Red brotherhood ta war_Phần 5 PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Friday, 28 March 2008

Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia, 1977-1978

Phải thấy rõ rằng từ tình hình trên đây, vấn đề chủ yếu thuộc về phía Campuchia chứ không phải phía Thái Lan. Tuy vậy, cuộc va chạm tại Noi Pa-rai minh hoạ việc những va chạm nhỏ, với nguồn gốc chẳng ai biết đến, có thể leo thang như thế nào để thành những đối đầu quy mô đầy dủ, khi cả hai bên có những thái độ không khoan nhượng. Nó cũng gợi cho ta nghĩ đến một điều gì đó rất gần với việc trên đây, cũng đã xảy ra ở biên giới Việt Nam, và đó chính là điều mà Heder đã nghĩ đến. Anh ta viết rằng, khi ngày tháng trôi qua sau lúc các cuộc hội đàm giữa Việt Nam và Campuchia bị đổ vỡ tháng 5 năm 1976, cả hai bên đã trở nên “ngày càng không còn kiên nhẫn với sự bế tắc nữa”, và hậu quả của tình hình đó có lẽ là sự căng thẳng tăng lên dọc theo biên giới. Anh ta cũng cho rằng cuộc xung đột quy mô đầy đủ là kết quả của tính không khoan nhượng của cả hai bên.


Nhưng Heder cũng đưa tin rằng các uỷ ban liên lạc biên giới đã xử lý một cách thành công các rắc rối trên biên giới Việt Nam-Campuchia trong phần thứ hai của năm 1978. Những rắc rối đó “rõ ràng là không thường xuyên và quy mô nhỏ”. Bây giờ chúng tôi được biết rằng chế độ Campuchia lúc đó bận vào cuộc đấu tranh quyền lực nội bộ rất mãnh liệt. Rồi, tiếp theo thắng lợi của phái Pol Pot, tình hình đã đồng thời xấu đi trên tất cả các biên giới của Campuchia. Và ngay dù cho Hà Nội có ngày càng trở nên kém bình tĩnh trong việc xử sự với Phnôm Pênh đi nữa (điều không chắc đã xảy ra), cũng rõ ràng không phải những hành động của phía Việt Nam đã khởi xướng một mức mới của xung đột.


Trong ba tuần đầu của tháng giêng năm 1977, các lực lượng Campuchia tiến hành những cuộc tiến công vũ trang vào các nơi định cư dân sự trong 6 của 7 tỉnh biên giới. Những cuộc tiến công tồi tệ nhất là trong các tỉnh Kiên Giang và An Giang, chạy từ sông Mê Công ra đến bờ biển. Các tỉnh đó cũng đối diện với khu Tây Nam của Campuchia, lúc đó dưới sự kiểm soát của Ta Mok, đồng minh khu vực chính của Pol Pot. Tháng 5, tỉnh lỵ An Giang, thị xã Châu Đốc, và thành phố bờ biển Hà Tiên (số dân 30.000) đã bị trọng pháo Campuchia bắn phá. Một năm sau, khi cuộc tranh chấp được đưa ra công khai, chính phủ Việt Nam cho rằng quân Khmer đỏ trong thời gian đó đã “phạm những tội ác cực kỳ vô nhân đạo, hiếp dâm, lôi bào thai ra khỏi bụng mẹ, mổ bụng người lớn, thiêu sống trẻ con”. Tuy vậy chính phủ Việt Nam (trái với chính phủ Thái) đã giữ một sự yên lặng cẩn trọng lúc đó, và người ta có thể có xu hướng xem đó như chỉ là tuyên truyền. Nhưng những thuyền nhân Việt Nam đến các nước khác từ khu vực đó đã tin về đánh lớn và về những tàn bạo lan tràn của Khmer đỏ. Sau đó, những người tị nạn Khmer từ vùng biên giới đó cũng xác nhận rằng phía Campuchia đã tiến công Việt Nam. Về vấn đề này, chế dộ Pol Pot không cải chính những lời buộc tội và cũng không lên án người Việt Nam khởi xướng cuộc chiến đấu lúc đó.


Như vậy, rõ ràng là chính hành dộng quân sự của phía Campuchia đã đẩy đến cuộc đụng đầu quy mô đầy đủ giữa Việt Nam và Campuchia năm 1977-1978. Đây không phải là sự giải thích theo cách suy nghĩ riêng của chính chúng tôi: nó là một cách nhìn mà các chuyên gia phương Tây thù địch với chính phủ Hà Nội, cũng tán thành. D.R.Sar Desai chẳng hạn, tin vào những luận điệu về “Liên bang Đông Dương” (tuy không đưa ra được bằng chứng nào để ủng hộ những luận điệu đó) và lập luận rằng “chế độ Pol Pot chắc chắn được bào chữa khi cố dùng mọi cách để đẩy lùi việc biến Campuchia thành một vệ tinh của Việt Nam". Tuy vậy khi anh ta đi vào chi tiết của cuộc tranh chấp bbiên giới, thì anh ta kết luận: “… Người Campuchia rõ ràng quyết định rằng tiến công là hình tức tốt nhất của phòng thủ…” (xem “sự tìm kiếm an ninh của Việt Nam” của D.R Sar Desai-ND). Như vậy, ngay dù cho những ý nghĩ về một Liên bang Đông Dương còn lảng vảng ở Hà Nội thì cũng không phải hành động xuất phát từ các ý nghĩ đó dẫn đến cuộc xung đột.


Heder thừa nhận rằng chính phủ Campuchia chịu trách nhiệm về sự khởi xướng chiến sự trong năm 1977. Anh ta nói: tháng giêng năm 1977 người Campuchia quyết định “tăng sức ép” đối với Việt Nam bằng việc đưa quân để “biểu lộ một sự có mặt của Campuchia” trên các khu vực nằm trong tay của Việt Nam mà phía Campuchia đã yêu sách tại cuộc họp tháng 5 năm 1976. Khi người Việt Nam trả lời việc “tuần tra tăng cường” đó bằng củng cố các vị trí quân sự của họ, thì phía Campuchia “bắt đầu khởi xướng những hoạt động quân sự" trên biên giới tháng 4 năm 1977. Vào giai đoạn này, Heder nói, người Campuchia không còn quan tâm đến khu vực mà họ đã đòi cho Campuchia tháng 5 trước, nhưng cố “chứng minh rằng người Campuchia có đủ khả năng đánh vào lãnh thổ Việt Nam". Không có sự khiêu khích nào của Việt Nam hoặc tiền lệ nào được nhắc tới để làm bằng cớ cho bất cứ hành động leo thang nào của phía Campuchia. Heder giải thích việc đó như là một bộ phận “chiến lược thương lượng” của Campuchia sau khi không thành công trong việc ký một hiệp ước: “Có lẽ người Campuchia thấy rằng họ nên phá vỡ bế tắc bằng việc làm cho người Việt Nam phải chịu nhiều tổn phí hơn… vì phải dựa vào sức mạnh quân sự lớn hơn của họ để giữ nguyên trạng… Những cuộc tiến công quân sự do Campuchia khởi xướng đó là một phận của chiến lược thương lượng. Người Campuchia không đưa ra những yêu sách nào mới về lãnh thổ và cũng không tìm cách vĩnh viễn chiếm bất cứ mục tiêu nào của các cuộc tiến công đó. Trái lại, họ vẫn tin rằng họ chỉ đáp lại xứng đáng điều mà họ xem như là sự xâm lược lâu đời và trên thực tế của Việt Nam chống lại lãnh thổ Campuchia (Xem “Cuộc xung đột Campuchia-Việt Nam" của Heder, tr.32-ND).

 

Như vậy, theo logic đảo điên hỗn loạn của Pol Pot (mà Heder không chỉ trích) thì những cuộc tiến công vũ trang vào lãnh thổ không tranh chấp của Việt Nam nhằm làm chỗ dựa cho một yêu sách về quyền đơn phương điều chỉnh biên giới có lợi cho Campuchia, là “phòng ngự” về tính chất. Do đó, không lấy gì làm lạ thấy rằng những hành động quân sự đó đã được Heder diẽn tả như một “chiến thuật thương lượng”, ngay dù cho chính phủ Campuchia chứ không phải Việt Nam đã cắt đứt thương lượng và không chịu tiếp tục lại. Bởi vì, như Heder đã giải thích, những nhà lãnh đạo Khmer đỏ hiểu rằng, “thương lượng” nghĩa là phía bên kia phải chấp nhận không điều kiện những yêu sách của họ. Và vì Pol Pot tin rằng ông ta là một bên đã bị thiệt thời trong cuộc tranh chấp nên việc Việt Nam không chịu cúi đầu trước những yêu sách của ông ta, ngay khi ông ta dùng hành động quân sự trên lãnh thổ Việt Nam để hỗ trợ, là một sự “xâm lược” chống Campuchia.


Người Việt Nam đáp lại những cuộc tiến công đó bằng việc xây dựng công cuộc phòng thủ biên giới, nhưng rõ ràng họ không tiến hành một cuộc phản công nào trong nửa đầu của năm 1977. Tin tức báo chí phương Tây lúc đó nói đến những cuộc xâm phạm lớn của Việt Nam vào Campuchia tháng 4 và tháng 5, nhưng những tin đó tỏ ra là nhầm lẫn bởi vì tường thuật sau đó của chế độ Pol Pot không hề nhắc đến. Theo Sách đen, người Việt Nam lúc đó còn đặt hy vọng của họ vào “những âm mưu” của tay sai bên trong Đảng Cộng sản Campuchia. Hoàng Túc, lúc đó là biên tập chính trị của báo Nhân Dân và là một uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, về sau tuyên bố rằng người Việt Nam đã đáp ứng một cách thụ động các cuộc tiến công ban đầu của Campuchia với hy vọng rằng sự kiềm chế đó sẽ làm cho một giải pháp bằng thương lượng trở nên dễ dàng hơn. Tiếp theo những cuộc xâm nhập ào ạt của Campuchia trong tháng 4 và tháng 5, ông Tùng cho biết, người Việt Nam vạch ra những kế hoạch dự phòng cho một cuộc phản công quân sự, nhưng họ vẫn còn hy vọng một giải pháp ngoại giao (xem bài của Nayan Chanda đăng trong Tạp chí Kinh tế Viễn Đông FEER ngày 21-4-1978-ND).


Ngày 7 tháng 6, người Việt Nam gửi một thư hoà giải cho Phnôm Pênh, đề nghị rằng một cuộc họp cấp cao nên được tổ chức để giải quyết vấn đề biên giới càng sớm càng tốt. Chính phủ Pol Pot bác bỏ đề nghị đó ngày 18 tháng 6, khẳng định rằng tốt hơn là để cho “một số thời gian trôi qua” truớc khi có bất cứ cuộc hội đàm nào. Trong khi chờ dợi, phía Campuchia đề nghị rút lực lượng hai bên ra khỏi các “khu vực tranh chấp”. Các cuộc tiến công của Campuchia vẫn tiếp tục ở biên giới (vào lúc Phnôm Pênh gửi thông điệp cho Hà Nội, Châu Đốc bị Campuchia tiến công bằng trọng pháo).


Khi sáng kiến đó bị thất bại, người Việt Nam chuyển sang lựa chọn trả đũa bằng quân sự. Tháng 7, tướng Giáp công khai đi xem xét vùng biên giới. Đây là một lời báo trước cho phía Campuchia phải ngừng tiến công, nhưng (xét theo nội dung của Sách đen) Pol Pot xem đó là một dấu hiệu nói lên việc Việt Nam chọn một chiến lược mới nhằm nuốt chửng Campuchia; với âm mưu chiếm Campuchia từ “bên trong” bị thất bại (do sự “cảnh giác” mẫu mực của chế độ Pol Pot), cho nên vào gữa năm 1977 họ buộc phải “vạch một kế hoạch cho một cuộc tiến công quy mô lớn” để chiếm từ ”bên ngoài”.


Đánh nhau mạnh lại xảy ra lần nữa ngày 24 tháng 9, ngay sau khi Pol Pot xuất hiện trở lại từ bóng tối và ngay trước cuộc đi thăm Bắc Kinh đắc thắng của ông ta. Mỗi bên cho bên kia chịu trách nhiệm về cuộc đánh nhau đó. Theo người Việt Nam, Khmer đỏ tiến công dọc tất cả biên giới của tỉnh Tây Ninh (nằm phía bắc Mỏ Vẹt) với bốn sư đoàn; nội dung tin này đã được các nguồn tin tình báo Mỹ ủng hộ. Theo Hoàng Tùng, đến lúc này người Việt Nam mới quyết định lấy sức mạnh chống lại sức mạnh khi họ tiến hành một cuộc phản công mạnh, tuy họ không tiến vào Campuchia. Tuyên bố tháng 12 năm 1977 của Campuchia nói rõ rằng các cuộc tiến công lớn đầu tiên xảy ra vào lúc đó; đó là một sự thừa nhận gián tiếp rằng cuộc đánh nhau trước đó là kết quả của các cuộc tiến công Campuchia. Tuyên bố cũng tố cáo người Việt Nam thâm nhập “hàng chục kilômét” vào lãnh thổ Campuchia, phạm những tàn bạo kinh khủng chống lại nhân dân, thiêu đốt thôn xóm, và cướp bóc hàng nghìn tấn gạo ngoài đồng và trong kho. Đánh nhau lớn tiếp tục cho đến tháng 11.


Rồi, ngày 16 tháng 12, rõ ràng là đến lượt người Việt Nam leo thang cuộc xung đột quân sự trên biên giới. Như có thể thấy trước, cả hai bên đưa ra những tường thuật rất mâu thuẫn nhau về điều đã xảy ra. Trong khi chấp nhận rằng quân của họ tiến công bằng lực lượng lớn (tin báo phương Tây đưa con số từ 30.000 đến 60.000 bộ binh với sự yểm trợ của xe tăng, máy bay và pháo lớn) sâu vào 40 kilômét trong lãnh thổ Campuchia, nhưng người Việt Nam cho rằng cuộc tiến công là để trả lời những cuộc lấn chiếm của Campuchia vào Việt Nam. Họ cải chính mọi mưu đồ chiếm đóng vĩnh viễn lãnh thổ Campuchia. Ba tháng sau, Hoàng Tùng mô tả những mục tiêu của họ như sau: “Trước hết là để đuổi lính Campuchia ra khỏi lãnh thổ chúng tôi và rồi để đánh đòn mạnh vào các sư đoàn của họ, để làm cho họ nhận thức được rằng chúng tôi không thụ động như họ tưởng và để nói với họ rằng họ nên chọn giải pháp khác. Đó không phải là tổ chức một cuộc đảo chính”. Cũng theo người Việt Nam, sau khi đạt mục đích, họ đã rút lực lượng của họ trở lại biên giới đầu tháng giêng năm 1978.


Nếu hành động đó là nhằm vào việc đưa các nhà lãnh đạo Khmer đỏ đi vào một lập trường kiềm chế hơn, như nững đe doạ chiến tranh công khai của Thái Lan đã làm tháng 8 trước đây, thì hành động đó là một thất bại đáng buồn. Phnôm Pênh đã trả lời bằng việc cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 31 tháng 12 và cuối cùng đưa ra toàn bộ cuộc tranh chấp giữa hai chế độ cộng sản ra công khai qua việc tiến hành một đợt tuyên truyền chống Việt Nam. Việc rút các lực lượng Việt Nam tháng giêng đã bị Phnôm Pênh xem như là bằng chứng ưu thế quân sự của Campuchia và tính chất yếu kém và hèn nhát của người Việt Nam.

 

Trong tuyên bố ngày 31 tháng 12, chính phủ Campuchia tuyên bố sự sẵn sàng tham gia thương lượng về xung đột biên giới “trong một tinh thần hữu nghị”. Nhưng khi người Việt Nam trả lời bằng cách yêu cầu hai bên “gặp nhau càng sớm càng tốt, ở bất cứ cấp nào, để cùng nhau giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước trong tinh thần hữu nghị anh em” thì người Campuchia từ chối. Một tuyên bố của Bộ thông tin Campuchia ngày 3 tháng giêng năm 1978 đòi người Việt Nam rút khỏi lãnh thổ Campuchia và đòi một hiệp định tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia như là điều kiện tiên quyết cho thương lượng: Người Việt Nam phải “trước tiên tạo một không khí hữu nghị và tin cậy lẫn nhau” trước khi chính phủ Campuchia dân chủ đồng ý thương lượng.


Tiếp theo việc rút quân của họ tháng giêng, người Việt Nam lại đề nghị thương lượng. Ngày 5 tháng 2 năm 1978 thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đề nghị chấm dứt ngay chiến sự trên biên giới, rút các lực lượng vũ trang của cả hai bên cách xa biên giới 5 kilômét, tổ chức một cuộc hội nghị để ký một hiệp ước “trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau trong biên giới hiện tại” và đạt một thoả thuận về “một hình thức thích hợp của sự bảo đảm và giám sát quốc tế”. Đề nghị này tương đương với những đề nghị của người Khmer tháng 6 trước, chỉ khác người Việt Nam nhấn mạnh vào “biên giới hiện có” chứ không phải “các lãnh thổ tranh chấp”. Họ cũng muốn thương lượng càng sớm càng tốt và sẵn sàng chấp nhận giám sát từ bên ngoài, cả hai điều đó đều không thể chấp nhận đối với Phnôm Pênh.


Phía Campuchia từ chối thảo luận những đề nghị đó với lý do rằng chúng không được chuyển đến Phnôm Pênh qua các con đường chính tức (sứ quán Việt Nam ở đó đã bị đóng cửa). Lúc đó người Việt Nam gửi một thư ghi rõ những đề nghị đó cho Ieng Sary qua đại sứ Lào ở Phnôm Pênh, nhưng Sary không nhận bức thư. Cuối cùng bản thân Pol Pot lên Đài phát thanh Campuchia Phnôm Pênh ngày 12 tháng 4 đưa ra trả lời của Campuchia. Ông ta lặp lại từ chối thương lượng của Campuchia dân chủ và tuyên bố “quyền” của Campuchia “đòi xét lại các văn kiện về biên giới và sửa đổi đường ranh giới trên đất và trên biển”, và “giải quyết lại vấn đề Campuchia Crôm”. Có thể cho rằng sự chấp nhận những điều kiện về chủ quyền của Campuchia là một điều kiện tiên quyết cho thương lượng.


Trong những tháng tiếp theo, bế tắc ngoại giao vẫn tiếp tục. Tháng 6 năm 1978, Bộ Ngoại giao Campuchia bào chữa cho việc Campuchia từ chối thương lượng bằng cách tuyên bố rằng những đề nghị của Việt Nam là nhằm “lừa dối dư luận thế giới” và đề nghị rút quân Campuchia 5 kilômét cách xa biên giới “tự động để cho Việt Nam thôn tính một vành đai lãnh thổ Campuchia rộng 5 kilômét”. Trong lúc đó thì cuộc xung đột quân sự tăng lên, một sự phát triển mà phía Campuchia công khai nhận trách nhiệm. Ngày 10 tháng 5, Đài phát thanh Phnôm Pênh tuyên bố rằng sau “thắng lợi” đối với người Việt Nam ngày 6 tháng giêng “chúng tôi không để cho người Việt Nam bắt đầu những cuộc tiến công thêm nữa chống lại chúng tôi, trái lại chúng tôi vẫn tiếp tục tiến công chống lại họ”.


Chiến tranh biên giới với Campuchia đã gây thiệt hại lớn cho Việt Nam năm 1977-1978. Theo thống kê mà Hà Nội công bố năm 1979, thì Khmer đỏ đã phá huỷ 25 đô thị và 96 xã, 257.000 người trở nên không có nhà cửa, và 100.000 ha đất trồng trọt đã bị bỏ hoang vì chiến tranh. Với việc Việt Nam đã ở trong một tình trạng khủng hoảng rồi, sự tổn thất đó là điều mà chính phủ Hà Nội không thể chịu đựng một cách vô thời hạn được.


Rõ ràng là trách nhiệm về cuộc xung đột thuộc về chế độ Phnôm Pênh. Không có bằng chứng rằng Hà Nội có dự tính một cuộc xung đột với Phnôm Pênh sau năm 1975. Việt Nam không đưa ra yêu sách về lãnh thổ nào với Campuchia, trừ phi người ta muốn suy diễn cuộc tranh chấp ở biên giới trên biển theo huớng đó. Những va chạm ban đầu đã được giải quyết và những biện pháp thực tiễn để xử lý với bất cứ va chạm nào trong tương lai cũng đã được thoả thuận. Chính phía Campuchia đã khởi xướng cuộc chiến đấu năm 1977, họ leo thang và rồi ngăn cản mọi giải pháp thương lượng. Khi người Việt Nam cuối cùng trả lời bằng vũ lực thì Phnôm Pênh lại từ chối thương lượng và chọn con đường leo thang chiến đấu hơn nữa. Trong những hoàn cảnh như vậy, chẳng có gì đáng lạ việc ban lãnh đạo Hà Nội kết luận rằng chiến tranh với Campuchia sẽ không chấm dứt chừng nào bên gây ra chiến tranh ở Phnôm Pênh chưa bị lật đổ.

 

Con đường đi đến xâm chiếm

Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tỏ ra kiên quyết khi họ họp bí mật ở Hà Nội để quyết định điều cần làm đối với vấn đề Campuchia, sau khi đã rõ ràng rằng những đề nghị ngừng bắn của họ ngày 5 tháng 2 năm 1978 đã bị bác bỏ. Vì nhóm Pol Pot đã ngăn cản mọi cố gắng đi đến một giải pháp hoà bình cho cuộc đấu tranh, cho nên dường như đã rõ ràng là Pol Pot phải bị gạt bỏ. Như vậy một cuộc xâm chiếm quân sự đã trở thành một khả năng, thế nhưng Uỷ ban Trung ương vẫn chọn con đường đứng đằng sau các lực lượng chống Pol Pot bên trong Đảng Cộng sản Campuchia và ủng hộ họ với lực lượng quân sự Việt Nam nếu tỏ ra là cần thiết.


Dấu hiệu công khai đầu tiên của sự thay đổi trong chính sách của Việt Nam đối với Campuchia đã xuất hiện đầu tháng 4. Thêm vào những lời tố cáo tập đoàn Pol Pot và các chính sách giết người của nó, Đài phát thanh Hà Nội bấy giờ bắt đầu đa ra những lời kêu gọi công khai nhân dân Campuchia lật đổ chế độ đó. Rồi tướng Hoàng Cầm, tư lệnh các lực lượng Việt Nam chiến đấu ở Campuchia năm 1970-1972, đã được giao phụ trách quân đội Việt Nam ở vùng biên giới. Người Việt Nam cũng khuyến khích việc tổ chức một phong trào kháng chiến chống Pol Pot trong hàng ngũ số đông dân tị nạn Campuchia ở Việt Nam (trên 150.000 người). Khi Nayan Chanda nói chuyện với những người tị nạn Campuchia tại một trại tỉnh Tây Ninh tháng 4 năm 1978 thì những người cộng sản Khmer đang bận tổ chức một phong trào kháng chiến. Nhiều người mà Chanda nói chuyện rất tha thiết trở về Campuchia để lật đổ chế độ Phnôm Pênh và đã có đến 2.000 người được tuyển lựa tại trại đặc biệt đó. Không phải tất cả đều là cộng sản. Một người mà Chanda gặp đã nói rằng, trong khi anh ta không phải là một người cộng sản, nhưng anh ta chấp nhận việc phong trào đó sẽ thành lập một chính phủ cộng sản khác ở Phnôm Pênh, mà anh ta nói phải ít nhất “là một chính phủ cộng sản với sự công bằng, không dã man giống như chính phủ hiện nay”.


Người Việt Nam cũng bí mật tiếp xúc với các lực lượng chống Pol Pot kiểm soát vùng Đông Campuchia. Sách đen cho rằng người Việt Nam bắt đầu âm mưu với Xô Phim chỉ vào tháng 2 năm 1978. Chính người Việt Nam về sau cũng kể lại rằng tháng giêng năm 1978 họ đã bắt đầu thảo luận với các cán bộ vùng Đông Campuchia về khả năng lật đổ Pol Pot bằng một cuộc nổi dậy chính trị và quân sự của các lực lượng Xô Phim, mà người Việt Nam có thể ủng hộ về mặt quân sự. Tuy nhiên, Pol Pot đã đánh mạnh vùng Đông Campuchia trước khi có điều gì cụ thể xảy ra từ các cuộc thảo luận đó. Tuy còn chưa được chuẩn bị tốt, người Việt Nam vẫn đưa chính lực lượng của họ vào cuộc xung đột trong tháng 6, và cuộc chiến đấu tiếp tục cho đến tháng 8. Những người của lực lượng Xô Phim còn sống sót được đặt dưới sự kiểm soát của tư lệnh Heng Samrin. Họ rút lui với quân Việt Nam và tham gia phong trào kháng chiến đang được tổ chức ở Việt Nam.


Sự loại bỏ những người cộng sản của vùng Đông đã chấm dứt khả năng lật đổ Pol Pot bằng một cuộc nổi dậy từ bên trong và sau đó, thì cuộc xung đột hướng vào một sự kết thúc bằng quân sự trực tiếp. Trong phần còn lại của mùa mưa, cả hai bên củng cố quân đội của họ dọc theo biên giới. Vào cuối tháng 10 năm 1978, tướng Cầm có 100.000 quân dưới quyền chỉ huy của mình. Lực lượng chống Pol Pot của Campuchia, hoạt động chủ yếu dưới hình thức những đơn vị du kích nhỏ, có con số khoảng giữa 10.000 và 20.000 người. Đứng trước mặt họ là 60.000 quân Khmer đỏ, tức hai phần ba toàn bộ lực lượng của Pol Pot.


Trong khi đó diễn ra cuộc chạy đưa quyết liệt giành ủng hộ ngoại giao. Trung Quốc là người ủng hộ chính của Pol Pot, và người Việt Nam thì ngày càng xem Pol Pot như một công cụ của Bắc Kinh. Hà Nội chuyển sang tìm cách tự bảo vệ mình chống lại sự trả đũa bất ngờ của Trung Quốc, bằng cách cam kết vững chắc hơn với khối Xô-viết tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế (COMECON) trong tháng 7 và ký hiệp ước hữu nghị 25 năm với Má-xcơ-va tháng 11.


Cả hai phía ra sức tranh thủ các nước ASEAN. Ông Phạm Văn Đồng đi một vòng các nước, đề nghị ký hiệp ước hữu nghị với nước nào quan tâm. Ieng Sary vá víu lại các quan hệ với Thái Lan (đã từng bị căng thẳng do một số vụ đột nhập của Khmer đỏ vào Thái Lan tháng 4 và tháng 5 năm 1978), thiết lập quan hệ buôn bán với Singapore, thăm Philippin và Nhật Bản. Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đi thăm một loạt nước tháng 11, cố chống lại chuyến đi của ông Đồng.


Ngày 3 tháng 12 năm 1978 đài Hà Nội báo tin rằng một Mặt trận thống nhất dân tộc cứu quốc đã được thành lập “tại vùng giải phóng" của Campuchia, với Heng Samrin làm chủ tịch. Mặt trận đưa ra một cương lĩnh đòi lật đổ “tập đoàn phản động Pol Pot-Ieng Sary” và thành lập một chế độ “hướng về chủ nghĩa xã hội thực sự”. Phnôm Pênh trả lời sáu ngày sau đó, coi Mặt trận là “một tổ chức chính trịcủa Việt Nam mang tên Khmer” và là một công cụ của” những kẻ bành trướng Xô-viết”.


Cuối cùng người Việt Nam tiến hành cuộc tiến công quân sự của họ chống lại chế độ Pol Pot ngày lễ Giáng sinh năm 1978. Mười hai sư đoàn Việt Nam, khoaản 12.000 quân, với xe tăng và xe bọc thép, đổ qua biên giới và tràn vào Campuchia với một tốc độ làm kinh ngạc những người quan sát. Cuộc tiến công đã được đích thân tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam, tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy. Tướng Dũng cũng là người phụ trách cuộc tiến công cộng sản cuối cùng ở Nam Việt Nam 1975. Các lực lượng Khmer đỏ phạm phải một sai lầm quân sự cổ điển. Trả lời lại một số thăm dò bước đầu của Việt Nam, Pol Pot đã tập trung hơn một nửa tất cả các lực lượng của ông ta để đối phó với cuộc tiến công của Việt Nam qua “mỏ vẹt” hoặc vùng “lưỡi câu” thuộc các tỉnh Xoài Riêng và Công-pông Chàm. Lúc đó, tướng Dũng tiến công xuyên sườn từ Plây Cu và Tây Ninh (và theo các nguồn tin của Thái, từ các vị trí ở Nam Lào nữa) tiến vào các tỉnh lỵ Xtung Treng, Kra-ti-ê và Công-pông Chàm ở phía Bắc, và dọc theo các đường số 2 và số 3 tiến đến Ta Keo và Cam Pốt ở phía Nam.

 

Thắng lợi của những cuộc tiến công đó đã mở con đường đến Phnôm Pênh từ cả phía bắc lẫn phía nam cho người Việt Nam. Chỉ lúc đó họ mới tiến công các vị trí phòng thủ chính của Khmer đỏ dọc theo đường số 1, mở con đường chính từ Sài Gòn đến Phnôm Pênh vào đầu tháng giêng. Nhưng đài Phnôm Pênh còn nói rằng cuộc chiến tranh đã diễn ra tốt cho Khmer đỏ. Ngày 5 tháng giêng năm 1979, một tin phát đi nói rằng: “Tin về thắng lợi của quân đội cách mạng chúng ta… đã được tiếp nhận hàng ngày và làm cho nhân dân chúng ta vui sướng và hài lòng. Nó cũng làm cho chúng ta tin cậy và chắc chắn vào cuộc đấu tranh anh dũng của chúng ta. Chúng ta tin chắc rằng chúng ta phải thắng”. Hai ngày sau, quân Việt Nam chiếm Phnôm Pênh mà không bị chống trả. Ba tuần sau khi cuộc tiến công bắt đầu, người Việt Nam kiểm soát tất cả các thành phố và đường giao thông lớn ở Campuchia. Rồi họ bắt đầu toả ra dọc theo các đường phụ để thanh toán các lực lượng Khmer đỏ mà họ đã vượt qua.


Vào cuối tháng giêng năm 1979 các nguồn tin tình báo phương Tây ước tính rằng người Việt Nam đã gây 30.000 thương vong cho các lực lượng Pol Pot, tức là một phần ba toàn bộ lực lượng, và một nửa lực lượng bố trí để bảo vệ biên giới với Việt Nam. Nhờ số lượng nhiều hơn vũ khí tốt hơn và chiến thuật có kết quả nên thương vong Việt Nam tương đối nhẹ. Ngày 30 tháng giêng, Đài phát thanh Pol Pot (bấy giờ lấy tên là Tiếng nói Campuchia dân chủ và được đặt tại Hoa Nam) rêu rao rằng người Việt Nam đã chịu 14.000 thương vong. Xét khuynh hướng hay phóng đại quá mức của Khmer đỏ, nên con số đó nên xem là mức cao nhất của khả năng.


Mặc dù có những thắng lợi như vậy, chiến thắng của Việt Nam chưa hoàn toàn. Tuy chịu thất bại thảm hại, tinh thần của quân đội Pol Pot còn gữ được; không có đầu hàng quy mô lớn. Thấy rõ không thể sánh được với người Việt Nam trong cuộc chiến tranh thông thường, nhiều nhà chỉ huy Khmer đỏ đã nhanh chóng phân tán lực lượng thành những đơn vị du kích và rút lên núi hoặc vào các đồng lầy, để tiếp tục cuộc chiến đấu sau này.


Vào cuối tháng giêng năm 1979, các lực lượng Pol Pot bắt đầu đánh lại quân Việt Nam. Tuy chúng thu được một vài thắng lợi tạm thời, chúng chưa giành lại thế chủ động ở đâu cả và các nhà lãnh đạo Khmer đỏ về sau cho các cuộc hành quân đó là “vội vã”. Trong tháng 3 và tháng 4, người Việt Nam lại giành thế chủ động lần nữa, đưa ra một loạt các cuộc càn quét để đuổi các lực lượng Khmer đỏ ra khỏi đồng lúa Tây Campuchia, và buộc chúng rút vào vùng rừng núi Tây Nam Campuchia hoặc vào biên giới Thái Lan. Ngày 10 tháng 4, người Việt Nam chiếm khu bí mật ở Ta Sanh được bảo vệ rất tốt, mà ban lãnh đạo Khmer đỏ dùng làm tổng hành dinh. Họ bị buộc phải bỏ chạy quá nhanh đến mức người Việt Nam lấy được hộ chiếu của Ieng Sary cùng với nhiều tài liệu khác. (Sách trắng của Chính phủ cách mạng lâm thời ra tháng 9 năm 1983 trích những tài liệu đó để làm cơ sở cho lời lên án của họ về sự câu kết Thái-Trung Quốc với Pol Pot). Trong cùng tháng đó, người Việt Nam bao bây tổng hành dinh Khmer đỏ tại Am-pin (gồm Ban Xa-ngac), vùng Tây Bắc Campuchia.


Các lực lượng Pol Pot thoát được chỉ bằng cách rút vào Thái Lan. Các nhà báo phương Tây theo dõi khi khoảng 50 đến 80.000 người kéo nhau đi ba mươi dặm trên những con đường nằm hẳn trên phía Thái Lan của biên giới trước khi trở vào lại Campuchia. Hàng nghìn binh lính trẻ, thô bạo, lùa bằng mũi súng một lực lượng lao động bị bắt gồm những dân làng sưng sỉa và thiếu ăn; đúng là một “trại tập trung đang đi” như một trong các nhà quan sát về sau mô tả đám người mệt mỏi đó.


Tình hình quân sự được ổn định trong tháng 5 và tháng 6 năm 1979, khi mùa mưa đến. Người Việt Nam đã kiểm soát các vùng đông dân chính của đất nước, vùng biên giới phía Đông, các đồng bằng trồng lúa trung tâm và phía Tây, nhưng an ninh còn kém trong các vùng hẻo lánh.


Các lực lượng Pol Pot kiểm soát các khu vực trong vùng núi không dân cư của vùng Tây Nam và dọc theo biên giới Thái. Thị trấn duy nhất coóý nghĩa còn nằm trong tay chúng là Pai-lin. Từ các căn cứ này, chúng còn có thể đi lại qua phần lớn vùng Tây của đất nước và qua vùng núi phía nam, và chúng có thể tiến hành những cuộc tiến công từng lúc vào các đường giữa Phnôm Pênh và Bát-tam-băng, và giữa Phnôm Pênh và Công-pông Xom. Cũng còn những đơn vị trung thành với Pol Pot hoạt động ở các tỉnh Công-pông Thom và Ra-ta-ni-ki-ri ở vùng trung tâm và phía đông đất nước, nhưng chúng còn thích nằm im lúc này. Nhìn chung thì rõ ràng sự kiểm soát nhân dân Campuchia của Khmer đỏ đã bị tan vỡ.


Về quân sự, quân đội Pol Pot đã bị đập tan một cách nghiêm trọng. Các nguồn tin tình báo phương Tây ước tính số lượng của nó rút xuống còn 35.000 giữa năm 1979: trong sáu tháng đánh nhau, quân đội đã mất hai phần ba số quân. Quy mô số dân còn nằm dưới sự kiểm soát của Pol Pot lúc này còn chưa rõ nhưng không chắc có thể quá một phần tư triệu. Tuy vậy, quân đội Khmer đỏ tiếp tục còn là một lực lượng quân sự còn hoạt động và ban lãnh đạo của chính phủ Campuchia dân chủ còn nguyên vẹn. Có thể cho rằng việc bắt ban lãnh đạo này là một trong những mục tiêu chính của người Việt Nam khi tổ cức tiến công. Về mặt này, ít ra cũng phải xem đó là một thất bại. Pol Pot và những đồng sự của ông ta đã tìm cách thoát khỏi việc bị mắc bẫy ở Phnôm Pênh và chạy lên biên giới Thái. Trong vòng vài tuần, chúng đã tập hợp lại với nhau và cố gắng tập hợp sự ủng hộ bên trong và bên ngoài Campuchia cho cuộc đấu tranh chống lại chính phủ Heng Samrin mới ở Phnôm Pênh được Việt Nam ủng hộ.

 

Trung Quốc: Khoa sư phạm về quyền lực

Chính phủ Trung Quốc đáp lại cuộc xâm chiếm Campuchia của Việt Nam bằng những lời lẽ quá đáng nhất. Họ tố cáo Hà Nội là “quân phiệt, xâm lược hung bạo và bành trướng” và hứa làm “hết sức mình” để giúp chế độ Khmer đỏ bị gạt bỏ “bằng mọi cách”. Trong chuyến đi thăm Mỹ tháng giêng 1979, Đặng Tiểu Bình đưa ra những nhận xét nổi tiếng của mình về việc phải dạy cho Việt Nam “một số bài học cần thiết”. Trên đường về Bắc Kinh, Đặng nói tại Tokyo rằng “Việt Nam phải bị trừng trị nghiêm khắc”.


Bài tập khoa sư phạm của Đặng bắt đầu lúc bình minh ngày 17 tháng 2, khi gần 100.000 quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc đổ vào biên giới dài 1.300 kilômét, cùng với xe tăng và trọng pháo. Cuộc tiến công sa lầy nhanh chóng, và số quân đã phải đẩy lên 200.000 trước khi cuộc tiến công có thể tiếp tục trở lại. Mục tiêu quân sự trước mắt của người Trung Quốc là chiếm các tỉnh ỵ sáu tỉnh biên giới của Việt Nam, trong đó bốn đã rơi vào tay họ từ 23 tháng 2. Cuộc chiến đấu quyết định của chiến dịch lúc đó hình thành quanh thị xã Lạng Sơn, nằm trong một đèo thiên nhiên trên dãy núi giữa Trung Quốc và Việt Nam (thị xã có vị trí chiến lược này đã từng là nơi xảy ra nhiều cuộc chiến đấu lịch sử). Người Trung Quốc tiến công ngày 27 tháng và, sau các cuộc chiến đấu ác liệt trên đồi chung quanh, đã tìm cách vào được Lạng Sơn đêm mùng 2 tháng ba. Cuộc chiến đấu còn tiếp diễn trong thị xã ba ngày sau đó, khi Bắc Kinh công bố rút lui các lực lượng của họ. Tuy nhiên, phải cho đến 16 tháng 3 cuộc rút lui mới hoàn tất, chủ yếu bởi vì quân Trung Quốc đã phá huỷ một cách có hệ thống tất cả các công sự chính và nhiều nhà cửa của Việt Nam trước khi rút.


Tổn thất của cuộc chiến tranh một tháng đó là rất lớn. Người Trung Quốc thừa nhận 20.000 thương vong, nhưng rêu rao gây cho người Việt Nam 50.000; về phần mình, người Việt Nam tuyên bố rằng 20.000 Trung Quốc đã bị chết và tổng số thương vong của Trung Quốc là trên 60.000. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ, các tỉnh cực bắc này phần lớn được cách ly, không bị bom Mỹ vì gần biên giới Trung Quốc, nhưng bây giờ cũng chính tình hình địa lý đó đã làm cho các tỉnh đó bị tàn phá khắp nơi. Lạng Sơn vẫn còn trong tình trạng đổ nát khi chúng tôi đến thăm một năm sau cuộc xâm lược. Phần lớn các nhà lớn đã bị đập phá thành gạch vụn và các nhà ở bị phá huỷ hoàn toàn. Một số nhà đã được phục hồi, nhưng hầu hết 30.000 dân cư còn phải sống trong những lều đơn sơ giống như ở những nơi sơ tán khác trong khu vực. Theo người Việt Nam, thì người Trung Quốc đã phá huỷ bốn tỉnh lỵ (Lạng Sơn, Cao Bằng, Lao Cai và Cam Đường) (Cam Đường là một thị trấn gần Lao Cai chứ không phải một tỉnh lỵ-ND), và 320 xã, 250.000 dân đã bị đẩy vào tình trạng không có nhà ở; 41 nông truơờn quốc doanh và trạm nông nghiệp cũng như các xí nghiệp, hầm mỏ, bệnh viện và trường học đã bị san bằng: 58.000 ha đồng ruộng đã bị phá huỷ và những khu rừng rộng lớn bị đốt trụi.


Bắc Kinh không bỏ lỡ cơ hội công bố sự hài lòng của họ đối với trừng phạt gây cho Việt Nam. Tuy vậy, trong một cuộc phỏng vấn với Oriana Fallaci trong tờ Corrierre della Sera tháng 8 năm 1980, Đặng Tiểu Bình thừa nhận rằng cuộc hành quân “không thành công lắm”. Đúng là người Trung Quốc đã đạt phần lớn những mục tiêu quân sự trước mắt của họ bên trong Việt Nam, nhưng cái giá phải trả thì lại cao một cách đau đớn. Chỉ trong cuộc chiến đấu Lạng Sơn, người Việt Nam mới dùng một trong những sư đoàn chủ lực của họ (sư đoàn tinh nhuệ 308, chuyển từ chu vi phòng thủ Hà Nội đến) (Đây là một sự nhầm lẫn của tác giả. Thực tế trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược ta mới chỉ sử dụng tới các lực lượng địa phương. Sư đoàn 308 không tham gia chiến đấu-B.T). Còn thì số 200.000 quân giải phóng nhân dân đã bị chặn đứng bằng một lực lượng quân địa phương và dân quân Việt Nam chỉ bằng một nửa số quân đó. Kết quả của cuộc chiến tranh này dường như phơi bày sự yếu kém quân sự chứ không phải sức mạnh của Trung Quốc.


Người Trung Quốc rõ ràng đánh giá thấp khả năng của những lực lượng phòng thủ Việt Nam được cắm sâu trong một địa hình gồ ghề, hiểm trở mà họ đã biết rõ. Trang bị của quân đội Trung Quốc nói chung là lạc hậu, vũ khí phần lớn thuộc loại cũ cuối những năm 1950 đầu những năm 1960, trong khi người Việt Nam chiến đấu với những vũ khí hiện đại do Liên Xô cung cấp hoặc chiếm được của Mỹ. Ưu thế không quân của Việt Nam làm cho lục quân Trung Quốc phải tiến công mà không có yểm trợ của không quân. Hậu cần của Trung Quốc tỏ ra không thích hợp: những xe tải chở hàng cung cấp tiến chậm trên các con đường núi quanh co nên không thể cung cấp đầy đủ đạn dược cho quân đội. Chiến thuật của Trung Quốc cũng tỏ ra không thoả đáng. Cũng giống như trong chiến tranh Triều Tiên. Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc cũng dựa vào những cuộc tiến công bằng “biển người”. Những cuộc tiến công như vậy làm cho các lực lượng phòng thủ bám sâu và trang bị tốt có thể gây những thương vong tai hại, nhất là trên địa hình gồ ghề, làm chậm bước tiến của bộ binh. Trong cuộc chiến đấu ở Lạng Sơn, người Trung Quốc đã dùng kỵ binh là thứ binh chủng mà vũ khí tối tân, bắn nhanh đã gây những thương vong nặng nề. Người Trung Quốc dựa vào những kèn đồng để phối hợp các đơn vị, và những tay bắn tỉa Việt Nam đã làm cho họ rối loạn hàng ngũ bằng việc bắn hạ những người thổi kèn. Một số báo cáo cho rằng người Trung Quốc sẽ được nhân dân địa phương hoan nghênh như những “người giải phóng", nhưng điều đó không hề xảy ra.

 

Không lấy gì làm lạ rằng cuộc chiến tranh đã làm nổ ra một cuộc tranh luận dài trong các giới quân sự Trung Quốc về giá trị chiến thuật “chiến tranh nhân dân" của Mao trong điều kiện hiện đại và về nhu cầu hiện đại hoá trang bị chiến đấu của Trung Quốc. Tiếp theo đó là một sự xáo trộn rộng rãi nhất trong hàng ngũ các nhà lãnh đạo Quân giải phóng nhân dân, nhưng có lẽ việc đó có liên quan đến những cuộc đấu tranh phe phái trong Đảng Cộng sản Trung Quốc hơn là kết quả của cuộc chiến tranh.


Điều còn quan trọng hơn trình độ chiến đấu nghèo nàn của quân giải phóng nhân dân là cuộc xâm lược không đạt được những mục tiêu chính trị của nó. Mục đích bề ngoài của Bắc Kinh chỉ là giành một “biên giới hoà bình” với Việt Nam. Bắc Kinh rêu rao rằng quân đội Trung Quốc bị buộc phải tiến hành một “cuộc phản công tự vệ” để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc trước những khiêu khích không dứt của Việt Nam. Như Hàn Niệm Long, người lãnh đạo phái đoàn Trung Quốc tại những cuộc hội đàm Trung-Việt sau đó, đã nói: “Khiêu khích của họ đã trở thành không thể nào tha thứ được nữa”.


Bề ngoài là một cuộc chiến tranh biên giới, nhưng vấn đề thực sự là một vấn đề chính trị chứ không phải một tranh chấp biên giới. Tuy rằng đúng là có một số điểm không có ranh giới chính xác, nhưng trên đại thể, đây là một trong những biên giới xác định tốt nhất trong khu vực (Xem “Những biên giới của Đông Nam Á” của J.R.V Precot, J.H.Colie, D.F.Precot, Men-buốc, 1977,tr.60-ND). Trước năm 1974, cả hai bên đồng ý rằng chẳng có vấn đề gì quan trọng, nhưng từ đó trở đi, các rắc rối trên biên giới đã tăng lên kế hoạch các quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh xấu đi. Tình hình trở nên đặc biệt căng thẳng trong phần thứ hai của năm 1978, mỗi bên tố cáo bên kia có những khiêu khích cố ý.


Khi những cuộc thương lượng diễn ra ở Hà Nội tháng 4 năm 1979, thì có thể thấy rõ ràng cuộc tranh chấp biên giới thực sự là một vấn đề chính trị. Phía Việt Nam đưa ra đề nghị ba điểm để giải quyết chính vấn đề biên giới: chấm dứt chiến sự và phi quân sự hoá biên giới; khôi phục giao thông và vận tải bình thường; một giải pháp cho bất cứ vấn đề lãnh thổ nào trên cơ sở “tôn trọng đường biên giới" mà các hiệp định Trung-Pháp năm 1887 và 1895 đã thiết lập. Phía Trung Quốc không chịu xét đề nghị đó và đưa ra đề nghị 8 điểm của riêng mình. Họ bác bỏ việc phi quân sự hoá biên giới và đòi giải quyết các vấn đề lãnh thổ “trên cơ sở những công ước Trung-Pháp” chứ không phải trên cơ sở đường ranh giới thực tế do các hiệp định đó đưa lại. Họ cũng đòi Việt Nam thừa nhận các quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa) là “một bộ phận không thể chuyển nhượng của lãnh thổ Trung Quốc”.


Như là một bộ phận của giải pháp cho vấn đề biên giới, người Trung Quốc cũng đòi chấm dứt sự ngược đãi các “kiều dân” Trung Quốc ở Việt Nam và khôi phục các “quan hệ hữu nghị” giữa hai chính phủ. Điểm thứ hai của họ như sau: “Không bên nào được tìm kiếm bá quyền ở Đông Dương, Đông Nam Á, hay bất cứ nước khác của thế giới và chống lại cố gắng của bất cứ nước nào hay nhóm nào khác nhằm thiết lập bá quyền như vậy. Không bên nào sẽ đóng quân ở các nước khác và những quân đội đã đóng ở nước ngoài phải được rút về nước mình. Không bên nào sẽ tham gia bất cứ khối quân sự nào nhằm chống lại bên kia, cung cấp căn cứ quân sự hoặc dùng lãnh thổ và các căn cứ các nước khác để đe doạ, lật đổ hoặc xâm lược vũ trang chống lại phía bên kia hoặc chống lại bất cứ nước nào khác” (Xem Peking Review, 4 tháng 5 năm 1979-ND).


Tóm lại, người Trung Quốc lưu ý rằng cuộc xung đột biên giới trên bộ không thể chấm dứt chừng nào người Việt Nam không chịu bỏ chủ quyền trên các nơi sở hữu của họ ở Biển Đông, rút khỏi Campuchia và chấm dứt liên minh với Mát-cơ-va. Trong một đợt hội đàm tiếp theo (ngày 5 tháng 7), người Trung Quốc bỏ sang một bên việc thảo luận chính vấn đề biên giới và đòi cuộc thương lượng “tiến hành từ điểm nút cẩu vấn đề tức là chống bá quyền”, tố cáo Việt Nam thành lập một Liên bang Đông Dương bao gồm là và Campuchia để phối hợp với việc cho là “nỗ lực giành bá quyền thế giới” của Liên Xô.


Những cuộc thương lượng biên giới do đó đã bị bế tắc từ đầu. Người Trung Quốc không chịu thảo luận tý nào những đề nghị của Việt Nam và bác bỏ yêu cầu “làm rõ” chính lập trường của họ. Về phần mình, người Việt Nam bác bỏ những đề nghị của Trung Quốc trên cơ sở rằng Trung Quốc không có quyền ra lệnh lấy những quan hệ của Việt Nam với các nước khác làm một bộ phận của giải pháp biên giới. Người Trung Quốc tìm cách ép Hà Nội bằng những đe doạ về một cuộc tiến công khác, nhưng không lay chuyển đợc Hà Nội. Đặng Tiểu Bình tuyên bố ngày 29 tháng 5 rằng Trung Quốc “dành quyền” dạy cho Việt Nam bài học khác, nếu Việt Nam tiếp tục “những khiêu khích của họ”.


Những cuộc hội đàm vẫn được tiếp tục trong một thời gian, nhưng chỉ còn là một diễn đàn tuyên truyền. người Trung Quốc tiến công “chủ nghĩa bành trướng” Việt Nam ở Đông Dương, trong khi người Việt Nam thì tiến công các chính sách của Trung Quốc “theo đuổi chủ nghĩa bá quyền dưới chiêu bài chống bá quyền”. Trong khi đó thì những va chạm mạnh mẽ tiếp tục diễn ra trên biên giới Trung-Việt, thường nổ ra vào những lúc căng thẳng ở Campuchia, đáng chú ý nhất là tháng 6 năm 1980, tháng 4 năm 1983 và tháng 4 năm 1984.

 

Giải thích chính thức của Trung Quốc cho sự xâm lược của họ, coi đó là một phản ứng tự vệ đối lại “khiêu khích” của Việt Nam trên biên giới Trung-Việt, là một giải thích mà hầu như khắp nơi đều coi như một lời bào chữa bịa đặt, và thực vậy ít được nhắc tới trong phần nhiều các bình luận của phương Tây về cuộc xung đột. Rõ ràng là trong cuộc chiến tranh này, phía Trung Quốc là kẻ xâm lược và sự xâm lược đã được công khai mưu tính từ trước. Không có những sự kiện nào đã xảy ra có thể tương xứng với một cuộc xâm lược quy mô đầy đủ như vậy. Trên thực tế cuộc xâm lược của Trung Quốc là một phản ứng đối với việc Hà Nội lật đổ đồng minh của Bắc Kinh ở Campuchia và việc Hà Nội tiếp tục có quan hệ với Liên Xô. Không phải là hoàn cảnh đã buộc Trung Quốc phải tiến hành cuộc chiến tranh đó; ban lãnh đạo Bắc Kinh đã chọn một cách có ý thức sự xâm lược quân sự làm công cụ của chính sách. Những mục tiêu của Trung Quốc trong việc tiến công Việt Nam nói chung được cho là có hai mặt: một là để bày tỏ cho Hà Nội rằng Trung Quốc là một cường quốc lớn mà những nguyện vọng không thể bị xem thường; và hai là giảm bớt sức ép đối với các lực lượng Pol Pot bằng cách buộc người Việt Nam rút quân khỏi Campuchia để đưa về bảo vệ biên giới phía bắc của họ.


Trong cả hai mặt, cuộc chiến tranh không thành công. Người Việt Nam vẫn bướng bỉnh, đã đối phó với cuộc xâm lược của Trung Quốc mà không rút bất cứ số quân nào từ Campuchia, là nơi mà họ tuyên bố rằng tình hình là “Không đảo ngược được”. Hà Nội duy trì mối quan hệ của mình với Liên Xô, địch thủ của Trung Quốc và đi vào củng cố mối “quan hệ đặc biệt” với Viêng Chăn và với chế độ mới ở Phnôm Pênh. Tất cả các điều đó càng tăng thêm hơn nữa sự giận dữ của Bắc Kinh đối với “sự vô ơn” của người Việt Nam. Vũ đài đã được dựng lên cho một cuộc xung đột lâu dài giữa hai chính phủ cộng sản cho là “anh em”.


Có một số điểm song song nhưng mỉa mai giữa cuộc xung đột Trung-Việt và cuộc xung đột Việt Nam-Campuchia. Việt Nam tìm kiếm một “mối quan hệ đặc biệt” với Campuchia và Trung Quốc trên thực tế cũng đòi hỏi một “mối quan hệ đặc biệt” với Việt Nam và các nước Đông Dương khác. Hà Nội phản ứng mạnh mẽ đối với các hành động của Pol Pot một phần là vì Hà Nội nhận thức một “đe doạ của Trung Quốc” đối với Việt Nam đằng sau những hành động đó, và Trung Quốc, về lượt mình cũng cảm thấy một “đe doạ Xô-viết” đằng sau những hành động của Việt Nam. Việt Nam đã chứng minh sự can thiệp quân sự ở Campuchia tháng 12 năm 1978 trên cơ sở tự vệ chính đáng, và thật là một điều trùng hợp khi Trung Quốc cũng bào chữa chính sự xâm lược Việt Nam của mình bằng những lý lẽ tương tự.


Các mối quan hệ chính trị có liên quan có thể được quan niệm như là một hệ thống quyền lực trong đó Liên Xô (và xa hơn Liên Xô, là Mỹ) ở một đầu và chế độ Campuchia Dân chủ và Lào ở đầu bên kia. Hai nước nằm giữa hệ thống đó, Trung Quốc và Việt Nam, mỗi nước tìm cách sử dụng tối đa quyền tự do hành động của mình bằng cách chống lại nước đứng trên họ và tranh thủ các nước đứng dưới họ để đưa vào một liên minh. Chính phủ Lào sẵn sàng đứng về phía Việt Nam, nhưng cuộc đấu tranh phe phái bên trong Đảng Cộng sản Campuchia đã buộc Pol Pot chống lại Việt Nam. Như vậy cái chính phủ với kỳ vọng ngây thờ nhất đòi chủ quyền tuyệt đối đã tự thấy mình có ít chỗ nhất để xoay xở. Nó tự giành cho mình lựa chọn chống lại sức ép của Việt Nam bằng cách tìm kiếm sự che chở của Trung Quốc. Về phần mình, Việt Nam tìm kiếm sự che chở của Liên Xô chống lại Trung Quốc, và Trung Quốc lại tìm kiếm sự che chở của Mỹ chống lại Liên Xô.


Tuy nhiên, những điểm song song như trên không thể bị đẩy quá xa. Đến một điểm nhất định, Việt Nam buộc phải bỏ “mối quan hệ đặc biệt” với Campuchia, khi chính phủ Pol Pot bác bỏ mối quan hệ đó trong năm 1975-1976. Ngược lại, Trung Quốc không tỏ ra có dấu hiệu nào bỏ yêu sách của họ về Đông Dương và tỏ ra sẵn sàng khởi xướng một cuộc chiến tranh quy mô đẩy đủ để buộc Việt Nam khuất phục trước ý muốn của họ. Tính chất song song giữa cuộc chiến tranh Việt Nam-Campuchia và cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam cũng đã mất tác dụng ở một chỗ khác, đó là nước Việt Nam đứng giữa đã bị tiến công vừa từ một nước yếu hơn là Campuchia, vừa từ một nước mạnh hơn là Trung Quốc. Nếu ông ta thực sự tôn trọng sự cân bằng, Pol Pot đã tìm cách tạo ra một “quan hệ đặc biệt” với Lào, nhưng do tính phiêu lưu quân sự mà ông ta đã tiến công Việt Nam. Cuối cùng, trong khi cuộc xâm chiếm Campuchia, tháng 12 năm 1978 của Việt Nam là nhằm loại bỏ hoàn toàn chế độ Pol Pot, và chủ yếu là đã thành công thì cuộc xâm lược Việt Nam tháng 2 năm 1979 của Trung Quốc đã có một mục tiêu hạn chế hơn, tuy số lượng quân đội lớn hơn, và đã tỏ ra là không thành công.

 

“Chủ nghĩa Sô-vanh Đại hán”

Phản ứng của Trung Quốc đối với sự can thiệp của Việt Nam vào Campuchia là một sự bày tỏ bi đát ý muốn của chính phủ Bắc Kinh khẳng định quy chế của Trung Quốc như là một cường quốc hơn hẳn trong vùng Đông Nam Á. Hết sức kỳ lạ, các nhà bình luận phương Tây không thấy được ý muốn dó. Trong những năm 1950 và 1960, người ta thường cho rằng vì là cộng sản cho nên chính phủ mới không còn thực sự là ‘Trung Quốc” nưữa và bị xem như là bù nhìn của Liên Xô. Chính phủ đó bị mô tả là hăng hái và bành trướng nhưng để phục vụ các quan thầy nước ngoài. Tính chất quốc gia của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc chỉ được thấy rõ một cách rộng rãi chỉ sau cuộc phân biệt Trung-Xô. Trong những năm 1970, chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã được giải thích một cách có thiện cảm hơn, nhưng sự giải thích đó lại có xu hướng quá tin vào hình ảnh mà Trung Quốc tự tạo cho mình như là đối thủ hàng đầu của “chủ nghĩa bá quyền nước lớn”. Chủ nghĩa quốc gia mới của giới lãnh đạo Trung Quốc đã được thừa nhận nhưng không ai thấy được khả năng nó có thể dẫn đến một sự khẳng định của quyền lực Trung Quốc rất có hại cho các nước khác.


Người Trung Quốc luôn luôn tự tô vẽ cho mình như là những đối thủ hàng đầu của chính sách quyền lực mà Liên Xô và Mỹ đang thực hiện. “Tất cả các nước, lớn hoặc nhỏ, phải bình đẳng, nước lớn không được áp bức nước nhỏ và nước mạnh không được áp bức nước yếu”. Đó là điều mà phía Trung Quốc tuyên bố trong thông cáo Thượng Hải năm 1972. “Trung Quốc sẽ không hề bao giờ là một siêu cường, và Trung Quốc chống lại bá quyền và chính sách quyền lực các loại”. Những tuyên bố như vậy làm cho nhiều người rất bất ngờ trước một tình hình trong đó Trung Quốc tuyên bố có “quyền riêng để can thiệp bằng quân sự vào các nước nhỏ nào không làm vừa lòng họ để dạy một “bài học”.


Hà Nội đưa ra cách giải thích của mình về chính sách quyền lực của Trung Quốc trong một Sách trắng do Bộ Ngoại giao Việt Nam phát hành tháng 10 năm 1979. Giải thích đó lập luận rằng các kẻ thống trị Trung Quốc đã làm sống lại “chủ nghĩa Sô-vanh Đại Hán” cổ truyền, tin rằng sự rút lui của chủ nghĩa đế quốc phương Tây sẽ cho phép Trung Quốc nối lại địa vị xưa của mình như là một cường quốc khống chế trên suốt Đông Nam Á. Việt Nam tuyên bố rằng những nhà lãnh đạo Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã từ lâu “mơ ước chinh phục” Đông Nam Á, “một mục tiêu cổ truyền của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc trong suốt các thế kỷ”. Họ gắn cuộc chiến tranh của Trung Quốc chống Việt Nam với các cuộc tranh chấp biên giới của Trung Quốc với Ấn Độ, Liên Xô và Mông Cổ, và lập luận: “Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bộc lộ màu sắc thực sự của họ là những người Sô-vanh nước lớn và những nhà quốc gia tư sản! Chính sách hiện nay của các nhà thống trị Trung Quốc đối với Việt Nam, tuy được nguỵ trang đầy đủ, vẫn giống với chính sách của các nhà thống trị “Thiên triều” trong hàng nghìn năm trước, một chính sách nhằm việc thôn tính Việt Nam, nô dịch nhân dân Việt Nam và biến Việt Nam thành một chư hầu của Trung Quốc”.


Sách trắng Việt Nam điểm lại chính sách Trung Quốc từ hội nghị Geneva năm 1954 dưới ánh sáng của sự đánh giá nói trên, lập luận rằng chính sách đó có hai mặt. Người Trung Quốc đã tỏ ra ủng hộ cách mạng Việt Nam nhưng luôn luôn đồng loã với những kẻ thù của cuộc cách mạng đó. Mục tiêu thực sựu của họ là giữ cho Việt Nam bị chia cắt, yếu và phụ thuộc vào Trung Quốc. Hà Nội lập luận rằng một Việt Nam độc lập, thống nhất sẽ là một “cản trở chính đối với chiến lược toàn cầu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, trước nhất là đối với chính sách bành trướng của họ xuống Đông Nam Á”. Không cần phải nói, người Trung Quốc vội vã cải chính điều đó.


Như vậy là những người cộng sản Việt Nam đã đi đến chỗ đồng ý với sự phân tích của một số các chuyên gia phương Tây về Trung Quốc, như C.P. Fritzgerald cho rằng mặc dù cộng sản lên nắm quyền, “nhưng “thế giới quan của Trung Quốc không thay đổi về căn bản” (xem “Cách nhìn của Trung Quốc về vị trí của họ trong thế giới” của C.P. Fritzgerald, London, 1964, tr.71-72-ND). Chủ nghĩa Mao đã được thời sự hoá, nhưng không thay đổi về căn bản cách nhìn cổ truyền của Trung Quốc, coi Trung Quốc là trung tâm, là người nắm giữ duy nhất nền văn minh và đức hạnh và là người làm ra luật pháp cho những nước man di quanh họ. Có một ít sức thuyết phục trong lập luận này, nhưng sẽ không đúng nếu xem chính sách đối ngoại của nhà nước Trung Quốc hiện đại chỉ là một sự tiếp tục của các chính sách cổ truyền, không hề bị những hoàn cảnh thực tiễn đang thay đổi ảnh hưởng đến.


Với tư cách là một trung tâm “văn minh” hùng mạnh giữa một thế giới “man di”, Thiên triều đã có thể khiến cho các quốc gia nhỏ hơn và ít hùng mạnh hơn quanh nó phải tỏ lòng tôn kính. Lòng tôn kính này đã được thể chế hoá trong chế độ triều cống và, cho đến khi người Pháp đến, các triều đình ở Huế, Phnôm Pênh và phần lớn các lãnh địa của lào đều phải triều cống cho triều dình vua chúa ở Bắc Kinh. Những thái độ mà chế độ này đưa lại cho các nhà thống trị Trung Quốc đã được minh hoạ trong thông điệp mà vua Càn Long gửi cho vua George III để trả lời những yêu cầu của Anh lập đại diện ngoại giao ở Bắc Kinh và lập các quyền buôn bán ở Trung Quốc:


“Trong khi cai trị một thế giới rộng lớn, tôi chỉ có một mục tiêu phải chú ý, đó là duy trì một sự cai trị hoàn hảo về hoàn thành nhiệm vụ của quốc gia… Đạo đức uy nghi của triều đại chúng tôi đã thấm sâu vào mỗi một đất nước dưới bầu trời và vua của tất cả các nước đã triều cống những vật quý giá bằng đường bộ và đường biển… Hỡi nhà vua, ngài phải tôn trọng những tình cảm của tôi và bày tỏ sự tận tuỵ lớn hơn nữa trong tương lai, để, bằng sự khuất phục vĩnh viễn ngai vàng của chúng tôi, ngài có thể giành được hoà bình và thịnh vượng cho nước ngài sau đó” (xem “Trung Quốc đế vương” do Franz Schurman và Orville Schell xuất bản, quyển 1.New York, 1967, tr.107-108-ND). Trong khi các nước triều cống còn được quyền quản lý công việc nội bộ của chính mình thì chính phủ Trung Quốc lại tự xem mình là trọng tài cho các tranh chấp giữa các nước đó, và giữ quyền trừng phạt nước cứng đầu. Còn đối với ý kiến để cho các nước thiết lập các quan hệ kinh tế và chính trị độc lập với nước ngoài khác thì, như Càn Long đã giải thích cho George III, sẽ “hoàn toàn không thể được”.


Trong trường hợp của Việt Nam, một nhà viết sử đã mô tả mối quan hệ triều cống cổ truyền đó như sau: “… mối quan hệ đó không phải là giữa hai quốc gia ngang nhau. Không có nghi ngờ gì trong đầu óc của bất cứ ai rằng Trung Quốc là ở thế trên và nước triều cống ở thế dưới. Các vua chúa Việt Nam thấy rõ rằng họ phải thừa nhận quyền bá chủ của Trung Quốc và trở nên nước triều cống để tránh sự can thiệp thực sự của Trung Quốc vào công việc nội bộ của họ… Trung Quốc thì cảm thấy không thể cai trị trực tiếp khu vực đó được; đồng thời Trung Quốc cũng muốn tránh rắc rối ở các vùng biên giới… Quy chế triều cống mà Trung Quốc ban cho, không phải là cho một nước, mà là cho một nhà thống trị. Quy chế chỉ được cấp, khi nhà thống trị nước ngoài đã phải bày tỏ sự thừa nhận ưu thế của Trung Quốc… Việc phong cức cho một nhà thống trị triều cống, rõ ràng được vua Trung Quốc xem giống như việc cử một quan cức trong nội bộ đế chế. Vì vậy việc phong chức có thể bị rút lại nếu nhà thống trị kia không làm được nhiệm vụ… Trong trường hợp như vậy nhà vua triều cống có thể bị trừng trị như bất kỳ quan cức cấp cao nào khác của đế chế”. Đó là chế độ mà, theo Hà Nội, các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngay nay mong muốn khôi phục lại.

 

Trung Quốc trong thế giới hiện đại: sự xuất hiện một cường quốc lớn


Những người cộng sản Trung Quốc xem cách mạng của họ như một thắng lợi của sự tự khẳng định quốc gia của Trung Quốc sau một thời kỳ thống trị nhục nhã của nước ngoài. Tháng 9 năm 1949, Mao tuyên bố: “Đất nước chúng ta sẽ không bao giờ còn là một đất nước bị sỉ nhục nữa. Chúng ta đã đứng dậy… Hãy để cho bọn phản động trong nước và ngoài nước run sợ trước chúng ta”. Nhưng, trên thực tế, trong những năm đầu, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vẫn là một quốc gia yếu. Trung Quốc đã trải qua một giai đoạn hỗn loạn kinh tế và chiến tranh tàn hại, và các nhà thống trị mới của họ đã buộc phải theo một trong những thành ngữ nổi tiếng khác của Mao “ngả về một bên, bên của Liên Xô” trong công việc quốc tế.


Khi Trung Quốc đứng về phía Liên Xô, các nhà bình luận phương Tây mô tả họ như là một cường quốc bành trướng hăng hái nhất, và quên những thực tế về sự yếu kém của Trung Quốc vào lúc đó. Từ đó trở đi, hình ảnh này đã được xem xét lại một cách triệt để dưới ánh sáng của sự phân liệt Trung-Xô và sự nhích lại gần Trung-Mỹ. Trung Quốc bây giờ nói chung được mô tả bằng những lời lẽ có cảm tình hơn, như chủ yếu đóng vai trò thụ động. Như vậy, sự phân liệt Trung-Xô được xem như là kết quả của sự “bắt nạt Xô-viết” và việc Trung Quốc quay sang phương tây như là một phản ứng tự vệ đối với việc bành trướng Xô-viết.


Cách giải thích như vậy phù hợp với những định kiến chiến tranh lạnh thông thường, nhưng nó che lấp thực tế về sự khẳng định ngày càng gia tăng của Trung Quốc như là một cường quốc độc lập trong nền chính trị thế giới. Chính phía Trung Quốc đã khởi xướng sự phân biệt Trung-Xô, và sau cuộc nhích lại gần Trung-Mỹ, Trung Quốc cuối cùng đã nổi lên là một cường quốc với một chính sách hăng hái mở rộng ảnh hưởng ra Đông Nam Á.


Khi thành lập liên minh Trung-Xô, rõ ràng có những mâu thuẫn (tuy các nhà bình luận phương Tây đương thời không biết đến). Stalin không tin Mao, còn Mao thì bất bình với tính cứng rắn của Stalin đối với Trung Quốc. Nhưng những căng thẳng đó đã bị gạt đi vì mối đe doạ chống cộng điên cuồng của Mỹ ở châu Á đối với một Trung Quốc còn rất yếu. Bất kể những dè dặt riêng đối với đồng minh Xô-viết của họ như thế nào, những nhà lãnh đạo cộng sản Trung Quốc cũng thấy rõ rằng đồng minh đó cho họ sự bảo vệ quân sự và sự ủng hộ ngoại giao rất cần thiết, cũng như cung cấp viện trợ, quỹ buôn bán và đầu tư cần thiết cho phát triển kinh tế. Bây giờ nhìn lại mới thấy thật là mỉa mai vì khi bị người Mỹ tố cáo biến Trung Quốc thành chế độ thuộc địa bằng việc liên minh với Liên Xô, thì báo chí Trung Quốc đã trả lời bằng những bài công phân bác bỏ những lời tố cáo Liên Xô là “chủ nghĩa đế quốc đỏ”.


Vào giữa những năm 1950, vị trí mặc cả của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tốt lên một cách rõ ràng. Công cuộc khôi phục kinh tế bên trong Trung Quốc đã được đánh giá cao. Quân đội Trung Quốc đã hoạt động tốt ở Triều Tiên và năm 1953 người Mỹ đã miễn cưỡng chấp nhận ngừng bắn làm cho Bắc Triều Tiên, đồng minh của Trung Quốc (và của Nga) đã sống sót. Ở Việt Nam các lực lượng Pháp được Mỹ ủng hộ cuối cùng đã bị Việt Minh đánh bại năm 1954. Qua các vai trò của họ tại Hội nghị Geneva về Đông Dương và Triều Tiên năm 1954 và tại Hội nghị Băng Dung của các nước Á-Phi năm 1955, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng họ đã tự mình giành được sự thừa nhận như một cường quốc lớn. Một bài xã luận Nhân dân nhật báo về Geneva đã tuyên bố: “lần đầu tiên với tư cách là một trong những cường quốc lớn, nước Cộng hoà Nhân dân đã cùng với các cường quốc lớn khác tham gia thương lượng về những vấn đề quốc tế trọng yếu và đã có một sự đóng góp của chính mình được những bộ phận rộng rãi của dư luận thế giới hoanh nghênh Quy chế quốc tế của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa như là một trong những cường quốc lớn thế giới đã giành được sự thừa nhận của thế giới. Uy tín của quốc tế của Trung Quốc đã được nâng cao rất nhiều. Nhân dân Trung Quốc rất vui mừng và tự hào về những cố gắng và thành tựu của phái đoàn của họ tại Geneva”. Thêm vào đó, sự làm dịu những căng thẳng chiến tranh lạnh cực đoan đầu những năm 1950 làm cho Trung Quốc có nhiều cơ hội hoạt động hơn.


Kết quả là Trung Quốc chấp nhận một đường lối có tính chất khẳng định hơn, làm tăng thêm những căng thẳng trong liên minh Trung-Xô. Người Trung Quốc tách xa dần kiểu mẫu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô. Cố gắng tập thể hoá của Mao năm 1955 và phong trào “Đại nhảy vọt” thường được đánh giá như là những vấn đề chính trị nội bộ, nhưng chúng có một tầm cỡ quốc tế quan trọng: chúng nhằm mục đích chứng tỏ khả năng của Trung Quốc vượt Liên Xô trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng do tình hình lạc hậu về kinh tế của Trung Quốc nên phải nhấn mạnh vào sự trong sáng trong học thuyết và vào đạo đức tinh thần. Tệ sùng bái chủ tịch Mao được đẩy mạnh vào năm 1958. Nhân dân nhật báo ca tụng ông ta là nhà lý luận Mác-Lê-nin vĩ đại nhất còn sống. Sự bác bỏ rõ ràng vai trò lãnh đạo của Liên Xô đối với khối cộng sản đã được nêu rõ ràng trong đầu những năm 1960, khi người Trung Quốc công bố một loạt bài bút chiến càng ngày càng công khai chống lại “chủ nghĩa xét lại” Xô-viết.

 

Khi đọc những tư liệu chính của giai đoạn đó, người ta có ấn tượng rằng cuộc phân liệt hoàn toàn là một vấn đề của những tranh chấp tư tưởng riêng tư, nhưng cuộc phân liệt đó vẫn tiếp tục tồn tại lâu sau khi chủ nghĩa Mao sụp đổ. Trên thực tế cuộc tranh giành về hệ tư tưởng này thực ra là một cuộc đấu tranh giành vị trí quyền lực chân chính của phong trào cộng sản quốc tế. Những bài bút chiến đầu những năm 1960 về đường lối chung của phong trào cộng sản quốc tế báo hiệu rằng Trung Quốc và Liên Xô đã trở thành những địch thủ giành quyền lãnh đạo khối cộng sản và giành ảnh hưởng trong các nước mới trỗi dậy. Trung Quốc cũng đòi địa vị cường quốc lớn của khối cộng sản; và khi người Xô-viết không chấp nhận yêu sách đó thì hầu như mọi sự kiện quốc tế của giai đoạn đó đều trở thành cơ hội cho cuộc bút chiến gay gắt.


Khi Khruskchev lần đầu tiên đưa ra thuyết “cùng tồn tại hoà bình” giữa các cường quốc cộng sản và tư bản vào giữa những năm 1950, người Trung Quốc ủng hộ thuyết đó, nhưng cuối những năm 1950, người Trung Quốc ngày càng lớn tiếng chỉ trích “sự đầu hàng” của Liên Xô đối với chủ nghĩa đế quốc. Một phần, đó cũng là một phản ứng đối với việc người Xô-viết không chịu hoàn toàn ủng họ những yêu sách của Trung Quốc trong một loạt các khủng hoảng ở biên giới Trung Quốc: khủng hoảng Kim Môn-Đài Loan (năm 1958), rõ ràng do Trung Quốc khởi xướng nhằm ép Liên Xô cam kết sâu hơn nữa đối với sự thống nhất của Trung Quốc trước sự ủng hộ của Mỹ đối với Tưởng Giới Thạch; cuộc nổi loạn ở Tây Tạng (1959); và tình hình căng thẳng tiếp theo với Ấn Độ đưa lại chiến tranh biên giới Trung-Ấn (1962).


Về phần mình người Xô-viết cũng ngày càng bất bình với thách thức của Trung Quốc. Đầu tiên họ bước vào cuộc tranh luận về hệ tư tưởng bằng việc thận trọng giới thiệu những đoạn trích từ Lê-nin để bảo vệ sự “cùng tồn tại hoà bình”. Nhưng sau vài nằm, Khruskchev giận dữ nói đến “những kẻ điên rồ và mất trí” và những kẻ “ba hoa giả hiệu cách mạng" và rõ ràng là ai cũng biết ông ta muốn ám chỉ ai. Một loạt các hành động của Liên Xô càng thêm dầu vào lửa. Năm 1959, không lâu trước khi đi thăm Mỹ, Khruskchev huỷ bỏ lời hứa bí mật giúp Trung Quốc xây dựng một khả năng hạt nhân độc lập (những năm sau, khi tiết lộ việc này, người Trung Quốc nói rằng đó là “quà của Khruskchev cho người Mỹ”). Rồi, năm 1960, Khruskchev rút tất cả các nhà kỹ thuật khỏi Trung Quốc, tuyên bố rằng họ bị ngược đãi. Việc này xảy ra đúng vào cuộc khủng hoảng kinh tế sau cuộc “đại nhảy vọt” của Mao, cho nên nó là một đòn đánh vào các kế hoạch phát triển của Trung Quốc, làm cho người Trung Quốc bất bình và không thể nào quên hàng chục năm sau. Người Trung Quốc đáp lại bằng việc đổ cơn thịnh nộ vào thái độ “ngạo mạn và độc tài” của người Xô-viết.


Nhưng chính mối quan hệ tam giác đang nổi lên gữa Bắc Kinh, Mát-xcơ-va và Washington là điểm nút trong loạt chỉ trích của Trung Quốc đối với những nguyện vọng “cùng tồn tại hoà bình” của Liên Xô. Cuộc tranh cãi ngày càng tăng với Mát-xcơ-va, xảy ra vào lúc các quan hệ với Washington còn đang đối kháng gay gắt, đã làm cho Bắc Kinh bị cô lập một cách nguy hiểm. Bất kỳ một dấu hiệu nào về sự “câu kết” giữa người Xô-viết và người Mỹ đều bị tố cáo là “phản bội” sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản. Khi Mỹ và Liên Xô ký Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân từng phần tháng 7 năm 1963, người Trung Quốc mạnh mẽ tố cáo và một nhà bình luận của Hồng Kỳ lên án rằng đây là một “Liên minh thần thánh” có thể so sánh với liên minh phản cách mạng do Mét-tơ-níc vạch ra sau các cuộc chiến tranh của Napoleon, và tiên đoán một két thúc bất hạnh cũng giống như vậy.


Không kể những lời lẽ quá mức, những lo sợ của Trung Quốc về một sự “câu kết” và một “sự mặc cả bí mật” giữa Mỹ và Liên Xô nhằm kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc không phải là không có cơ sở. Cuộc khủng hoảng Lào năm 1961 là cơ hội đầu tiên cho Trung Quốc xuất hiện như một cường quốc độc lập thứ ba, và cả Mát-xcơ-va lẫn Washington đều tích cực tìm cách hạn chế ảnh hưởng của Bắc Kinh.


Vào giữa những năm 1960, rõ ràng là cố gắng của Trung Quốc giành giật chiếc cẩm bào lãnh đạo khối cộng sản từ tay Liên Xô đã thất bại thảm hại. Hầu như tất cả các Đảng Cộng sản cầm quyền đứng về phía Liên Xô, trừ một vài đảng (đáng chú ý nhất là Bắc Việt Nam và Bắc Triều Tiên) còn cố gắng đứng trung lập và cân đối giữa hai cường quốc cộng sản. Nhưng chủ nghĩa cách mạng sôi nổi của Trung Quốc là hấp dẫn hơn đối với các đảng cộng sản còn đang đấu tranh giành chính quyền. Phần đông các đảng Đông Nam Á đi với Trung Quốc, nhưng ở các nơi khác, Trung Quốc chỉ được ủng hộ của Đảng New Zeland và nhữg phái nhỏ mới tách ra. Những cố gắng tranh thủ về phía Mao các nhà lãnh đạo của các nước Á-Phi, đang đấu tranh để củng cố các quốc gia mới và mong manh của họ, cũng ít thành công. Cố gắng đầu tiên của Trung Quốc nhằm giành bằng chính sức của mình quy chế cường quốc lớn đã tỏ ra quá sớm, làm cho Trung Quốc trở nên bị cô lập hơn bao giờ hết.


Trong bối cảnh như vậy, người Mỹ ào ạt leo thang cuộc chiến tranh Việt Nam 1965, không hề chú ý đến sự bực tức của Trung Quốc về vấn đề đó. Bắc Kinh một lần nữa lại đứng trước một sự can thiệp quân sự quy mô lớn của Mỹ tại một khu vực sống còn đối với nền an ninh của họ, như đã xảy ra ở Triều Tiên một thập kỷ trước đó. Rồi người Trung Quốc đã phải tự mình can thiệp, nhưng lần này không còn được cái ô quân sự Liên Xô bảo vệ nữa. Đa số các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc quanh Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình cho rằng hành động của Mỹ đã làm cho Trung Quốc cần thiết phải một lần nữa siết chặt hàng ngũ với Liên Xô. Nhưng Mao, trong giai đoạn này đã đi sâu vào cuộc “chống chủ nghĩa xét lại” cho nên uy tín cá nhân của ông ta sẽ bị tổn thương nếu đi theo đường lối đó. Ngược lại, ông ta kêu gọi củng cố đường lối “tực lực” của Trung Quốc và tăng thêm chiến dịch chống người Xô-viết.

 

Bị đánh bại bên trong đảng, Mao và đồng minh của ông ta, bộ trưởng quốc phòng Lâm Bưu, tiến hành một chiến dịch “chỉ trích của quần chúng" chống lại các đối thủ của họ. Chiến dịch đó tăng dần, tăng dần, thành cuộc Đại cách mạng văn hoá năm 1966-1968. Cuộc cách mạng này đã tiêu diệt các đối thủ của Mao, nhưng cũng làm cho đảng đổ nát và đất nước rơi vào hỗn loạn. Vào năm 1969, quân đội dưới quyền Lâm Bưu đã xoay xở để phục hồi trật tự và điều khiển đất nước về cơ bản, trong khi đó Mao tìm cách thành lập một đảng cầm quyền đúng theo sở thích của ông ta hơn là Đảng Cộng sản Trung Quốc trước cách mạng văn hoá. Việc đưa ông ta đến gần hơn một lần nữa với những người ôn hoà như Chu Ân Lai, là người đã bảo lãnh để Đặng Tiểu Bình và các nhà cầm quyền lão thành khác được thận trọng phục hồi, làm cho những người cấp tiến mới nổi lên cầm quyền trong cách mạng văn hoá rất buồn phiền.


Tệ “sùng bái cá nhân” Mao đã được lợi dụng hết mức trong cuộc đấu tranh giành quyền lực trong cách mạng văn hoá. Tư tưởng Mao Trạch Đông được tuyên bố cho toàn thế giới như tri thức tối cao của thời hiện đại. Nhưng bên dưới vỏ ngoài của ngôn từ phô trương quá mức đó, đất nước đã bị chìm vào một tình trạng biệt lập mê muội gợi lại Đế chế Trung Hoa cổ xưa. Thậm chí theo nhận xét của một nhà văn có cảm tình Trung Quốc lúc này khinh thường cộng ngoại giao quốc tế và bỏ phần lớn các quan hệ nhà nước với nhà nước của thế giới bên ngoài. Chỉ những kẻ tôn sùng tư tưởng Mao mới được hoan nghênh ở Bắc Kinh.


Trong khi chủ yếu là một cuộc nổi dậy nội bộ, cách mạng văn hoá cũng một phần là do các vấn đề chính sách đối ngoại gây ra và từ đó, có những tác động tai hại đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Các quan hệ của Trung Quốc với thế giới bên ngoài đã đến một điểm thấp năm 1965. Bây giờ, theo Mao, Trung Quốc phải xắn tay áo lên cho một cuộc đụng đầu cuối cùng, quyết định với kẻ thù. Tháng 3 năm 1966, Mao nói với một phái đoàn đến thăm từ Nhật Bản rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ là “không thể tránh khỏi” trong vòng hai năm tới, và người Xô-viết lúc đó cũng sẽ xâm chiếm. Chính sách đối ngoại của Trung Quốc trở nên ngày càng bài ngoại và tiếng la hét phương Tây của họ chỉ có thể sánh được với mức độ dữ dội với những lời tố cáo khối Xô-viết.


Thực vậy, các quan hệ Trung-xô chìm xuống thấp hơn mức bình thường. Năm 1966, ngoại trưởng Trung Quốc Trần Nghị tố cáo rằng người Nga là những kẻ cắp đã cướp 1,6 triệu kilômét vuông lãnh thổ của Trung Quốc và hồng vệ binh đã đổ vào tỉnh biên giới Tân Cương tổ chức những cuộc biểu tình hai triệu người đòi trả lại “đất đã bị mất”. Đầu năm 1967 xảy ra những cuộc biểu tình quần chúng dữ dội trước Đại sứ quán Xô-viết ở Bắc Kinh, và sinh viên Trung Quốc ở Mát-xcơ-va đánh nhau với cảnh sát Xô-viết.


Mao thúc giục mở lại cuộc thương lượng về biên giới từ năm 1963, nhưng theo tuyên bố của Trần Nghị, tình hình căng thẳng tăng lên vì cả hai bên xây dựng lực lượng của mình trên biên giới, đưa đến điểm cao là cuộc chiến đấu trên sông Út-xu-ri tháng 3 năm 1969. Những chi tiết của cuộc tiến công này còn đang mập mờ, tuy phần đông các nhà báo phương Tây, tin rằng do phía Trung Quốc khởi xướng và người Xô-viết đã trả đũa mạnh mẽ. Người Trung Quốc gắn các cuộc xung đột biên giới với sự chiếm đóng Tiệp Khắc của các lực lượng khối Vác-xa-va tháng 8 trước, coi đó là một sự biểu lộ khác của “chủ nghĩa đế quốc xã hội” Xô-viết nhưng một số nhà bình luận cho rằng Mao và Lâm Bưu gây ra sự kiện này để tập hợp sự ủng hộ ở Trung Quốc. Dù sao, lời qua tiếng lại về cuộc đụng đầu Trung-Xô đã bị đẩy đến điểm mà cả hai bên ngụ ý đến việc dùng vũ khí hạt nhân. Đến điểm đó thì người Trung Quốc buộc phải thổi kèn ra lệnh rút lui ngoại giao. Tuy khoác lác trong tháng 3 rằng “bọn cặn bã chống Trung Quốc sẽ cùng đường mạt lộ”, nhưng đến tháng 10 thì họ lại đoan chắc với Mát-xcơ-va rằng “không có bất cứ lý do nào” cho một cuộc chiến tranh biên giới và hứa phục hồi các quan hệ nhà nước với nhà nước. Không lâu sau đó, các cuộc thương lượng về biên giới bị Trung Quốc cắt đứt năm 1964, được nối lại (tuy không đưa lại tiến bộ nào trong việc giải quyết cuộc tranh chấp).


Liên Xô đã giành được an toàn trên biên giới với Trung Quốc, nhưng phải bằng sức ép trực tiếp và với cá giá là phải làm nhục và đẩy chế độ Trung Quốc xa hơn nữa. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẵn sàng cúi đầu trước sức mạnh lớn hơn nếu cần thiết, nhưng việc đó không đưa lại bất kỳ sự hoà giải tiếp theo nào giữa người Xô-viết với ngay cả các phái chống Mao ở Bắc Kinh. Tuy vậy, do đường lối “chống xét lại” của Mao đã đẩy Trung Quốc đến miệng hố của chiến tranh hạt nhân, cho nên nó đã có một sự đánh giá lại ở Bắc Kinh về giá trị của các đồng minh lớn và hùng mạnh. Cũng thấy rõ rằng vào khoảng năm 1969, cố gắng của những người cộng sản Trung Quốc giành một sự thừa nhận như là một cường quốc lớn đã ít đạt được kết quả; sau cuộc cách mạng văn hoá, chế độ Bắc Kinh bị cô lập và dễ bị tổn thương hơn bất cứ lúc nào khác kể từ năm 1949. Đến lúc này, con mắt của Mao chuyển sang Mỹ. Điều này đưa đến một sự bất hoà giữa Mao và Lâm Bưu, mà kết quả là cái chết bất đắc kỳ tử của Lâm Bưu vào năm 1971. (Đây không phải là lần đầu tiên Mao quay sang Mỹ. Ngày 13 tháng 3 năm 1945, Mao đã nói với John Service một quan chức chính trị tại Đại sứ quán Mỹ ở Trung Quốc: “Nhu cầu rất lớn sau chiến tranh của Trung Quốc là phát triển kinh tế, Trung Quốc thiếu nền tảng tư bản chủ nghĩa cần thiết để làm việc đó một mình. Mức sống của chính Trung Quốc đã quá thấp nên không thể hạ xuống nữa để tập trung vốn cần thiết. Mỹ và Trung Quốc bổ sung cho nhau về mặt kinh tế; họ sẽ không cạnh tranh với nhau. Trung Quốc không những điều kiện cần thiết của một nền công nghiệp nặng quy mô lớn. Trung Quốc không thể hy vọng sánh được với Mỹ về công nghệ chế tạo chuyên môn hoá cao, vì vậy Trung Quốc cần xây dựng công nghiệp nhẹ để cung cấp cho thị trường trong nước và nâng cao mức sống của nhân dân mình. Cuối cùng, Trung Quốc có thể cung cấp các hàng hoá đó cho các nước khác ở Viễn Đông. Để trả tiền cho ngoại thương và đầu tư đó, Trung Quốc có nguyên liệu và nông phẩm. Mỹ không những chỉ là nước thích hợp nhất để giúp đỡ công cuộc phát triển kinh tế của Trung Quốc, mà còn là nước duy nhất hoàn toàn có khả năng tham gia” (xem “Cơ hội bị mất ở Trung Quốc: Những tin tức chiến tranh thế giới thứ II” của John S.Service-Lúc đó cũng có đề nghị rằng Mao và Chu Ân Lai đi Washington để giải thích lập trường của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho Roosevelt, nhưng ý kiến này đã bị Patrick J.Hurley chống cộng, đại sứ Mỹ ở Trung Quốc lúc đó, ỉm đi-ND).

 

Trong khi đó, có một số suy nghĩ gay cấn về Trung Quốc diễn ra ở Washington. Mỹ lúc đầu phản ứng về sự phân liệt Trung-Xô bằng cách phủ nhận thực tế đó, và sau đó thì có thiện cảm với bên “ôn hoà” hơn tức là Mát-xcơ-va. Nhưng, trước thục tế rằng Bắc Kinh đã trả lời khiêu khích của Mỹ bằng việc tăng cường tiến công Mát-xcơ-va, các nhà chiến lược Mỹ thấy được khả năng sử dụng những “người cực đoan” ở Bắc Kinh để chống lại người Xô-viết. Tuy nhiên, mọi triển vọng trước mắt về giảm căng thẳng Trung-Mỹ đã bị tràn ngập vì các đợt nước triều của cách mạng văn hoá, và năm 1968 Washington vẫn còn không liên lạc gì với Bắc Kinh hơn Mát-xcơ-va. Tổng thống Johnson cũng bắt đầu công khai nói bóng gió về ý muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc như ứng cử viên tổng thống, Richard Nixon đã làm. Không lâu sau khi Nixon được bầu tổng thống tháng 11 năm 1968, người Trung Quốc đề nghị nối lại hội đàm về một hiệp định cùng tồn tại hoà bình và người Mỹ đã trả lời thuận lợi. Mặc dù có một vài bước lùi đáng chú ý là việc người Trung Quốc lo ngại khi các lực lượng Mỹ và Nam Việt Nam xâm chiếm Campuchia tháng 5 năm 1970, nhưng quan hệ giữa hai nước đã được cải thiện một cách vững chắc. Quá trình này đạt đỉnh cao bằng chuyến thăm Bắc Kinh hấp dẫn của Nixon tháng 2 năm 1972.


Vào lúc nàu, chính phủ Trung Quốc cũng chủ động khôi phục các quan hệ ngoại giao với thế giới bên ngoài, đã bị cắt đứt trong cách mạng văn hoá. Đi đôi với những dấu hiệu rõ ràng về một sự nhích lại gần Trung-Mỹ, Đại hội đồng Liên hợp quốc cuối cùng đã bỏ phiếu công nhận Bắc Kinh chức không phải chính phủ Đài Loan, làm đại diện của Trung Quốc. Vào cuối thập kỷ đó, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã có quan hệ ngoại giao bình thường với phần lớn các nước trên thế giới. Cũng thật mỉa mai, một khi đã bước lên vũ đài công cộng, các cố gắng Trung-Mỹ nhằm nhích gần lại nhau đã bị sa lầy, chủ yếu là vì chẳng bên nào chịu thoả hiệp về vấn đề Đài Loan. Khi cuối cùng các quan hệ được bình thường hoá tháng 12 năm 1978, họ sẵn sàng chôn sâu vào những bất đồng của họ về vấn đề đó và tập trung vào những quan điểm chống Liên Xô. Vào đầu những năm 1970, Trung Quốc nghi ngờ một cách sâu sắc sự “cam kết” Xô-Mỹ, nóng lòng phá hoà dịu giữa hai siêu cường. Thế nhưng cuối thập kỷ thì Bắc Kinh và Washington đua nhau phơi bày thù địch công khai đối với Mát-xcơ-va; điều kiện tiên quyết cho việc củng cố các quan hệ Trung-Mỹ hoá ra là sự phá vỡ hoà dịu Xô-Mỹ, làm cho thế giới bị nhận siêu vào một cuộc chiến tranh lạnh mới cuối những năm 1970.


Các quan hệ đối ngoai của Trung Quốc đã được cách mạng hoá vào đầu những năm 1970. Trong vẻn vẹn ba năm, Trung Quốc đã đi từ sự xem thường có tính chất “cách mạng” các quan hệ bình thường nhà nước với nhà nước dưới thời Lâm Bưu, đến việc chấp nhận một ghế thường trực trong hội đồng bảo an năm thành viên của Liên hợp quốc, một địa vị nói lên sự thừa nhận quốc tế chính thức vê quy chế cường quốc lớn của Trung Quốc. Sau sự khai thông này, các vấn đề chính sách đối ngoại của Trung Quốc không còn là những vấn đề của một quốc gia cách mạng mới nổi lên nữa. Chúng đã thành những vấn đề của sự xác định, củng cố vằng tăng cường địa vị của Trung Quốc như là một cường quốc lớn trong một thế giới của những cường quốc đang cạnh tranh với nhau. Việc này tất yếu có nghĩa là phải xác định lại các quan hệ của Trung Quốc, không chỉ với các cường quốc lớn khác mà còn với những quốc gia nhỏ hơn của khu vực Đông Á.


Trách nhiệm đưa ra một tuyên bố có thẩm quyền về những nguyên tắc của chính sách đối ngoại Trung Quốc sau cuộc cách mạng ngoại giao đó thuộc về Đặng Tiểu Bình, nay được phục hồi sau khi bị Mao gạt trong cách mạng văn hoá. Trình bày của ông ta về “Thuyết ba thế giới” của chủ tịch Mao tại Liên hợp quốc tháng 4 năm 1974 đã đánh dấu sự chấm dứt bất cứ hy vọng trở lại quan điểm “hai thế giới” (chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa cộng sản) trong nền chính trị quốc tế. Theo Đặng thì: “… tất cả các lực lượng chính trị trên thế giới đã trải qua sự phân hoá và sắp xếp lại một cách căn bản thông qua những thử thách kéo dài của sức mạnh và đấu tranh. Một số lớn các nước Á, Phi và Mỹ la tinh đã giành được độc lập hết nước này đến nước khác, và đang đóng một kết quả của sự xuất hiện chủ nghĩa đế quốc xã hội, cho nên phe xã hội chủ nghĩa đã tồn tại trong một thời gian sau chiến tranh thế giới thứ hai, đã không còn nữa. Do quy luật phát triển không đều và gắn bó với nhau của chủ nghĩa tư bản, cho nên khối đế quốc phương Tây cũng đang tan rã. Xét về những thay đổi trong các quan hệ quốc tế, thế giới ngày nay thực tế gồm ba phần, hoặc ba thế giới, vừa liên kết vừa mâu thuẫn với nhau. Mỹ và Liên Xô làm thành thế giới thứ nhất. Các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh và ở các khu vực khác hình thành thế giới thứ ba. Các nước phát triển ở giữa hai thế giới là thế giới thứ hai.


Vì phe “xã hội chủ nghĩa" không còn nữa và “phe đế quốc cũng đã tan rã”, cho nên Trung Quốc chính thức đã thoát khỏi bất cứ cơ sở hệ tư tưởng nào đã từng là nhân tố phân biệt giữa hai “siêu cường”. Trong khi Đặng chính thức gộp Liên Xô vào với Mỹ, người Trung Quốc vẫn tin rằng đối thủ tương lai chính của họ ở vùng Viễn Đông sẽ là Liên Xô. Vì vậy Đặng lập luận rằng Mỹ đang “suy yếu” và Liên Xô là nguy hiểm nhất trong hai siêu cường bởi vì Liên Xô còn trong giai đoạn “bành trướng”. Tuy hệ tư tưởng cộng sản còn được hai quốc gia chia xẻ, nhưng việc chống lại “chủ nghĩa đế quốc xã hội" Xô-viết đã trở thành viên đá nóng của chính sách đối ngoại Trung Quốc trong 7 năm tiếp theo.

 

Sự kình địch Trung-Xô trong những năm 1970


Việc Trung Quốc chuyển sang phương Tây thường được xem trong bối cảnh đe doạ mà vai trò ngày càng tăng của Liên Xô trong các công việc Đông Á gây ra cho Trung Quốc. Phần đông các nhà bình luận phương Tây xem đó như một sự mở rộng quyền lực Xô-viết ra ngoài khu vực lợi ích chính đáng và là triệu chứng của chủ nghĩa bành trướng của Mát-xcơ-va. Nhưng một cái nhìn thoáng qua trên bản đồ cũng đủ để xác định một điểm quan trọng cốt yếu mà thường bị lãng quên: Liên Xô rộng 8,6 triệu dặm vuông nằm trên toàn bộ miền bắc châu Á cũng như một nửa miền bắc châu Âu. Bảy mươi phần trăm lãnh thổ và 29 phần trăm số dân của Liên Xô là châu Á. Ngay dù cho không tính đến các bộ phận châu Âu, Liên Xô là một trong những nước châu Á lớn nhất và đông dân nhất. Trước tình hình như vậy, như Geofrey Jukes đã nhận xét, điều cần giải thích không phải là sự quan tâm hiện nay của Liên Xô đối với các vấn đề châu Á hay là sự thiếu quan tâm trong thời đại Stalin.


Chính sách Viễn Đông của Liên Xô hiện nay phải lo đến nhiều điều. Điều lo âu đầu tiên là làm cho các biên giới lãnh thổ, mà hầu như không thể bảo vệ nổi, trở thành an toàn và bảo đảm. Ở đây biên giới với Trung Quốc là mối đau đầu lớn: với 7.500 kilômét bề dài, biên giới đó tách một khu vực rộng lớn, thưa dân có tài nguyên thiên nhiên rất giá trị ra khỏi một cường quốc thù địch đã có truyền thống khống chế khu vực. Thứ hai, Liên Xô tìm cách thúc đẩy sự phát triển các lãnh thổ châu Á của mình. Nhất là để phát triển Siberia và cảng Vladivostok, Liên Xô đã tìm kiếm sự hợp tác của Nhật Bản, mà cho đến nay chưa thành công. Nhật Bản còn dán mắt vào thị trường Trung Quốc tiềm tàng và sự nhích lại gần Trung-Nhật tiếp theo sự nhích lại gần Trung-Mỹ đã làm giảm ảnh hưởng Xô-viết ở Bắc Á.


Liên Xô cũng đã và đang sử dụng viện trợ và buôn bán với các nước Đông Nam Á để thực hiện sự có mặt của mình nhằm chống lại ảnh hưởng của cả Mỹ lẫn Trung Quốc.

Trong lĩnh vực quân sự, có hai mặt chủ yếu trong việc Liên Xô “phải tiến” vào Viễn Đông. Mặt thứ nhất là việc xây dựng quân sự trên biên giới Trung-Xô, nhất là từ khi đánh nhau trên sông Út-xu-ri năm 1969. Người Xô-viết ước lượng có 400.000 quân đóng tại biên giới với 1,5 triệu quân Trung Quốc triển khai chống lại họ. Mặt thứ hai là sự phát triển hạm đội Hải quân Thái Bình Dương, đóng tại Vladivostok. Như John Lewis đưa tin năm 1979, “trong 20, 25 năm qua, Liên Xô đã từ một cường quốc hải quân, hạng ba lên một cường quốc hải quân hạng nhất” và “bây giờ ngang về sức mạnh” với hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ (xem Tạp chí kinh tế Viễn Đông, FEER, 24-8-79-ND). Người Xô-viết rõ ràng muốn đi đến cân bằng với đối thủ siêu cường của mình mà sự xây dựng lực lượng đã vượt xa bất cứ một cường quốc khu vực nào như Trung Quốc và Nhật Bản và đã làm cho các cường quốc này lo sợ. Cả sự cạnh tranh hải quân với Mỹ lẫn sự mở rộng hạm đội thương thuyền đã làm cho Liên Xô đặc biệt quan tâm về mặt chiến lược đối với sự tự do đi lại trên biển Đông Nam Á, và sự ra vào các cảng và các cơ sở hải quân trong khu vực.


Sự lo ngại về việc người Xô-viết “tiến vào” châu Á đã làm xao lãng sự chú ý đến sự phát triển ảnh hưởng nhanh hơn của Trung Quốc ở Đông Nam Á trong những năm 1970. Sự khai thông đầu tiên của Bắc Kinh là sự bình thường hoá các quan hệ với Miến Điện năm 1971, nhưng điểm ngoặt là lúc mở các quan hệ ngoại giao chính thức với Malaysia năm 1974 và với Philippine và Thái Lan năm 1975. Bắc Kinh đã giảm vai trò ủng hộ đối đầu với các cuộc nổi dậy cộng sản và chính thức bỏ những rêu rao trước kia về việc bảo vệ các cộng đồng hoa kiều, để làm yên lòng những ai còn nghi ngại về những mục tiêu của Trung Quốc. Những cuộc trao đổi chính thức và không chính thức của giới lãnh đạo đã được sử dụng để xây dựng các quan hệ hữu nghị với các chính phủ không cộng sản. Chỉ Singapore và Indonesia tiếp tục từ chối sự công nhận chính thức, nhưng ở đây, cũng vậy, những tiếp xúc không chính thức nhân lên nhanh chóng. Các quan hệ buôn bán cũng tăng nhanh, kim ngạch của Trung Quốc với các nước ASEAN lên đến 4,2 tỷ đôla Mỹ. người Trung Quốc đã tìm được một thị trường sẵn sàng cho xuất khẩu của họ ở Đông Nam Á. Trái lại với buôn bán của Liên Xô ở khu vực này, cán cân buôn bán của Trung Quốc là dư thừa. Một nhà báo tổng hợp lại như sau: “Ảnh hưởng Trung Quốc đã lan rộng nhanh chóng trong khu vực, nhất là trong các nước không cộng sản mà trong quá khứ đã rất sợ những ý đồ của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa”. Việc xây dựng các quan hệ với Đông Nam Á là “một trong những câu chuyện thành công lớn trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc gần đây”.


Sự đẩy mạnh chính sách của Trung Quốc ở Đông Nam Á trong những năm 1970 là nhằm gạt bỏ ảnh hưởng của Liên Xô khỏi khu vực. Những điều khoản cm kết cùng chống “bá quyền” (từ riêng của Trung Quốc dùng để chỉ người Xô-viết) đã được đưa vào Thông cáo Thượng Hải Chu-Nixon năm 1972 và trong các thông cáo bình thường hoá quan hệ với các nước Đông Nam Á. Sau khi binh thường hoá các quan hệ Trung-Thái, người Trung Quốc mô tả việc đó như là một khâu trong “mặt trận chống bá quyền” do Trung Quốc đỡ đầu, nhằm “bảo đảm” cho Đông Nam Á thoát khỏi “sự bành trướng tăng lên của Liên Xô”. Một mặt khác của mưu đồ kéo Đông Nam Á vào một khối chống Xô do Trung Quốc lãnh đạo là việc khuyến khích sự có mặt quân sự tiếp tục của Mỹ trong khu vực nhằm tăng thêm nanh vuốt. Trong khi Bắc Kinh đã từng tự tuyên bố là người chống đối kiên cường nhất “chủ nghĩa đế quốc Mỹ”, người Trung Quốc bây giờ bắt đầu nói đến Mỹ như ”một quốc gia châu Á và Thái Bình Dương" với một “vai trò xứng đáng và có trách nhiệm” ở Đông Nam Á (xem “Chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau cách mạng văn hoá 1966-1967” của Robert G.Sutter)-ND).


Như vậy, giới lãnh đạo Bắc Kinh có thể nhìn một cách rất hài lòng những kết quả chính sách của họ ở Đông Nam Á. Nói một cách rộng hơn thì họ đã thành công trong việc bảo đảm rằng ảnh hưởng của Trung Quốc chứ không phải của Liên Xô đã được mở rộng ở Đông Nam Á khi sự có mặt của Mỹ suy yếu sau thất bại ở Đông Dương. Đó là những vấn đề mà tất cả các phe phái chính trong giới lãnh đạo Trung Quốc có thể thoả thuận với nhau, mặc dù có những bất đồng khác của họ. Vì vậy cái chết của Chu và Mao (1976), sự sụp đổ của bà Mao và “Lũ bốn tên” (1976), sự lên và xuống của Hoa Quốc Phong (1976-1981) và sự nổi lên của Đặng Tiểu Bình (1977 trở đi) rất kỳ lạ đã có ít tác động đến sự điều khiển chính sách của Trung Quốc. Thực vậy, có thể là sự bận tâm của các nhà lãnh đạo Trung Quốc với cuộc tranh giành quyền lực nội bộ đã góp phần làm cứng rắn thêm các chính sách đối ngoai của Trung Quốc trong giai đoạn đó.

 

Siết mạnh Việt Nam


Theo quan điểm của Bắc Kinh, chính Việt Nam là nguyên nhân chính của sự bất bình. Chính phủ Bắc Kinh đã giúp những người cộng sản ở Việt Nam, và hoàn toàn chờ đợi rằng Trung Quốc chứ không phải Liên Xô là cường quốc lớn chính được hưởng thắng lợi của Việt Nam. Sức ép của Trung Quốc đã tăng lên, nhưng người Việt Nam tìm cách sử dụng tối đa tính chất độc lập của họ đối với Bắc Kinh bằng việc tiếp tục cân bằng ảnh hưởng Trung Quốc và Liên Xô, và bằng cách khai thông với phương Tây. Nhất là với những thắng lợi rõ rệt của chính sách chống Xô-viết của Trung Quốc ở các nơi khác trong kháng chiến, các nhà lãnh đạo Trung Quốc coi cố gắng của Hà Nội giữ cân bằng giữa Mát-xcơ-va và Bắc Kinh là một hiểu hiện “vô ơn bạc nghĩa” không còn cần phải dung thứ nữa. Tuy đã từng có những căng thẳng trong quan hệ giữa các chế độ cộng sản Trung Quốc và Việt Nam từ lâu, nhưng khí ức ép của Trung Quốc tăng lên thì những căng thẳng đó nhân lên nhanh chóng.


Trong những luận chiến sau cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979, người Trung Quốc cho rằng những căng thẳng đó xuất hiện sớm hơn nhiều. Họ giải thích bằng sự vô ơn bạc nghĩa của ông Lê Duẩn và đồng sự của ông ta, đã để cho thắng lợi vượt qua đầu họ. Luận chiến của Trung Quốc không nhắc đến sức ép ngày càng tăng của Bắc Kinh đối với Hà Nội, nhưng họ nói rằng Trung Quốc chờ đơi sự giúp đỡ thời chiến của họ phải được trả lại bằng việc xem trọng những mục tiêu chiến lược của Trung Quốc trong khu vực, nhất là việc gạt bỏ ảnh hưởng Xô-viết.


Sách trắng tháng 10 năm 1979 của Việt Nam mô tả người Trung Quốc luôn luôn cản trở cách mạng Việt Nam từ Hội nghị Geneva trở đi. Hà Nội cho rằng người Trung Quốc thực sự câu kết với người Pháp tại Geneva, và họ đã ép Việt Nam chấp nhận một giải pháp thoả hiệp làm cho Việt Nam và Lào bị chia cắt và không quy định vùng tập kết cho người Khmer Ít-xa-rắc, vào một lúc mà tình hình trên chiến trường đã đưa thắng lợi hoàn toàn đến tầm tay. Khi Mỹ, sau đó, can thiệp để ủng hộ chế độ chống cộng sản ở Sài Gòn (và cũng cần thêm cả Viêng Chăn nữa) thì Trung Quốc làm hết sức minh để hạn chế phía cộng sản. Trung Quốc đã bật “đèn xanh” cho sự leo thang sau đó của Mỹ bằng việc nói rõ rằng Trung Quốc không trả lời bằng quân sự các hành động của Mỹ, tích cực tìm cách ngăn cản một hành động thống nhất của khối cộng sản và rồi tìm cách gạt bỏ một giải pháp thương lượng cho cuộc xung đột. Tất cả điều đó, Sách trắng lập luận, là nhằm giữ cho Việt Nam yếu và bị chia cắt để dễ dàng sự bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á.


Nếu lập luận này phần nào có vẻ kích động, thì trả lời của Trung Quốc đặc biệt không thuyết phục. Họ thích nhắc đến số lượng viện trợ mà Trung Quốc cấp cho Hà Nội và đến các quan hệ hoà thuận của giai đoạn 1949-1954 (mà Sách trắng càng ít nói đến càng tốt) và cố tìm cách dùng lừa gạt và đe doạ để che lấp các điểm chính trong lời buộc tội của Việt Nam.


Nhưng trên thực tế, những phân tích của phương Tây về trò chơi quyền lực của Trung Quốc ở Geneva xác nhận các tuyên bố của Việt Nam. Các lợi ích của Trung Quốc đã được thoả mãn khi đã thành lập được một quốc gia cộng sản ở Bắc Việt Nam và khi Pa-thét Lào kiểm soát tỉnh Phong Xa Lỳ ở Lào. Sau khi đạt được hai việc đó, Trung Quốc tìm một thoả hiệp với phương Tây (hy vọng rằng bằng cách đó có thể duy trì được một nước Mỹ thù địch nằm xa Trung Quốc), trong khi Việt Minh thì tính đến việc giải phóng hoàn toàn Đông Dương, tiếp theo thắng lợi của họ đối với người Pháp tại Điện Biên Phủ; và không những họ không nhất trí được với nhau về những hành động của họ, nhiều lần Chu Ân Lai đã làm cho ông Phạm Văn Đồng mất khả năng mặc cả với Pháp.


Cũng đúng là trong những năm 1960, tuy lời lẽ thì đầy giọng chiến đấu, nhưng Bắc Kinh đã làm hết sức mình để tránh bị vướng vào một đối đầu quân sự trực tiếp với Mỹ trên đất Việt Nam. Với việc Mỹ leo thang chiến tranh trong năm đó, Bắc Kinh bỏ moi hy vọng về một giải pháp hoà bình. Họ dành cho cố gắng chiến tranh của Việt Nam mọi viện trợ có thể có nhưng không chịu cùng với Mát-xcơ-va phản đối Mỹ và làm hết sức mình cản trở cuộc thương lượng Mỹ-Việt Nam mà Mát-xcơ-va khuyến khích. Họ cũng đòi Hà Nội dùng một chiến lược kéo dài chiến tranh, ít nguy hiểm, chứ không nên có bất cứ cố gắng nào để đạt một thắng lợi quyết định. Trong trả lời của họ cho Sách trắng của Hà Nội, người Trung Quốc tránh bất cứ sự thảo luận cụ thể nào về vấn đề đó.


Chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam trong thời kỳ đó dường như bị chi phối chủ yếu vì những suy xét về an ninh quốc gia, và vì các quan hệ tam giác giữa Bắc Kinh, Mát-xcơ-va và Washington. Một mặt Bắc Kinh muốn các lực lượng Mỹ thù địch đang “bao vây” Trung Quốc bị đánh bại, nhưng mặt khác thì cố ngăn cản bất kỳ giao chiến hoặc hành động trực tiếp nào của Việt Nam có thể khiêu khích Mỹ trả đũa chống lại chính Trung Quốc. Cuối cùng Bắc Kinh cũng tìm cách gạt bỏ mọi sự “câu kết” giữa Mát-xcơ-va và Washington. Chẳng có chút nghi ngờ nào các chính sách cơ bản đó (đừng nói gì đến những điều cực đoan của cách mạng văn hoá) đã đưa đến những căng thẳng nghiêm trọng trong mối quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội, cũng giống như những lợi ích khác nhau của những người cộng sản Việt Nam và Campuchia đã dẫn đến những căng thẳng trong mối quan hệ của họ.


Như vậy những căng thẳng Trung-Việt nghiêm trọng đã tồn tại suốt từ cuối những năm 1950 và trong những năm 1960. Nhưng sự nhích lại gần của Trung Quốc với Mỹ trong đầu những năm 1970 đã căn bản làm thay đổi các chính sách của Bắc Kinh đưa đến việc theo đuổi một lập trường quyết đoán hơn đối với Hà Nội. Trước tin, việc Mỹ quay sang Trung Quốc rõ ràng là nhằm ý định tăng sức ép với Hà Nội. Trong thông cáo Thượng Hải năm 1972 phía Mỹ hứa rằng các lực lượng của họ sẽ dần dần rút khỏi Đài Loan “khi căng thẳng trong khu vực giảm đi”. Trong lời tuyên bố “viết một cách khéo léo” đó, như các người viết tiểu sử Kissinger đã viết, “người Mỹ ngụ ý rằng nếu Trung Quốc muốn đẩy nhanh việc Mỹ rút khỏi Đài Loan, thì Trung Quốc chỉ cần ép Hà Nội đi vào một giải pháp thoả hiệp” (xem “Kissinger” của Marvin Kalb và Bernard Kalb, New York, 1975, tr.318-ND).

 

Thứ nhì, một khi đã rõ ràng là Mỹ đang trên con đường ra khỏi Đông Dương, thì Liên Xô đã trở thành đối thủ tranh giành ảnh hưởng chính thức của Trung Quốc. Và sau cuộc “ngừng bắn” ở Nam Việt Nam và Lào, việc các lực lượng cộng sản địa phương không còn dựa nhiều vào vũ khí do Mátxcơva cung cấp như trước nữa, đã mở đường cho Trung Quốc ảnh hưởng trở lại ở khu vực. Những báo cáo bí mật nội bộ của Trung Quốc, gọi là “Tài liệu Côn Minh”, cho thấy rằng các nhà lãnh đạo Bắc Kinh đang chuẩn bị cho một trận giao tranh lớn với Liên Xô để giành ảnh hưởng ở Đông Nam Á, tiếp theo Hiệp định hoà bình Paris năm 1973: “Cuộc đình chiến Việt Nam là… có lợi cho chúng ta… Sau cuộc đình chiến Triều Tiên ván cờ trên bàn cờ Đông Nam Á không còn chơi được nữa. Ván cờ bây giờ đã được cuộc ngừng bắn, Việt Nam làm sống lại. Một khi Mỹ đã ra đi, những chó săn của chúng ở châu Á trở nên rất lo lắng. Những nhà thống trị của các nước như Thái Lan, Singapore và Philippin, do nhận thấy rằng Mỹ không thể bám lại mãi nên tất cả đều muốn có quan hệ với chúng ta… Trong quá khứ, chủ nghĩa xét lại Xô-viết đã can thiệp ở Đông Nam Á với lý do để giúp đỡ Việt Nam. Ngày nay vì chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt, chúng ta, bằng cách làm việc nhiều hơn, có thể đánh bại chủ nghĩa xét lại Xô viết một cách có hiệu quả hơn” (xem “Trung Quốc và ba thế giới: sổ tay chính sách đối ngoại”, do C.Chen xuất bản, London, 1979, tr.149-150-ND).


Trong tình hình như vậy, người Trung Quốc không chút nào muốn kết thúc nhanh cuộc đấu tranh ở Việt Nam. Việc Trung-Mỹ nhích lại gần nhau đã loại bỏ mối đe doạ của sự có mặt của Mỹ, cho nên việc chế độ Thiệu chậm sụp đổ sẽ làm cho người Trung Quốc có thêm thì giờ và cơ hội xoay sở để chống lại ảnh hưởng Xô viết trong một Đông Dương sau chiến tranh. Vào điểm này, những khiêu khích của Thiệu ở quần đảo Paracel (Hoàng Sa-ND) đã cho Bắc Kinh một cơ hội hoàn hảo để gây sức ép với Hà Nội bằng việc khẳng định yêu sách của họ trong biển Đông. Nhưng rồi chế độ Sài Gòn đột ngột tan rã đầu năm 1975, và một Việt Nam thống nhất lại đã xuất hiện, mà theo quan điểm của Trung Quốc, đã quá sẵn sàng đi với người Xô viết. Một tình hình giống như vậy, tuy tính chất có nhẹ hơn, cũng được áp dụng cho Lào. Chỉ có chế độ Pol Pot không có quan hệ gì với người Xô viết và chính chế độ đó đã được người Trung Quốc ban cho mọi ân huệ từ sau năm 1975.


Trước đây Hà Nội đã tìm cách cân bằng những yêu sách của hai nước lớn, nhưng khi Bắc Kinh tăng cường sức ép sau năm 1973 thì việc cân bằng đó trở nên ngày càng khó khăn. Hà Nội đáp ứng lại bằng việc tiến lại gần Mát-xcơ-va, một bên ủng hộ vừa là giầu hơn vừa là ít đòi hỏi hơn, và bằng cách khai thông với phương Tây, nhưng chưa thành công. Vào năm 1976 thì sức ép của Trung Quốc đã trở nên công khai với lời tuyên bố của Mao rằng người Việt Nam đã không chiến đấu bốn mươi năm để rồi lại dâng đất nước cho người Xô viết. Nhưng cái chết của Mao tháng 9 năm 1976 gây ra một cuộc đấu tranh phe phái đắng cay ở Bắc Kinh làm cho Hà Nội đỡ căng thẳng trong một số tháng.


Sau cuộc thanh trừng “Lũ bốn tên” đã xảy ra một sự cải thiện ngắn trong các quan hệ Trung-Việt và có vẻ như các nhà lãnh đạo mới Trung Quốc đã quyết định rằng cách đề cập tốt nhất sẽ là tranh thủ Hà Nội chứ không phải đẩy họ sâu về phía Mát-xcơ-va. Tuy nhiên, vào giữa năm 1977, rõ ràng Bắc Kinh cho rằng cách đó không đưa lại những kết quả vừa lòng, và bắt đầu siết đinh ốc một lần nữa ở biển Đông. Năm 1978, căng thẳng tăng lên về vấn đề người Hoa và tình hình ở biên giới Trung Việt bắt đầu xấu đi một cách nghiêm trọng nhưng phát triển bùng nổ nhất là quyết định của Trung Quốc công khai ủng hộ chiến tranh biên giới của Pol Pot chống Việt Nam.


Tầm quan trọng của Campuchia trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh không phải là điều mới. Trung Quốc đã có quan hệ tốt với chính phủ Sihanouk từ hội nghị Geneva. Mục tiêu chính của Bắc Kinh lúc đó là gạt sự có mặt quân sự của Mỹ, và chế độ trung lập của Sihanouk thoả mãn được mục tiêu đó. Từ năm 1956, Trung Quốc cho Sihanouk nhiều viện trợ kinh tế và, theo một chuyên gia, Trung Quốc đã cho chính phủ Sihanouk một sự “bảo đảm” an ninh chống lại người Việt Nam (Xem “Chính sách đối ngoại của Campuchia” của Roger M.Smith, Itâc, 1965, tr.117-118-ND). Trung Quốc ít ủng hộ Đảng Cộng sản Campuchia, nếu không nói là không ủng hộ gì, vì cũng như người Việt Nam, Trung Quốc không đồng ý với chiến lược lật Sihanouk của Pol Pot. Nhưng khi Sihanouk bị cánh hữu lật đổ năm 1970, thì chính Chu Ân Lai đã thuyết phục Sihanouk đi với Khmer đỏ. Cả Sihanouk lẫn đảng cộng sản Campuchia không tin những người cộng sản Việt Nam mà lúc đó họ đã trở thành đồng minh, và việc Matxcơva nhanh chóng thừa nhận chế độ Lon Non ở Phnôm Pênh có thể đã vô tình giúp đẩy cả hai vào phe Trung Quốc. Năm 1972, Trung Quốc đã cảnh cáo rằng họ sẽ chống lại một tình hình trong đó Đông Dương bị bất cứ nước nào (đó là Việt Nam) khống chế (Michael B.Yahuda) trích trong quyển “Vai trò của Trung Quốc trong công việc thế giới”, London, 1978, tr.263-ND).


Các quan hệ giữa Trung Quốc và Khmer đỏ đã được củng cố sau tháng 4 năm 1975. Các máy bay Trung Quốc đã có tin bay vào Campuchia ngay sau thắng lợi của Khmer đỏ và trong một số tháng đã trở thành khâu liên lạc duy nhất của Campuchia với thế giới bên ngoài. Thật vậy, Trung Quốc là nước duy nhất mà chế độ mới ở Phnôm Pênh có quan hệ chặt chẽ. Không lâu sau đó, Bắc Kinh cung cấp viện trợ quân sự lớn, bảo đảm việc mở rộng quân đội Khmer đỏ, đã được ra đời cùng với sự trở lại của hoà bình. Tháng 8 năm 1975, Khieu Samphan thăm Bắc Kinh và ký một hiệp định về hợp tác kinh tế, theo đó Trung Quốc thoả thuận viện trợ cho Campuchia 200 triệu đô la Mỹ trong khoảng thời gian từ 5 đến 6 năm. Cùng dịp đó, Khieu Samphan cũng ký một thông cáo chung lên án “bá quyền” Xô viết.

 

Dưới ánh sáng của những cam kết đó, không thể tránh khỏi được việc Trung Quốc dính líu vào cuộc chiến tranh biên giới của Pol Pot với Việt Nam. Khó mà đồng ý được với Stephen Heder rằng lập trường của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp Việt Nam-Campuchia là một lập trường trung lập. Trung Quốc đã thiết lập với chế độ Khmer đỏ cái mà Heder mô tả khá chính xác là “một liên minh chống Xô viết”. Nhưng Bắc Kinh cũng ra sức ép Việt Nam theo liên minh đó, không phải nhằm tìm cách tránh làm xấu thêm quan hệ với Hà Nội như Heder cho là như vậy. Trong khi Việt Nam duy trì các quan hệ của mình với Liên Xô thì Trung Quốc nhất định phải chống lại việc Việt Nam phát triển một ”mối quan hệ đặc biệt” với Phnôm Pênh. Thật vậy, khuyến khích Pol Pot là cách có lợi cho Trung Quốc để tăng cường sức ép đối với Việt Nam.


Dù sao “hành động cân bằng” của Trung Quốc đã kết thúch với sự leo thang của cuộc tranh chấp Việt Nam-Campuchia năm 1977. Khi Pol Pot ăn mừng thắng lợi của ông ta trong cuộc đấu tranh nội bộ đảng bằng cuộc đi thăm Bắc Kinh tháng 10, thì Pol Pot đã được đón tiếp cực kỳ nồng nhiệt. Hoa Quốc Phong, người tạm thời đứng đầu nên chính trị Bắc Kinh đã đích thân chủ trì cuộc đón tiếp với sự tham dự của 9 uỷ viên khác của Bộ Chính trị Trung Quốc. Trung Quốc cắt tất cả mọi hợp tác quân sự với Việt Nam ngày 31 tháng 12, ngày mà Campuchia cắt đứt quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Trung Quốc bỏ bộ mặt trung lập giả sau cuộc tính chất của Việt Nam tháng 12 năm 1977, công khai lên án Hà Nội là xâm lược Bắc Kinh đòi hỏi một giải pháp thương lượng, nhưng cố tình không biết rằng chính Phnôm Pênh chứ không phải Hà Nội đã không chịu thương lượng.


Tháng giêng năm 1978, vợ goá của Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu đã thăm Phnôm Pênh và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia. Những chuyến vũ khí và đạn dược mới đã được gửi đến trong tháng tiếp theo. Số vũ khí đó gồm cả trọng pháo 130 mm, được triển khai ngay để bắn phá Việt Nam. Tháng 3, các kỹ sư Trung Quốc đến để xây dựng lại đường xe lửa Công-pông Xom-Phnôm Pênh. Sau khi làm xong nhiệm vụ này, những kỹ sư đó ở lại tại chỗ, rõ ràng để báo hiệu cho Hà Nội biết rằng bất cứ hành động nào chống lại Phnôm Pênh sẽ có liên quan đến người Trung Quốc.


Tất cả điều đó là một bộ phận của cái mà một chuyên gia Mỹ mô tả như là một chính sách “kiềm chế” của Trung Quốc đối với Việt Nam. Chính sách đó đã chấm dứt tháng 5 năm 1978, khi người Trung Quốc “bắt đầu một loạt… các hành động rõ ràng nhằm gây sức ép mạnh hơn nữa đối với Việt Nam". Các công trình viện trợ đều bị cắt giảm và người Trung Quốc bắt đầu mô tả Việt Nam là “Cuba châu Á”. Khi Việt Nam đến giai đoạn cho là phải triệt bỏ Pol Pot, tham gia hội đồng tương trợ kinh tế để tự bảo bảo vệ mình, thì Nhân dân nhật báo Bắc Kinh phản ứng bằng việc tố cáo Việt Nam có những tham vọng thôn tính và lặp lại những lời tố cáo của Pol Pot về “Liên bang Đông Dương”. Người Trung Quốc đẩy mạnh viện trợ quân sự cho chế độ Campuchia, cắt phần còn lại của các công trình viện trợ ở Việt Nam, và đóng cửa biên giới Trung-Việt. Tiếp theo tình hình này, các cuộc va chạm quân sự ở biên giới tăng lên nhanh chóng.


Từ chuỗi sự kiện đó, những người cộng sản Việt Nam kết luận rằng bàn tay đen tối của Bắc Kinh nằm sau những rắc rối của họ với Campuchia. Phản ánh lại những lý luận mà chúng tôi đã nghe ở Hà Nội, Uyn-Phrết Bơ-sết đã viết: “Tại sao một giải pháp thương lượng giữa hai quốc gia láng giềng do hai đảng cộng sản cho là đồng chí lãnh đạo, lại không thể thực hiện được? Bây giờ đã rõ rằng rằng vào năm 1977, Bắc Kinh đã điều khiển các công việc của Khmer đỏ… Trong khi Việt Nam quyết tâm không chịu đặt mình vào túi của Trung Quốc thì Pol Pot đã tự nhảy vào đó. Trung Quốc đã bị lên án trong nhiều dịp muốn đánh Mỹ với người Việt Nam cuối cùng và chắc chắn không chống lại việc đánh Việt Nam với người Campuchia cuối cùng”.


Khi Việt Nam tham gia COMECON, bộ trưởng quốc phòng của Pol Pot, Son Sen được cử ngay đến Bắc Kinh để tranh thủ thêm sự ủng hộ, nhưng kết quả tỏ ra rất thất vọng đối với ông ta. Kể từ chuyến đi thăm của Pol Pot, cuộc đấu tranh quyền lực ở Bắc Kinh đã đánh vào những người bạn của chế độ Khmer đỏ, và Son Sen không làm việc với Hoa Quốc Phong, mà với Đặng Tiểu Bình, con người đã không quên rằng đã từng bị đài phát thanh Phnôm Pênh lên án năm 1976 là “chống xã hội và phản cách mạng". Rõ ràng Đặng muốn tìm cách đẩy chế độ Pol Pot vào con đường ôn hoà. Người ta nói rằng Đặng đã nói toạc với Son Sen rằng trong khi Trung Quốc sẽ làm hết sức mình để tránh một sự sụp đổ của chế độ Phnôm Pênh, tất cả viện trợ của Trung Quốc trên thế giới sẽ không còn có ích gì nếu Pol Pot tiếp tục bước đi chính trị của ông ta hiện nay.


Đặng cũng cam kết mạnh mẽ như bất cứ ai ở Bắc Kinh cho khái niệm dùng chế độ Phnôm Pênh như là một công cụ chống lại “bá quyền” Xô viết ở Đông Nam Á, nhưng ông ta được người ta nói là đã lập luận rằng nếu Campuchia tiếp tục những khiêu khích hung hăng trên biên giới Việt Nam với mức đang làm hiện nay thì sẽ làm cho một cuộc xâm chiếm của Việt Nam không thể tránh khỏi được. Kết quả sẽ là sự khống chế của Việt Nam đối với toàn bộ Đông Dương, chứ không phải như mong muốn cá nhân của Đặng rằng một Campuchia thân Trung Quốc sẽ “làm chảy máu” Việt Nam lâu dài.

 

Như vậy là Son Sen trở về với nhiệm vụ khó khăn là tìm cách vận động Pol Pot trở nên ôn hoà hơn trong khi ông ta đang nói đến việc trả thù cuối cùng đối với những kẻ “phản bội thân Việt Nam" của khu vực Đông Campuchia. Pol Pot đã để cho Sihanouk đa ra một vài tuyên bố công khai có tính chất trang sức, nhằm ủng hộ chế độ Campuchia dân chủ, còn thì dường như không đáp ứng gì hơn đối với sức ép của Đặng. Đầu tháng 9, một người khác trong bọn của Pol Pot-Nuon Chea, đi thăm Bắc Kinh, nhằm đề nghị Trung Quốc đưa quân vào Campuchia nhưng có vẻ không thành công. Trái lại Đặng thúc giục Khmer đỏ bắt đầu chuẩn bị một chiến dịch du kích lâu dài chống lại các lực lượng chiếm đóng của Việt Nam. Người Trung Quốc bắt đầu chuyển vũ khí, đồ ăn hộp và trang bị radio vào Campuchia để dùng cho cuộc đấu tranh đó. Son Sen chịu trách nhiệm chuẩn bị các căn cứ trong núi và chuyển dự trữ gạo và các đồ tiếp tế khác vào các căn cứ đó.


Khi người Việt Nam ký hiệp ước hữu nghị với Liên Xô tháng 11 năm 1978, người Trung Quốc nhanh chóng cử một phái đoàn đi Phnôm Pênh để bảo đảm với các nhà lãnh đạo Khmer đỏ về sự ủng hộ của Bắc Kinh. Pol Pot lên đài phát thanh Phnôm Pênh để ca ngợi điều mà ông ta mô tả như là “sự ủng hộ vô điều kiện" của Bắc Kinh đối với cuộc đấu tranh chống Việt Nam của Campuchia. Nhưng thực tế thì ít chắc chắn hơn. Đặng Tiểu Bình đã cử Uông Đông Hưng, một trong những kẻ thù chính trị của ông ta (mà cuối cùng ông ta đã cách chức tháng 2 năm 1980) sang Phnôm Pênh, trong khi bản thân ông ta đã đi vòng quanh các thủ đô ASEAN để đối lại chuyến đi trước đó của ông Phạm Văn Đồng.


Vào giai đoạn này dường như Đặng đã xoá tên của chế độ Pol Pot. Tại Bangkok ông ta tiên đón rằng Việt Nam sẽ xâm chiếm và Campuchia sẽ hoàn toàn bị chinh phục. Mục tiêu của ông ta không phải giữ Pol Pot ở Phnôm Pênh, mà thuyết phục các nước ASEAN cùng với Trung Quốc ủng hộ một cuộc nổi dậy vũ trang ở Campuchia chống lại chế độ do Việt Nam ủng hộ ở Phnôm Pênh. Ông ta cũng nói rằng phản ứng trực tiếp của Trung Quốc đối với cuộc xâm chiếm có thể xảy ra của Việt Nam với Liên Xô, tuy ông ta thêm rằng ông ta sẽ không loại trừ “một cuộc tính chất trừng phạt của Trung Quốc giống như cách đã tính chất các lực lượng Ấn Độ năm 1962” (xem bài của Nayan Chanda đăng trong Tạp chí Kinh tế Viễn Đông, 24 tháng 11 năm 1978-ND).


Vào giai đoạn này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn khác nhau về con đường phải đi. Khi Việt Nam đối với Matxcơva trong tháng 6, một số như Hoa Quốc Phong rõ ràng cho rằng Trung Quốc phải có những biện pháp quyết liệt. Nhưng Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh sự cần thiết phải thận trọng bởi vì có nguy cơ trả đũa của Liên Xô nếu Trung Quốc có bất cứ biện pháp quân sự nào chống lại Việt Nam (xem “Chiến lược của Trung Quốc" của Robert G.Sutter, tr. 1818-182-ND). Trong tình hình còn đang lưỡng lự một cách tế nhị này, sự ủng hộ của Mỹ đối với Trung Quốc làm nghiêng cán cân về phía chiến tranh.


Trong khi các quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam xấu đi, thì sự bình thường hoá các quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington thu được tiến bộ nhanh chóng. Hai quá trình này liên kết với nhau, bởi vì chính ý muốn tăng cường các chính sách chống Xô của họ đã thúc cả hai bên thoả hiệp về vấn đề Đài Loan, và những người theo đường lối chống Xô cứng rắn ở Washington khuyến khích Trung Quốc có đường lối thô bạo chống Việt Nam. Trong chuyến đi thăm tháng 5 năm 1978 mà cuối cùng mở đường cho việc bình thường hoá hoàn toàn các quan hệ Trung-Mỹ, Brê-din-zki tuyên bố rằng Mỹ chia sẻ “quyết tâm của Trung Quốc chống lại các cố gắng của bất cứ quốc gia nào tìm cách thiết lập bá quyền toàn cầu hoặc khu vực"; “bá quyền khu vực" là từ mà Bắc Kinh dùng để chỉ Việt Nam. Việc Trung Quốc quay sang chính sách thô bạo đối với Việt Nam chỉ xảy ra 4 ngày sau đó. Mỹ thì đã ngăn chặn các cố gắng đầu tiên sau chiến tranh của Việt Nam nhằm mở cửa ra phương Tây, và trong nửa sau của năm 1978, Mỹ tiếp tục bác bỏ những cố gắng hoà giải ngày càng tăng của Hà Nội.


Khi Việt Nam ký hiệp ước quân sự với Liên Xô tháng 11, Mỹ phản ứng lại bằng việc công bố rằng Mỹ không còn chống lại việc bán hàng quân sự cho Bắc Kinh, và đầu tháng 12, Mỹ rõ ràng đi đến chống Hà Nội trong cuộc tranh chấp biên giới Việt Nam-Campuchia. Khi người Trung Quốc hoan nghênh các hành động đó như là đã giúp hạn chế ảnh hưởng của “người thay thế” Mat-xcơ-va, thì Washington không hề phản đối. Hiệp định bình thường hoá quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh, công bố ngày 15 tháng 12, đã nhấn mạnh cam kết của cả hai bên chống lại “bá quyền quốc tế” (tức là Liên Xô), và không có sự phản đối nào của Mỹ khi Hoa Quốc Phong thêm rằng hiệp định cũng sẽ có ích để chống lại “bá quyền khu vực". Mười ngày sau, Việt Nam xâm chiếm Campuchia đánh đổ chế độ Pol Pot với một tốc độ làm kinh ngạc ngay những người (như Đặng) đã từng không tin về các khả năng quân sự của Campuchia dân chủ.

 

Người Trung Quốc bắt đầu từ giữa tháng giêng chuẩn bị quân sự cho cuộc xâm lược Việt Nam của họ, tin chắc rằng sự ủng hộ của Mỹ sẽ bảo vệ họ chống lại sự trả đũa có thể có của Liên Xô. Nhưng Đặng rõ ràng không hoàn toàn hài lòng cho đến sau khi thăm Mỹ vào cuối tháng đó. Đặng đã báo riêng cho tổng thống Mỹ về cuộc xâm lược dự định đó. Nhưng công khai thì ông ta nói đến sự cần thiết “dạy cho Việt Nam một bài học”. Cater nói rằng ông ta khuyên riêng Đặng không nên thực hiện cuộc xâm chiếm (xem “Giữ lòng tin” của Jimmy Cater, London, 1982, tr.206-209-ND). Công khai mà nói thì trong khi không ủng hộ các tuyên bố của Đặng về sự cần thiết “dạy Việt Nam một bài học”, người Mỹ vẫn không phản đối. Nhưng họ cũng không công khai nhắc nhở Trung Quốc không nên xâm lược hoặc đe doạ Trung Quốc sẽ dùng một hình thức trả đũa ngoại giao nào đó, nếu Trung Quốc cứ thực hiện ý định của mình. Họ đợi đến khi Đặng đã rời Mỹ rồi mới tuyên bố rằng các quan điểm đó không nhất thiết là của Mỹ hoặc của Trung Quốc. Đặng dường như coi đó là một sự ủng hộ mặc nhiên. Quyết định cuối cùng thực hiện cuộc xâm lược đã có tin được đưa ra trong ngày sau khi Đặng về đến Bắc Kinh.


Theo Victor Zorza một nhà quan sát thạo tin, động cơ chính của chính sách Mỹ vào tình huống đó là củng cố phái của Đặng trong cuộc đấu tranh quyền lực đang diễn ra ở Bắc Kinh. Mười lăm ngày trước cuộc xâm lược của Trung Quốc, anh ta đưa tin: “Các qua chức cấp cao Nhà Trắng đã… nói rằng một lý do tại sao Tổng thống Cater quyết định nhanh chóng bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc là vì ông ta muốn tỏ ra ủng hộ Đặng. Đó là một lý do tại sao Cater nhượng bộ về Đài Loan và bị tố cáo là bỏ mặc đồng minh lâu đời. Nếu không có thoả thuận về Đài Loan và bình thường hoá quan hệ với Mỹ, thì không chắc Đặng có thể thắng thế hơn Hoa…”.


Người Mỹ đã lo sợ trước những dấu hiệu về một sự tan giá trong các quan hệ Trung-Xô và trước những tin rằng Hoa tán thành rút một phần quân đội khỏi biên giới Trung-Xô như là một cử chỉ hoà giải với Mat-xcơ-va trước khi đánh Việt Nam. Đặng thì trái lại, đặc biệt rất muốn tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ vì ông ta muốn duy trì một tư thế đối kháng trên biên giới Trung-Xô cũng như muốn trừng phạt Việt Nam. Zorza viết: “Chiến lược của Mỹ trong cuộc tranh chấp Trung-Xô là nhằm cố giành những nhượng bộ của Kremlin bằng cách dọa xây dựng lực lượng của Trung Quốc để chống lại Liên Xô. Nhưng khi Mát-xcơ-va và Bắc Kinh đi đến kết luận rõ rằng rằng sự dàn xếp có lợi cho họ hơn là tranh chấp… thì Mỹ sẽ bị đặt vào tình trạng như một chiếc tàu mắc cạn”.


Ít nhất chính sách của Mỹ là một chính sách khoan dung đối với cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc trong khi lại lên án, bằng những lời lẽ mạnh mẽ nhất, cuộc xâm chiếm Campuchia của Việt Nam. Chính quyền Cater thậm chí không làm chậm lại quá trình bình thường hoá các quan hệ ngoại giao với Trung Quốc như là một dấu hiệu của sự bất bình, trong khi đối với trường hợp Việt Nam thì chính quyền đó đã bá bỏ hoàn toàn việc bình thường hoá.


Cuộc chiến tranh Trung-Việt là đỉnh cao của sức ép Trung Quốc ngày càng tăng một cách vững chắc chống lại Việt Nam, tiếp theo sau sự nhích lại gần Trung-Mỹ của đầu những năm 1970. Việc đó mở đường cho sự mở rộng nhanh chóng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, mà Việt Nam tỏ ra là người chống lại mạnh mẽ nhất. Trung Quốc gây chiến tranh với Việt Nam bởi vì Hà Nội đã đánh đổ chế độ Pol Pot ở Campuchia. Việc đó tuyệt nhiên không phải là một đe doạ đối với nền an ninh Quốc gia của Trung Quốc (như cuộc tính chất của Trung Quốc đối với nền an ninh của Việt Nam) nhưng nó gây thiệt hại đến uy tín mới giành được của Trung Quốc với tư ách là một cường quốc lớn ở khu vực Đông Nam Á. Không những người Việt Nam luôn luôn coi thường sức ép của Trung Quốc đòi Việt Nam phải tách ra khỏi Matxcơva, họ còn đánh đổ một chế độ mà Trung Quốc tự cam kết bảo vệ. Trước tình hình như vậy, nhóm ôn hoà của Đặng dù có xem chế độ Pol Pot là đã gây ra tàn phá một cách tự sát, cũng chẳng làm được gì. Các hành động của Việt Nam là không thể tha thứ được trước con mắt của Bắc Kinh: Hà Nội phải bị trừng trị và những mối quan hệ tăng nhanh chóng của Trung Quốc với Mỹ đã đưa lại sự đảm bảo mà Đặng cho là cần thiết để chống lại sự trả đũa của Liên Xô khi Trung Quốc ép buộc Việt Nam phải khuất phục, bằng một cuộc xâm lược quân sự. Ở phương Tây, các cuộc xung đột đó đã được nhận thức thông quan lăng kính của những đối kháng chiến tranh lạnh Xô-Mỹ: trong khi Việt Nam bị lên án và tẩy chay vì xâm chiếm Campuchia của Pol Pot, cuộc xâm lược trả đũa của Trung Quốc đối với Việt Nam đã được nhận xét với sự khoan dung rộng rãi.


Cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc như vậy là một sự thực hiện cổ điển của chính sách quyền lực. Việc Đặng tuyên bố rằng Trung Quốc có “quyền” dạy cho Việt Nam những “bài học” bất kỳ lúc nào họ muốn, là một sự quyết đoán rằng Việt Nam đã nằm trong khu vực lợi ích của Trung Quốc. Đó là một sự phủ định rõ ràng về thực tiễn những lời rêu rao tốt đẹp rằng chính sách đối ngoại của Trung Quốc là dựa trên cơ sở dân chủ.


Nhưng âm mưu của Trung Quốc ép buộc Việt Nam đi vào khuất phục đã thất bại. Trên các chiến trường ở phía Bắc Việt Nam năm 1979 đã bộc lộ sự yếu kém quân sự của Trung Quốc chứ không phải sức mạnh vô địch của nó. Sự bộc lộc đó nói lên tính chất trống rỗng trong những đe doạ của Bắc Kinh về một ”bài học khác”. Các lực lượng quân sự của Việt Nam ở Campuhia đã sớm biến các lực lượng của Pol Pot trở thành một lực lượng du kích bị cô lập một lần nữa. Một chính phủ thân Việt Nam được thành lập ở Campuchia; ảnh hưởng chính thức của Trung Quốc ở Lào đã bị gạt bỏ. Hà Nội vẫn hiên ngang bướng bỉnh và khẳng định lại vị trí của mình trên biển Đông. Do không thể dùng sức mạnh quân sự để đi đôi với những đe doạ cho nên chính sách cả Trung Quốc đối với Đông Dương đã tỏ ra là phản tác dụng. Từ một vị trí có ảnh hưởng lớn trong năm 1975, các chính sách của Bắc Kinh đã đưa lại kết quả là ảnh hưởng của Trung Quốc đã tụt xuống gần con số không và vào năm 1980, Trung Quốc phải đứng trước triển vọng của một khối nước thân Liên Xô vững chắc, thách thức ý muốn của Trung Quốc ở Đông Dương. Sân khấu đã được bày ra cho một cuộc đấu tranh mới với Việt Nam và Liên Xô, trong những điều kiện ít lợi hơn nhiều cho Trung Quốc.

 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam