc nghiệt lao tù.
Thời chống Mỹ, được làm việc bên anh, tôi học được rất nhiều điều từ
con người anh hùng ấy. Anh hay bảo, trong công việc phải sáng tạo,
không được phụ thuộc hoàn toàn người khác.Có lần, anh còn bảo: “Không
được nghe lời vợ”. Tôi nói vui: ”Làm gì có vợ ở đây mà nghe lời!”. Anh
cười: “Độc lập rồi hẳn biết”. Mà đúng thật. Hòa bình rồi, tôi thấy
thiên hạ thường đi cửa sau, bằng cách đút tiền của lo lót thông qua các
bà vợ…
Anh Phạm Hùng đã ra đi nhưng tên tuổi anh gắn liền với những chiến công
đánh Mỹ, với xây dựng đất nước như công trình thủy điện Trị An, vẫn
sống mãi trong ký ức nhân dân, nhất là nhân dân phía Nam Thành phố Hồ
Chí Minh.
-Thưa Thiếu tướng, từ tướng tình báo đến tướng kinh tế, đóng góp nhiều công lao cho đất nước, vậy còn với gia đình…
-Như các anh em khác, gia đình thì phần lớn nhờ vào bà nhà. Bà ấy
nguyên là cán bộ binh vận. Chúng tôi gặp nhau trong chiến khu từ năm
1946, thương yêu nhau, quyết định báo với cơ quan hai bên đi đến thành
hôn. Vừa là đồng chí, vừa là vợ chồng, chúng tôi giúp đỡ nhau đi suốt
hai cuộc kháng chiến lẫn thời bình. Bốn đứa con chúng tôi, hai trai,
hai gái đều đã trưởng thành và đều là quân nhân.
-Lúc Thiếu tướng ở chiến khu, bà nhà sống tại đâu?
-Ở quê nhà Hóc Môn. Khi tôi vào làm việc ở trại David-Tân Sơn Nhất, sau
thời gian điều tra gắt gao, địch phát hiện lai lịch tôi và gia đình.
Biết mình đã bị lộ, tồi liền bí mật điện gấp cho bà ấy nhanh chóng đưa
gia đình vào chiến khu. Và đúng như dự đoán, gia đình tôi chuyển đi đêm
trước thì sáng hôm sau mật vụ ập đến nhà…
-Thời trẻ, Thiếu tướng “phong độ” như vậy, ngoài bà nhà ra, hỏi nhỏ Thiếu tướng, có cô gái nào “chết” vì Thiếu tướng không?
-(Cười). Sao lại không? Thời tôi ra Bắc học tập, nhiều cô gái Hà Nội
rất xinh đẹp là em gái các bạn đồng đội, có cảm tình với tôi. Nhưng tôi
không dám bước tới, vì nhiệm vụ rất nặng nề và đặc biệt là tôi sắp về
Nam chiến đấu.
-Xin cảm ơn Thiếu tướng đã dành cho buổi trò chuyện cở mờ và thân tình.
-Nói chuyện về quá khứ để hướng đến tương lai là điều tốt. Qua đây, cho
tôi gởi lời chào thân ái đến đồng bào, đồng chí, nhất là các chiến sĩ
tình báo, đặc công, biệt động Sài Gòn nhân ngày 30 tháng Tư lịch sử.
Trước khi chia tay, tướng Trần Văn Danh đưa tôi đi xem một số kỷ vật
trong căn phòng lưu niệm đầy tự hào của ông ở cư xá Bắc Hải. Từ những
khẩu súng sáng choang như còn phảng phất mùi chinh chiến đến bức tranh
toàn cảnh Nhà máy thủy điện Trị An. Từ các tượng danh nhân đến những
tấm huân chương công trạng… Tất cả được bao bọc cẩn thận, đặt thật
trang trọng. Vị tướng già hóa thành người thuyết minh rất có duyên đối
với các “bảo vật” của mình.
Tân Bình, tháng 4 năm 1997 |