Tác giả : NEIL SHEEHAN
Người dịch : ĐOÀN DOÃN
Nhà xuất bản Công An Nhân Dân
Năm 2003
Số hóa : TraitimdungcamHP
SỰ LỪA DỐI HÀO NHOÁNG
Lời nói đầu
Cuốn sách này buộc tôi đối mặt với sự thật bi đát của cuộc chiến tranh
ở Việt Nam và nhận thấy chúng ta không bao giờ thắng được. Trong quá
khứ chiến tranh luôn là một thực nghiệm “tích cực” của nền văn hóa Hoa
Kỳ, một cuộc vận động tinh thần nhằm tăng cường sự thống nhất của những
người tham gia.
Nhưng cuộc chiến tranh này người ta cho là sai lầm hoặc bị lên án về
đạo đức, bằng mọi cách đã tiến hành vô bổ. Đây là cuộc chiến tranh
“tiêu cực” đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ và đất nước phải chịu đựng
nhiều khó khăn.
Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà lãnh đạo của chúng ta
sát thực tế hơn, sau đó chúng ta trở nên giàu có và mạnh đến nỗi mất
khả năng suy nghĩ sáng suốt. Kiêu căng thay thế thực tiễn, các chỉ huy
quân sự và dân sự của chúng ta không thể dễ dàng chấp nhận thua cuộc ở
Việt Nam. Các chính quyền nối tiếp nhau tự dối mình, hài lòng về ảo
tưởng chúng ta có thể có mặt vĩnh viễn ở đất nước này. Người Mỹ trở
thành nạn nhân của chính mình hơn là của kẻ địch. Bài học cay đắng thật
khó chấp nhận !
Nếu ở lại Việt Nam chúng ta phải trả giá gánh nặng thường xuyên về tài
chính. Nhất là chúng ta nhức nhối dai dẳng bởi vết thương tinh thần khi
cố thống trị một dân tộc không bao giờ chấp nhận chúng ta. Người Việt
Nam chẳng bao giờ chấp nhận một sự thống trị nào hết của nước ngoài.
Lịch sử chứng tỏ họ không ngừng chiến thắng, đẩy lùi quân xâm lược dù
là người Trung Hoa, Mông Cổ, Mãn Châu, Pháp và dĩ nhiên cả người Mỹ.
NEIL SHEEHAN
BUỔI TIỄN BIỆT
Họ đến đưa tang anh, trong ngôi nhà nguyện lợp ngói đỏ cạnh cổng nghĩa
trang. Sáu con ngựa xám buộc vào chiếc xe hòm đưa quan tài ra đến mộ.
Đội quân nhạc chờ đợi Đoàn quân danh dự của trung đoàn có lịch se từ
thời Cách mạng, xếp thành hàng trước hành lang trắng của nhà nguyện.
Binh lính bận đồng phục màu xanh nước biển viền vàng, những máu sắc
truyền thống của Hợp chủng quốc. Bộ quần áo quá nóng do thời tiết và độ
ẩm trong buổi sáng ngày thứ sáu mùa hè ở Washington nhưng lễ tang chính
thức xóa đi sự bức bối đó. John Vann, lính chiến ở Việt Nam được an
táng ở Arlington ngày 16 tháng 6 năm 1972.
Cuộc chiến tranh này kéo dài hơn bất cứ cuộc chiến nào khác trong lịch
sử Hoa Kỳ và chia rẽ người Mỹ hơn bất cứ tranh chấp nào khác kể từ cuộc
chiến tranh Nam – Bắc. Từ những trận chiến không có anh hùng ấy, người
ta đang chôn cất một trong những nhân vật quyến rũ nhất. Sức mạnh và
nét độc đáo trong tính cách của anh, lòng can đảm anh thể hiện trong
những thời khắc nguy ngập, hình như hội tụ những đức tính mà người Mỹ
tôn sùng. Hết lòng vì cuộc chiến, kiên lòng đến mức ám ảnh là hình
tượng cố kết của Mỹ ở Việt Nam. Anh trở thành hình mẫu, với những ảo
tưởng, ý đồ, sự kiêu căng và lòng ham muốn chiến thắng. Trong lúc những
người khác bị đánh bại, thất vọng bởi thời gian hoặc mất đi sự đánh giá
mơ hồ, chống đối chiến tranh thì anh đã kiên trì trong cuộc viễn chinh
để cứu vớt cái không cứu vãn được, tranh thủ chiến thắng trong sự
nghiệp bị lên án này. Sau mười năm chiến đấu, trước đấy một tuần lễ anh
chết vào một đêm chiếc trực thăng của anh phát nổ trong mưa và sương mù
gần trên cao nguyên Nam Việt Nam. Anh vừa ngăn chặn gần thị xã Kontum
một cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt Nam đáng lẽ kết thúc tai hại
cho quân lính Hoa Kỳ.
Tất cả những người đến đây đưa tang anh tượng trưng cho những chia rẽ
và những vết thương cuộc chiến mang tới cho xã hội Mỹ. Đồng thời hầu
hết họ cũng bị anh lôi kéo. Một số đến vì họ đã ca ngợi và vẫn luôn
chia sẻ lý tưởng của anh; những người khác đã xa rời nhưng vẫn coi anh
là một người bạn; những người khác nữa, anh đã gây ảnh hưởng xấu đối
với họ nhưng họ vẫn thương cảm cho số phận của anh. Tuy cuộc chiến
tranh còn kéo dài ba năm nữa và tiếp tục làm chết nhiều người nhưng
những người có mặt ở Arlington buổi sáng tháng Sáu năm 1972 ấy có cảm
giác họ cùng với John Vann đã chôn vùi cuộc chiến và mười năm ở Việt
Nam. Vann chết, những gì còn lại chỉ là phần viết thêm.
Anh đến Sài Gòn tháng Ba năm 1962, mang hàm trung tá, 37 tuổi, tình
nguyện làm cố vấn quân sự cho một Sư đoàn bộ binh Nam Việt Nam ở đồng
bằng sông Cửu Long. Khi ấy chiến tranh còn là một cuộc phiêu lưu. Tháng
Chạp trước đấy tổng thống John F. Kennedy giao cho quân đội Hoa Kỳ
nhiệm vụ tiêu diệt một cuộc nổi dậy của Cộng sản và bảo vệ miền Nam
Việt Nam, quốc gia độc lập có một chính phủ do người Mỹ dựng lên cầm
đầu ở Sài Gòn.
Vann có những đức tính của một người chỉ huy. Anh đã là một đứa trẻ
khốn khổ ở miền Nam, sinh ra trong cuộc khủng hoảng kính tế tiếp theo
cuộc khủng hoảng năm 1924 ở một khu người da trắng nghèo Norfolk bang
Virgina. Thời gian đầu đến Việt Nam, bạn bè và cấp dưới chế giễu vì do
anh không bao giờ đổi màu. Thường hành quân cùng bộ binh Nam Việt Nam
nhưng dù đi dưới nắng gắt, làn da hung của anh chỉ đỏ hồng lên một ít.
Thể trạng anh có vẻ ốm yếu, cao một mét bảy mươi và nặng 67 kilô. Nhưng
sinh khí và uy quyền đặc biệt bù đắp thừa thãi cho vẻ ngoài gầy gò. Anh
có một sinh lực cho phép làm trong một ngày công việc đòi hỏi cường độ
gấp đôi đối với người khác. Mỗi đêm anh chỉ cần ngủ bốn tiếng đồng hồ,
cũng có thể bớt xuống hai tiếng khi công việc kéo dài nhưng vẫn minh
mẫn. Nếu cần anh có thể dễ dàng làm việc 16 trong 24 tiếng mà vẫn đủ
thì giờ nghỉ ngơi, giải trí.
Ảnh hưởng bao trùm của anh đối với những người khác do nét cứng rắn
giọng mũi và sự dứt khoát, sắc sảo. Anh luôn biết mình muốn gì và phải
làm như thế nào, có tài giải quyết những vấn đề hàng ngày đặt ra trong
những hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt của thời chiến. Tính tình và sự giáo
dục của quân đội ở trường trung, đại học hình thành nên một tinh thần
vừa hoàn toàn tận tụy với nhiệm vụ vừa đủ tỉnh táo để suy xét những lý
lẽ sâu xa của vấn để. Anh biểu lộ lòng tin và tinh thần của nước Mỹ sau
chiến tranh, muốn rằng mọi thách thức đều có thể giải quyết bằng nghị
lực và trí thông minh, kỹ thuật, tiền bạc sử dụng có phương pháp và tùy
trường hợp, cả sức mạnh quân sự.
Vann không sợ gì hết. Ban đêm anh thường có mặt ở các đồn tiền tiêu do
quân Nam Việt Nam đóng giữ; những công sự nhỏ ấy biệt lập, xây bằng
gạch, bằng túi cát và rơm, luôn bị tấn công và bản thân anh cũng cầm
súng giúp binh lính đẩy lùi những người đi đánh chiếm. Anh lái xe trên
những đường mòn không ai dám đi vì sợ phục kích, đơn giản chỉ nhằm
chứng tỏ có thể làm được việc đó. Anh đậu trực thăng ngay giữa một thị
trấn bị bao vây để giúp đỡ quân đồn trú, không quan tâm đến đạn phòng
không như thách thức với cái chết. Trong 10 năm ấy anh nổi tiếng. Không
bao giờ anh ngừng giáp mặt với những hiểm nguy. Anh nói, vận may luôn
luôn ở bên anh.
Vann không ngần ngại trước những nguy cơ làm hại sự nghiệp của mình. Đó
là năm đầu tiên anh đến Việt Nam, từ tháng 3 năm 1962 đến tháng 4 năm
1963. Trong lúc là cố vấn quân sự một sư đoàn bộ binh Nam Việt Nam ở
đồng bằng sông Cửu Long anh nhanh chóng hiểu ra cuộc chiến tranh sẽ đi
đến chỗ thất bại. Đại sứ Mỹ và Tổng tư lệnh quân đội báo cáo với chính
quyền Kennedy là mọi việc trôi chảy và họ sẽ thắng. Lúc ấy Vann đánh
giá, và sau này không bao giờ thay đổi, họ chỉ có thể thắng bằng áp
dụng một chiến lược và một chiến thuật thật chính xác. Khi anh biết
Tổng tư lệnh và ban tham mưu của Sài Gòn không nghe và tờ trình của anh
làm mếch lòng họ, anh chuyển đánh giá của mình bằng tài liệu chứng minh
gủi lên những nhà phân tích chiến tranh. Được điều về Lầu Năm Góc sau
năm đầu ở Việt Nam, anh mở một chiến dịch cố gắng thuyết phục các nhà
lãnh đạo quân sự phải thay đổi chiến lược để tránh sự thất bại của Hoa
Kỳ. Anh thất bại hoàn toàn. Do đã 20 năm phục vụ tích cự, anh quyết
định giải ngũ ngày 31 tháng 7 năm 1963, một cử chỉ mà phần lớn bạn bè
cho là phản khách cho phép anh bày tỏ rõ ràng quan điểm về cuộc chiến
tranh. Đúng là điều Vann đã viết trên các báo, tạp chí, đã phát biểu
trên truyền hình và trong các buổi diễn thuyết công cộng.
Anh trở lại Việt Nam vào tháng 3 năm 1965, làm trong Cơ quan phát triển
quốc tế (AID) phụ trách một chương trình vì hòa bình, không trở về Hoa
Kỳ nữa trừ những kỳ nghỉ ngắn hạn. Anh bắt đầu làm việc ở một trong
những tỉnh nguy hiểm nhất miền Tây Nam Bộ và cuối năm 1966 chịu trách
nhiệm điều phối chương trình cho 11 tỉnh bao quanh thủ đô. Trong những
năm đó Vann không ngừng tố cáo những cuộc ném bom hàng loạt và mù quáng
tiêu diệt dã man những làng xóm hòng ngăn cản Việt Công dựa vào dân
chúng. Nông dân bị chuyển hàng loạt , tập trung vào những trại tị nạn
ngoại vị. Vann không ngần ngại đem hết sức lực để đạt mục đích của mình
và xem việc sử dụng sức mạnh đối với những người dân vô tội không những
bị lên án về đạo đức mà còn là một hành động quân sự ngu ngốc.
Năm 1967 những phát ngôn thẳng thắn đã gây cho anh những rắc rối với
chính quyền. Anh cảnh báo họ, cuộc chiến tranh toàn diện do tướng
William Westmoreland mong muốn với đội quân 475.000 lính Mỹ sẽ thất
bại, an ninh ngày càng bị đe dọa ở nông thôn vì những người cộng sản
Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Sự chỉ trích này được chứng minh đúng vào
ngày 31 tháng Giêng năm 1968 khi những người cộng sản chọn dịp Tết để
mở cuộc tấn công bất ngờ vào tất cả các thành phố, thậm chí vào đến
khuôn viên Đại sứ quán Hoa kỳ ngay trung tâm Sài Gòn. Cuộc chiến hao
tổn đúng là một thất bại và Westmoreland bị rút về nước.
Dù Vann đã làm gia đình mình và người thân đau khổ nhưng anh là người
trung thực với bạn bè, với cộng sự và cấp dưới. Sau cuộc tấn công dịp
Tết, người bạn Việt Nam anh rất gần gũi, nguyên trung tá và là tỉnh
trưởng rời quân đội để làm chính trị, tổ chức một cuộc vận động bàn bạc
về chiến tranh và đề xướng phong trào chống chế độ Sài Gòn. Giới quân
sự Mỹ nghi ngờ người bạn của Vann tìm cách cùng những người cộng sản
hình thành một chính phủ liên hợp mà ông ta giữ vị trí hàng đầu. Vann
không đồng ý với ý đồ của bạn nhưng lại mạo hiểm để cố tránh cho bạn bị
ngồi tù. Anh suýt bị cách chức và gủi trả về Hoa Kỳ. Vann cũng bất đồng
về cuộc chiến tranh như người bạn Mỹ tốt nhất của anh, Daniel Ellsberg,
thời gian đầu đã cùng anh đấu tranh chống cuộc chiến Việt Nam. Ellsberg
tham gia một tổ chức chống chiến tranh ở Hoa Kỳ, trong lúc Vann tiếp
tục có mặt trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng tình bạn của họ vẫn
luôn nguyên vẹn. Khi Vann chết, Ellsberg sắp bị tòa án liên bang xét xử
vì đã sao chép và phổ biến những tài liệu mật của Lầu Năm Góc. Vann báo
tin sẽ đến làm chứng cho anh. Ellsberg khóc vì mất đi người bạn gần gũi
nhất.
Mặc dù không xu thời, Vann dần dần được thăng tiến trong hệ thống cố
vấn Mỹ. Những phẩm chất lãnh đạo và nhiệt tình chiến đấu làm anh dễ
dàng được đề bạt, hơn nữa những người cầm quyền ở Sài Gòn và Washington
bấy giờ bất đồng ý kiến với anh về đường hướng chiến tranh chứ không
phải là chấm dứt nó. Tháng Năm năm 1971 anh được chỉ định làm cố vấn
cho toàn vùng cao nguyên và những tỉnh duyên hải, có quyền hành đối với
mọi lực lượng quân đội Mỹ trong vùng và với tất cả nhân viên dân sự,
quân sự trong chương trình bình định. Vị trí của anh thực tế tương
đương một trung tướng, một trường hợp không có trong lịch sử quân đội
Hoa Kỳ trước đây vì Vann chỉ là một viên chức của Cơ quan phát triển
quốc tế. Ngoài ra anh có quan hệ thân tình với viên tướng Việt Nam chỉ
huy vùng này nên được phép cùng ông ta chỉ huy không chính thức 158.000
binh lính. Ảnh hưởng của anh trong lòng chính quyền Mỹ và chính quyền
Sài Gòn làm anh trở thành một người Mỹ quan trọng nhất ở đất nước này
sau đại sứ và tổng tư lệnh. Với những hiểu biết và đức tính can trường
, anh trở thành một người Mỹ không thay thế được ở Việt Nam.
Quan điểm chính trị của Vann là tổng hợp hệ thống lòng tin độc đáo của
Hoa Kỳ, sau chiến tranh được nâng lên vị trí mạnh nhất thế giới. Chính
tầm đố đối với thế giới còn lại đã đưa nước Mỹ gây chiến với Việt Nam
trong độ sung sức của mình. Vann cho rằng những dân tộc khác nhỏ yếu sẽ
tự nhiên chấp nhận quyền lãnh đạo của Mỹ. Anh tin chắc Hoa Kỳ luôn giữ
được vị trí lỗi lạc của mình. Anh không nghĩ nước Mỹ hành động vì kiêu
ngạo mà ngược lại với quyền lực vững vàng, nhân ái, sức mạnh giữ gìn
hòa bình đưa lại thịnh vượng cho những dân tộc không cộng sản, độ lượng
san sẻ những thành quả công nghiệp, kỹ thuật với những người đang sống
khó khăn vì nghèo nàn, bất công và luật pháp yếu kém. Nguyên tắc của
anh : nước Mỹ luôn luôn đúng, thậm chí có những sai lầm thì ý đồ vẫn
tốt đẹp. Lập trường chống cộng của anh rất đơn giản : tất cả những
người cộng sản đều là kẻ thù của Mỹ và do đó là kể thù của trật tự và
tiến bộ.
Anh đã thấy rõ những sai lầm trong cuộc chiến ở Việt Nam nhưng không vì
thế mà kết luận bản thân chiến tranh là một điều xấu và không thể chiến
thắng được. Anh không thể chấp nhận sự thất bại hoặc thay đổi cách nhìn
của mình đối với nước Mỹ. Mùa xuân trước đó, trong lúc nhiều người thất
vọng trước qui mô tấn công của bộ đội Bắc Việt, anh đã nói : Không,
chúng ta không rút lui, chúng ta trụ vững và chiến đấu. Anh đã chiến
đấu, đã thắng lợi và chết. Vì vật một số người ở nghĩa trang Arlington
ngày 16 tháng 6 năm 1972 ấy tự hỏi với cái chết, họ có chôn vùi điều gì
đó hơn chiến tranh và mười năm ở Việt Nam không. Có lẽ cũng là kết thúc
cho niềm tin một nước Mỹ luôn luôn vô tội.Người đã tham gia tích cực vào sự khai sinh chính quyền Nam Việt Nam,
tướng Edward Lanslaide, đứng ở bậc thềm hành lang chào bạn bè và những
người quen biết bước vào nhà nguyện. Ông về hưu đã bốn năm và sống một
mình sau cái chết của bà vợ trước đó mấy tháng. Một người xiết chặt tay
ông nói : “ Xin thành thật chia buồn vì chuyện vợ ông, Ed”. Với nụ cười
quen thuộc, Lanslade đáp “Cám ơn”, giọng nói bây giờ đã mệt mỏi nhiều
vì tuổi tác.
Khó hình dung được con người 64 tuổi, với vẻ bề ngoài ấy là tác giả
huyền thoại về hoạt động bí mất của CIA ở Philippines. Ở đấy ông đã đạo
diễn cho Ramon Magsaysay, tổng thống tương lai của nước Cộng hòa thân
Mỹ, trong suốt chiến dịch tiêu diệt sự nổi dậy của những người Huks vào
năm 1954. Ai nghĩ rằng con người bình thường ấy trong bộ quần áo màu
nâu sáng trước đây là sứ giả nổi tiếng của nền dân chủ Mỹ trong những
năm chiến tranh lạnh, “đại tá Hillandale” tài ba trong cuốn tiểu thuyết
bán chạy thời kỳ ấy : NGƯỜI MỸ THẦM LẠNG kể về những người Mỹ thấm
nhuần lý tưởng cách mạng của chính họ, đã làm thế nào để những người
châu Á thất bại với hệ tư tưởng cộng sản ở phương Đông.
Lansdale đến Sài Gòn trước Vann 8 năm, vào năm 1954 ngay sau những
thành công của ông ở Philippines. Thời kỳ ấy Hoa Kỳ cố gắng mở rộng
quyền lực ở Việt Nam để thay thế người Pháp, tan vỡ vì thất bại ở Điện
Biên Phủ. Hy vọng mới của người Mỹ ở Sài Gòn đặt vào viên quan lại
Thiên chúa giáo Ngô Đình DIệm, đối đầu với bao nhiêu kẻ thù, hình như
không thể đạt được mục đích. Chống lại ông ta là những nhà chính trị
kình địch, hai giáo phái và một tổ chức tội phạm. Hai giáo phái và tổ
chức tội phạm có quân đội riêng. Lansdale đã chiến thắng tất cả những
lực lượng ấy, tránh được sự lộn xộn cho phép những người Việt Nam cộng
sản miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 chiếm miền Nam. Ông đã thuyết phục chính
quyền Eisenhower, rằng Diệm có thể thống trị và miền Nam Việt Nam trở
thành một quốc gia liên minh với Mỹ.
Dưới hành lang nhà nguyện, ngay sau lưng Lansdale là trung tá Lucien
Conein, người đã hợp tác với ông trong việc tạo dựng chính quyền Nam
Việt Nam. Conien vừa cứng rắn vừa tình cảm là một kẻ phiêu lưu sinh ở
Paris và được nuôi dưỡng tại Kansas. Ông sung vào quân đội Pháp ngay từ
đầu Thế chiến thứ hai. Sau thất bại của nước Pháp và Hoa Kỳ tham chiến,
ông vào Cơ quan phục vụ chiến lược, tiền thân của CIA, nhảy dù xuống
Đông Dương năm 1945 dưới biệt danh “trung úy Laurent” để chỉ huy những
trận đánh chống quân đội Nhật. Mười năm sau ông giúp Lansdale đáng kể
trong phối hợp những công việc bí mật. Năm 1954 Lansdale trở về Hoa Kỳ,
Conein ở lại Sài Gòn. Năm 1963 ông thành công trong thiên hướng nghề
nghiệp cao nhất : tổ chức một cuộc đảo chính thắng lợi. Ông là nhân vật
quan hệ với các tướng lĩnh Nam Việt Nam, thúc đẩy việc lật đổ người mà
Lansdale đã bao vất vả để củng cố vị trí. Ngô Đình Diệm đã không còn
cần cho Hoa kỳ trong những năm trước đó. Với chế độ gia đình trị ông ta
làm trở ngại cho hành động của chính quyền Kennedy đối với phong trào
nổi dậy của cộng sản. Diệm và em trai là Ngô Đình Nhhu bị giết trong
cuộc đảo chính.
Joseph Alsop, nhà báo nổi tiếng , đã vào trong nhà nguyện. Ông ngồi
trên một trong những chiếc ghế dài bên trái, bận bộ quần áo khiêm tốn
màu xanh do người anh của ông cắt may với chiếc nơ xanh có chấm trắng
trên áo sơ mi trắng. John Kennedy coi trọng những lời khuyên và tình
bạn của ông bằng cách dừng lại nhà ông ở Washington lúc nửa đêm, vào
đêm được đề cử tranh cử năm 1961, cùng ăn với ông một bát xúp thịt rùa.
Alsop có mặt ở đám tang của Vann hoàn toàn hợp lẽ. Ông là cháu của
Théodore Roosevelt, người vào đầu thế kỷ là người khởi xướng và là
chiến binh của chiến tranh châu Mỹ La tinh. “Cuộc chiến tranh nhỏ tuyệt
đẹp” này, như một người bạn và cộng sự của Roosevelt đánh giá thời kỳ
ấy, đã đưa lại Philippines cho Hoa Kỳ, làm nước Mỹ trở thành một cường
quốc ở Thái Bình Dương và khởi đầu bước đi tới Việt Nam. Alsop là người
thừa kế điển hình của tinh hoa Ăng-glô Xác-xông, bờ biển phía đông ấy
đã ấn định cho cả nước những nguyên tắc về cái đẹp, đạo đức và sự tôn
trọng trí tuệ. Ông dành cuộc đời để công khai bảo vệ chủ nghĩa bành
trướng mà tổ tiên ông đã theo đuổi. Ông xem Việt Nam như một thử nghiệm
ý chí và khả năng của Hoa Kỳ theo đuổi đường lối ấy và không ngừng biện
hộ cho cuộc chiến tranh này. Sáu mươi mốt tuổi ông vẫn là con người của
những tương phản như trước đây. Chiếc đầu to đối lập với thân hình mảnh
dẻ và khuôn mặt nhiều nếp nhăn càng tô đậm, thái quá vì đôi kính tròn
rộng lớn bằng đồi mồi màu tối. Nhà duy mỹ này thu thập những đồ gỗ
Pháp, đồ sứ cổ Trung Hoa và tranh sơn dầu Nhật Bản; sưu tầm đầy đủ về
nghệ thuật và khảo cổ học, ông biết rất rõ những nền văn minh cổ Hy Lạp
và Trung Đông; tốt và trung thực với bạn bè, giao tiếp giỏi; ông là cha
đỡ đầu của khoảng ba chục đứa trẻ. Ngược lại trong nghề nghiệp ông cũng
đấu tranh hung dữ như ông chú của mình. Ông không xem những người bất
đồng với ông lầm lẫn hoặc thiếu suy xét mà mô tả họ như những người ngu
xuẩn hành động vì những động cơ ti tiện hoặc ích kỷ. Trong những năm
cuối đời của Vann, Alsop liên tục bảo vệ quan điểm của anh trên báo
chí. Ông đến để tỏ một sự thương mến đặc biệt đối với anh, người khác
hẳn ông về nguồn gốc và tính cách.
Ngồi bên cạnh Alsop là một đại tướng ba sao ( Trong quân đội Mỹ, chỉ
huy binh đoàn là đại tướng một sao; chỉ huy sư đoàn, hai sao; chỉ huy
Quân đoàn : ba sao; chỉ huy binh chủng : bốn sao. Riêng đại tướng tổng
tư lệnh mang hàm năm sao), một chiến binh khác mà ông cũng rất hâm mộ :
William DePuy. Thanh mảnh, năm mươi hai tuổi, da đồng, người vững chắc,
là hình ảnh người lính tự tin, tranh phục chỉnh tề, nguyên mẫu của thế
hệ chỉ huy đã dẫn dắt người của mình chiến đấu trong Thế chiến thứ hai
và sau đó sang Việt Nam như những viên tướng có thói quen chiến thắng.
Trí thông minh kèm theo năng khiếu đặc biệt toát lên tầm nhìn gan dạ và
vững vàng. Ông xác nhận những phương pháp chiến đấu của quân đội Mỹ áp
dụng trong Thế chiến thứ hai là toàn diện và không ai thắng nổi : vận
hành một cỗ máy chết người, tiêu diệt kẻ địch bằng sức mạnh thần kỳ của
lưới lửa mà nền kỹ thuật công nghiệp Mỹ có khả năng tạo ra. DePuy đã
xây dựng cỗ máy ấy ở Việt Nam. Chỉ huy hành quân của Westmoreland năm
1965 khi Lyndon Johnson với sự cam kết của Kennedy mở rộng chiến tranh
toàn diện, ông đã hoạch định chiến lược hủy diệt tiến tới đè bẹp những
người Việt Nam cộng sản. Chiến lược đó nhằm đào tận gốc những người
trận chiến du kích Việt cộng và tiêu diệt những toán quân Bắc Việt
nhanh hơn số lượng chính phủ Hà Nội có thể đưa vào bằng đường mòn Hồ
Chí Minh. Như vậy binh lính Việt Nam cộng sản sẽ bị tàn sát đến mức bẻ
gãy ý chí của những người sống sót và chỉ huy của họ. Westmoreland ban
thưởng DePuy về tài năng chiến lược bằng giao cho ông này chỉ huy Sư
đoàn bộ binh số một. Sư đoàn “Anh cả đỏ”. DePuy khác với những tướng
lĩnh khác là dội hỏa lực vượt quá khả năng và đuổi những sĩ quan thuộc
quyền phản ứng về mức độ tấn công dữ dội ông đưa ra. Ông tranh chấp với
Vann vốn khinh thường những chiến lược ấy, Vann cho rằng chiến tranh
hủy diệt gây ra chết chóc tàn phá vô ích cũng như hao tổn binh lính Mỹ
và lãng phí đạn dược. Tuy vậy năm 1972 DePuy tác động qua Washington
buộc Vann sử dụng sức mạnh của trọng pháo, máy bay lên thẳng, máy bay
tiêm kích ném bom và pháo đài bay B-52 chống lại quân đội Bắc Việt ở
Kontum. Khi Vann chết DePuy tôn vinh anh theo cách của mình : “ Anh ấy
chết như một người lính”. Vì thế ông ngồi trong nhà nguyện bên cạnh
người bảo vệ mình tốt nhất, Joseph Alsop.
Thượng nghị sĩ Edward Kennedy đến chậm, đúng trước lúc buổi lễ bắt đầu
vào 11 giờ. Ông vào nhà nguyện ý tứ như một người dòng họ Kennedy vẫn
thế và đến ngồi ở một chiếc ghế dài phía cuối. Người em út nhà Kennedy
chống đối cuộc chiến tranh mà anh cả ông đã lôi kéo đất nước vào. Khác
với Vann, ông không còn tin vào lời cam kết của ông anh trong diễn văn
tranh cử và được khắc trên bia mộ :” Mong mỗi dân tộc, dù họ muốn điều
tốt hoặc điều xấu cho chúng ta, đều biết rằng, chúng ta sẽ trả bằng bất
cứ giá nào, chịu đựng bất cứ gánh nặng nào, trải qua bất cứ thử thách
nào, ủng hộ bất cứ bạn bè nào, chống đối bất cứ kẻ thù nào để đảm bảo
và gìn giữ thắng lợi của tự do”. Nền tự do John Kennedy và cộng sự theo
đuổi là vượt qua biển cả áp đặt trật tự Mỹ vào “biên giới mới”. Giá
phải trả để cố gắng tổ chức trật tự thế giới là cuộc chiến tranh ở Việt
Nam và giá ấy đối với Edward trở thành quá cao. Anh của ông, Robert
cũng đã bắt đầu chống đối cuộc chiến tranh này trước khi bị ám sát và
ngủ yên dưới ngôi mộ khiêm tốn bên cạnh ngôi mộ lớn của ông anh. Edward
Kennedy và John Vann trở thành bạn thân vì Edward chia sẻ với Vann mối
quan tâm đến sự khốn khổ của những người nông dân Việt Nam. Cũng như
Vann, ông đã cố gắng thuyết phục chính phủ tiến hành cuộc chiến tranh
này một cách hợp lý và ôn hòa. Ông tự nhận nhiệm vụ làm giảm nhẹ đau
đớn của những người dân bị thương trong chiến tranh và những nông dân
bị đuổi ra khỏi nhà cửa. Ông sang Việt Nam để nhận thấy nỗi khốn khổ
của họ, chứng minh trước lưỡng viện, tác động một sức ép chính trị để
nhận được những điều kiện sống nhân đạo hơn trong các trại tị nạn, bệnh
viện và để chấm dứt những cuộc dội bom mù quáng xuống các vùng nông
thôn. Ông quan hệ thư từ với Vann trao đổi những thông tin cần thiết để
tác động có ảnh hưởng hơn với chính quyền Washington.
Daniel Ellsberg, người kỵ sĩ đào tẩu khỏi cuộc viễn chinh ngồi trên
chiếc ghế dài thứ hai bên phải, ngay phía sau gia đình Vann. Ông vừa
xuống máy bay từ Los Angeles, nơi các luật sư của ông đang chạy cho
phần cuối cùng trước ngày xét xử ông. Ông trở thành một người bị đào
thải của xã hội khép kín những sĩ quan bí mật, trước kia đã xem ông là
một người trong bọn, bây giờ họ cho ông là một kẻ phản bội vì chỗ ngồi
công khai của ông trong nhà nguyện. Ông không có vẻ là một người bị đào
thải, vẫn ăn mặc như họ, như người ta dạy ông ở Havard, bộ quần áo hoàn
toàn cổ điển với sợi nhỏ màu xanh, áo sơ mi phù hợp và một chiếc khăn
quàng buộc chặt. Bốn mươi mốt tuổi, ông để tóc dài hơn thời kỳ cắt lối
bàn chải, ông gặp Vann lần đầu ở Việt Nam cách đây bảy năm. Những lọn
tóc xám đậm bao quanh vầng trán cao làm dịu đi những nét góc cạnh của
khuôn mặt gầy rám nắng.
Ellsberg là một nhân vật rất phức tạp. Bố mẹ là người Do Thái trung lưu
cải đạo Thiên Chúa giáo, ông vừa trí thức vừa là người hành động, có
thiên bẩm phân tích đặc biệt. Cá tính của ông mạnh đến nỗi nhiều khi
thoát ra khỏi mọi kiểm soát, tình cảm luôn luôn tranh chấp nhau, có thể
vừa là một nhà lãng mạn xuất sắc vừa là một tu sĩ khổ hạnh phức tạp.
Khi đã tin điều gì ông sẽ tin đến cùng và là người cổ động cuồng nhiệt
cho điều đó. Ông đã tranh thủ những lợi thế nhà nước tạo cho để học
hành lâu dài, tạo được một vị trí nổi bật giữa tập thể những viên chức
dân sự, quân sự phục vụ chính phủ thời kỳ Thế chiến thứ hai. Ông chứng
minh khả năng chiến đấu của mình qua ba năm là đại úy Hải quân. Trường
đại học Havard chọn ông lúc còn ở quân đội làm thành viên của hội những
sinh viên trẻ xuất chúng, cho phép ông bảo vệ học vị tiến sĩ. Rồi ông
được tập đoàn máy bay quân sự tuyển mộ cho kế hoạch chiến tranh hạt
nhân chống lại Liên Xô, Trung Hoa và những nước cộng sản khác. Do vậy
ông biết rõ những bí mật nối tiếp nhau của đất nước. Sự thành công của
ông ở tập đoàn cho ông ông những tiếp xúc với Lầu Năm Góc, được bổ
nhiệm làm trợ lý đặc biệt của thứ trưởng Quốc phòng về những vấn đề an
ninh quốc tế, thực chất là phụ trách đối ngoại của quân đội.
Năm 1965 mong muốn hoạt động vì quyền lợi Mỹ, ông tình nguyện sang Việt
Nam chỉ huy một đại đội Hải quân. Người ta bài bác vì vị trí trong
chính quyền của ông quá cao không nên làm một việc tầm thường như thế.
Ông bèn xoay sở sung vào kíp mới của Lansdale khi ông này trở lại Việt
Nam năm 1965 nhằm cố gắng cải tổ lại chính quyền Sài Gòn và thực thi
một chương trình bình định có hiệu quả. Hai năm sau Ellsberg trở lại
tập đoàn nghiên cứu chiến tranh hạt nhân, suy sụp về một chuyện tình
duyên và yếu sức vì bệnh gan. Nhưng nhất là ông chán nản về sự bạo tàn
ngày càng tăng của cuộc chiến tranh hủy diệt Westmoreland sử dụng và về
sự từ chối của chínhq uyền Mỹ áp dụng một chiến lược khác, cách duy
nhất để bào chữa cho những cuộc giết người, tàn phá làng mạc. Cuộc tấn
công dịp Tết năm 1968 kéo ông khỏi sự chán nản. Ông đã kết luận vũ lực
tàn bạo ở Việt Nam là điên rồ vô đạo đức. Trong lương tâm ông thấy cần
ngăn chặn cuộc chiến tranh này. Mùa thu năm 1969 ông bí mật sao in
7.000 trang tối mật trong tài liệu lưu trữ của Lầu Năm Góc về Việt Nam,
bắt đầu chiến dịch phản đối chiến tranh bằng một bức thư ngỏ trên báo
chí đòi rút quân Mỹ khỏi Việt Nam trong vòng một năm. Báo NEW YORK
TIMES đăng câu chuyện “Tài liệu của Lầu Năm Góc” trong một loạt bài vào
tháng Sáu và Bảy năm 1971. Ellsberg bị buộc tội theo lệnh của tồng
thống Richard Nixon với ý định cho ông vào tù càng lâu càng tốt. Suốt
cuộc đời phục vụ một cường quốc, lúc bắt đầu nghỉ Ellsberg đến để chôn
người bạn mà chiến tranh đã cướp đi của ông. Ông ngồi cùng với gia đình người chết theo đề nghị của Mary Janes, vợ
của Vann trong hai mươi năm cho đến lúc họ ly dị nhau tám tháng trước
đây. Chị thấy cần có sức mạnh của tình bạn trong lúc này và chị tán
đồng ảnh hưởng của ông đối với Jesse, cậu con trai 21 tuổi của chị đang
ngồi bên cạnh Ellsberg trên chiếc ghế hàng thứ hai. Chị cũng muốn ông
sát cánh với gia đình chị như một thách thức, muốn những người đang
trong nhà nguyện bực bội vì hiểu rằng chị ngưỡng mộ hành động chống
chiến tranh của ông và chia sẻ những ý tưởng của ông. Năm trước chị
cũng đã nói thế với hai nhân viên FBI đến nhà chị hỏi về quan hệ giữa
Vann và Ellsberg.
Mary Janes tự cho mình là vợ góa của Vann dù họ đã ly dị. Nhưng đó vốn
chỉ là một trạng thái ức chế do thất vọng, một sự tự hủy hoại trả đũa
cuộc hôn nhân chỉ còn là hình thức sau khi Vann trở lại Việt Nam năm
1965 và ở lại hẳn. Anh là mối tình của chị thời trẻ; người đàn ông đầu
tiên chị biết rõ, bố của năm đứa con của chị - bốn con trai ngồi gần
chị trong nhà nguyện và một con gái đã lấy chồng, không đến được vì
đang sinh đứa cháu gái đầu tiên của Vann. Mary Janes cố bám lấy cuộc
hôn nhân ấy càng lâu càng tốt. Chị không thể yêu một người đàn ông khác
như đã yêu anh. Nuôi dạy con và gìn giữ tình nghĩa vợ chồng, theo nền
giáo dục và bản tính của chị, một thiên hướng cũng khẩn thiết như anh
đối với chiến tranh.
Khi lấy John lúc 18 tuổi, vừa học xong trung học chi hơi tròn trĩnh
nhưng rất quyến rũ với mái tóc nâu lượn sóng, đôi mắt màu hạt dẻ và
khóe miệng rõ nét. Gia đình, Nhà thờ, Tổ quốc là những giá trị mà bố mẹ
và những thành viên khác của tầng lớp trung lưu là những gì đã khắc sâu
vào tâm trí chị. Vì vậy, thời con gái chị mơ ước một cuộc hôn nhân
thanh thản và một gia đình nồng ấm. Tuổi trẻ trải qua một môi trường
bình lặng, chị hy vọng cũng được như thế trong hôn nhân và gia đình.
Tuy cố gắng nhiều chị đã không thành công. Chiến tranh và sự cần thiết
có mặt người bố đã gây rối loạn cho đứa con trai thứ hai của chị,
Jesse. Chủ nghĩa yêu nước và xã hội thủ cựu mà chị không bao giờ nhắc
đến đã được Jesse cảm nhận theo cách khác.
Bốn mươi bốn tuổi Mary Jane Vann vẫn giữ được vẻ ngoài dễ mến khi chị
ăn mặc tử tế, trang điểm và chải tóc gọn gàng như chị đã làm sáng nay
vì lễ tang. Chị nghĩ thật mỉa mai khi Vann về nhà lần cuối cùng đúng
vào dịp lễ Giáng sinh, lúc mà chị mong có anh bên cạnh chị vì họ đã
quen biết nhau trong ngày lễ và cũng chính con trai đầu của chị, John
Allen sinh vào hôm đó. Chị nhớ lại tất cả những ngày lễ Giáng sinh anh
không có mặt. Ngày được tin anh chết, chị tìm trong tủ bộ quân phục
diễu hành màu xanh đậm viền vàng mà hôm nay đội quân danh dự đang mặc.
Có lần anh đã nói với chị anh muốn được chôn cất trong trang phục ấy.
Chị tìm không thấy, có lẽ anh đã mang sang Việt Nam. Đến Washington,
người ta nói với chị quan tài đã đóng kín, dù sao cũng không mặc cho
anh được. Chị đã nhớ ra đi trong dịp Giáng sinh cuối cùng, tuy đã ly
hôn, anh vẫn ôm hôn chị lên má thay vì bắt tay chào từ biệt như anh
thường làm những năm trước.
Nhạc tang đã ngừng và nhà nguyện trở nên im lặng. Buổi lễ sắp bắt đầu.
Mary Jane nghe bên ngoài hô hiệu lệnh và tiếng bồng súng chào của đội
danh dự. Tuy lần đầu tham dự loại lễ nghi quân đội này nhưng đã là vợ
lính, chị biết người ta sắp đưa quan tài John ra khỏi nhà nguyện. Giữ
tiếng khóc thầm chị nghĩ bây giờ anh thực sự chết rồi.
Chiếc quan tài phủ lá cờ, đặt trên xe do hai người trong đội quân danh
dự đẩy lăn từ từ trên con đường chính. Những dây phủ quan tài do tám
quan chức cầm đi theo hai hàng bốn người. Ellsberg biết năm người trong
bọn họ. Ba người khác là hai đại diện Cơ quan phát triển quốc tế và một
đại tá Nam Việt Nam, tùy viên quân sự ở Đại sứ quán, thay mặt Chính
phủ. Mệt mỏi và cay đắng, Ellsberg nhận thấy năm người kia đúng là
những người phù hợp để đi theo chiếc quan tài của Việt Nam.
Tiếp theo là những tướng lĩnh trong đồng phục trắng mùa hè. Trước hết
là Westmoreland bây giờ là tham mưu trưởng quân đội, vị trí do tổng
thống Johnson bổ nhiệm sau khi cách chức chỉ huy của ông ở Việt Nam.
Ông đi đầu hàng bên phải, vị trí danh dự theo quy định. Khi Hoa Kỳ mở
rộng chiến tranh ở Việt Nam năm 1965, với phong thái lịch sự và tự hào
ông có vẻ là hiện thân của niềm kiêu hãnh và sự thành công của quân
đội. Giờ đây, bảy năm sau, bề ngoài vẫn là hình mẫu của một viên tướng
58 tuổi, là tham mưu trưởng, ông đại diện cho chính thể chế của quân
đội ấy công nhận Vann là một người của họ tuy anh đã chết. Một quân đội
cảm nhận thất bại mà không biết lý do. Westmoreland dù sao cũng không
bao giờ hiểu. Quân đội dám tự hào ở Việt Nam không thể không hy vọng
một biện minh cuối cùng cho những mục tiêu của mình. Đó là điều mà Vann
ngấm ngầm cố gắng làm. Trong trận đánh cuối cùng ở rừng núi, với binh
lính Nam Việt Nam được quân đội Hoa Kỳ yểm trợ, anh cố gắng làm điều mà
người Mỹ đã không thực hiện được. Quân đội cũng biế không bao giờ Vann
rời hàng ngũ. Cuối cùng anh trở thành viên tướng chiến đấu như anh vẫn
mong tuy anh là viên chức dân sự và từ chối chấp nhận thất bại, anh là
hiện thân của hình mẫu lãnh đạo.
Tướng Bruce Palmer, tham mưu phó và là người cùng thời với
Westmoreland, bạn đồng môn ở trường quân sự West Point năm 1936, đi đầu
hàng bên trái. Ông đã phục vụ ở Việt Nam trong cương vị phó của
Westmoreland sau khi chỉ huy đoàn quân viễn chính tổng thống Johnson
gửi sang cộng hòa Dominique năm 1965 để ngăn chặn đất nước Caribes nhỏ
bé này theo gương Cuba của Fidel Castro. Binh lính nhảy dù và hải quân
do Palmer chỉ huy đã tạo điều kiện cho Ellsworth Bunker, nay là đại sứ
ở Sài Gòn, áp đặt một chính phủ thân Mỹ ở Cộng hòa Donique. Palmer
nguyên là cấp trên của Vann những năm 50 khi ông là đại tá chỉ huy
trung đoàn bộ binh thứ 16 ở Đức và Vann là đại úy ở đại đội súng cối.
Palmer còn nhớ Vann là đại đội trưởng giỏi nhất dù anh là người khó
điều khiển nhất. Bốn ngày trước khi Vann chết, Palmer đã gửi cho anh
một thư khen ngợi về cuộc hành quân ở Kontum và anh đã nhận nó trước
khi chết.
Người sĩ quan thứ ba mặc đồng phục trắng là đại tướng Richard Stilwell,
chỉ huy hành quân ở Ban tham mưu. Ông là một trong những người không
nuối tiếc việc Vann từ chức năm 1963. Ông đến Sài Gòn tháng Tư, đúng
lúc Vann đi Washington và Lầu Năm Góc, cố gắng thuyết phục giới tinh
hoa của quân đội rằng Hoa Kỳ đã đi sai đường và phải thay đổi chiến
lược. Năm 1963 Stilwell là thiếu tướng, chỉ huy những cuộc hành quân
của tướng Paul Harkins người tiền nhiệm Westmoreland. Stilwell vận dụng
trí thông minh nổi bật của mình để bác bỏ những luận chứng của Vann và
những quân nhân chiến đấu khác cũng nghĩa cuộc chiến tranh sẽ thất bại.
Thái độ của Stilwell không có gì ngạc nhiên đối với những người biết rõ
ông. Niềm tin không lay chuyển vào chính quyền khiến ông trung thành
với cấp trên. Ông mong ước đạt tới vinh quang trong sự nghiệp, nhưng
ông không bao giờ với được vị trí tổng tư lệnh. Tốt nghiệp West Point,
là một trong những người đứng đầu, sau Westmoreland và Palmer hai năm,
với tham vọng và khả năng , ông sung vào bộ binh trong Thế chiến thứ
hai, phục vụ ở Châu Âu cùng sư đoàn với DePuy. Sau đó, năm 1964,
Stilwell được cử sang Sài Gòn trở thành tham mưu trưởng cùng
Westmoreland, tổng tư lệnh mới. DePuy đến lượt cũng sang Việt Nam nắm
vị trí cũ của Stilwell, chỉ huy hành quân. Như vậy là Stilwell giám sát
DePuy thực hiện chiến lược hủy diệt sẽ mang lại cho họ chiến thắng.
Stilwell tiến tới thấy mình nhầm lẫn về Vann và đi đến chỗ khâm phục
anh. Do đó vì tình cảm ông đề nghị được ở trong hàng ngũ danh dự đưa
Vann ra mộ.
Phía sau Westmoreland là một viên chức dân sự thanh mảnh, thẳng thắn
trong bộ quần áo màu xanh biển. Đôi kính gọng nhựa làm nổi rõ khuôn mặt
gầy và bình thường. Phải nhận kỹ sau đôi kính cái nhìn cương quyết của
đôi mắt cận thị mới hiểu được sự cứng rắn trong tính tình của ông. Đấy
là William Colby, một sếp CIA, người chiến đấu bí mật, sẽ được bổ nhiệm
phó trưởng ban kế hoạch, chức danh chỉ những hoạt động bí mật, để cuối
cùng trở thành trưởng tình báo, giám đốc CIA.
Nếu William Colby sinh vào thế kỷ thứ XVI, tính tình và tư tưởng ông
chắc đã đưa ông gia nhập Hội thánh Jesus sống cuộc đời một người lính
bảo hoàng. Ở thế kỷ XX, ông vào CIA để trở thành một người lính của
chiến tranh lạnh. Tính cách nổi bật của ông là sự cần thiết phục vụ và
lòng ham thích bí mật. Nhảy dù xuống nước Pháp bị chiếm năm 1944 là một
chỉ huy 24 tuổi sau khi bắt đầu tìm hiểu ở Anh về công việc phá hoại và
khủng bố, cùng với Lucien Conein, ông dẫn dắt một toán kháng chiến Pháp
chống quân phát xít. Nhưng đối với ông chiến tranh không kết thúc bằng
việc Đức đầu hàng chín tháng sau đó. Chủ nghĩa cộng sản vô thần, đối
với Colby là một phong trào phát xít mới. Lòng tin vào Thiên chúa giáo
La mã thừa hưởng của bố, một đại tá cải giáo và bà mẹ người Ireland làm
cho ông nhiệt tâm chống cộng cũng như đã hăng hái chống phát xít. Vấn
đề là biết được bên nào bị đánh bại trước tiên.
Khác với Lansdale, Colby không phải là một nhân vật nổi danh về hoạt
động bí mật. Ông xử sự kín đáo và kiên trì, thực thi những chỉ thị của
chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong phần lớn 12 năm trước. Đầu năm
1959, phó rồi trưởng bộ phận CIA ở Sài Gòn, sau đó trở thành phó rồi
trưởng chỉ huy tất cả những hoạt động bí mật ở Viễn Đông. Ông đã chỉ
đạo những kế hoạch đầu tiên chống du kích ở miền Nam. Theo lệnh của
tổng thống Kennedy, ông tiến hành lại cuộc chiến tranh bí mật chống
cộng sản miền Bắc bị bỏ rơi sau thời kỳ Lansdale. Ông tung các toán
nhảy dù , đưa vào bờ biển những toán khủng bố và phá hoại người Việt
Nam được CIA huấn luyện để bắt đầu đánh du kích chống chính quyền Hà
Nội như Việt cộng đã tiến hành ở miền Nam. Năm 1967 ông giúp Robert
Komer, cựu thành viên CIA mà Ellsberg nhận ra trong số những người đi
theo quan tài, mở chiến dịch PHƯỢNG HOÀNG nhằm mục đích giết, cầm tù
hoặc buộc đầu hàng những thành viên của Chính phủ cộng sản bí mật mà du
kích Việt cộng bố trí trong những vùng nông thôn miền Nam. Hàng chục
nghìn người Việt Nam bị giết hoặc tù đày. Phong trào hòa bình đã kết
tội Clby giết người và là tội phạm chiến tranh. Tranh áp phích có ảnh
của ông với hàng chữ “giết người” dán khắp những tòa nhà của các trường
đại học Washington. Nhưng không sự lên án nào làm lung lay lòng tin của
Colby về việc làm chính đáng của mình và ông vững tin hành động của
mình là cần thiết và đúng đắn. Thái độ hiền lành nhã nhặn và không phải
không tính toán, vẫn làm nao núng lòng người như trước. Năm 1968 Komer
rời Việt Nam, Colby lãnh đạo mọi chương trình bình định và như vậy là
cấp trên của Vann, đánh giá cáo tài năng của anh. Vann xông xáo, bộc lộ
mình và Colby thích hoạt động trong bóng tối, tiến tới kính trọng lẫn
nhau. Hai người lính đặt chiếc quan tài phủ cờ ở đầu lối đi chính trước bàn
thờ. Những nhân vật đi theo đến ngồi trên ghế đầu bên trái, có bộ
trưởng Ngoại giao William Rogers và bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird.
Sau khi cha tuyên úy cầu nguyện xong bài thuyết giáo, Robert Komer đứng dậy, tới trước đọc điếu văn.
Komer nguyên là tướng chỉ huy công cuộc bình định mà báo chí mệnh danh
là “cuộc chiến tranh khác ở Việt Nam”. Hơi tầm thước và hói bẩm sinh,
trong đoàn hộ tống quan tái, ông khác những người mặc thường phục màu
tối vì bận bộ quần áo xám sáng may theo kiểu LonDon những năm 50. Ông
phải mặc thế vì để đọc điếu văn cần có áo gi-lê và chỉ có bộ quần áo
màu hè độc nhất có gi-lê.
Tổng thống Johnson tin rằng Komer có biệt tài giải quyết những vấn đề,
gửi ông sang Việt Nam năm 1967 để sáp nhập thành một tổ chức duy nhất
và gắn bó những chương trình bình định của nhiều cơ quan dân sự. Komer
thực hiện nhiệm vụ này thật tốt và cố gắng hết sức để bình định Việt
Nam. Ông như một con chó săn, lao vào công việc một cách hung hăng, tin
tưởng, thậm chí có phần gian ác. Ông láu lỉnh bỏ qua những thủ tục bàn
giấy và thích biệt hiệu “đèn hàn” bạn bè và kẻ thù đặt cho. Vann giúp
Komer xây dựng tổ chức rất hiệu quả và là thuộc hạ trung thành nhất của
ông để thực hiện kế hoạch bình định.
Những người cộng sản Việt Nam đã hủy hoại nghiêm trọng sự nghiệp của
Komer bằng cuộc tấn công Tết năm 1968. Trước cuộc tấn công ông ta mắc
sai lầm nghĩ rằng Hoa Kỳ đang thắng trong cuộc chiến, ông báo cáo với
tổng thống và công khai tuyên bố thắng lợi là chắc chắn và hiển nhiên.
Sau cuộc tấn công, sự có mặt của ông trở nên phiền phức đối với chính
quyền Johnson và ông rời Sài Gòn cuối năm 1968. Từ đó ông tiếp tục làm
việc ở Washington, định kỳ sang Việt Nam và viết báo cáo. Ông giải
thích, Vann và các bạn xông vào chiến đấu để còn có thể chiến thắng;
miền Nam Việt Nam trụ vững đủ lâu dài để những người cộng sản kiệt sức
và bỏ cuộc. Sáng hôm ấy ba trăm con người tập trung trong nhà nguyện
lắng nghe giọng nhỏ nhẹ của Komer, ông già cứng rắn đứng bên cạnh quan
tài ca ngợi Vann.
Ông tán dương “lòng dũng cảm, tính cách, nghị lực, sức mạnh, lòng dũng
cảm của John Vann mà chúng ta đã biết rõ”. Những lời ấy phấn khích như
cách ông già Komer đã lao vào chiến tranh.
“Với những người đã làm việc cùng anh, nhận ở anh lời khuyên và gợi ý;
anh là con người tóc hung gầy nhỏ, nói giọng mũi của nông dân Virginia,
làm việc như một máy phát điện, chỉ ngủ mỗi đêm bốn tiếng, ít nhất mỗi
ngày hai lần làm nổ bom mìn. Anh biết thực tế những gì xảy ra hơn bất
cứ ai trong chúng ta và luôn luôn thông báo với chúng ta. Và tất cả
những ai trong chúng ta còn sống vẫn đang lắng nghe anh.
Đấy là John Vann mà chúng ta nhớ mãi. Anh tự hào là một nhân vật được nói đến nhiều và đảm nhận đến tận cùng vai trò đó.
Tôi chưa từng biết người nào có tư duy phê phán không mệt mỏi và tính
trung thực tuyệt đối như thế. Bao giờ anh cũng nói điều anh nghĩ về
thất bại cũng như chiến thắng. Vì điều đó và vì kinh nghiệm lâu dài của
anh, anh là người được báo chí kính trọng hơn bất cứ nhân vật có chức
quyền nào. Anh nói thẳng không chỉ với các nhà báo và cộng sự mà cả với
những tổng thống, bộ trưởng, đại sứ, các tướng lĩnh, không quan tâm đến
hậu quả. Một hôm tôi được lệnh, không đùa, phải phạt Vann thật nặng.
Tôi đã trả lời tôi không muốn và không thể vì nếu có ba người khác như
Vann, chúng ta sẽ rút ngắn thời hạn chiến tranh đi một nửa”.
Mary Jane đã không nghe cha tuyên úy nói gì, bây giờ lắng nghe Komer.
Giọng nói và lời của ông làm chị bình tĩnh lại. Ý nghĩa của nó không
quan trọng bằng sự thích thú được nghe những lời ca tụng của một người
nói năng hăng hái.
“Nếu John ít ảo tưởng, Komer tiếp tục, anh sẽ không bị dằn vặt về hành
động của mình ở Việt Nam : anh phải bảo vệ quyền lợi của nhân dân miền
Nam Việt Nam mà anh mong tự do cho họ. Anh biết rõ người Việt Nam hơn,
hợp tác chặt chẽ hơn với họ, chia sẻ những thử thách cũng như niềm vui
hơn bất cứ một người Mỹ nào khác. Anh cảm thấy trong các làng của họ
như ở nhà mình, qua đêm ở đấy thường xuyên hơn tại các bàn giấy ở Sài
Gòn.
Trong vai trò nào anh cũng là một người có khả năng tiên phong, không
lùi bước trước mối nguy hiểm nào và không bao giờ đòi hỏi người khác
làm điều mình không làm. Theo anh người chỉ huy phải đi đầu, dù nguy
hiểm đến mấy. Thậm chí anh là hiện thân của mẫu người không có gì không
thể được. và tôi không hề gặp trong số nhiều nghìn người cùng phục vụ
hoặc dưới sự chỉ huy của anh một người nào không ca ngợi anh. Anh đã
bồi dương, gợi ý cho cả một thế hệ chiến sĩ Việt Nam và Mỹ, đã là người
thầy, bạn chiến đấu, nỗi nhớ, niềm khích lệ và người bạn của chúng ta”.
Komer bị cuốn theo vấn đề và lời nói của mình. Giọng của ông rõ ràng và
sắc sảo hơn như mỗi lần ông cảm động. Ông giải thích vì sao Vann được
chôn cất ở Arlington :
“Vì anh là mẫy mực hoàn hảo nhất của người lính mà thời gian cuối cùng
ở Việt Nam đã thỏa mãn, ý muốn kín đáo đi đầu những toán quân Mỹ. Nhưng
John hơn một người lính : anh hoàn toàn hiểu rõ sức mạnh của súng đạn
không phải là giải pháp duy nhất.
Chúng ta mong, Komer nói tiếp, sự cố gắng chủ động của anh, lâu đài anh
xây dựng sẽ là nước Việt Nam, trong tự do và hòa bình mà anh vì nó đã
chiến đấu tích cực.
Và dù sự tranh chấp bi thảm sẽ kết thúc như anh mong muốn hoặc khác đi,
tất cả những người đã cùng phục vụ với Vann sẽ nhớ mãi anh. Đấy không
phải một người người ta có thể dễ dàng quên. Vì vậy hôm nay chúng ta
chào một trong những người anh hùng đích thực nhất của cuộc chiến tranh
thảm khốc và không được lòng dân mà anh đã hy sinh tất cả để phục vụ.
Không, John, chúng tôi sẽ không quên anh. Anh là người tốt nhất mà
chúng tôi đã mất”.
Ellsberg trước đây làm việc cùng Komer, đã có những quan hệ tốt, không
còn một cảm tình nào nữa dù ông ta đã hào phóng ca ngợi người bạn chung
của họ. Ông còn gì chúng với Komer và tất cả những người trong nhà
nguyện này tiếp tục bảo vệ cuộc chiến tranh. “Phải, ông tự nhủ và bực
tức thay đổi lại lời nói cuối cùng của Komer : anh là người bạn tốt
nhất mà chúng tôi đã phản bội”.
Cha tuyên úy đọc những câu kinh cuối cùng rồi ban phước, trưởng ban tổ
chức buổi lễ đề nghị mọi người đứng dậy. Ban nhạc bắt đầu chơi một bài
trong lúc quan tài được đẩy ra cửa lớn. Những người hộ tống đi trước
thành hàng đôi hai bên vòm vải xanh kéo dài ra hành lang. Các viên
tướng và đại tá người Việt chào theo kiểu quân sự và những người mặc
thường phục đặt bàn tay phải lên ngực còn quan tài được đưa lên chiếc
xe hòm phủ vải đen có sáu con ngựa kéo. Người chỉ huy dàn trống đưa
chiếc gậy bạc lên cao rồi hạ ngay xuống. Quân nhạc nổi lên theo đoàn
người đi suốt 900 mét từ nhà nguyện đến nghĩa trang.
Đoàn quân nhạc đi trước, chơi khúc hành quân theo đề nghị của Mary Jane
vì là điệu nhạc yêu thích của Vann : CUỘC HÀNH QUÂN CỦA ĐẠI TÁ BOGIE
anh được nghe trong phim CẦU QUA SÔNG KWAI. Sau khi xem phim ấy, anh
mua ngay chiếc đĩa và hình như nghe không chán. Sau đoàn quân nhạc là
đội danh dự rồi những người không mang cờ, những người cầm dây phủ quan
tài đi hàng đôi. Cha tuyên úy đi trước chiếc xe hòm. Phía sau là gia
đình người chết trong những chiếc xe Cadillac đen do hãng quân khí Vann
làm việc một thời gian ngắn sau khi giải ngũ cho mượn. Mặc dầu trời
nắng và đường xa phần lớn những người tham dự do kính trọng Vann đã đi
bộ sau những chiếc xe thay vì đi xe của họ.
Cứ như thế, đoàn người đi qua không để ý đến những đài chiến thắng
“cuộc chiến tranh đẹp đẽ” chống Tây Ban Nha năm 1898, đẩy biên giới
phía tây của Hoa Kỳ qua Thái Bình Dương, từ San Francisco đến tận
Manilla, kết thúc thời đại đế quốc Mỹ mà niềm tin đã bị chôn vùi trong
ngày đó. Đài thứ nhất xây dựng để tưởng niệm 385 người lính tử trận
suốt cuộc chiến tranh năm 1898 ấy, ít hơn người chết ở Việt Nam trong
một tuần. Xa hơn một chút về bên trái sừng sững một đài khác, cột buồm
của chiến hạm Maine, vớt được từ những mảnh tàu bị nổ tung và bị đắm ở
hải cảng La Havana làm chết 266 sĩ quan và thủy thủ tạo điều kiện cho
nước Mỹ nóng lòng chiếm đóng nước Tây Ban Nha đang hủy hoại không tự
bảo vệ được. Đi xuống con đường nghĩa trang đoàn người qua một đài khác
hình nhọn, tạc sơ sài bằng đá xám, tưởng niệm những người chết của
trung đoàn kỵ binh thứ nhất , những người tình nguyện mà ông chú của
Alsop tuyển mộ và dẫn đến vinh quang trong khúc dạo đầu của chiến công
dễ dàng ấy.
Xung quanh ngôi mộ của Vann không có vạt đất nào mới đào có thể làm nhớ
lại những chiến trường ở Việt Nam. Mộ được đặt trong một bụi cây lớn
theo bờ dốc hướng về bậc thềm Đài tưởng niệm và mồ Chiến sĩ vô danh tập
trung những người tử trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai
và chiến tranh Triều Tiên. Những cuộc đánh nhau liên tiếp ấy làm cho
các thế hệ quân sự Mỹ thành thạo về lễ tiết đối với người sống và người
chết. Khi những buổi lễ tiến hành vào mùa đông trên các thềm cỏ của Lầu
Năm Góc, cỏ bị sương giá làm cháy sém được nhuộm màu xanh. Các nhà chức
trách cũng chú ý giữ gìn như vậy ở Arlington để mọi vật dễ trông hơn.
Những người đào huyệt phủ lên đất mới đào một tấm thảm cỏ tổng hợp
người ta thường dùng trên sân thể thao. Hai hàng ghế xếp bằng kim loại
phủ vải xanh được đặt bên phải ngôi mộ dành cho gia đình và những người
thân.
Mary Jane ngồi ghế sau chiếc limuzin đen đầu tiên. Khi Edward Kennedy
trong nhà nguyện đi ra lại gần để chào, chị hạ kính xe xuống đáp lễ.
Chị không nâng tấm kính lên lại và nghe được bản nhạc mình đã đề nghị.
Chị nghĩ các nhà chức trách cho bài hát không đúng chỗ trong đám tang
chính thức của một người anh hùng chiến tranh và sẽ cấm chơi. Thế nhưng
nhạc trưởng xướng nhịp ngay lúc tám trung sĩ đồng phục xanh, mỗi bên
bốn người nắm lấy đầu dây đòn quan tài nhấc ra khỏi xe hòm.
Mary Jane xúc động nghe bản nhạc. Đấy là bản NHỮNG BÔNG HOA SẼ RA SAO
do các chiến binh hòa bình sáng tác, lan sang những người lính Mỹ ở
Việt Nam, trở thành phổ biến thời kỳ ấy, có lẽ nổi tiếng nhất vì nó gợi
lên cho từng người về cuộc chiến tranh họ đang tham gia. Đoàn quân nhạc
không ngừng chơi bản nhạc đơn giản, lặp đi lặp lại trong lúc các trung
sĩ đưa quan tài tới mộ.
Đấy là bản nhạc của Mary Jane cũng như bản CUỘC HÀNH QUÂN CỦA ĐẠI TÁ
BOGIE là của John. Một bản nhạc gửi gắm nhiều điều : nỗi buồn của một
bà mẹ có những trẻ trai chết ở Việt Nam, những hủy hoại trách nhiệm của
chế độ cầm quyền về cuộc chiến làm con trai Jesse của chị chống đối
chính quyền và chiến tranh, những hy vọng mỏi mòn về cuộc hôn nhân chị
mơ ước, cái chết của người đàn ông chị muốn giữ lại vì chị đã yêu bất
kể những gì xảy ra.
Bây giờ cha tuyên úy bước đến ngôi mộ, theo sau chiếc quan tài bốn
trung sĩ khiêng đi. Trung úy chỉ huy đội danh dự đứng nghiêm, lưỡi gươm
tuốt trần, mũi gươm hướng về ngôi mộ. Phía sau ông những người lính
bồng súng thẳng đứng trước mặt. Người mang cờ nghiêng lá quân kỳ chào
chiếc quan tài. Quân nhạc tiếp tục chơi.
Lá cờ phủ quan tài được đưa lại cho Peter Vann, xếp hình tam giác những
ngôi sao lên mặt trên. Peter đã hỏi xin mẹ và chị đã đồng ý vì, 16
tuổi, cậu là đứa con nhỏ nhất. Cậu đứng dậy, cha tuyên úy đưa cho cậu
vào cuối buổi lễ, sau khi đội danh dự bắn ba loạt súng rồi tiếng kèn
tiễn biệt người chết, cha tuyên úy đọc lời kinh cuối cùng và chúc phúc.
Peter vừa 6 tuổi lúc bố cậu sang Việt Nam lần đầu. Thực sự cậu không
thấy buồn cho đến lúc nhận lá cờ vì cậu ít biết về bố, càng vì không
được dạy dỗ thành một trí thức. Cậu bao giờ cũng thích sửa chữa lặt vặt
xe cộ. Chiến tranh kéo dài đến nỗi cậu quên kẻ thù ở phía nào. Hôm
trước khi gia đình đến Đại sứ quán Việt Nam để được chính quyền Sài Gòn
truy tặng ân hiệu cao nhất cậu hỏi đây là Đại sứ quán miền Nam hay miền
Bắc. Nhận lá cờ cậu bắt đầu khóc, hy vọng khi chết bố không ghét cậu vì
những cuộc tranh cãi của bố con khi Vann về nghỉ phép. Cậu cũng hy vọng
bố không hổ thẹn vì cậu đã khóc. Bố cậu vẫn luôn chế giễu những giọt
nước mắt của các con trai mình, coi đó là biểu hiện yếu đuối. Con trai cả của Vann, John Allen, 24 tuổi không đứng dậy, như tục lệ,
để nhận những lời chia buồn của bộ trưởng Ngoại giao Rogers thay mặt
tổng thống Nixon, của bộ trưởng Quốc phòng Laird, của Westmoreland và
những quan chức khác đi ra sau buổi lễ trước hàng ghế gia đình đang
ngồi. John Allen biết rằng nếu anh không đứng dậy những người khác
trong gia đình cũng không đứng dậy. Anh chỉ biết những người kia qua
truyền hình và báo chí, chấp nhận tang lễ chính thức ở Arlington vì
nghĩ đây là dịp ca tụng người bố vốn sung sướng về cảnh huy hoàng này.
Anh nghĩ một số trong những người này hoặc người khác như họ chịu một
phần trách nhiệm khi bố anh buộc phải giải ngũ năm 1963. Anh cho rằng
phải lấy lại một ít công bằng khi bắt tất cả phải cúi xuống bắt tay mẹ,
anh và các em và làm họ tôn vinh bố mình.
Ellsberg đứng bên phải ngôi mộ, gần với gia đình người chết. Ông có mặt
ở đây cũng khiếm nhã như trong nhà nguyện. Các quan chức không khỏi đi
qua sát bên ông sau khi chào gia đình. Rogers chỉ nhìn tò mò, Laird
không biết có ông khi nhìn thẳng về phía trước. Ellsberg không trông
thấy họ, mắt nhìn đăm đăm vào quan tài, nghĩ đến đêm đầu tháng Ba năm
1971.
Vann nghỉ phép ở Washington và Ellsberg chờ anh đến quá nửa đêm để về
nhà nói chuyện. Cuối cùng anh đến và ở qua đêm. Thời kỳ ấy Ellsberf
cộng tác với NEW YORK TIMES. Cho đến gần sáng lần đầu tiên hai người
nói đến những tài liệu của Lầu Năm Góc mà Ellsberg đã sao chép bí mật,
chấp nhận gửi lại một bản để đăng báo ( Tác giả Neil Sheehan đoạt giải
báo chí Pulitzer với tác phẩm HỒ SƠ LẦU NĂM GÓC khi còn là phóng viên
của New York Times ). Và như vậy Ellsberg bị kết tội, đứng trước một
cơn sóng gió.
Jesse lại nghĩ về chiến tranh. Cái chết của bố hiện rõ hơn bao giờ hết
làm cậu và những người khác bắt đầu chấp nhận thực tế. Jesse thấy thái
độ tích cực về cuộc chiến tranh này là tội lỗi, không thể tiếp tục dung
thứ lâu hơn. Cậu là đứa con trai của người bố không chịu đựng được cậu
tự do sống như ý muốn. Cậu quyết định tặng bố một món quà vĩnh biệt,
trung thực với thái độ cậu cho là đúng : bỏ trên quan tài một nửa tấm
thẻ quân dịch. Rồi cậu hoàn thiện món quà ấy bằng đưa nửa tấm thẻ còn
lại cho tổng thống Nixon khi gia đình đến Nhà Trắng nhận truy tặng sau
lễ an táng. Jesse vẫn luôn từ chối lệnh gọi nhập ngũ hàng năm nhưng
việc đó bây giờ không làm cậu bị kết tội nữa, nó chỉ chứng tỏ lòng
trung thực và thái độ cương quyết của cậu. Cậu không còn bị đe dọa gọi
ra dưới cờ. Mấy năm trước đây cậu suýt vào tù vì chống đối. Cơ quan
tuyển mộ Colorado đã xếp cậu vào đám người phạm pháp vì không phục
tùng. Anh cả cậu, John Allen bèn mặc đồng phục sĩ quan dự bị, đến nói
với bà thư ký là bố họ có một vị trí quan trọng ở Việt Nam. Anh thuyết
phục bà tạm thời thay đổi thể chế cho Jesse, không đủ điều kiện phục vụ
vì bị thần kinh. John Allen tự làm theo sáng kiến của mình không tham
khảo bố và em, đảm nhận vai trò chủ gia đình trong lúc bố đi vắng. Anh
biết Jesse vẫn tiếp tục từ chối lệnh gọi nhập ngũ và bố anh không chấp
nhận lập luận của Jesse. Mấy tháng trước khi bố chết Jesse nhận được
một chỉ thị mới : cậu hoàn toàn không phù hợp để phục vụ trong quân
đội, Jesse không hiểu vì sao cơ quan tuyển mộ miễn trừ cho anh như thế.
Đã từ lâu anh không còn thấy mình bị thần kinh, không một khuyết tật gì
về tinh thần và thể xác.
Có ai đó đưa cho Jesse một bông hồng để cậu đặt lên quan tài. Cậu lấy
thẻ quân nhân ra, xé đôi, bỏ một nửa dành cho Nixon vào túi áo, một nửa
cho bố vào giữa cành hoa, để tất cả lên chiếc khay xám, bên cạnh hoa
của mẹ, các anh và bà con cảu bố. Cậu nói với bố : « Đấy là tất cả
những gì bây giờ con có thể tặng bố, những gì con có thể làm ». Rồi cậu
quay lại, đến nói chuyện với Ellsberg đang chờ tới Nhà Trắng. Jesse
nghĩ đến việc sẽ làm khi đứng trong phòng bầu dục dự lễ và, Nixon sẽ
đưa tay bắt tay cậu. Thay vì bắt tay cậu sẽ đưa cho ông nửa tấm thẻ. Sự
việc sẽ khá rõ. Tội đầu tiên đối với luật pháp là từ chối thẻ quân dịch
và tội thứ hai là xé rách nó. Jesse tự hỏi đưa nửa còn lại cho tổng
thống Hoa Kỳ có phải là tội thứ ba không. Cậu không muốn vào nhà tù
nhưng cậu nghĩ cử chỉ phản đối ấy cũng đáng làm. Một trong những người
bạn cậu đã vào nhà tù liên bang vì từ chối gia nhập quân đội.
Một cậu em của Jesse, Tommy, 18 tuổi thấy cậu xé thẻ quân dịch làm đôi,
hỏi cậu làm gì. Ngập ngừng cậu giải thịch điều định làm với Nixon,
Tommy không thể giữ bí mật, nói lại với Peter lúc họ đi đến Nhà Trắng.
Hai chiếc môtô rú còi vượt đèn đỏ vì buổi lễ dự kiến vào đúng trưa và
không được để tổng thống phải đợi. Tommy tán thành hành động của Jesse.
Anh cho rằng bản thân Nixon chằng thương xót gì những người chết, những
thương binh và những nạn nhân khác, cuộc chiến tranh này không trực
tiếp đụng chạm đến ông ta và những người thân của ông. Anh hình dung
nét mặt của Nixon khi Jesse đưa cho ông tấm thẻ bị xé. Anh nghĩ có lẽ
lần này chiến tranh sẽ động chạm đến cuộc sống của ông.
Peter vốn phấn khởi được gặp tổng thống, bảo ý định của Jesse thật ngu ngốc.
Ở Nhà Trắng, gia đình họ được đưa vào phòng Roosevelt, cách phòng bầu
dục mấy bước chân là phòng của tổng thống, để chờ mấy phút. Nixon đã dự
xong cuộc họp về cải cách xã hội được bắt đầu trong lúc tiến hành đám
tang ở Arlington. Người chị cùng mẹ của Vann, Dorothy Lee từ Virginia
tới, những người anh em khác, Frank, đốc công ở một xí nghiệp xây dựng
và Eugène., trung sĩ không quân đều có mặt để dự lễ truy tặng.
Jesse cố bình tĩnh quan sát tấm thảm sàn trong phòng. Cậu đang nghĩ tấm
thảm trong phòng Roosevelt làm không tốt và cậu có thể làm tốt hơn thì
John Allen lại gần. Người anh cả cũng nhận thấy thái độ lạ lùng của em
ở nghĩa địa và câu chuyện giữa Peter và Tommy trên xe làm anh quan tâm.
- Đừng làm thế Jesse, anh bảo em.
- Sao lại không ? Jesse hỏi.
- Vì ngày hôm nay không thuộc về em, người anh nhỏ giọng trả lời vì sợ
người khác nghe. Đây là ngày của bố. Vì thế mà ông đã sống và chết.
Đừng hạ thấp ông bằng việc làm đó.
Ngày John Allen xem như vinh quang của bố sẽ biến thành số không. Báo
chí ở Nhà Trắng sẽ phủ kín hiện tượng này. Quang cảnh một chàng trai
tóc dài, con trai của người chiến binh huyền thoại ở Việt Nam, đưa cho
tổng thống tấm thẻ quân dịch xé đôi sau khi để nửa kia trên mộ cha thật
là câu chuyện đẹp đẽ đối với họ !
Tommy đoán được việc gì xảy ra, lại gần để bảo vệ Jesse.
- Nhưng đây là lòng tin chắc chắn của anh ấy !
Cả ba tranh luận để biết Jesse tỏ thái độ chống đối chiến tranh có quan
trọng hơn vinh quang chính thức về sự nghiệp của cha họ không. Những
ông chú bác của Jesse cũng tới cố thuyết phục cậu.
- Nếu cậu định làm thế, chú sẽ không dự buổi lễ nữa, Frank, ông chú thấp và hói nói
- Thì chú cứ làm như chú muốn, Jesse trả lời. Cháu tự biết phải làm gì.
Chú Engène, với những chiếc lon tay trên áo, đỏ bừng mặt như bố Jesse mỗi khi nổi giận :
- Jesse, bố cháu là anh của chú và chú biết ông lâu hơn cháu. Ông tin
tưởng mãnh liệt vào việc của ông làm và nếu cháu làm thế là tát vào mặt
ông ấy đấy.
- Hãy để cháy yên, Jesse trả lời. Cháu biết cháu phải làm gì.
John Allen đi lại chỗ mẹ. Sau khi trang điểm trong phòng rửa mặt chị
nói chuyện với Dorothy Lee trong một góc phòng. Chị có vẻ bình tĩnh
trong chiếc áo dài bình dị màu xanh râu nhưng mang kính để che đôi mắt
đỏ.
- Mẹ ơi, John Allen nói với chị, Jesse muốn đưa lại cho Nixon tấm thẻ quân dịch. Không thể để em nó làm thế.
Mary Jane dằn tiếng nấc như khi trong nhà nguyện người ta đưa quan tài đi. Bà đến với Jesse :
- Mẹ xin con, Jesse, vì bố mẹ xin con đừng làm như thế. Ngày hôm nay là
của bố chứ không phải của con, của mẹ hay của ai khác. Con sẽ làm nhục
bố.
Lời mẹ làm Jesse nao núng nhưng cậu không dễ xiêu lòng.
Người đại diện mặc thường phục của Bộ Quốc phòng giám sát buổi lễ cùng
một đại úy, chạy ra ngoài tìm quan chức Nhà Trắng. Họ gặp tướng Brent
Scowcroft, tùy viên quân sự của tổng thống ở tiền sảnh. Ông đi vào
phòng Roosevelt để xem gia đình đã sẵn sàng chưa. Ông có biết Vann một
ít và yêu mến anh. Hai người báo cáo với ông những gì đã xảy ra và cho
người đi tìm John Allen; anh con trai cả, người đã báo với họ những ý
định của Jesse.
- Không thể được ! Scowcroft nói.
- Chúng tôi không biết làm thế nào để ngăn cản, John Allen nói. Nó đã quyết định làm.
Scowcroft vào phòng bầu dục báo cáo ngắn gọn việc xảy ra với tổng thống
và đề nghị cho chậm lại một ít để ông giải quyết vấn đề này. Scowcroft,
sĩ quan tham mưu vững vàng, nổi tiếng về cách giải quyết với những
khủng hoảng.
Ông vào phòng Roosevelt, kéo Jesse ra một góc, bình tĩnh nói chuyện với cậu :
- Anh nghe này, mặc cho anh nghĩ thế nào, buổi lễ này là dành tôn vinh
bố anh. Anh không thể làm hỏng nó. Nếu anh không hứa sẽ thôi chuyện đó,
chúng tôi buộc phải hủy bỏ buổi lễ.
Jesse đã bị lay chuyển vì lời phàn nàn của mẹ và lời khuyên của chú
Frank khác với những người khác đã cố bình tĩnh phân tích với cậu.
Giọng nói dứt khoát của viên tướng còn tác động mạnh hơn. Cậu hiểu khai
thác trường hợp của bố vì lợi ích riêng của mình chắc chắn về đạo đức
là không thể chấp nhận được. Và vì không thể hành động với lương tâm
thanh thản nên cậu nén lại. Dù sao cũng không có sự lựa chọn nào khác.
- Được rồi, được rồi, cậu trả lời tướng Scowcrot, tôi xin hứa không làm thế.
Scowcroft nắm cánh tay cậu rồi ngoảnh lại hỏi John Allen :
- Cậu ấy làm hay không ?
- Nếu đã nói, em nó sẽ giữ lời, John Allen trả lời.
Viên tướng trở lại phòng bầu dục để báo với tổng thống buổi lễ có thể bắt đầu.
John Alen đưa mẹ đến chỗ tổng thống, theo sau là các em trai, bà cô và
hai ông chú. Tổng thống ngồi sau bàn trống đang xem tập hồ sơ. Ông gấp
hồ sơ, đứng dậy, quay người đón họ ở giữa gian phòng. Bàn giấy không có
gì, tập hồ sơ nghiên cứu tới phút chót, bước lại trước những người được
mời đến, tất cả những cái đó là thủ tục Richard Nixon tiếp khách. Ông
bày tỏ tình cảm ới Mary Jane và John Allen rồi bắt tay những người
khác. Đến lượt Jesse, Tommy nghe Nixon thì thầm “Cảm ơn”. Nhưng Jesse
quá cảm động khi nắm tay Richard Nixon, không chú ý biểu hiện ấy của
tổng thống. Cậu chỉ nhận thấy Nixon có một bàn tay to.
Roges và Laird cũng theo họ vào phòng. Mary Jane ngạc nhiên thấy cả
Alsopo vì chị không rõ vị trí của ông trong hệ thống Washington và tự
hỏi vì sao một nhà báo được đối xử như một thành viên gia đình. Biết rõ
tình bạn của ông đối với Vann, Nixon đã mời Alsop dự buổi lễ trước các
nhà báo khác để nghe ông nói riêng với gia đình.
Thợ ảnh của Nhà Trắng dàn mọi người theo hàng trừ Alsop để chụp ảnh
chính thức. Ông bố trí cho họ thành nửa vòng tròn phía sau bàn, trước
mành che những cửa sổ lớn trang trí hai lá cờ, băng sao và biểu tượng
phủ tổng thống, phía trên là hai con chim ưng vàng. Tổng thống đứng
giữa Mary Jane và John Allen. Khi người thợ ảnh bấm máy, Richard Nixon
có một nụ cười nhẹ. Ở bức ảnh tiếp theo ông rõ ràng có vẻ khó chịu hơn.
Chụp ảnh xong, Richard Nixon nói ngắn gọn với gia đình. Ông nói cái
chết của Vann như một mất mát cho riêng ông cũng như của đất nước và
nhân danh dân chúng Hoa Kỳ ông tỏ lời chia buồn. Ông thể hiện tình bạn
với Vann và kính trọng sâu sắc việc làm của anh ở Việt Nam mà ông đặc
biệt tán thành. Vann gặp ông lần cuối ngay tại phòng này trong một đợt
phép ngắn. Nixon nói qua buổi họp ông nhận thấy họ chia sẻ với nhau sự
đồng cảm về chiến tranh, Vann đã đưa lại cho ông những ý nghĩa mới
trong cách nhìn chiến tranh và những mong muốn của nhân dân Nam Việt
Nam.
Richard Nixon cố gắng dịu dàng với gia đình Vann những nỗi bực tức bề
ngoài về trường hợp Jesse và kiểu cách tự nhiên của ông đã chống lại
ông. Ông mỉm cười quá nhiều trong trường hợp kém vui như thế, ông
chuyển ánh mắt luôn, không bao giờ đặc biệt vào một ai. John Alen giống
bố, có thói quen hướng nhìn thẳng vào mắt người đối thoại. Tổng thống
luôn tránh cái nhìn của anh và quay đi khi mắt họ giao nhau. Việc thiếu
thành thật của ông càng trầm trọng thêm vì hóa chang che bộ râu rậm để
phòng ống kính truyền hình. Gia đình Vann chưa bao giờ thấy đàn ông hóa
trang trừ trên sân khấu, ngạc nhiên được tiếp ở Nhà Trắng với một tổng
thống mặt đầy phấn. Họ có cảm giác dự một buổi diễn. Cái chết của Vann
tạo lý do cho Richard Nixon có một hoạt kịch với quần chúng mà ông đóng
vai chính khi trao huân chương cho một anh hùng dân tộc.
Tổng thống càng làm họ bực mình hơn khi trong bài phát biểu đã nhấn
mạnh hai lần ý muốn truy tặng Huân chương Danh dự cho Vann nhưng bị
luật pháp cản trở vì về mặt pháp lý Vann là một viên chức dân sự. Do
vậy, Nixon giải thích, ông buộc lòng phải quyết định truy tặng Vann
Huân chương Nhà nước loại hai, Huân chương Tự do của phủ tổng thống.
Không ai trong gia đình cho Vann không xứng đáng được tặng thưởng cao
nhất. Peter tự nhủ đang lẽ tổng thống hoặc tìm mọi cách truy tặng cha
anh Huan chương Danh dự hoặc biết điều im đi cho.
Những trợ lý tổng thống cho những phóng viên và máy quay truyền hình
vào. John Allen nhận huân chương cho cha vì Mary Jane không còn là vợ
hợp pháp của Vann. Anh đứng trước mặt tổng thống, bên phải chiếc bàn
trước những lá cờ lớn và cờ nhỏ của những binh chủng khác nhau, cán dài
cắm bên nhau trên có con chim ưng vàng.
Scowcroft dán mắt nhìn vào Jesse.
Trước khi trao huân chương cho John Allen, tổng thống đọc :
“Chiến sĩ vì hòa bình và là người yêu nước của hai dân tộc, tên họ của
John Paul Vann sẽ được tôn vinh lâu dài, đồng thời những người tự do sẽ
nhớ đến cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ nền độc lập cho miền Nam Việt Nam..
Anh đã phục vụ với tư cách là chiến sĩ trong quân đội và trong các cơ
quan dân sự trong 10 năm, để lại dấu ấn về con người, về nghề nghiệp và
lòng quả cảm không ai bằng; với sự tận tụy cao cả và hy sinh lớn lao.
Là một người Mỹ vĩ đại, người chỉ huy số một , tổng thống tiếp tục đọc
, anh có mặt bên cạnh La Fayette trong hàng ngũ những anh hùng đã vì
quyền lợi một dân tộc dũng cảm khác”.
Mary Jane nhìn tất cả những cái đó từ bên ngoài. Nhưng chị không bằng
lòng với vẻ giả dối của buổi lễ, càng không chấp nhận huân chương loại
hai Nixon truy tặng Vann.
“Thật nhục nhã, John, chị âm thầm nói với anh như đã nói chị yêu anh
khi đặt bông hồng trên chiếc quan tài. Đây là một đám tang loại hai. Cả
lũ chó má ấy tiếp tục hạ nhục anh”.
I
DẤN THÂN VÀO CUỘC CHIẾN
Mười năm trước, gần trưa ngày 23 tháng Ba năm 1962, khi bước những bước
dài qua cánh cửa tự động của văn phòng đại tá Daniel Boone Porter ở Sài
Gòn, anh không có vẻ một người dễ bị đánh bại. Thấy viên trung tá trẻ
bước vào với bộ quần áo ka-ki hồ bột và chiếc mũ cát-két xanh, Porter
có cảm giác nếu đại tướng tổng tư lệnh giao cho anh này chỉ huy cuộc
chiến tranh, John Vann sẽ trả lời :” Vâng, thưa đại tướng” và nắm lấy
quyền chỉ huy. Nhìn vào khuôn mặt sẽ trở thành biểu tượng trong tương
lai của Vann, không ai nghĩ số phận mỉa mai muốn anh suýt không bao giờ
đến Việt Nam. Chuyến bay đáng lẽ anh phải đến Sài Gòn tháng Ba năm 1962
cùng 93 binh lính khác biến mất dưới Thái Bình Dương. Anh đã lỡ chuyến
bay vì nóng lòng muốn ra trận quên cả gia hạn lại hộ chiếu. Trong lần
kiểm tra cuối cùng một nhân viên bàn giấy nhận thấy giấy tờ quá hạn đã
buộc anh ở lại. Ít lâu sau chiếc máy bay mất tích, Hội Chữ thập đỏ điện
cho Mary Jane báo tin chồng chị đã biến mất trong Thái Bình Dương. Mary
Jane trả lời họ mọi việc an toàn, anh đã điện thoại cho chị và sẽ đi
một chuyến bay khác. Đại diện Hội Chữ thập đỏ gặng bảo chắc chắn chị
nhầm, chồng chị không có mặt và danh sách hành khách bao giờ cũng đáng
tin.
Thời kỳ ấy, tất cả xáo động và lẫn lộn. Tổng thống Kennedy vừa thành
lập ở Sài Gòn, vào tháng Hai năm 1962, ban chỉ huy mới của bộ phận viện
trợ quân đội Mỹ ở Việt Nam (MACV), đứng đầu là tướng Paul Harkins, tham
mưu trưởng của George Patton, thiên tài quân sự trong Thế chiến thứ
hai. Tổng thống chuẩn bị tăng gấp bốn lần số lượng binh lính Mỹ ở Việt
Nam, đưa từ 3.200 người đầu năm lên 11.300 vào dịp Giáng sinh. Đại tá
Porter phải miễn cưỡng mất nhiều thì giờ hỏi han những người mới đến và
úy lạo họ. Văn phòng ông đặt trong một trại lính kỵ binh Pháp cũ ẩn sau
những cây to của đại lộ ồn ào nối trung tâm Sài Gòn và khu người Hoa
của Chợ Lớn. Trại lính là tổng hành dinh một trong những Quân đoàn của
chính quyền Sài Gòn, chính thức mang tên Quân lực Cộng hòa Việt Nam
(ARVN), được người Mỹ có thói quen biến tên viết tắt thành biệt hiệu
gọi là “Arvin”. Porter vừa là cố vấn của thiếu tướng Việt Nam chỉ huy
Quân đoàn và các sĩ quan khác dưới sự đảm bảo liên lạc với các đơn vị
khác nhau trong Ban tham mưu. Năm 1962 ở Việt Nam máy điều hòa nhiệt độ
không phổ biến như máy chữ trong các phòng làm việc của quân đội Mỹ.
Porter và những người phó làm việc như những người Pháp trước họ, trong
những gian phòng cao trần mở ra các nhà cầu bên ngoài dọc theo hai tầng
nhà bằng gạch xây. Những nhà cầu nhìn ra một khu diễn tập cũ để cỏ
choán và rác bụi, đi qua không nhìn thấy bên trong. Chúng dùng làm hành
lang và đón luồng gió mát hiếm có, sau khi qua những cánh cửa tự động
như trong phim cao bồi, bị trộn lẫn vào gió những quạt điện đồ sộ treo
ở trần nhà.
Anh trung tá đứng trước Porter có tài lay chuyển tư tưởng người khác.
Dù nắng nóng, anh cẩn thận giữ quần áo không mất ly và chào nhanh nhảu
hơn phần lớn các sĩ quan khác trước khi được mời ngồi. Ngoài ra anh
không có gì đáng chú ý. Porter nghĩ trước mặt mình là một trong những
con gà trống gây gổ xông vào giữa đàn gà mái trong trang trại vùng
Boston, nơi bố ông, có một cửa hàng ngũ cố và cỏ khô. Khi anh cất chiếc
mũ cát két ngồi xuống, người ta càng thấy phong thái bình tĩnh. Chiếc
mũi thẳng quá lớn so với khuôn mặt gầy; lỗ mũi mở rộng trên miệng rộng
và ngang bằng. Những nét ấy càng lộ rõ do vầng trán cao, mái tóc hung
cắt ngắn theo tập quán lính Mỹ những năm năm mươi, sáu mươi. Nhưng đôi
mắt xám xanh làm người ta chú ý và bộc lộ tính tình của anh. Đấy là đôi
mắt diều hâu nhỏ, sâu dưới hàng lông mày rậm. Thân hình mềm dẻo, toàn
xương và bắp thịt, nhanh nhẹn lạ lùng, là một trong những vận động viên
thể thao giỏi nhất ở trường và trong quân đôi. Anh rất chú trọng về
hình thể : không hút thuốc, ít uống rượu và giữ gìn sức khỏe bằng chơi
bóng rổ, có khả năng nhảy lộn vòng mạo hiểm.
Vann trả lời rất tự tin những câu hỏi của Porter về kinh nghiệm quân
sự. Khi tình nguyện sang Việt Nam anh đề nghị được sử dụng vào việc khó
nhất, làm cố vấn một sư đoàn bộ binh Nam Việt Nam. Trong chín sư đoàn
Việt Nam cộng hòa, ba thuộc Quân đoàn Porter làm cố vấn. Vann mới thăng
trung tá được 10 tháng, việc bổ nhiệm theo ý của Porter vì nhiều sĩ
quan khác có thâm niên nhiều hơn anh.
Anh tỏ ra tin tưởng khi bàn với Porter khả năng đảm nhiệm chức vụ. Lời
đoan chắc của con gà trống này không phải để khoa trương với viên đại
tá 52 tuổi, mái tóc bạc, thân hình đồ sộ với thái độ thận trọng tiềm ẩn
những hiểu biết nghiệp vụ và tính tình cứng rắn. Ngay từ bước đầu sự
nghiệp, 30 năm về trước, thiếu úy trong đội bảo vệ quốc gia Texas, ông
đã học tính gan lỳ cần thiết miễn là viên sĩ quan biết mình phải làm
gì. Ông đang tìm một người gan dạ không theo công giáo để thay trung tá
Frank Clay, con trái tướng Lucius Clay hiện là cố vấn Sư đoàn 7 bộ
binh, sư đoàn quan trọng nhất vùng bắc đồng bằng sông Cửu Long. Mùa hè
này Clay phải thuyên chuyển.
Porter đã nghiên cứu rất kỹ lý lịch của Vann, nhận thấy anh đã chỉ huy
một trung đội thâm nhập vào sau lưng địch ở Triều Tiên và cũng chứng tỏ
có tài tổ chức ở vị trí tham mưu. Anh là một chuyên gia về hậu cần,
hiện tượng khan hiếm, đối với sĩ quan bộ binh, nổi tiếng chỉ huy quân
chiến đấu, lại có bằng đại học quản trị. Porter chính đang tìm một sĩ
quan vừa là người tổ chức và chiến đầu vì hai đặc tình này cần thiết để
phối hợp nỗ lực chiến tranh ở bắc đồng bằng sông Cửu Long. Càng trao
đổi quan điểm Porter càng tin chắc Vann thực hiện được nhiệm vụ ấy do
táo bạo và có một thái độ xây dựng. Tuy Porter mới ở Việt Nam ba tháng,
ông đã lùng sục khắp vùng và tham dự nhiều cuộc hành quân chống du kích
cộng sản. Kinh nghiệm cho ông thấy để đánh thắng phải có những người Mỹ
chỉ cho các chỉ huy quân đội Sài Gòn phải tiến hành cuộc chiến ra sao
và cũng đẩy được họ ra trận.
Porter thông báo với Vann ông xem anh như người kế nhiệm tạm thời Clay
và chỉ quyết định vào phút chót. Trong lúc chờ đợi, Vann được thử thách
một thời gian về những nhiệm vụ khác nhau.
Ngay sau bữa ăn trưa, Vann được chỉ định vào công việc đầu tiên. Porter
giải thích có một tay trước ông, với thói quen suy nghĩ của một cán bộ
bàn giấy ở Lầu Năm Góc và hình như đã trở về đó, bố trí một mạng lưới
tin học làm công tác hậu cần cho các sư đoàn Nam Việt Nam và các lực
lượng tại chỗ. Trung tá Việt Nam phụ trách hậu cần của Quân đoàn và các
sĩ quan của ông không hề biết cách đưa yêu cầu cung cấp vào máy tính.
Trung tá Mỹ cố vấn cho họ về hậu cần cũng không. Thay vì nhận được
những bộ phận rời hoặc trang bị đang cần, họ bị ngập bởi một đống giấy
tờ không hiểu nổi mà Porter đưa cho Vann. Anh thử có thể rút ra được
điều gì không ? Ông dẫn vann vào văn phòng hậu cần, giới thiệu anh với
những sĩ quan Mỹ làm việc ở đấy và bố trí chỗ cho anh.
Cuối buổi chiều Vann trở lại gặp Porter với một cuốn sổ nhiều trang tự
anh đánh máy. Anh ghi lại câu chữ lí nhí của máy điện toán khó hiểu, mô
tả đơn giản nguyên tắc của hệ thống và trình bày một phương pháp thực
hành cho phép các sĩ quan hậu cần Việt Nam và các cố vấn Mỹ dốt đặc tin
học, có thể dùng phương pháp ấy để nhận được những bộ phận rời và vật
liệu yêu cầu. Porter hoàn toàn kinh ngạc. Ông chỉ biết sơ qua về điện
toán nhưng chắc chắn công việc Vann làm nếu giao cho một sĩ quan khác
dù là chuyên gia hậu cần cũng mất ít nhất hai ngày. Thế mà con người
này chỉ trở lại sau vài giờ với một giải pháp tốt hơn ông mong đợi ! Và
trong buổi chiều hôm ấy tuy chưa nói với anh, Porter quyết định con gà
trống hung này sẽ được bổ nhiệm vào Sư đoàn 7.
Hai tháng tiếp đó, Porter cố sử dụng những tài năng khác của Vann để
chuẩn bị cho anh nhận nhiệm vụ. Trong ba Quân đoàn Việt Nam, Quân đoàn
thứ ba thuộc quyền Porter quan trọng nhất và xảy ra nhiều trận đánh
nhất. Vùng hoạt động của ông trải rộng từ đầu bán đảo Cà Mau, cực nam
lên đến những tỉnh bao quanh Sài Gòn về phía bắc. Để Vann làm quen với
cuộc chiến tranh, Porter cử anh cùng sư đoàn đồn trú làm nhiệm vụ tấn
công bằng máy bay lên thẳng những đồn điền cao su phía bắc Sài Gòn
trong những rừng gỗ tếch, gỗ gụ dưới chân cao nguyên. Ông cũng giao cho
anh tuần tra ở phía nam trong những đồng lúa đồng bằng sông Cửu Long.
Vann hành quân với hai sư đoàn ở đó, đến những tỉnh trong vùng và những
trung tâm nông thôn mà các quận trưởng sống cùng gia đình, bố trí trụ
sở trong những ấp chiến lược có lôt cốt và dây thép gai phòng vệ. Để
Vann quen thuộc với thiếu thốn của ban tham mưu Nam Việt Nam, Porter cử
anh đến thực tập ở các trung đội hành quân và thông tin của sư đoàn.Sáng 21 tháng Năm năm 1962, Vann bắt tay Porter rồi lên một chiếc xe
Jeep. Anh ra khỏi trại kỵ binh cũ của lính Pháp với lòng hăng say
thường ngay lao vào hệ thống giao thông đủ loại phương tiện của Sài
Gòn. Đến Phú Lâm anh ra khỏi vùng ven tây nam thành phố. Một toán quân
đang dựng những ăng ten đồ sộ trên đồng lúa cũ đã bị xe ủi đất Mỹ san
bằng. Trạm radio tần số cao Phú Lâm nối liên lạc với tổng hành dinh của
tướng Harkins ở Sài Gòn trong hệ thống liên lạc mở rộng với mạng lưới
điện thoại, điện tín của Lầu Năm Góc. Những ăng-ten mới, tiếng nói cuối
cùng của kỹ thuật công nghiệp truyền đi những tín hiệu điện tử ra ngoài
tầng đối lưu, mở rộng bán kính hoạt động của quyền lực tổng tư lệnh ra
toàn vùng Đông Nam Á, ra miền Bắc đỉnh núi Trường Sơn, những ruộng nước
trung tâm đồng bằng, hải cảng, các sân bay Nam Việt Nam và vượt núi
rừng đến tận căn cứ không quân Urbon ở Thái Lan, đồng minh thứ hai mà
nước Mỹ cam kết bảo vệ ở phần thế giới này.
Vann tăng tốc độ chiếc Jeep về hướng nam đi trên con đường trải nhựa
hai làn về phía đồng bằng sông Cửu Long. Gió thổi mạnh vào mặt càng làm
anh phấn khích. Anh đi nhận nhiệm vụ ở tổng hành dinh Sư đoàn 7 bộ binh
tại Mỹ Tho cách đấy 56 cây số. Porter bổ nhiệm anh vào vị trí tốt nhất
trong vùng, giao cho anh chỉ huy lực lượng Mỹ giữa trung tâm cuộc chiến.
Vùng sư đoàn 7 chiếm phần lớn nửa bắc đồng bằng, quyết định số phận
cuộc tranh chấp : 9.600 cây số vuông trải rộng trên năm tỉnh từ Đồng
Tháp Mười đến biên giới Campuchia ở phía tây và bờ biển ở phía đông.
Hai triệu dân sống ở đấy, một phần bảy tổng dân số 14 triệu người Việt
Nam năm 1962, sản xuất hơn một phần bảy lương thực thực phẩm trong
nước. Chính quyền Sài Gòn đã bỏ phần lớn phía nam đồng bằng cho cộng
sản. Ngược lại ở phía bắc 38.000 quân lính Sài Gòn đối mặt gần 15.000
chiến sĩ Việt cộng, luôn luôn là địa bàn tranh chấp giữa hai đối thủ.
Chính phủ mà người Mỹ bảo trợ ở miền Nam Việt Nam không thể tồn tại nếu
mất đi vùng giàu nhân lực và tài nguyên như thế ngay đầu thủ đô.
Thách thức và trách nhiệm phải gánh chịu không làm Vann sợ hãi; anh
tiếp nhận với niềm vui lẫn với kiêu hãnh. Với tâm tính những người Mỹ
năm 1962, anh cho là không có gì khó hiểu hoặc không thực hiện được,
điều gì không biết anh sẽ khám phá ra. Anh không có kinh nghiệm về
chiến tranh du kích ngoài những cuộc hành quân lật đổ tiến hành cùng
trung đội ở Triều Tiên nhưng 37 tuổi, anh đã trải qua 19 năm chuẩn bị
chiến đấu. Chống du kích chỉ là một dạng khác của chiến tranh và anh sẽ
học tập để có thắng lợi. Năm trước theo chỉ thị của tổng thống Kennedy
, quân đội bắt đầu phổ biến cho sĩ quan những phương pháp đấu tranh có
hiệu quả với chiến tranh du kích. Theo nhận xét thực địa, Porter đã
phát triển một số ý kiến cụ thể về vận dụng học thuyết trừu tượng ấy
trong hoàn cảnh Việt Nam. Vann cũng đã có thể xác nhận đúng qua những
quan sát của mình từ hai tháng nay.
Vann không biết gì về người Việt Nam, về văn hóa lịch sử của họ. Nhưng
anh không cho sự thiếu hụt ấy là một trở ngại trong hoạt động chống du
kích. Kinh nghiệm hạ sĩ quan của anh ở Triều Tiên, Nhật Bản khẳng định
những người châu Á không phải là những người không xâm nhập được. Vì
vậy Lansdale là một trong những người hùng của anh. Lansdale biết thực
hiện ở châu Á như thế nào. Ông ta cảm thấy người châu Á là những người
mà người ta có thể hiểu rõ khát vọng để khai thác có lợi cho mình. Vann
tin chắc anh có thể biết điều gì kích thích những sĩ quan Việt Nam, sẽ
hợp tác và động viên họ hoạt động cho chính lợi ích của họ và của Hoa
Kỳ. Việc người Pháp bị đánh bại ở Đông Dương đối với anh không liên
quan đến vấn đề này. Người Mỹ không phải thực dân như người Pháp trước
đây. Quân đội của họ không nhục nhã bị người Đức chiến thắng trong Thế
chiến thứ Hai. Vann đã thấy quân đội Mỹ thua trận ở Triều Tiên nhưng
không bao giờ thua một cuộc chiến tranh. Trong lịch sử người ta không
thấy người Mỹ có sai lầm như những dân tộc khác. Người Mỹ khác những
người khác. Lịch sử không theo cách thông thường đối với họ.
Vann không hề ngần ngại giết những người cộng sản hoặc những ai chiến
đấu vì họ, cũng không băn khoăn gì khi thấy những người Việt Nam đánh
nhau bên cạnh những người Hoa Kỳ đã chết, để thực hiện những mục tiêu
của Mỹ ở Việt Nam. Anh đã được tập giết những người Đức, Nhật Bản trong
Thế chiến thứ Hai, thậm chí đình chiến đến trước khi anh làm việc đó.
Trong chiến tranh Triều Tiên anh đã giết những người Triều Tiên cộng
sản và đưa những người chiến đấu bên cạnh anh vào chỗ chết không chút
ân hận. Anh cho rằng anh và những người đồng hương có quyền, với điều
kiên có tính toán, không ngoan tác động về cái sống và cái chết của
những người khác khi cần đánh nhau. Định đề ấy được chống đỡ bằng niềm
tự hào là một trong những sĩ quan giỏi nhất của quân đội Hoa Kỳ, quân
đội mạnh nhất thế giới nhưng anh cũng ý thức rằng anh và quân đội ấy là
một thực thể lớn nhất mở rộng của tính kiêu ngạo : anh là một trong
những người bảo vệ nước Mỹ.
Khi Vann sang Việt Nam năm 1962, nước Mỹ đã có được uy lực lớn nhất
trong lịch sử. Hoa Kỳ bố trí 850.000 quân lính và cong chức dân sự ra
ngoài biên giới trong 106 nước. Từ tổng hành dinh Thái Bình Dương trong
núi rừng trên Trân Châu Cảng đến hạm đội Subic Bay ở Philippines và
những lô cốt bê tông đến đường ranh giới Triều Tiên, 410.000 người được
rải ra trong bộ binh, hải quân và lực lượng không quân ở Thái Bình
Dương. Ở Châu Âu và Trung Đông từ những cơ sở tên lửa hạt nhân dấu kín
ở đồng bằng yên tĩnh nước Anh đên những bãi thao diễn chiến xa ở biên
giới Tiệp Khắc, những tàu sân bay của Hạm đội 6 trên Địa Trung Hải,
những trạm sóng điện tử dọc biên giới Xô viết ở Thổ Nhĩ Kỳ và Iran,
410.000 bộ binh, thủy quân, không quân khác túc trực. Nếu thêm vào đó
những nhà ngoại giao, nhân viên CIA và các đại diện chính thức của cơ
quan dân sự khác nhau cùng vợ con họ, khoảng 1.400.000 người Mỹ phục vụ
đất nước họ ở nước ngoài trong những năm 1962. John Vann tự cho mình là
một trong những chỉ huy của đoàn quân viễn chinh gồm cố vấn, phi công
lái máy bay lên thẳng và máy bay ném bom, như một thành viên của những
lực lượng đặc biệt mà tổng thống Kennedy vào tháng Mười một năm 1961
đưa sang miền Nam Việt Nam, tiền đồn bị đe dọa của đất nước ông ở Đông
Nam Á. Trong lúc gió quất mạnh vào mặt trên con đường Mỹ Tho, anh quyết
tâm hơn bao giờ hết không để những người cộng sản thắng trận ở phía bắc
đồng bằng sông Cửu Long.
Vào cuối tháng Năm năm 1962 này đồng bằng sông Cửu Long có khung cảnh
của một thiên đường sung túc. Ngọn gío mùa khăc nghiệ đấu tháng thúc
đẩy nhanh hạt lúa nảy mầm, những ngọn mạ xanh sẵn sàng vào giai đoạn
hai trong cuộc sống người nông dân Việt Nam : đợt cấy lúa trong ruộng
nước trải dài mênh mông hai bên đường.
Chiếc xe của Vann thường bị lính giữ lại đầu một cây cầu để nhường
đường cho đoàn xe đi ngược chiều. Những cây cầu một chiều do người Pháp
xây dựng dựa trên những cột chống bằng sắt hình cánh cung choán hết bề
ngang. Các lô cốt bê tông sừng sững gần cầu mâu thuẫn với hình ảnh tình
tứ ấy. Vann quan sát loại đồn lũy kiên cố chằng chịt dây thép gai bao
quanh và những người lính tuần tra trên cầu. Năm phút trước đó vượt qua
một con kênh anh đã nghĩ những cây dừa lớn ven bờ có thể đột ngột phun
ra một ngọn lửa từ họng một khẩu súng tự động nhằm vào chiếc Jeep. Anh
nhận ra trời mưa thúc đẩy những cây mía phát triển nhanh, khá cao và
rậm đủ cho một tiểu đoàn bộ binh ẩn nấp. Anh tự hỏi không biết trên
đường bên kia sông có chăng một Việt cộng đang chờ một chiếc xe như xe
anh. Những chiếc xe Jeep là đích bắn ưu tiên vì thường là xe của sĩ
quan. Nếu có Việt cộng chờ anh hắn anh ta phải ngồi sau một ngôi mộ
trong những nghĩa trang nhỏ giữa ruộng đồng. Đấy sẽ là một người rất
kiên trì, không để phí dịp may, luôn ở tình trạng báo động, ngón tay
trên ngòi nổ nối dây vào quả bom chôn ở đường đêm trước cẩn thận phủ
lớp nhựa đường che chăn. Anh ta chờ đợi để làm nổ tung chiếc Jeep và
những người trên xe.
Vậy là đã 17 năm đất nước này biết đến chiến tranh. Những đứa trẻ lớn
nhất trong số bán dừa và dứa ở các điểm kiểm soát chắc cũng nhớ được
những năm cuối của cuộc tranh chấp đầu tiên. Nó bắt đầy từ năm 1945 khi
người Pháp cố áp đặt nền đô hộ trở lại Việt Nam, Campuchia và Lào. Cuộc
chiến tranh thứ nhất này kết thúc bằng sự nhục nhã của Pháp ở khu vực
lòng chảo Điện Biên Phủ năm 1954. Ba năm hòa bình ngắt quãng tiếp theo.
Chiến tranh lại nổ ra năm 1957 giữa những người Việt cộng và chế độ Sài
Gòn của Ngô Đình DIệm, một quan lại Lansdale đưa lên nắm quyền. Năm
1961 sức chống đối mạnh đến nỗi tổng thống Kennedy buộc phải đưa quân
đội Hoa Kỳ sang giữ chính quyền Diệm khỏi bị lật đổ. Những người Mỹ và
chính quyền Sài Gòn gọi đối thủ của họ là Việt cộng, tên gọi tắt những
người cộng sản Việt Nam, các cố vấn đơn giản hóa đi thành V.C, tiếng
lóng trong thông tin điện đài là “Victor Charly”. Nhưng bản thân họ xác
định là Quân đội giải phóng và gọi cuộc chiến tranh thứ hai này là cuộc
Chiến tranh giải phóng. Họ cho rằng hai cuộc tranh chấp là hai giai
đoạn của công cuộc giải phóng Việt Nam : giai đoạn thứ hai chỉ là tiếp
nối giai đoạn đầu để đạt được những mục đích cơ bản của cuộc chiến
tranh chống Pháp.
Trong ngày 21 tháng Năm năm 1962 này không có một Việt cộng, một quả
mìn nào trên đường Mỹ Tho. Vann không gặp sự cố gì trên đường đến tổng
hành dinh của phái đoàn cố vấn quân sự Sư đoàn 7 bộ binh trên con đường
chính về phía bắc cách thành phố 500 mét. Người lính Việt Nam đứng gác
mở cổng sắt để chiếc Jeep vào. Những ngôi nhà trước đây là một trường
dòng rồi nhà trẻ mồ côi trước khi chuyển sang làm một vị trí phỉ báng
của chiến tranh. Các cố vấn Mỹ vẫn gọi là “chủng viện” ghi nhớ xuất xứ
đầu tiên và hai chữ thập trắng trang trí ngôi nhà nguyện đầu sân nhắc
nhở khách ra vào về nguồn gốc tôn giáo của cơ sở. Thế lực quân sự Mỹ
trở thành những người có cổ phần chính về bất động sản ở Việt Nam, thuê
cơ sở này ở một giáo khu Thiên chúa giáo di cư từ Bắc Việt Nam đang
thiếu nguồn tài chính. Khi Frank Clay mà Vann kế nhiệm đến Mỹ Tho năm
trước, bộ phận biệt phái Mỹ chỉ có một trung sĩ và bảy sĩ quan mà ba
sinh hoạt với các trung đoàn ở những nhà khác. Lúc đó một ngôi nhà rộng
ở Mỹ Tho cũng hoàn toàn đủ. Nhưng khi Clay được biết quân số sẽ tăng
lên hai mươi vào mùa xuân 1962 và tiếp tục tăng mạnh ( cuối năm 1962
vượt quá 200 sĩ quan và binh lính), anh đã thuê và tân trang chủng viện
phù hợp hơn với nhiệm vụ.
Ngôi nhà một tầng kiến trúc theo kiểu Pháp dễ trông nhưng đơn điệu, xây
bằng gách trát vữa xi măng, lợp ngói đỏ. Nhà hình chữ L mà chiều dài
nhất dọc theo một con kênh. Tầng trệt được bố trí làm văn phòng. Phần
còn lại cải tạo thành phòng ngủ các sĩ quan, nhà tắm, nhà vệ sinh, sàn
nhảy, câu lạc bộ và một phòng ăn chúng khá rộng để chiếu phim hai ngày
một lần. Những cuốn phim, thịt nướng trên than củi ngày chủ nhật và
rượu hạ giá mỗi buổi tối là những đặc ân của cuộc sống lính Mỹ ở nước
ngoài. Vann và một số sĩ quan cao cấp có lợi hơn là được bố trí ở những
phòng nhỏ trên tầng phía trên văn phòng. Ngoài ra là những chỗ ngủ của
lính. Sân dùng làm chỗ đậu xe Jeep, xe tải nhưng đồng thời là sân bóng
chuyền mà ngay lúc đến Vann cho dăng một tấm lưới trên nền sân bóng rổ
của học sinh chủng viện.
Mấy đêm sau khi các cố vấn được bố trí ăn ở, vào đầu tháng Năm, những
người Việt công đến thăm làm họ hiểu mình không ngoài tầm tấn công. Một
toán nhỏ luồn giữa bãi chuối phía bên kia đường bắn vào phòng ăn lúc
đang chiếu phim. Các trung sĩ, một số có tuổi qua Chiến tranh thế giới
thứ Hai hoặc chiến tranh Triều Tiên, cười thoải mái khi nhìn thấy các
đại úy chưa bao giờ gặp súng đạn, mặc quần đùi áo lót, đội mũ, chạy tất
tưởi vung súng ngắn cỡ 45, loại khó bắn trúng một người giữa ban ngày.
Những người Việt thường kỳ lặp lại việc tập dượt này, dấu mình trong
rặng dừa bên kia dòng kênh sau ngôi nhà. Một số chơi bắn một loạt đạn
vào máy lọc nước rồi biến mất trong đêm, không gây được những thiệt hại
nghiêm trọng ngoài vài vết sụt lở ở tường. Sáng hôm sau các cố vấn phát
hiện thấy một lá cờ Việt cộng, sao vàng trên hai băng xanh và đỏ, phất
phới trên ngọn cây. Một đơn vị Việt cộng nhất định sẽ chiếm được chủng viện trong mấy phút.
Vài chục lính quốc gia trong đội phòng vệ dân sự chịu trách nhiệm về
chỗ trú quân, tỏ ra thân mật nhưng quá tự do trong việc bảo vệ các cố
vấn nước ngoài. Những người Mỹ cũng không đủ sức tự bảo vệ vì họ không
đủ quân số bố trí phục vụ các cố vấn Sư đoàn 7 ban ngày và chống chọi
với những đợt tấn công ban đêm trong lúc những người khác vội vàng mang
vũ khí chạy ra vị trí chiến đấu. Hơn thế, phần nửa quân số không thường
trực ở chủng viện : họ phân tán khắp vùng về các tiểu đoàn, trung đoàn
trong các thành phố chính bên cạnh các tỉnh trưởng hay làm việc ở các
trung tâm thao diễn các lực lượng bộ binh. Vann hết sức đề phòng cố
không chồng chéo với nhiệm vụ cố vấn nhưng ở đây anh chấp nhận nguy cơ
bị tấn công để có thể làm tròn nhiệm vụ của bộ phận biệt phái. Vả lại
thái độ của Việt cộng chứng tỏ họ không có ý định tiêu diệt các cố vấn
trên giường ngủ. Đầu những năm sáu mươi, người Mỹ còn là những người
được ưu đãi ở miền Nam Việt Nam. Thời kỳ này những người cộng sản hạn
chế những cuộc tấn công đối với họ vì không muốn gây ra sự can thiệp ồ
ạt của Mỹ. Họ hy vọng sự nhẫn nại bao dung cuối cùng lôi kéo được cảm
tình của dân chúng Mỹ.
Tổng hành dinh Sư đoàn 7 Quân lực cộng hòa bố trí trong một trại lính
cũ của Pháp, ở trung tâm Mỹ Tho. Thành phố với 40.000 dân năm 1962,
quan trọng nhất miền Bắc vùng đồng bằng, là tỉnh lỵ, một thành phố lớn
đối với người Mỹ. Như phần lớn các thành phố lớn vùng đồng bằng, tỉnh
lỵ ở gần sông, thuận tiện cho thuyền bè qua lại. Dưới thời Pháp chiếm
đóng, Mỹ Tho trở thành một pháo đài và trung tâm hành chính đồng thời
là một nút xuất cảng gạo. Khi Vann đến, thành phố ít thay đổi, vẫn thể
hiện là một vùng hoạt động sôi nổi nhiều công ăn việc làm cho nông dân
quanh vùng. Phần lớn lúa gạo sản xuất ra ở vùng đồng bằng này cung cấp
cho miền Nam Việt Nam. Các kho tàng không ngớt tích trữ rồi chuyển gạo
đi Sài Gòn và những tỉnh khác.
Thành phố là nơi giải trí buổi tối hoặc chiều chủ nhật đối với những
người Mỹ. Các cố vấn thường đi ăn trong các nhà hàng Trung Hoa hoặc
ngồi uống bia, nước giải khát quanh những bàn quán ngoài trời. Họ
thưởng thức ở đây làn gió nhẹ mát mẻ của vùng đồng bằng lúc hoàng hôn,
ngắm nhìn những cô gái trên đường và xem tàu bè chất hàng ở bến sông.
Những người Trung Hoa táo bạo bán mọi thứ trong quán hàng từ những mảnh
vải để nông dân may áo quần bà ba cho đến những chất kích dục. Chợ
trung tâm đượm mùi các loại hương liệu. Bên cạnh những quầy cá và quả
cây, có những người châm cứu dùng kim làm dịu đau, những phù thủy buôn
bán cỏ cây làm thuốc và chữa theo phép thần thánh cho những người cả
tin khờ dại. Thương nhân Trung Hoa và Việt Nam sống trong nhà xây chắc
chắn. Người nghèo đành ở nhà gỗ tồi tàn. Một trong những ngôi nhà có ấn
tượng nhất là biệt thự người Pháp xây dựng cho công sứ. Nằm trên đại lộ
chính, biệt thự có những khu vườn đẹp bao quanh tuy không được chăm nom
cẩn thận, có một sân tennis mà người Mỹ có quyền sử dụng. Ngôi nhà dành
cho một thiếu tá quân đội Nam Việt Nam mà tổng thống Diệm bổ nhiệm làm
tỉnh trưởng. Người đồng chức với Vann, đại tá Huỳnh Văn Cao, chỉ huy Sư
đoàn 7, do không được đặc quyền, đành ở một ngôi nhà khiêm tốn hơn,
được canh gác chặt chẽ trên một con đường ở khu bên cạnh. Ông sống ở
đấy một mình, để bà vợ và baỷ đứa con ở Sài Gòn.
Vann đánh giá phải cấp thiết chuyển hướng cuộc chiến ở phía bắc vùng
đồng bằng. Tháng Ba năm 1962 Việt cộng có sáng kiến về chiến lược và
chiến thuật : chính họ quyết định nhịp độ chiến tranh vào lúc nào và
đánh như thế nào. Quân lính Sài Gòn ở thế phòng ngự và đành hành động
theo diễn biến của chiến tranh du kích thay vì chủ động đối với kẻ thù.
Riêng con đường lớn từ nam Sài Gòn đến Mỹ Tho, chia làm hai ngả tây và
nam đi sâu vào vùng đồng bằng, ban ngày có thể đi một chiếc Jeep nhưng
ban đêm đi hai chiếc thì khôn ngoan hơn. Trong năm tỉnh những người
việt cộng đã vô hiệu hóa đường loại hai bằng đào hầm hố giữa đường và
phá hỏng cầu. Chưa đến lúc nông dân quanh vùng phá sập hoàn toàn như họ
đã làm ở phía nam đồng bằng và sẽ làm nếu chiến tranh không ngừng đúng
lúc. Để di chuyển trên những con đường còn dùng được, sĩ quan quân đội
Sài Gòn cho rằng phải có ít nhất một trung đội tháp tùng để đảm bảo xe
cộ không rơi vào trận địa phục kích. Dù toàn thể dân chúng phía bắc
đồng bằng không đi theo Việt cộng, đại bộ phận hoặc tán thành mục đích
kháng chiến hoặc ngấm ngầm giúp đỡ trong im lặng làm hao mòn những cố
gắng của chính quyền Sài Gòn. Chính phủ miền Nam Việt Nam, không dựa
được vào sự hợp tác của các tầng lớp nông dân trong lúc họ lại cần
thiết cho cuộc nổi dậy của phong trào cộng sản thắng lợi. Năm 1962 ở
miền Nam Việt Nam, 85 % dân số sống ở nông thôn. Được đào tạo về thống
kê, Vann thấy rõ những tiềm lực may mắn của một xã hội như vậy tạo đà
cho sự phát triển sức mạnh chiến tranh du kích cộng sản. Hai triệu dân
trong vùng Sư đoàn 7, thực tế hoặc có khả năng nằm trong tay Việt cộng.
Trừ số 15% sống ở Mỹ Tho hoặc các thành phố khác. Vấn đề không đặt ra
là trong hai đối thủ bên nào có lực lượng quân sự mạnh. Vann đánh giá
hai đại đội gồm 180 người của đội quân thường trực Nam Việt Nam với
trang bị vũ khí Mỹ, được máy bay ném bom hỗ trợ, có thể di chuyển đến
bất cứ đâu trong vùng. Tuy vậy, theo lối ẩn dụ anh nói trước các sĩ
quan trong mùa hè, việc hành quân của binh lính Sài Gòn qua các nơi có
hiệu quả như một chiếc tàu biển : khi các đội quân của Quân lực Cộng
hòa đến chỗ nào đấy họ làm cho Việt cộng chạy như làn tàu rạch nước
trên biển. Nhưng khi họ đi qua, những người V.C quay trở lại ngay.
Trước khi rời Sài Gòn, Vann đề ra với Porter những mục tiêu làm nền cho
một chiến lược mới nhằm lật nhào xu hướng thất bại và đưa lại thắng lợi
cho cuộc chiến tranh. Là những người lính họ phải tấn công để dồn ép và
tiêu diệt lực lượng chiến đấu của du kích. Chiến thuật thường dùng của
Quân lực Cộng hòa được gọi đúng nghĩa là “càn quét” và thúc tiến lên
phía trước nhiều tiểu đoàn phân tán. Nhưng Porter nhận thấy cách hành
quân ấy, có hiệu quả trong triển khai một sư đoàn bọc thép trên lãnh
thổ Đức, không phù hợp để chống lại những nông dân riêng lẻ trên đồng
ruộng. Ông mong muốn Vann sử dụng lối cơ động của máy bay lên thẳng để
nhanh chóng di chuyển, đưa các đơn vị tấn công đến vị trí, gây hoang
mang cho Việt cộng buộc họ phải bắn lẫn nhau và tan rã. Để đưa ra cách
hành quân ít bài bản này, Vann phải thuyết phục đại tá Cao chấp nhận
một công thức, không làm ông ta mất mát nhưng thực tế đưa lại cho người
Mỹ toàn quyền đối với đơn vị của ông. Với lối nói “cùng xây dựng kế
hoạch”, Vann và Cao xem như cùng chuẩn bị chung những cuộc hành quân
nhưng trên thực tế Cao chỉ thực hiện những gì Vann và các phó của anh
quyết định.
Về nguyên tắc Vann thực hiện chức năng phó trong một tháng để làm quen
với nhiệm vụ trước khi Clay ra đi, dự kiến vào tháng Sáu. Nhưng anh
không phải chờ lâu để thay thế. Clay hành quân ở Đồng Tháp Mười nhày 23
tháng Năm, hai ngày sau khi Vann đến. Từ máy bay lên thẳng anh cố đuổi
theo bắn khoảng hai chục Việt cộng về hướng bộ binh Quân lực Cộng hòa.
Nhưng những người đảng viên cộng sản bắn vào máy bay Clay đang ngồi
cùng một trung tá ban tham mưu. Phi công lái trúng đạn vào chân còn
những người trên máy bay bị thương vì mảnh vỡ do làn đạn xuyên qua.
Clay được đưa về Sài Gòn chữa trị rồi đi phép tám ngày ở Hong Kong. Vậy
là Vann nắm quyền chỉ huy và tiếp tục trong tháng Sáu trong lúc Clay đi
kiểm tra vùng cao nguyên và đồng bằng miền biển phía bắc Sài Gòn. Anh
được chỉ định là chuyên gia về chiến tranh du kích ở trường Chiến tranh
Quốc gia của Washington và muốn nắm được những điều kiện chiến đấu
trong vùng này.
Việc Vann nắm quyền chính thức chỉ huy vào cuối tháng Sáu tiến hành ở
sân chủng viện không lễ tiết, không chào cờ hoặc diễu binh như tục lệ
chuyển giao quyền trong quân đội Mỹ. Clay đã không cho phép làm lễ vì
rất dễ xúc động, anh sẽ bối rối rơi nước mắt trước người của mình. Dù
sao anh cũng không được lựa chọn vì năm 1962, các cố vấn không có quyền
treo cờ sao ở nơi trú quân. Họ cũng không được nhận một loại huân, huy
chương nào. Clay và những người sống sót trong máy bay lên thẳng không
được nhận huy hiệu mặc nhiên thưởng cho những quân nhân bị thương trong
chiến tranh và gia đình họ cũng không được nhận truy tặng. Tổng thống
Kennedy hy vọng ít để lộ sự có mặt của Mỹ ở Việt Nam sẽ hạn chế những
hậu quả chính trị trong nước bởi ý thức Hoa Kỳ đang trong tình trạng
chiến tranh.
Cuối tháng Năm, Clay đã đưa bộ phận cố vấn biệt phái lên mức độ hành
quân. Vann nỗ lực thể hiện những bước đầu hứa hẹn ấy. Trận đánh Clay bị
thương ngày 23 tháng Năm tạo co Vann một bước đấu thuận lợi “cùng nhay
xây dựng kế hoạch” với Cao. Kết quả dựa vào tính ngoan cường và vận may
của Clay cũng như tài năng chiến thuật của đại úy Richard Ziegler, 30
tuổi, cựu trung phong đội bóng đá của trường quân sự West Point năm
1954. Clay rất giận vì thấy Cao, bao giờ cũng lịch sự từ chối không để
người Mỹ đóng một vai trò trong kế hoạch hành quân; càng cáu kỉnh hơn
về những thất bại liên tiếp của Cao. Giữa tháng Năm anh từ chối cung
cấp máy bay lên thẳng cho ông ta nếu không chấp nhận hợp tác với người
Mỹ. Porter cũng theo đuổi mục đích ấy, tán thành với Clay và được tướng
Harkins đồng ý. Cao nhường bước và chấp nhận làm thử. Bây giờ Clay cần
một sĩ quan có khả năng lên kế hoạch chi tiết tấn công. Sĩ quan duy
nhất có một số kinh nghiệm trong lĩnh vực này là Ziegler đến chủng viện
từ đầu tháng Tư. Kinh nghiệm của anh hạn chế trong ba tháng làm phó chỉ
huy hành quân một tiểu đoàn bộ binh ở Nhật. Để xây dựng kế hoạch hành
quân anh nhận những bản đồ của ban tham mưu Pháp từ 1954 và một bản báo
cáo của phòng thông tin từ nhiều tuần, chắc chắn đã lỗi thời. Báo cáo
này thông báo một tiểu đoàn Việt cộng diễn tập đâu đấy trong một vùng
10 cây số vuông ở Đồng Tháp Mười.
Ziegler có năng khiếu kết hợp kế hoạch hành quân chung với một vấn đề
quân sự riêng. Nhất là anh biết thể hiện những ý kiến của mình, vẽ chi
tiết hành quân lên bản đồ với những mũi tên lớn chỉ giờ, vị trí các đơn
vị, hướng và mục tiêu tiến đánh. Với tài liệu ấy, các chỉ huy trên thực
địa biết chính xác phải hành quân như thế nào.
Trong trường hợp cụ thể này, Ziegler thiếu thông tin để có câu trả lời
hợp lý. Để có nhiều cơ may tìm được Việt cộng trong mười cây số vuông
ấy, phải cho quân tiến hành một loạt thăm dò ở nhiều hướng. Khi một đơn
vị thám báo gặp Việt cộng, máy bay lên thẳng đưa ngay những đội dự bị
đến hiện trường còn những đơn vị bộ binh sẽ tiến lên đẩy kẻ thù đến nơi
gọi là “vùng tiêu diệt”.
Báo cáo của văn phòng 2 đã quá hạn. Trong báo cáo tiểu đoàn Việt cộng
rời vùng này, sẽ trở lại vào hai giờ sáng ngày 23. Nhưng một tiểu đoàn
khác không nêu trong báo cáo chậm lại trong vùng. Vậy là một đơn vị
thám báo của Ziegler rơi vào trận địa có số lượng đáng kể Việt cộng bị
lộ và máy bay tiêm kích ném bom đến tàn sát ngay . 95 Việt cộng bị
chết, 24 bị bắt làm tù binh trong đó có chính trị viên tiểu đoàn, tiểu
đoàn trưởng bị chết. Ba mươi ba vũ khí, quan trọng nhất trong du kích
chiến, bị tịch thu trong đó có một súng đại liên Mỹ, một súng cối và
nhiều tiểu liên. Đơn vị du kích kia trở lại lúc hai giờ sáng cũng bị
tổn thất nặng nề.
Cao vô cùng sung sướng về chiến thắng thực sự đầu tiên của sư đoàn. Vai
trò nửa bí mật của các cố vấn cho phép ông ta công khai nhận thắng lợi
một mình. Vann cũng rất xúc động. Anh nghiên cứu những sĩ quan phó của Clay để
quyết định bố trí, gọi riêng Ziegler vào tổng hành dinh tạm thời bố trí
bên cạnh một đường bay. Anh bảo :” Anh sẽ là người xây dựng kế hoạch
hành quân của tôi”. Anh giải thích nhân thắng lợi này và dựa vào tính
tự hào của Cao để thể chế hóa sự việc “cùng xây dựng kế hoạch” và nắm
lấy quyền kiểm soát sư đoàn.
“Chúng ta sẽ xếp đặt trật tự trong mọi việc và điều hành sư đoàn như
một đơn vị lính Mỹ. Sẽ có một người Mỹ trong mỗi đơn vị. Tôi trực tiếp
làm việc với Cao và anh với chỉ huy hành quân của ông ta. Như vậy chúng
ta sẽ tác động họ làm theo ý muốn chúng ta”.
Khi Vann gợi ý Ziegler và đại úy Việt Nam phụ trách hành quân cùng nhau
xây dựng kế hoạch cho những hoạt động tương lai, Cao trả lời đấy là một
ý kiến rất hay. Ông ta cũng đồng ý với những giai đoạn Vann nêu lên để
đưa những cố vấn Mỹ đầy đủ vào cơ cấu sư đoàn đến mức không biết ai nói
gì với ai nữa. Cao cũng tán thành việc cố vấn phụ trách thông tin của
Vann, đại úy James Drummond, một người kín đáo ba mươi tư tuổi, cũng
như Ziegler hình như sinh ra để giữ vị trí ấy – hợp tác làm việc với sĩ
quan Việt Nam phụ trách văn phòng 2. Thế mà cho đến nay, Cao đã cấm anh
ta không trao đổi một thông tin gì cho người Mỹ.
Cao cũng chấp nhận những cố vấn Mỹ được phiên chế vào những bộ phận
khác nhau, hành chính và tin học. Ông ta đồng ý với đề nghị của Vann tổ
chức một trung tâm hành quân chiến thuật đóng vai trò theo dõi hoạt
động quân sự trong năm tỉnh, thông báo với Cao và Vann mọi trường hợp
khẩn cấp, giữ vững liên lạc với ban tham mưu từng tỉnh và tổng hợp
những đề nghị can thiệp máy bay để hỗ trợ các tiền đồn bị bao vây.
Trung tâm này phải hoạt động 24/24 giờ. Bản đồ và máy điện thoại bày
trên một chiếc bàn rộng ở tầng trệt nhà Cao. Do gia đình ở lại Sài Gòn
Cao chỉ cần cho mình một căn phong, một bếp ăn còn thì bố trí một ban
tham mưu nhỏ làm việc ở đấy. Ziegler và đồng nghiệp Việt Nam của anh
xây dựng kế hoạch tác chiến tại đây, mở cho người Mỹ một nguồn thông
tin mới.
Cuộc hội ý ngắn hàng ngày với tổng chỉ huy là một tập quán của quân đội
Hoa Kỳ, Vann gợi ý hàng ngày tiến hành vào lúc 16 giờ, lúc sư đoàn
không hành quân. Cao đề nghị làm ở gian phòng chiến tranh trên tầng,
trang bị đầy đủ hơn Trung tâm hành quân ở tầng trên, có một bục diến
giải dưới chân bản đồ. Ziegler và đồng nghiệp báo cáo về tất cả những
cuộc hành quân trong vùng. Drummond và đại úy văn phòng 2 nói về khả
năng thông tin, những người khác phụ trách nhân sự, thông tin, phát
biểu khi cần. Cao ngồi ở hàng đầu trước bục với Vann bên cạnh và Faust,
Dam ngồi phía sau. Trước khi Ziegler và sĩ quan tác chiến xác định một
cuộc tấn công Việt cộng bằng máy bay lên thẳng, Vann trình bày trước ở
cuộc hội ý để Cao có thể chỉ thị từng người nên làm thế nào cho hoàn
chỉnh theo ý ông ta.
Lúc đầu Ziegler nghi ngờ hiệu quả của những hội ý hàng ngày đó, có vẻ
công thức như ở trường bộ binh. Nhưng anh mau chóng nhận thấy Vann dùng
nó để kích thích tính kiêu ngạo của Cao, chỉ là một đại tá nhưng thích
tỏ ra như một vị tướng. Trong những cuộc hội ý ngắn ấy ông ta tha hồ
phát biểu ý thức của mình theo kiểu chiến lược lớn. Trong lúc Cao trổ
tài hùng biện trong buổi đầu, Vann thì thầm với Ziegler :
“Anh đừng bận tâm về những gì ông ta nói. Về chủng viện tôi sẽ giải thích cho anh phải làm như thế nào.”
Và sự việc cứ như thế, Vann trình bày kế hoạch tấn công bằng máy bay
lên thẳng trên tấm bản đồ choán hết bức tường ở văn phòng tác chiến ở
chủng viện. Ziegler tổng hợp những ý kiến của Vann và của anh ta trong
kế hoạch cuối cùng được Vann xác nhận và Cao chấp nhận. Họ giết được
nhiều Việt cộng và Cao rất phấn khởi.
Cao cũng hoạt động theo đề nghị của Vann muốn lôi kéo những đơn vị Sài
Gòn về chiến thuật tác chiến từng trung đội, bước đầu cần thiết để
khống chế Việt cộng trong việc đánh nhau giữa những đơn vị nhỏ, đặc
điểm cuả cuộc chiến tranh này. Mười nghìn lính Nam Việt Nam trong vùng
tập dượt đầy đủ trong thời bình. Họ có thể thao diễn gần như đúng đắn,
không như trường hợp 28.000 quân địa phương. Vann nhanh chóng phát hiện
ra mặc dù 1,65 tỷ đô-la người Mỹ rót vào với danh nghĩa hỗ trợ quân sự
từ năm 1955, giữa năm 1961 và sự đào tạo cho là của 650 cố vấn đem lại,
rất ít binh lính thường trực hoặc địa phương biết sử dụng chính xác tầm
ngắm để bắn trúng mục tiêu, càng không thể bắn trúng một Việt cộng.
Quân đội Nam Việt Nam và lính địa phương được người Pháp xây dựng và
người Mỹ cố gắng vá víu lấy tổ chức này. Quân đội là một hỗn hợp sĩ
quan và binh lính Việt Nam từ đội quân thuộc địa Pháp và đội quân cũ
của nước Pháp tạo ra năm 1948 cho Bảo Đại, vị hoàng đế đã hợp tác với
lực lượng thuộc địa. Quân đội được tổ chức theo hình mẫu tam tam chế
của những sư đoàn cũ bộ binh Mỹ : ba trung đoàn trong một sư đoàn, ba
tiểu đoàn thành một trung đoàn và ba đại đội một tiểu đoàn.
Song song có hai lực lượng địa phương mà tốt nhất là lính Bảo an xuất
xứ từ lính Khố xanh, một tổ chức lính thuộc địa trước chiến tranh và
lính Cảnh sát, tạo dựng dưới chế độ Nhật thời kỳ cuối chiến tranh. Ở
các tỉnh, quân đội được tổ chức thành đại đội và tiểu đoàn đặt trực
tiếp dưới quyền tỉnh trưởng. Vùng của sư đoàn có khoảng 10.000 lính Bảo
an. Lực lượng địa phương lính cảnh sát quần áo lôi thôi, được người
Pháp tuyển dụng chiếm giữ những tháp canh bằng gạch và những tiền đồn
trát đất họ xây dựng trong chiến tranh để áp đặt cai trị thuộc địa và
bây giờ chính quyền Sài Gòn cố giữ lại, tổ chức thành trung đội ở cấp
huyện đội quân được gọi là Đội tự vệ bố trí số lượng tối đa (18.000
người) và trang bị vũ khí tổi thiểu trong năm tỉnh. Cảnh sát đành dùng
những súng cũ của người Pháp; người được tuyển mộ là dân địa phương,
không mặc đồng phục, thậm chí bận blouse và quần pyjama đen nông dân
mặc đi làm. Đội tự vệ cũng như quân bảo an chỉ chiến đấu vì đồng tiền.
Để bù đắp sự thiếu tập dượt ấy, Vann tổ chức một “lớp bồi dưỡng” ba
tuần lễ cho đội quân thường trực trong một trại lính cũ Clay đã cải tạo
ở làng Tân Hiệp cách con đường đi Sài Gòn 9 cây số gần đường bay Mỹ
Tho. Cao đồng ý để chín tiểu đoàn trong sư đoàn lần lượt theo học. Khi
không hành quân binh lính phải tiếp tục tập bắn và thao tác từng đơn vị
nhỏ ở nơi đóng quân. Những khóa bồi dưỡng lính địa phương mà Clay đã
bắt đầu được Vann triển khai rộng.
Nhưng Cao không thuận tình với những lý lẽ của Vann đã thống nhất với
Porter muốn kìm hãm sự nổi dậy của cộng sản, phải phát huy việc đánh
nhau với Việt cộng trong đêm tối. Cao xanh mặt, cau lại khi Vann trình
bày phải dạy cho binh lính tuần tra và phục kích ban đêm.
“Ra ngoài ban đêm nguy hiểm lắm !” Cao trả lời. Không phải riêng ông ta
sợ hoạt động ban đêm mà cả năm tỉnh trưởng đều lo ngại. Những báo cáo
họ làm về tuần tra, phục kích ban đêm chỉ để nhằm đánh lừa người Mỹ.
Không một người lính nào rời đồn sau lúc mặt trời lặn và kẻ nào mạo
hiểm cũng không ra quá xa con kênh gần nhất làm một giấc ngủ ngắn trên
đê.
Không thuyết phục được, Vann bất chấp : anh ra nghiêm lệnh cho mọi sĩ
quan hoặc trung sĩ Mỹ chịu trách n hiệm tập dượt phải đi tuần tra đêm
mỗi tuần ít nhất một lần. Cao và các tỉnh trưởng có thể coi như không
biết có lệnh ấy và diễu cợt Vann : thực ra các cố vấn không thể đi
phiêu lưu riêng một mình. Nhưng Cao biết Porter ủng hộ Vann ở điểm này
và Harkins cũng thuyết phục tổng thống Diệm về sự cần thiết phải hoạt
động ban đêm. Tháng Mười một, sự tranh chấp xảy ra khi chính quyền
Kennedy cố thúc ông tiến hành những cải cách chính trị và hành chính
thay thế sự can thiệp quân sự của Mỹ. Nhưng từ đó quan hệ giữa Diệm và
bộ chỉ huy cao cấp Mỹ đã được cải thiện. Những chỉ thị của phủ tổng
thống tán dương thái độ hòa giải với người Mỹ khi không có nguy cơ gì.
Cao và các tỉnh trưởng tỏ ra đồng ý và những cuộc tuần tra ban đêm bắt
đầu với nhịp độ hạn chế nhưng đều đặn. Vann nêu gương bằng cách xuống
các đơn vị tham gia hành quân chớp nhoáng ban đêm ít nhất mỗi tuần một
lần, đôi lúc hai lần. Do chỉ cần hai tiếng đồng hồ ngủ, anh dễ dàng
thức đêm.
Để giải đáp những phản bác của Cao sợ anh chết hoặc bị bắt làm tù binh,
Vann chấp nhận nguyên tắc chỉ ra ngoài với những đơn vị mười hai người.
Anh biết nếu khéo tổ chức có nhiều cơ may phục kích có kết quả và ít bị
tấn công. Rất đáng tiếc là anh không bao giờ bắt gặp Việt cộng . Thế mà
anh cảm thấy họ ở đấy và di chuyển trong bóng đêm. Anh báo với Porter
rất khó khăn với đội quân Nam Việt Nam ấy. Binh lính thường trực hoặc
địa phương kém xa Việt cộng về các mặt. Họ sợ giáp mặt kẻ thù. Anh nhận
thấy mỗi lần nghe tiếng động trong đêm có thể là của Việt cộng đi về
hướng anh giăng bẫy, một trong những lính Việt Nam ho hoặc lên quy lát
súng trường hay gây tiếng động gì đấy làm hỏng tất cả. Việc đó rất
thường xảy ra chứ không tình cờ. Porter đã khám phá ra cảm giác thấp
kém ấy của binh lính Nam Việt Nam, sung sướng thấy lần đầu trong cuộc
chiến tranh này Hoa Kỳ có một sĩ quan bộ binh đue kinh nghiệm và sáng
suốt làm việc trên lưỡi dao. Để giải quyết tất cả những vấn đề ấy phải
có thông tin và giải thích. Vann cung cấp cho ông cả hai với quyền hạn
và khả năng của mình. Những kết luận của anh được các tướng tá ban tham
mưu xem như là những nghiền ngẫm vô lý của một đại úy trẻ. Vann thực hiện lời hứa với Ziegler mỗi đơn vị tham gia hành quân sẽ có
một cố vấn Mỹ đi theo. Mục đích của anh không chỉ để kiểm soát chặt
chẽ. Anh đánh giá những đội quân Sài Gòn sẽ tấn công quyết liệt hơn nếu
viên chỉ huy Việt Nam luôn có bên cạnh một sĩ quan hoặc trung sĩ Mỹ
khuyến khích và hỗ trợ. Anh cũng hy vọng đà hăng hái của Mỹ sẽ lây
truyền.
Dù sao tinh thần mãnh liệt của Vann cũng tác động đến đoàn cố vấn quân
sự. Không khí nhiệt tình dưới sự chỉ huy của Clay, sĩ quan can đảm,
biết suy tính và chăm chỉ đã được ca tụng và yêu mến trong các đoàn
quân. Anh đã hai lần nhận Ngôi sao bạc, phần thưởng cao thứ ba trong
nước khi dẫn đầu xe tăng chống quân Đức ở Bắc Phi và Italia. Với Vann,
không khí càng sôi nổi hơn. Khi các cố vấn trở về chủng viện, kiệt sức
vì đi hai ngày dưới trời nắng và trong bùn ruộng, họ nghe tiếng nói
lanh lảnh và thân thuộc :
“Nào ! Các đội bóng chuyền ra sân!”
Anh nghỉ ngơi ít hơn họ và trong mấy phút tất cả đã đứng trước lưới
trên sân. Nếu đội của anh bắt đầu thua anh hét lên, đấm vào cột để kích
thích đồng bọn hăng hái hơn. Anh không ngừng phản công lối chơi của một
đại úy người Hawaii cao một mét tám mươi hai, nặng chín mươi hai kilô,
Peter Kama, mười năm sau phục vụ dưới quyền anh ỏ vùng cao nguyên.
Chiến tranh ở Việt Nam năm 1962 còn là một cuộc phiêu lưu “những cuộc
hành quân đứt đoạn nhất mà chúng tôi được biết” như một sĩ quan nói –
biết bao nhiêu vấn đề Vann và bộ phận biệt phái phải đương đầu để cải
thiện tinh thần chiến đấu của những đội quân Sài Gòn. Mối nguy hiểm
thường xuyên và những đợt bắn tỉa ngẫu nhiên gây tình trạng căng thẳng
và gay go của cuộc chiến tranh. Khi Vann đến Mỹ Tho vào cuối tháng Năm
1962, gần 20 người Mỹ đã chết ở Việt Nam và không một cố vấn nào ở Sư
đoàn 7 gặp chuyện không may ấy. Những người ở lâu nhất trong bọn họ
mong tìm lại được niềm kích thích về tranh chấp họ có trước đây còn
những người trẻ sốt ruột muốn thử thách. Sư đoàn trưởng Charles Timmes
đã là trưởng Phái đoàn hỗ trợ quân sự (MAAG) đầu tiên, từ đó trở thành
một cơ quan gắn liền với những chương trình huấn luyện và trang bị.
Timmes đã được giải thưởng đặc biệt khi cầm đầu một tiểu đoàn lính dù
nhảy xuống Normandie vào ngày đổ bộ của quân Mỹ lên châu Âu. Một hôm
ông nói ở chủng viện :
“Đây không thực sự là một cuộc chiến tranh nhưng là cuộc chiến tranh chúng ta có. Vậy chúng ta cứ làm!”.
Nhận xét này đặt ra nhiều điều hơn một lời kích động phiêu lưu. Những
người này là lính chuyên nghiệp, một đội quân trên bộ trong 8 năm sử
dụng chiến lược “càn quét” của tổng thống Eisenhower. Nhiệm vụ được
giao lúc đó hình như chỉ chiếm đóng những cơ sở phóng xạ hoang tàn của
Đông Âu, Nga, Trung Quốc sau khi không quân, hải quân chiến thắng trong
Chiến tranh thế giới lần hai và triển khai máy bay, tên lửa trong một
cuộc tàn sát nhiệt hạch. Ngân sách quân sự phân tán, bộ binh trở thành
một kẻ đi xin. Bây giờ bộ binh có một tổng thống, John Kennedy, muốn nó
là “Lưỡi gươm … dụng cụ có hiệu quả của chính sách đối ngoại”, theo
công thức của cố vấn tổng thống là đại tướng nổi tiếng Maxwell Taylor,
Kennedy muốn lực lượng quân sự cho phép ông sử dụng sức ép ở mức độ cần
thiết để thi hành đường lối của mình bất cứ ở nơi nào. Ông hình dung
một lực lượng bộ binh phát triển hơn, được tăng cường sức mạnh bằng kỹ
thuật mới nhất về cơ động và vũ khí, để trở thành lưỡi gươm cần thiết
cho chiến lược “phản ứng linh hoạt”, Taylor sáng tạo ra từ ngữ này để
chống lại sự liên kết bề ngoài của đường lối không hợp lý tàn sát hàng
loạt của Eisenhower. Quan điểm chiến lược ấy là sự vận dụng hợp lý lý
thuyết “chiến tranh hạn chế” ông trình bày trong một cuốn sách hay sau
khi ở Bộ tổng tham mưu về nghỉ hưu năm 1959. Kennedy vui thích áp dụng
những luận thuyết này của ông, đã sử dụng trong đợt tuyên truyền tranh
cử tổng thống năm 1960. Sau khi được bầu ông lấy lý thuyết này làm
chiến lược quốc gia và chọn Taylor làm cố vấn quân sự của Nhà Trắng.
Tổng thống mới và người xung quanh ông cho cuộc chiến tranh du kích mà
Vann quyết định đè bẹp ở phía bắc vùng đồng bằng, là hình thức thách đố
ầm ĩ nhất những người cộng sản cho đến lúc này. Fidel Castro nắm quyền
ở Cuba sau một cuộc cách mạng và những cuộc nổi dậy tương tự thật đáng
sợ ở thế giới thứ ba, những nước nghèo của Châu Á, Châu Phi và Mỹ
Latinh. Vì thế Kennedy đã chỉ thị cho quân đội trên bộ sử dụng Việt Nam
như một cơ sở thí nghiệm phát triển những kỹ thuật chống nổi dậy.
Nikita Khrusev đã trình bày chiến lược chiến tranh du kích ở Hội nghị
các đảng cộng sản ở Moscow tháng Giêng năm 1961. Ông tuyên bố Liên bang
Xô viết muốn tránh một cuộc chiến tranh hạt nhân với Hoa Kỳ nhưng ủng
hộ “những cuộc chiến tranh giải phóng và những cuộc nổi dậy” ở những
nước nghèo của thế giới thứ ba. Trung Quốc chung sức vào việc đó.
Kennedy lên án những cuộc cách mạng ấy, gọi là “chiến tranh lật đổ và
tấn công bí mật”. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam như vậy vượt quá một thử
nghiệm lý thuyết của Taylor về chiến tranh hạn chế. Năm 1962 vấn đề là
ai thắng ai, “Thế giới tự do” hay là “Thế giới cộng sản”.
Đầu những năm 60 người Mỹ ít chú ý đến sự bất đồng giữa Liên Xô và
Trung Quốc cũng như rạn nứt khác trong khối họ gọi là “chủ nghĩa cộng
sản quốc tế”. Sự thù địch giữa Moscow và Bắc Kinh đã lộ rõ trong một
thời gian. Khrusev đã cắt mọi viện trợ cho Trung Quốc và gọi về nhiều
nghìn kỹ thuật viên Xô viết đang thực hiện những chương trình phát
triển lớn. Những người Mỹ cũng không hiểu hậu quả việc cắt đứt quan hệ
giữa Tiệp Khắc và Liên Xô năm 1948 do một phong trào quốc gia có thể
được những người cộng sản trong nước lãnh đạo. Vann và người Mỹ thời kỳ
ấy đã quen xem thế giới chia làm hai : trắng và đen. Lý tưởng của họ
chi phối nếp suy nghĩ và sự nhìn nhận ấy càng củng cố thói quen vốn có.
Khuôn mẫu quân đội phản ánh cách nhìn thế giới gộp tất cả những nước
cộng sản vào công thức “khối Trung-Xô”.
Dù không ai trong phân đội có lòng tin như Vann về cuộc phiêu lưu anh
dẫn dắt với tinh thần năng nổ của một thập tự chinh, họ đều là những
người được tin cậy. Các đại úy đều từ một nơi đào tạo. Phần lớn bọn họ
mang trên áo những đôi cánh quân dù với phù hiệu của lực lượng lục quân
ưu tú. Ziegler là một ví dụ điển hình. Anh hai năm là giáo viên trường
lục quân ưu tú; một buổi sáng được biết phòng nhân sự của Lầu Năm Góc
đã chọn 150 đại úy xuất sắc sang Việt Nam làm cố vấn quân sự mà anh là
một người trong bọn họ. Con trai một thương gia, anh trở thành ngôi sao
bóng đá ở trường trung học, vào trường quân sự West Point vì muốn “là
một con cá lớn trong một hồ lớn” như anh nói với đội bóng và nhất là
tiếp tục học không mất tiền.
Uy tín lớn của Vann càng phát triển sự liều lĩnh trong phân đội và tạo
một hương vị đặc biệt cho cuộc phiêu lưu này. Sự kính trọng tài năng
cấp trên trở thành đáng ca tụng khi chỉ huy trưởng thêm vào đó sự gan
dạ. Nhưng nếu ngoài hiểu biết và can đảm anh dấn thân vào cuộc chơi,
anh trở thành huyền thoại. Các sĩ quan nhát gan đề phòng lòng ham thích
nguy hiểm ở những người thường họ xem đúng chỉ là những cái đầu nóng.
Nhưng họ thầm thán phục, mong mình cũng tin tưởng vào vận may như thế
và có thể dẫn dắt đồng đội với sức mạnh như thế. Vann là một nhân vật
huyền thoại nhiều may mắn.
Vann biết những con đường nào bị Việt cộng cắt đứt, những đường nào còn
dùng được vì anh không ngừng đi xe Jeep ngang dọc qua những đợt thường
xuyên về trung tâm thị trấn, ra các tiền đồn hoặc về các thôn xóm làng
hẻo lánh. Để kiểm soát đường sá, người Mỹ có thói quen bay trực thăng
hoặc máy bay thám thính. Như vậy ít nguy hiểm hơn. Trên bầu trời không
có mìn, không bị phục kích. Vann cho rằng phương pháp ấy không đáng giá
gì. Để biết bao nhiêu đất đai bị Việt cộng kiểm soát, những chỗ nào còn
vào được phải đến xem tại chỗ. Anh nói theo xu hướng thống kê : “Lạy
Chúa, chỉ cần suy tính một ít, người ta có thể chạy trên những con
đường ấy với 95% may mắn thoát được”. Anh tránh những vòng tròn cố hữu
và cố gắng không trở lại nơi xuất phát, không chần chừ lâu một chỗ,
không để Việt công có thì giờ xác định vị trí của anh và tổ chức phục
kích. Anh từ chối không đem theo đội bảo vệ xem như đoàn tháp tùng tối
thiểu, sợ làm chậm bước tiến của mình, anh tự lái xe và đi thật nhanh.
Anh lính Việt Nam Cao cử làm lái xe cho anh ngồi phía sau với khẩu liên
thanh. Thực tế nếu có trường hợp bám theo và lái xe bị thương hoặc chết
có lẽ sẽ phải dừng lại. Anh muốn chắc chắn không bao giờ có chuyện ấy
vì xác định việc thoát thân tùy thuộc vào tính cơ động và mình sẽ không
bao giờ bị bắt làm tù binh.
Porter không cố kìm hãm anh. Ông biết nếu ra lệnh cho Vann đừng lao vào
nguy hiểm anh vẫn làm mà không nói với ông. Những cuộc tuần tra đêm của
Vann cung cấp cho ông những thông tin từ một người có kinh nghiệm mà
ông hoàn toàn tin tưởng. Các cố vấn ở chủng viện vui vẻ chờ các sĩ quan ban tham mưu từ Sài Gòn
đến thị sát và Vann dành cho họ một dịp theo cách của anh. Cánh bàn
giấy nói chung tới với trang bị hoàn hảo của một người chiến đấu, mũ
rộng vành và dao săn dắt trong ủng. Họ thông báo không chỉ tham dự
những cuộc hội ý ở chủng viện mà muốn “xuống tận chỗ có đánh nhau”. Một
lần Vann mỉm cười trả lời với một sĩ quan tham mưu anh đã chuẩn bị, đề
nghị sẵn sàng từ bốn giờ rưỡi sáng tiến hành “một cuộc thám thính nhỏ”.
Đến 4 giờ 20 phút trong lúc người khách còn buộc dây giày trong phòng
ngủ sĩ quan ở tầng trên chủng viên, Vann đã uống xong cà phê và đứng
dưới thang gác gọi :
“Nhanh lên ông, sẵn sàng đi rồi đây!”.
Đèn pin chiếu trong bóng tối, Vann đưa ông ta lên xe Jeep giải thích
hai người cùng đi “kiểm tra an ninh” trên đường Bến Tre, 15 cây số về
phía nam, từ đó họ tiếp tục đến cuộc hành quân đang tiến hành. Vann
ngồi sau tay lái, để một khẩu súng bắn nhanh và một số lựu đạn lên ghế
bên cạnh. Cùng lúc đó anh trình bày cho người đi cùng phải giả chết như
thế nào nếu rơi vào ổ phục kích để khỏi bị giết. Sau đó anh nổ máy, hô
người gác Việt Nam mở cổng và lao nhanh trên con đường Bến Tre.
Viên sĩ quan tham mưu nghĩ họ được một trung đội lính Việt Nam tháp
tùng hoặc ít nhất có một xe cố vấn khác. Nhưng ông thấy đơn độc trên
một chiếc xe Jeep lao qua bóng tối của cây cối, xa xa thỉnh thoảng có
ánh lửa ngọn nến hay đèn dầu trong một ngôi nhà nông dân cùng với kẻ
điên kia cầm tay lái. Trong luồng gió Vann kêu lên với ông ta sẵn sàng
nhả đạn nếu gặp rào chắn của Việt cộng vì anh sẽ lao vào, không muốn bị
bắt sống rồi nhốt vào cũi như một con khỉ. Con đường có sông chắn ngang
phải qua phà càng làm vị khách căng thẳng thần kinh. Chiếc phà được
quân lính gác và người Việt Nam qua lại chỉ là những nông dân bình
thường đi chợ. Ông khách ngây thơ không chú ý thấy người gác và chưa
bao giờ ở giữa một đám đông nông dân. Nói chung việc thử nghiệm ấy đủ
cho sĩ quan tham mưu muốn ở lại Bến Tre chờ máy bay lên thẳng đưa trở
về Sài Gòn. Nhưng nếu khách thuộc loại người như Vann, thích thú sáng
kiến kiểu ấy thì lần sau đến chủng viện ông ta sẽ được hoan nghênh.
Thực tế cuộc đi trước bình minh ấy không phải không nguy hiểm. Vann đã
bị du kích rình bắn tỉa nhiều lần. Nhưng anh nhận thấy nói chung Việt
cộng giữ rào chắn trên đường thường về ngủ từ bốn giờ rưỡi sáng.
Thiếu tá Herbert Prevost là người duy nhất trong phân đội hình như cũng
thích mạo hiểm như Vann. Phi công 38 tuổi, vẻ tinh ranh, lái máy bay
liên lạc của Sư đoàn 7. Thể chế không lực rất có thể đã quyết định việc
ném bom chiến lược là phương pháp tốt nhất để thắng trong chiến tranh.
Provost là một người tác chiến đơn độc. Anh lái những chiếc máy bay
nhỏ, thích chiến đấu một mình, được thưởng huân chương trong Thế chiến
thứ Hai, ngày anh phát hiện một đoàn xe tăng Đức ẩn náu trong rừng chờ
đánh xe tăng Mỹ, tưới lên một loại vũ khí cháy mới, bom napalm; lái phụ
bị liên thanh xe tăng bắn chết, máy bay của Prevost bị hỏng đến mức độ
thợ máy phải cho vào đống sắt cũ nhưng anh đã hạ cánh như có phép lạ.
Việc phục kích của quân Đức bị bại lộ, năm chiếc xe tăng và trang bị
cháy thiêu.
Ở Việt Nam hình như Prevost khôn ngoan hơn. Anh được Không lực giao cho
chiếc máy bay nhỏ nhất họ có, chiếc Cessna quan sát. Một động cơ, hai
chỗ ngồi, chỗ phía trước cho người lái và chỗ kai cho người quan sát,
chiếc Cessna không trang bị vũ khí. Nhiệm vụ của Prevost là điều phối
những yêu cầu hỗ trợ máy bay tiêm kích – ném bom và phương tiện vận
chuyển cho Sư đoàn 7 và lực lượng bộ binh của năm tỉnh theo sự chỉ huy
của Sư đoàn 2 Không quân Sài Gòn dưới mệnh lệnh tướng Harkins. Anh được
giao chiếc Cessna để liên lạc với ba đại úy không quân làm việc cho anh
ở các tỉnh.
Prevost là một diễn viên xiếc trên trời có đầu óc sáng tạo. Anh thuyết
phục Vann cho anh hai khẩu súng mới loại nhẹ, Armalite, sẽ trở thành
khẩu M-16 khi sử dụng như vũ khí chuẩn của bộ binh. Quân đội đang thử
nghiệm và giao cho Sư đoàn 7 một đại đội để xem quân lính đánh giá thế
nào và xác định hiệu lực chống chiến tranh du kích. Armalite có một nút
chọn bắn bán hoặc hoàn toàn tự động, dùng đạn nhỏ hơn nhưng nhanh hơn
khẩu M-1 cũ nhiều. Tính năng rất nhanh gây những vết thương nặng nhưng
không chết. Prevost gắn hai khẩu súng giữa những thanh ngang đôi cánh
máy bay Cessna sáng tạo một hệ thống dây cho phép anh từ buồng lái kéo
cò súng bắn vào Việt cộng. Anh cũng có thể ném lựu đạn vào họ, đôi khi
anh dùng bom 10 kilô kiếm được trong quan hệ với một phi đội nhỏ đóng
quân tại sân bay cũ của Pháp ở Biên Hòa.
Tiểu phi đội gồm máy bay có chong chóng trong Thế chiến thứ hai và
chiến tranh Triều Tiên, máy bay hai động cơ A-26 Invaders dùng ném bom
tầm thấp và băn liên thanh trước mũi súng. Cũng có những máy bay – tập
lái T-28 Trojan chuyển thành những máy bay ném bom bằng cách xếp dưới
những liên thanh 50, bom, rốc két, những bình chứa napalm. Tuy những
khí cụ ấy thuộc Không lực Hoa Kỳ, người ta đã sơn lại chuyển sang màu
Không lực Việt Nam. Phi công Sài Gòn dùng ngôi sao trắng trong vòng
tròn xanh của đồng minh mới. Nhưng ở người Mỹ huy hiệu ấy nổi lên trên
những gạch đỏ, trắng , xanh, người Việt Nam dùng những màu của chính
phủ Sài Gòn đỏ và vàng. Chỉ cần vài hộp sơn để máy bay Mỹ trở thành máy
bay Việt Nam. Phi công Hoa Kỳ không bao giờ bay không có một sĩ quan
trẻ hay hạ sĩ Không lực Sài Gòn ngồi ghế sau. Như vậy nếu một máy bay
bị bắn hạ, chính quyền Kennedy có thể tự bào chữa như trong nhiều
trường hợp phi công Mỹ chỉ thực hiện “một buổi tập dượt” cho học trò
của mình. Những phi công Mỹ khác được bố trí hẳn ở Không lực Việt Nam
để huấn luyện và cố vấn cho phi công Sài Gòn sử dụng máy bay tiêm kích
– ném bom T-28 và Skyraiders từ thời chiến tranh Triều Tiên. Những giáo
viên ấy trở thành phi công trong những không tập chống Việt cộng, luôn
luôn với một người Việt ngồi ghế sau. Số phóng viên báo chí ở Sài Gòn
không bao giờ đựoc phép vào sân bay Biên Hòa để xem hệ thống ấy hoạt
động như thế nào.
Trừ những thời kỳ cao điểm hành quân phải ở lại sở chỉ huy để chi viện
máy bay cho sư đoàn, Prevost thích đưa Vann, Ziegler hoặc cố vấn văn
phòng 2 Jim Drummond đi thám sát trên chiếc máy bay nhỏ của mình. Vann
muốn bay thấp để nghiên cứu mặt đất tốt hơn; Prevost càng muốn xuống
thấp hơn nữa sát hẳn ngọn lúa và chỉ bay lên để vượt hàng cây to. Mấy
tháng sau Prevost thay đổi nhiệm vụ và người thay thế không biết rõ
vùng này. Anh hỏi Vann có bay ở độ cao 500 mét xem như hợp lý để tránh
làn đạn vũ khí nhẹ. Vann trả lời :
“Cộng tất cả các chuyến bay, thiếu tá Prevost chưa bao giờ tổng hợp đủ 500 mét độ cao trong suốt thời gian anh ở đây”.
Xu hướng phiêu lưu trong cuộc chiến tranh này được mở rộng vì sự gắn bó
tình cảm mà nhiều cố vấn cảm thấy đối với người Việt Nam : chính vì họ
và đất nước họ mà người Mỹ sang chiến đấu ở đây. Các đại úy cố vấn cho
những thiếu tá tiểu đoàn ở lại với họ trong trại hoặc khi di chuyển, ăn
thực phẩm Việt Nam và chấp nhận những điều kiện sống của các sĩ quan họ
đến giúp đỡ. Các trung sĩ đến dạy bắn súng cho lính cũng thế. Các cố
vấn của lính bảo an và cảnh sát cùng sống ở trại huấn luyện và đi theo
những đội quân địa phương trong hoạt động hằng ngày chống Việt cộng.
Những tiếp xúc qua lại ấy đã phát triển tình cảm mến ở người Mỹ.
Những người lính Việt Nam tò mò nhổ lông tay người Mỹ mà đối với họ
không bình thường vì thân thể họ nhẵn hoàn toàn. Họ xin thuốc lá, cười
sằng sặc khi một người Mỹ nhăn mặt lùi lại trước mùi nước mắm ở đâu
cũng dùng và thêm đạm tổng hợp vào thức ăn. Họ phá lên cười khi một
trong những gã cao lớn người nước ngoài lảo đảo và ngã xuống trong một
chiếc thuyền thúng nông dân dùng để qua sông ngòi.
Vann đặc biệt mến những người lính ấy trong quân thường trực hoặc địa
phương, là những người nông dân như đối thủ Việt cộng của họ. Có lẽ
cũng vì thân hình anh tương đối nhỏ, không vượt quá chiều cao trung
bình của họ là một mét năm mươi càng làm anh gần họ hơn. Tranh bị Mỹ
bao giờ cũng quá rộng, quá nặng đối với họ. Mũ đội trùm mặt; súng bán
tự động năm kilô cũng như khoảng năm mươi kilô phải mang suốt ngày.
Nhưng điều thán phục nhất ở họ là tính tình vui vẻ và sự dẻo dai. Người
ta dễ lầm về vẻ ngoài của họ cũng như của đất nước họ. Tuy mảnh khảnh
nhưng họ mạnh mẽ hơn những người dân châu Á khác. Điều ấy không thấy rõ
vì quần áo Mỹ che khuất thân hình gân guốc của họ. Nguồn gốc nông dân
làm tâm lý họ chai sạn với những cố gắng về thể chất và không bao giờ
phàn nàn bởi việc đi bộ lâu dưới nắng nóng. Họ đùa vui với nhau và khi
bị thương cũng không kêu van. Khả năng chịu đựng đau đớn hình như do
một phần của nền văn hóa. Họ nằm dài, bất động, khẽ rên hoặc cắn răng
chịu đau. Vann kết luận họ có tiềm lực trở thành quân lính tốt, xứng
đáng chiến thắng trong cuộc chiến tranh này và không thấy đời mình bị
hủy hoại. Năm đầu ở Việt Nam John Vann thấy cần thiết có giải pháp tranh chấp
bằng quân sự. Vì vậy anh tập trung hoạt động theo ưu tiên đề ra với
Porter : tiêu diệt lực lượng xung kích của Việt cộng bằng những đòn tấn
công bất ngờ của máy bay lên thẳng. Những toán quân đối phương trước
hết là những tiểu đoàn tinh nhuệ cộng sản gọi là “quân chủ lực” mà
người Mỹ gọi là “thường trực” và những tiểu đoàn, đại đội tuyển chọn ở
địa phương gọi là “quân địa phương”. Những tiểu đoàn chủ lực có khoảng
250 đến 300 người vào cuối tháng Năm năm 1962, phụ trách một vùng hai,
ba tỉnh còn quân địa phương nói chung ở tỉnh sở tại. Các cố vấn có xu
hướng gộp lại, gọi là “mũ cứng” vì họ đội mũ hình lưng rùa, theo hình
ảnh những chiếc mũ thuộc điạ người Pháp dùng ở Đông Dương. Họ làm mũ
bằng một chiếc khung tre bọc vải hoặc ni-lông xanh. Bộ đội chủ lực và
địa phương đều là lính trong thời gian liên tục. Đồng phục của họ do
gia đình hoặc phụ nữ có cảm tình trong xóm làng may cho, có thay đổi
trong những năm đầu. Họ chiến đấu trong trang phục áo bà ba đen hoặc
sơ-mi và quần kaki nhưng những người thường trực cũng được trang bị
quân phục chiến đấu màu xanh. Đồng phục thao diễn của Việt cộng mang
theo trong những túi trên lưng đề phòng những buổi lễ tiết, nói chung
thống nhất : sơ-mi và quần màu xanh đậm thường bán ở chợ. Quân chủ lực
phân biệt bởi hiệu quả chiến đấu rất cao và động cơ chính trị, được
trang bị những vũ khí tốt nhất lấy của kẻ địch. Tất cả sĩ quan và phần
lớn hạ sĩ quan gọi là “khung” đều là đảng viên Đảng cộng sản. Một số
tiểu đoàn địa phương chiến đấu ngang với quân thường trực.
Trong năm tỉnh thuộc Sư đoàn 7, Jim Drummond ước tính vào cuối năm qua
những thông tin thu thập được, có khoảng 2.000 Việt cộng thường trực và
3.000 quân địa phương. Rõ ràng chiến lược cộng sản đã thành công. Việt
công ngày càng chiếm được nhiều vũ khí, cho phép họ tấn công nhiều hơn
và mạnh hơn. Kết quả là quân bảo an và cảnh sát của chính quyền Sài Gòn
trở nên nhút nhát hơn, co cụm lại trong các đồn bốt và trung tâm, ngày
càng bỏ nông thôn cho Việt cộng. Vann xác định để ngăn chặn lòng hăng
hái cách mạng ấy, phương pháp nhanh nhất là bẻ gãy thanh sắt xung kích.
Nếu quân thường trực và địa phương bị giết hoặc tan rã, những người
cộng sản không còn sức tập hợp được những lực lượng cần thiết để phục
kích những đoàn xe và toán quân Sài Gòn ban ngày tỏa ra trong vùng để
cố giữ quyền lực của chế độ. Việt cộng không thể bất thần đột nhập dễ
dàng vào các tiền đồn. Trật tự được thiết lập lại từng ít một và có thể
tiến lên yên ổn lâu dài. Vann nói “Sự yên ổn có lẽ chiếm 10% của vấn đề
hoặc là 90%; dù sao chính 10% của 90% đầu tiên là đáng kể. Không yên
ổn, không có gì chúng ta làm tồn tại được lâu dài”.
Anh nghĩ càng phát triển quá trình nhấn chìm lực lượng chủ lực và địa
phương quân vòng quay chiến tranh càng bất lợi cho Việt cộng. Kết luận
này như hầu hết người Mỹ ở Việt Nam thời kỳ ấy dựa vào sự tin chắc rằng
nông dân Việt Nam đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị. Việc phần lớn họ
trong vùng có vẻ cảm tình với Việt cộng hoặc dửng dưng thể hiện họ
không đánh giá cao vấn đề chính trị : nông dân không được bồi dưỡng về
lý tưởng, những người Mỹ cho là như vậy. Trừ một số ít đặc biệt than
phiền chính quyền địa phương của Sài Gòn, nông dân nghiêng về phía mạnh
hơn. Vann càng tin chắc thế vì anh quan sát ở Triều Tiên nông dân hình
như không có ý thức chính trị gì. Họ hành động theo quyền lợi của các
nhà cầm quyền lúc đó. Anh xác định tất cả những người nông dân châu Á
mong muốn trước hết là hòa bình và yên ổn để có thể cày bừa ruộng đất.
Họ ít quan tâm những người xây dựng luật lệ và thiết lập trật tự là
cộng sản hay tư bản.
Khi nông dân thấy những đại đội, tiểu đoàn chiến đấu Việt cộng ngày
càng bị tiêu diệt , họ sẽ hiểu những người cộng sản không thắng được.
Và nếu Sài Gòn cũng không lừa phỉnh họ, họ sẽ bắt đầu nghiêng về chế độ
này. Những thông tin nắm được nhiều hơn vì nông dân sẵn lòng nói. Như
vậy sẽ dễ dàng bắt được mục tiêu và tiêu diệt lực lượng Việt cộng còn
lại. Những người cộng sản cũng mất cơ sở của sức mạnh chiến đấu : nông
dân phân tán trong xóm làng. Việt cộng gọi họ là Đội quân du kích nhân
dân. Ban ngày họ là nông dân và ban đêm là chiến sĩ, chiến đấu theo
mệnh lệnh của cấp trên hoặc do bột phát. Drummond ước tính trong vùng
có khoảng 10.000 người, đại diện một lực lượng đáng kể của đội quân
thường trực, địa phương, và chính quyền Việt cộng. Đội quân du kích địa
phương ấy là một dự trữ nhân lực, một mạng lưới thông tin khắp nơi,
nguồn trinh sát, dẫn đường biết rõ địa dư, thái độ của xóm làng, một
lực lượng vận chuyển khí giới, thương binh, người chết trong trận chiến
và là những đại diện có mặt mọi chỗ để thực hiện ý đồ của chính quyền
cộng sản bí mật.
Những người nổi dậy từng lúc ấy trở lại là những nông dân hiền lành
trong cuộc sống, Vann đánh giá như vậy. Chính quyền Sài Gòn, được người
Mỹ giúp đỡ, có thể tiến hành có hiệu quả giai đoạn sau đây : xác định
và bắt giữ những người cộng sản bí mật xúi giục cuộc nổi dậy, lãnh đạo
chính quyền bí mật thu hút nông dân phục vụ các đơn vị du kích. Viện
trợ kinh tế, xã hội của Hoa Kỳ nhằm giúp dễ dàng tập hợp nông dân. Việc
tài trợ khoan giếng lấy nước sạch và xây dựng nhà tiêu góp phần loại
trừ ký sinh trùng và các bệnh đường ruột. Những phòng khám chữa bệnh
được hình thành, các trường tiểu học chống nạn mù chữ cho trẻ con; lợn
Yorkshire thay thế lợn đen, hạt giống tốt và phân bón sẽ tăng sản lượng
lúa. Vann cho rằng phải 10 năm để tạo nên một xã hội nông dân với những
người nông dân thịnh vượng và một chính quyền địa phương chống lại mọi
cố gắng nổi dậy của cộng sản. Và anh nghĩ không cần quá sáu tháng để đè
bẹp lực lượng du kích cộng sản phía bắc vùng đồng bằng và bắt đầu chu
trình bình định mới trong vùng sống còn này của đất nước.
Vann may mắn có Jim Drummond làm sĩ quan thông tin và Ziegler làm sĩ
quan tác chiến. Anh lại tỏ rõ đức tính lãnh đạo của mình khi biết giá
trị của Drummond và thả lỏng cho anh này hoạt động. Đồng thời anh làm
cho công việc của anh ta phối hợp với công việc của Ziegler, như vậy
hai người thành nhóm cần thiết để thực hiện chương trình sáu tháng của
anh.
Sự bí mật bảo vệ những chiến sĩ Việt cộng và hoạt động của chính quyền
cộng sản. Chừng nào vị trí địa dư và sự di chuyển của họ còn bí mật, họ
có thể tập dượt và chuẩn bị rất an toàn để bất ngờ tấn công. Nhưng, lần
đầu tiên trong cuộc chiến tranh , sự bảo vệ này không còn nữa. Drummond
đã cất đi tấm khiên ấy nhờ vào kinh nghiệm thông tin Hoa Kỳ có được qua
hai cuộc thế chiến và chiến tranh Triều Tiên.
Drummond say mê tìm hiểu về con mồi của mình. Những gì dính líu đến
chiến tranh du kích làm anh quan tâm. Anh thu thập những khẩu súng săn
Việt công sản xuất thủ công trong các xưởng nhà tranh cung cấp cho
những người khởi nghĩa địa phương đến mẫu phỏng sơ đẳng nhưng có hiệu
quả như những vũ khí tinh vi như súng tiểu liên Thompson. Thậm chí anh
quan sát cách cắt, may đồng phục để xem có khác nhau giữa tỉnh này tỉnh
khác, vùng này vùng khác không. Vann ngạc nhiên về sự say mê ấy. Anh
hiểu không cần nhắc nhở Drummond như những sĩ quan thông tin khác rằng
gạn hỏi tù binh, đọc tài liệu tìm được của địch không đủ mà phải đi
thực địa để hiểu kẻ địch và thu thập vô số chi tiết không bao giờ có
được ở bàn giấy. Drummond đã hai lần nhận Ngôi sao đồng khi là lính bộ
binh ở Triều Tiên, ngay lúc đến vào cuối tháng Tư đã đi hành quân và
Vann thường gặp anh ở thực địa.
Tuy khôn khéo, những người Việt cộng cũng có điểm yếu : họ trở thành
bảo thủ. Chủ nghĩa cộng sản đã dạy họ đừng bao giờ mắc sai lầm về những
hành động có thể dự đoán được nhưng là con người, họ là nạn nhân của
những thói quen. Những người này tiến hành cũng cuộc chiến tranh ấy, kẻ
địch ấy, trên đồng ruộng ấy đã quá lâu nên không khỏi ngã quỵ trước
điểm yếu của loài người là thói quen. Drummon đã nhận thấy điều đó từ
đầu và nói với Vann. Vann cố nài Cao cho sĩ quan thông tin của ông ta
hợp tác với Drummond chính là để khai thác tối đa điểm yếu này của Việt
cộng cũng như để kiểm soát sư đoàn tốt hơn. Từ đó Drummond tạo dựng một
tổ chức thông tin cho phép Vann đạt thắng lợi trong sáu tháng.
Với người phó của mình, một trung sĩ chuyên về thông tin, Drummond giải
thích ở Văn phòng 2 của Cao làm thế nào để nắm được một tiểu đoàn và
đại đội địch. Rất kiên trì trung sĩ hướng dẫn cho người Việt Nam sắp
xếp từng loại báo cáo, tin, báo, thư , bản đồ và những tài liệu khác để
khai thác những gì có thể có ích. Tất cả những thông tin đều tập hợp,
chọn lọc theo loại cùng hồ sơ, bản đồ và phiếu tham khảo. Nhờ việc tổ
chức như vậy, mọi thông tin mới được bổ sung ngay để biết rõ hơn một
đơn vị và tiến tới dự đoán hành động của đơn vị ấy. Những đặc điểm đặc
biệt được ghi cẩn thận sử dụng như loại vân tay cho phép Drummond theo
dõi một phân đội với từng mảng thông tin xem như vô nghĩa. Thời kỳ ấy hỏa lực những tiểu đoàn Việt cộng kém hẳn quân đội Sài Gòn;
họ chỉ thu thập lẫn lộn súng đạn của Pháp, của Mỹ lấy được từ binh lính
Sài Gòn. Một số tiểu đoàn có một súng cối, những tiểu đoàn khác không
có; chỉ hai tiểu đoàn có hai tiểu liên cỡ 30; những đơn vị khác may mắn
thì có một. Biểu thống kê vũ khó của họ cho phép đo mức độ đe dọa của
họ và dùng làm phiếu chỉ dẫn. Drummond và trung sĩ của anh xây dựng một
bảng quân số từng tiểu đoàn và lý lịch các sĩ quan, hạ sĩ trong tiểu
đoàn. Cán bộ Việt cộng dùng tên giả để tự bảo vệ nhưng vì họ là người
địa phương nên lâu dần cũng biết được lý lịch, tính cách và thái độ của
họ. Biệt hiệu cũng giúp cho việc xác định đơn vị. Drummond đôi khi chụp
cả ảnh những người chết hoặc thu nhặt ảnh lúc tập kích vào chỗ trú quân
của họ. Những người Việt Nam đa cảm dù nguy hiểm họ cũng thích giữ kỷ
niệm của bè bạn. Có những trung đội đứng tất cả thành hàng để chụp ảnh
như một lớp học sinh trung học. Một hồ sơ đặc biệt được xây dựng để xác
định phạm vi hành quân quen thuộc của từng tiểu đoàn hoặc đại đội. Việc
họ di chuyển được ghi lại để biết nơi họ thường xuất phát và những xóm
họ dừng lại trong những buổi tuần tra. Drummond cũng quan tâm đến con
đường họ dễ rút lui nếu bị tấn công.
Drummond phát hiện thấy người Việt Nam cùng làm nhiệm vụ, đại úy Lê
Nguyên Bình, một giáo dân miền Bắc di cư vào Nam sau thất bại của Pháp
năm 1954, là một sĩ quan quá đắn đo bị Cao và người Mỹ đánh giá thấp.
Anh thân mật và chỉ đề nghị trao đổi thông tin. Trước đây người ta ít
chú ý đến anh ta, thậm chí Cao không phản đối sự hợp tác vì không có sĩ
quan Mỹ chuyên trách thông tin bên cạnh. Không có người nào Cao có thể
tin tưởng về nghiệp vụ báo cáo với ông ta những đức tính của Bình.
Những thông tin Drummond và trung sĩ trao đổi với Bình quá sơ sài và có
những lỗ hổng lớn. Drummond ngạc nhiên về sự xác đáng trong hồ sơ của
Bình. Anh cũng ngạc nhiên được biết anh bạn Việt Nam bố trí một hệ
thống có hiệu quả về những người đưa tin bí mật. Bình xây dựng đã một
năm và tự điều hành, sợ thành viên trong nhóm có cán bộ cộng sản thâm
nhập. Anh trả lương những người do thám của mình do một quỹ đen theo
chế độ thực hiện trong quân đội Pháp. Người đưa tin có hiệu lực nhất
của anh là một lái trâu, có lý do đi khắp miền Bắc vùng đồng bằng để
mua bán trâu cho nông dân Việt Nam. Ông ta ra vào vùng Việt cộng kiểm
soát không bị nghi ngờ gì. Ông cũng có thể được cử đi xác định nguồn
tin của những người khác hoặc thu thập một tin tức cụ thể.
Vann sử dụng một nguồn thông tin khác: nhà truyền giáo đạo Tin lành tại
Mỹ Tho. Cũng như các đồng sự, ông ta nghĩ phải tuyên truyền chống cộng
sản đồng thời với truyền đạo. Ông phấn khởi trao đổi với Vann thường kỳ
đến tiếp xúc những gì ông biết được qua giáo dân các thành phố ngoại vi.
Do lo ngại về an toàn, những người Việt cộng thường tự để lộ mình. Khi
họ tập trung trong một xóm làng để nghỉ họ giáo dục dân chúng hoặc khi
chuẩn bị tấn công, họ có thói quen hạn chế hoạt động của dân. Nếu chính
quyền Sài Gòn cảnh giác, việc giảm số lượng nông dân đi chợ là một chỉ
dẫn có Việt cộng trong vùng.
Như mọi tổ chức quân đội tốt, Việt cộng chú trọng vào hiệu quả. Qua năm
tháng họ thu xếp thuyền bè để có chỗ rộng rãi hơn. Những hộp, xoong
chảo, bì gạo, củi dự trữ hoặc lọ nước mắm được thu gọn về phía trước để
phía sau có chỗ ngồi hay nằm. Như vậy không khó khăn gì thấy rõ những
chiếc thuyền ấy không phải của nông dân.
Những trại huấn luyện và bệnh viện thường trực được ngụy trang cẩn thận
trong rừng Đồng Tháp Mười gần biên giới Campuchia ở phía tây. Những cơ
sở khác ở phía đông trong lau lách đầm lầy, rừng cọ, rừng dừa rất khó
vào. Họ cũng có thể ẩn nấp trong rừng hoặc đầm lầy khi dừng lại ngủ
trong quá trình hành quân vì mỗi Việt cộng mang theo một chiếc võng mắc
vào hai cây. Nhưng sức khỏe không đảm bảo nếu ngủ mãi ngoài trời trong
một đất nước gió mùa dễ nhiễm bệnh sốt rét và nhiều loại côn trùng và
muỗi. Hơn nữa theo lý thuyết cộng sản họ chỉ có thể sống khi cùng ở với
nông dân. Vì vậy những lúc có thể họ ngủ trong xóm làng. Để không là
gánh nặng cho nhân dân những vùng đông người, họ xây dựng các trạm, các
chỗ ở chắc chắn. Những đường có hầm hố là những nới nhân dân tập trung
do họ kiểm soát và như vậy dễ dàng thấy họ dừng lại chỗ nào. Lúc đầu
những ngôi nhà họ làm giống như nhà nông dân nhưng nếu chú ý người ta
phát hiện ra không có vật nuôi xung quanh, không trồng trọt gì trừ đôi
khi có một mảnh vườn nhỏ.
Việt cộng không biết, dấu hiệu vô hình những hoạt động của họ bị do
thám trên bầu trời nắm bắt. Việc do thám điện tử của quân đội Hoa Kỳ
bắt đầu hoạt động khắp nước Việt Nam vào năm 1962 dưới tên mật mã vô tư
là “đơn vị nghiên cứu sóng điện thứ ba”. Tháng Sáu quân số trong đơn vị
lên đến 400 kỹ thuật viên mà đa số hoạt động ngoài vùng quân sự của sân
bay Tân Sơn Nhất gần Sài Gòn. Họ dùng những máy bay De Havilland để di
chuyển trong rừng thưa. Tên cốt “Rái cá biển” cũng vô tư như thân hình
một động cơ dài và nặng của nó. Nhưng nó chở cả một toán chuyên gia
trang bị dụng cụ rất tinh vi về truyền tin và định vị trực tiếp. Những
máy bay này quay vòng nhiều giờ trên trời cao ở những vùng nghi có Việt
cộng để bắt và ghi làn sóng địch. Việt cộng dùng những máy phát Mỹ cũ
thời Thế chiến thứ hai lấy được của lực lượng Sài Gòn hoặc Pháp. Họ
phát ra tiếng nếu liên lạc trong địa phương nhưng dùng tín hiệu mooc
với những chấm, gạch nếu phải truyền đi xa. Những truyền tin của họ đều
theo mật mã, hạn chế đến mức tối thiểu nên họ nghĩ là an toàn.
Nhờ “Rái cá biển” người Mỹ không chỉ giải mã được cốt của họ mà những
buổi truyền tin cũng tự phản lại họ. Mỗi người đánh mooc theo một nhịp
điệu khác nhau. Giọng nói cũng thế, mỗi khi ghi được, có thể so sánh và
xác định được. Mặt khác những buổi truyền tin điện tử thay đổi theo
từng trạm. Những phương pháp tinh vi của người Mỹ cho phép bắt làn
song, phân tích và chọn lọc những loại thông tin dó. Kết quả truyền về
cho Drummond theo một bản đặc biệt. So sánh dữ liệu của việc do thám
điện tử này với những thông tin khác thường biết được một trạm phát
sóng thuộc về một đại đội hay tiểu đoàn cụ thể. Do những do thám trên
trời phần lớn định vị được những tin tức phát đi, dễ dàng theo dõi hoạt
động của một đơn vị và vạch rõ lên bản đồ.
Với tất cả những thông tin từ những nguồn khác nhay, Drummond bắt đầu
làm rõ tình hình và cung cấp cho Vann những tin tức chiến thuật mới về
vị trí và ý đồ của một số đơn vị thường trực hoặc quân địa phương. Dù
những điều đó nhiều khi bị hạn chế, Vann biết khá đủ để từ tháng Sáu
bắt đầu một cuộc tấn công có hệ thống.
Những do thám từ bầu trời cũng cho phép Vann có kế hoạch tấn công có
hiệu quả hơn. Những người cộng sản Việt Nam không còn lợi dụng được lợi
thế của thời gian và địa hình như thời kỳ chiến tranh chống Pháp và
chống Diệm trước khi có sự can thiệp từ Mỹ. Trước kia họ có thể ẩn nấp
trong những pháo đài tự nhiên không đột nhập được. Đặc biệt vùng Đồng
Tháp Mười, vùng sư đoàn Vann, có những vùng kín đáo nhất và nổi tiếng
nhất. Vùng đầm lầy rộng lớn, lau sậy cao bằng đầu người, cây bụi và
rừng bao trùm phần lớn hai tỉnh tây bắc đồng bằng sông Cửu Long gần
Campuchia. Vùng này không có đường vào, rất ít dân cư vì đất sét đen
chua phèn không thích hợp trồng lúa tuy hàng năm nước sông tràn ngập.
Để tới được một chỗ nương náu của Việt cộng phải hai, ba ngày đi bộ mệt
nhọc. Những địa điểm Việt cộng bố trí trong vùng dân cư đông cũng tránh
được bị phát hiện bất chợt. Nhờ hệ thống báo động của những người nông
dân có cảm tình, họ được biết trước nhiều ngày, ít nhất cũng nhiều giờ
trước khi các toán quân Sài Gòn đến.
Máy bay lên thẳng cho phép vượt qua rào cản địa hình, giảm thiểu thời
gian và cố gắng trong những ngày kiệt sức. Hầu hết những chỗ ẩn náu của
Việt cộng cách tỉnh lỵ hoặc thị trấn do chính quyền Sài Gòn kiểm soát
ít nhât 30 cây số. Những máy bay lên thẳng H-21 Shawnee quân đội Mỹ gửi
sang Việt Nam là những máy móc lỗi thời, thừa hưởng của chiến tranh
Triều Tiên giống như một đoạn ống to có hai rô-to lớn trước và sau mà
phi đoàn gọi là “quả chuối bay”. Dù sao cũng là một máy bay lên thẳng
có thể chở một tá lính, mỗi giờ bay 120 cây số với bán kính 30 cây số
trong 15 phút. Loại mới hơn , H-34 Choctaw Hải quân được mệnh danh “cá
ngựa”, giống như một con nòng nọc, chở số lượng lính với bán kính như
vậy trong 13 phút, bay 140 cây số mỗi giờ. Mười bốn máy bay lên thẳng
đủ để vận chuyển đơn vị tấn công, thông thường một nửa tiểu đoàn 165
người cùng vũ khí, trang bị, tiếp tế trong vài ngày. Nửa giờ sau, máy
bay trở về với một lực lượng can thiệp thứ hai, đổ quân dọc đường Việt
cộng rút lui hoặc lẩn tránh. Họ chỉ được báo động vào phút chót nếu phi
công bay sát ngọn cây vào những cây số sau cùng vì tiếng động máy bay
hướng về mặt đất.
Công nghệ Mỹ còn cung cấp cho Vann một loại máy khác làm Việt cộng kinh
hoàng khi gặp phải. Đấy là một hộp hình chữ nhật cơ động, bọc hợp chất
nhôm với những cánh mở và cửa, trang bị một động cơ mạnh tác động vào
các vòng sắt bọc bánh xe mỗi bên. Phương tiện chuyên chở quân bọc hợp
chất M.113 này gắn liên thanh hạng nặng cỡ 50 ở phía trước. Một tá
chiến cụ này chuyển về sư đoàn trong tháng Sáu có thể vận chuyển một
đại đội 140 người. Con quái vật di chuyển trên cạn hoặc lội nước 10 tấn
này qua những ruộng ngập nước với 15 thậm chí 30 cây số mỗi giờ, vòng
sắt nghiến nát bờ ruộng và chồm lên khi gặp trở ngại. Không có vũ khí
chống tăng , không loại đạn nào của súng máy Việt cộng có thể xuyên
thủng lớp vỏ bọc. Đại đội bộ binh theo hiệu lệnh nhảy ra từ cánh cửa
sau và tấn công dưới sự yểm trợ ghê gớm của 12 súng máy hạng nặng. Đại tá Cao ngày càng hài lòng và hợp tác dần dần theo số lượng Việt
cộng bị giết và vũ khí bắt được tăng đều đặn. Vann chắc chắn có thể
thực thi những yếu tố cuối cùng của kế hoạch đưa Sư đoàn bộ binh thứ 7
“đúng như một sư đoàn Mỹ”, mở một trận hủy diệt không thương tiếc tất
cả những tiểu đoàn thường trực và địa phương ở mạn bắc vùng đồng bằng.
Chỉ còn biến Cao thành một chỉ huy hiếu chiến. Để đạt một trận tầm cỡ
ấy, Vann phải tạo Cao, theo ngôn từ của chính anh, thành một “con hùm
của Việt Nam”.
Nhưng vấn đề là Cao không có gì ra vẻ một con hùm. Ông ta chỉ
giống một con mèo rừng ở hình dáng béo nhờn và tính cách ranh mãnh. Ông
ta thiếu móng vuốt. Vann nghĩ có một cách khắc phục thiếu hụt ấy. Anh
sẽ là đối thủ với người hùng của anh, Lansdale.
NGƯỜI MỸ TRẦM LẶNG, một cuốn tiểu thuyết đã tô điểm cho huyền thoại
Lansdale và tác động đến Vann, thực tế là một tài liệu tuyên truyền
chính trị “viết như viễn tưởng nhưng dựa vào những sự việc” để cảnh báo
người Mỹ rằng Hoa Kỳ đang thất bại trước chủ nghĩa cộng sản trong cuộc
chiến lý tưởng của những người Á Châu. Xuất bản năm 1958, cuốn sách
được bán chạy nhất rồi lên phim, được xem như một mẫu mực chính trị
nghiêm túc trong những năm 60. Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết
nhận thấy những nhà chiêm tinh học cũng được kính trọng như những nhà
bác học ở Mỹ và không người lãnh đạo nào có một quyết định quan trọng
mà không hỏi nhà chiêm tinh học của mình. Do vậy ông ta có thể thao
túng những sự kiện chính trị bằng cách thuyết phục thủ tướng là nhà
chiêm tinh học giỏi nhất thế giới. Cũng như nhân vật chính trong sách
sử dụng chiêm tinh học, Vann dùng tính kiêu ngạo để biến Cao thành hùm
và để những người cộng sản Việt Nam hứng chịu hậu quả.
Huỳnh Văn Cao, 34 tuổi vào mùa hè năm 1962, được bổ nhiệm cầm đầu một
sư đoàn lúc 29 tuổi. Một kẻ được thăng chức rất nhanh ở bất cứ một quân
đội nào. Được một nhà báo Mỹ hỏi về việc được thăng chức nhanh chóng
đáng ngạc nhiên, ông ta đưa gậy chỉ vào mình và nói “Trực giác chỉ
huy!”. Gian “phòng chiến tranh” của ông trên tầng một ngôi nhà ở là bản
sao phòng tác chiến của Napoléon. Để sự bắt chước được hoàn hảo, cửa
chính phải mở giữa tấm bản đồ phủ kín tường, vào đúng tỉnh quan trọng
nhất trong vùng. Ông ta có viết tự truyện dưới dạng một cuốn tiểu
thuyết nhan đề LỚN LÊN TRONG LỬA ĐẠN. Ông thích huyênh hoang và không
bao giờ rời chiếc gậy nhỏ bằng gỗ ngoại màu sẫm đánh bóng kỹ.
Nhan đề cuốn tự truyện của Cao có phần lừa phỉnh. Ông không tham gia
nhiều trận đánh và không bao giờ chọn binh nghiệp vì không có thiên
hướng gì. Ông thiếu can đảm và bình tĩnh. Trong một cuộc hành quân, đầu
óc quá căng thẳng ông ra khỏi lều chỉ huy để nôn và ra lệnh pháo thôi
bắn chặn yểm trợ một đơn vị bộ binh tấn công Việt cộng. Ông bảo tiếng
ồn làm ông bệnh. Qua đào tạo hời hợt trong quân đội Pháp và Mỹ, ông có
vẻ thông thạo về quân sự, nhưng không có tính chiến đấu. Trí thông minh
và sự pha trò lừa gạt gây ấn tượng cho những tướng Mỹ đi thanh tra vì
họ không bao giờ gặp ông lúc căng thẳng.
Bằng cách nào thì sự thông thạo không dính líu gì đến việc thăng tiến
như chớp và việc ủy nhiệm ông ta chỉ huy Sư đoàn 7 hai bên con đường
chính cách thủ đô Sài Gòn 50 cây số. Ông được chỉ định vì quê quán miền
Trung, là giáo dân, sinh ra và được nuôi dạy ở cố đô Huế, thành phố gắn
với Diệm. Ở đó bố mẹ anh ta quan hệ thân mật với họ Ngô Đình. Như phần
lớn con cái nhà quan hợp tác với Pháp trong Thế chiến thứ hai, ông chọn
nghiệp binh vì đây là nghề duy nhất có vị trí trong một đất nước không
dùng đủ nhân lực chứ không phải vì ông muốn chiến đấu.
Ông nhanh chóng được thăng cấp trong quân đội Nam Việt Nam dưới thời
Pháp, trở thành một chỉ huy đại đội rồi sĩ quan tham mưu một tiểu đoàn.
Những chức vụ ấy chỉ là hình thức, thực tế không dựa vào năng lực chỉ
huy và kinh nghiệm chiến đấu vì người Pháp bị người Mỹ thúc ép xây dựng
nhanh một quân đội bản xứ, không có thì giờ làm cho dạn dày hoặc thử
thách các sĩ quan trẻ.
Cao được Diệm chú ý năm 1954 khi được bổ nhiệm vào văn phòng một tiểu
đoàn bảo vệ quyền lợi tổng thống đấu tranh với những đối thủ không cộng
sản, có Lansdale hướng dẫn. Diệm lấy Cao về phủ tổng thống đưa vào ban
tham mưu của mình, mấy tháng sau cho làm chỉ huy trưởng. Diệm cho rằng
hai năm giúp việc ở phủ tổng thống và thái độ trước đây của gia đình
Cao là sự chuẩn bị tốt nhất cho việc nhận trách nhiệm phụ trách một Sư
đoàn. Trước hết, vào năm 1957 Cao được giao những đơn vị nhỏ hơn, sau
đó ông theo một lớp thực tập đào tạo ba tháng ở Hoa Kỳ rồi được bổ
nhiệm chỉ huy Sư đoàn 7 bộ binh.
Cao có trách nhiệm chủ yếu là lúc nào cũng sẵn sàng nhảy về Sài Gòn để
cứu tổng thống và gia đình nếu có những toán quân đội không phục tùng
làm đảo chính như các sĩ quan dù tháng Mười một năm 1960 đã làm không
thành. Diệm bố trí một hệ thống liên lạc đặc biệt bằng điện đài trực
tiếp với Cao và những chỉ huy sư đoàn khác cùng các tỉnh trưởng. Không
phải chỉ vì để gia đình ở lại Sài Gòn mà cao biến nhà ở của mình thành
một tổng hành dinh thực sự, có hệ thống liên lạc thứ hai giống như một
hệ thống của sư đoàn trong trại lính Pháp cũ; nhà ông ta có thể dùng
làm cơ sở chỉ huy trong trường hợp cấp dưới phản bội, chiếm lấy ban
tham mưu chính thức.
Về lý thuyết Cao nhận mệnh lệnh của thiếu tướng lữ đoàn trưởng đồng cấp
với Porter ở Ban tham mưu Sài Gòn. Trên thực tế Cao trực tiếp với Diệm
và không quan tâm đến những chỉ thị không phù hợp với tổng thống. Giải
thích sự sùng báo tổng thống, ông ta nói “ Cụ là hoàng đế của tôi!”.
Hoàng đế của Cao là một người quỷ quyệt, bố trí một loạt thiết bị an
ninh. Dù Cao là một sĩ quan tin cậy, khác với thiếu tướng lữ đoàn
trưởng không kiểm soát được những đội quân của ba sư đoàn trong Quân
đoàn mình, ông ta không vì thế mà không bị những sĩ quan cấp dưới dị
nghị. Thiếu tướng tỉnh trưởng Mỹ Tho cũng cầm đầu một liên đội xe bọc
thép của sư đoàn. Diệm chỉ định ông ta để bảo vệ mình trong trường hợp
Cao có những ý nghĩ đáng lo ngại hoặc sẽ tuột khỏi tay mình vì một lý
do nào đó. Xe tăng có thể bảo vệ hoặc giết chết tổng thống. Thiếu tướng
thuộc một gia đình địa chủ ở đồng bằng sông Cửu Long liên kết với họ
Ngô Đình. Ông là một người anh em họ nhưng rất thân với một sư đoàn
trưởng khác đã đưa quân đến cứu Diệm năm 1960. Như những tỉnh trưởng
khác, thiếu tướng tỉnh trưởng Mỹ Tho báo cáo trực tiếp với tổng thống,
về nguyên tắc “lãnh đạo dân sự”.
Mùa hè năm 1962, Vann xác định rõ những điểm yếu của Cao cũng như tình
trạng lộn xộn theo ý muốn của chính quyền không ngăn cản anh biến Cao
thành một chỉ huy quân sự ngổ ngáo. Anh nghĩ nếu làm cho Cao có vẻ một
con hùm, tính kiêu ngạo buộc ông ta chơi vai trò đó cho dù ông ta chỉ
là một con mèo đực lớn.
Trong những tháng Sáu và Bảy mỗi lần sư đoàn giết được vài chục Việt
cộng, Vann tâng bốc Cao và những đức tỉnh chỉ huy trưởng của ông ta.
Anh ca ngợi Cao ngay trước mặt các nhà báo đến lấy tin còn Cao mỉm cười
lắng nghe. Từ cuối năm 1962 chính quyền Kennedy bãi bỏ lệnh cấm các nhà
báo đi theo những cuộc tấn công của máy bay lên thẳng và những cố vấn
khi đi hành quân. Không bao giờ Vann nói công khai bất cứ điều gì làm
lộ cách chơi của anh. Ngược lại trong bữa ăn tối sau buổi lễ ở chủng
viện đêm trước cuộc hành quân anh khuyên báo chí “nhấn mạnh mặt tích
cự” để khuyến khích đồng minh. Faust, Ziegler và những sĩ quan khác
thích thú thấy Vann tác động Cao trong một cuộc hành quân. Để Cao chỉ
huy như anh muốn, Vann dùng chiến lược “ Tôi biết điều ông sẽ làm sau
đó vì ông là người chỉ huy như vậy”. Trước khi Cao kịp hỏi anh muốn nói
thế nghĩa là gì, Vann nói là đã nghe Cao nói về kế hoạch tấn công tiếp
theo. Phần nhiều Cao mỉm cười và xác nhận : đúng, tôi đã nghĩ vậy và ra
lệnh như Vann mong đợi. Nếu Cao không đồng tình gợi ý của Vann, ông ta
vẫn mỉm cười thân mật và nói có ý kiến hay hơn. Vann không chấp nhận
tất cả nhưng anh giữ ý không phản bác trước mặt quan chức Mỹ hoặc Việt
Nam. Anh dành lại sau đó nói riêng với Cao,
Vann giật dây con rối không uổng công. Thái độ của Cao chứng tỏ điều
đó. Ông ta trở nên kiêu căng, tự mãn hơn nhưng cũng biết có thể thăng
tiến trong nghề nghiệp nhờ vào hình ảnh của người anh hùng Vann đưa ông
ta lên và nhờ thực tế sư đoàn ông giết nhiều Việt cộng hơn những sư
đoàn khác. Vann tâm sự với Ziegler chắc chắn kế hoạch sẽ đưa lại kết
quả khi anh đánh một cú mạnh để tiêu diệt quân du kích. Theo nhịp độ
Việt cộng bị đánh mãi, mỏi mệt, có ngày họ vi phạm một sai lầm nghiêm
trọng, khi cố gắng thoát khỏi một cuộc tấn công bằng máy bay lên thẳng.
Ngày hôm ấy Vann dự kiến giết hoặc bắt sống một tiểu đoàn khi tiêu diệt
các đại đội tập trung ở cuộc chiến.
Anh hình dung khả năng một cuộc thắng lợi nhờ xác định trong tháng Sáu
một cuộc tấn công đặc biệt và thuyết phục Cao ra quân vào tháng Bảy.
Anh chuẩn bị chỉ cho Việt cộng thấy bóng tối không phải chỉ dành riêng
cho họ. Lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh này anh tung ra một cuộc
tấn công bằng máy bay lên thẳng ban đêm gây bất ngờ cho địch trong giấc
ngủ trước khi trời sáng.
Vann càng tin cuộc hành quân thành công vì bây giờ Cao đã đủ tin anh để
mạo hiểm, điều mà không bao giờ ông ta chấp nhận. Khi Vann đưa ra dự
kiến đầu tháng Bảy, với lời khuyến cáo quen thuộc “Phải khôn ngoan!”,
Cao chấp nhận nhưng cố gắng có một sự lựa chọn về mục tiêu Vann nêu
lên. Với Prevost lái máy bay, Vann đi quan sát theo lời đề nghị của
Cao. Anh chỉ thấy một số lều có thể thỉnh thoảng hơn một chục chiến
binh Việt cộng tập hợp tại đó. Anh phỉnh Cao để làm ông ta đổi ý và
trấn an rằng những đơn vị tấn công sẽ không bị tổn thấy. Cao càng lo
ngại rõ rệt vì những chỗ Vann chọn để đổ bộ ban đêm và ngày tiếp đó xa
tầm pháo bắn. Các toán quân đành dựa vào máy bay tiêm kích – ném bom
yểm trợ. Hy vọng của Vann càng tăng vì cuối cùng thuyết phục được Cao
chấp nhận mức độ mạo hiểm hơn bình thường. Vann hy vọng tấn công và lần này xóa sổ Tiểu đoàn 504 quân đội thường
trực Việt cộng, một trong hai đơn vị bị thiệt hại nặng trong cuộc hành
quân ngày 23 tháng Năm do Ziegler lên kế hoạch. Một toán quân Tiểu đoàn
504 sống sót sau trận đánh cuối tháng Năm xin hàng và xin ân xá. Diệm
không cho phép một ân xá nào đó đối với Việt cộng cùng đồng minh của họ
và việc xin hàng không có trả lời. Drummond theo dõi dấu vết tiểu đoàn
đến đầu Đồng Tháp Mười. Theo một số thông tin, những bộ phận của tiểu
đoàn kia bị đánh tan tác ngày 23 tháng Năm có thể sát nhập vào 504.
Drummond biết tất cả các đơn vị ấy đang được tổ chức lại và đang trong
thời kỳ huấn luyện nhưng một trong các đại đội của 504 được nông dân
cảm tình nuôi dưỡng ở nhiều làng trong vùng hợp lưu hai con sông nhỏ
cách biên giới Campuchia 15 cây số. Họ chuẩn bị vào đêm tới sẽ rời nơi
ẩn nấp, tấn công tiền đồn bảo vệ một trang trại nông nghiệp lớn của
giáo dân miền Bắc di cư. Drummond đánh giá có một đại đội thường trực
và quân địa phương tập trung gần các làng trên tiếp sức cho cuộc tấn
công và có khả năng phát hiện ra những đơn vị khác trong những cuộc đổ
bộ ban ngày tiếp theo.
Vann chọn nơi hợp lưu làm điểm đổ bộ ban đêm vì những tin tức về đại
đội ở đó còn mới và đầy đủ được Drummond thu thập mà cũng vì vùng chữ Y
hai con sông tạo thành phi công dễ xác định hơn trong bóng tối. Để kiểm
tra lại, Vann đi thám thính lần cuối bằng máy bay lên thẳng cùng
Drummond và ra lệnh cho những phi công khác bay qua hai lần ở độ cao
500 mét, cách nhau 10 phút để Việt cộng nghĩ là chuyến bay thường lệ
chứ không nhằm theo dõi họ. Drummond ngồi xổm ở cửa mở, cầm chắc chiếc
máy chống gió chụp nhiều bức ảnh còn Vann hỏi phi công có phân biệt rõ
đoạn nối hai con sông trong ánh sáng mờ không. Họ đều xác nhận được.
Đại úy Bình, đồng nghiệp với Drummond ở sư đoàn biết một thợ ảnh Mỹ
Tho. Anh đưa phim in ra cỡ 25 x 20 và phân phát cho phi công, những
người có trách nhiệm về trận đánh và các đại đội trưởng để họ nhận rõ
mục tiêu. Cuộc đổ quân ban đêm đầu tiên này sẽ tiếp theo năm cuộc khác
nữa với mục đích bắt gọn mọi Việt cộng tìm cách chạy về hướng Bắc và
sau đó do thám những điểm đáng nghi ngờ dọc một con kênh chảy về phía
tây tới Campuchia. Trạm chỉ huy của Cao sẽ cách Mỹ Tho 60 cây số về tây
bắc trong lán trại một đường bay đổ quân ở Mộc Hóa, gần mấy nhà tranh,
trại gỗ, xung quanh một nhà thờ,một ngôi chùa và nhà ở của tỉnh trưởng
. Ở đây Vann giữ ba đại đội dự phòng.
Vann và Cao thống nhất để khi con mồi đứng lên, quân dự phòng sẽ tung
ra phía trước Việt cộng để tiêu diệt họ. Với khoảng ba chục máy bay lên
thẳng họ sẽ nhanh chóng di chuyển quân lính trên khu vực không có lau
sậy đầm lầy này. Dĩ nhiên một số đổ quân không hiệu quả gì. Quân lính
sẽ là dự phòng và máy bay lên thẳng lai bốc lên đưa tới những vùng săn
lùng Việt cộng trốn chạy. Cuộc đổ bộ đầu tiên tiến hành với loại máy
bay mới H-34 Choctaw có trang bị bay đêm.
Vào lúc năm giờ sáng ngày 20 tháng Bảy năm 1962, mười sáu chiếc H-34
lượn trong đêm trước khi lần lượt đổ xuống cánh đồng Mộc Hóa được giới
hạn bằng những điểm sáng. Vann và các cố vấn đã bố trí đốt lửa những xô
đựng cát tẩm dầu xung quanh khu đất. Máy bay đến từ cơ sở Hải quân trên
sân cũ của máy bay tiêm kích Nhật trong Thế chiến thứ hai ở Sóc Trăng
mạn đồng bằng phía dưới. Hai đại đội lính Việt Nam mà một được trang bị
súng bắn nhanh Armalite, được tâp hợp tại đây một ngày trước. Tổ chức
lại thành ba trung đội tấn công, binh lính xếp theo hàng cách nhau đều
đặn từng nhóm 12 người mỗi máy bay. Sau một cuộc hội ý nhanh của cố vấn
với phi công, động cơ khởi động và những ngọn lửa xanh, vàng từ ống xả
lại chọc thủng màn đêm.
Cánh tay gập lại trước mặt chống cát bụi cánh quạt tung lên, những
người lính bộ binh Nam Việt Nam nhỏ thó trèo lên khối máy bay. Bên
trong ánh sáng yếu ớt từ tấm bảng điều khiển và những chiếc đèn vàng
của buồng lái. Họ ngồi bệt xuống, đưa một tay vịn vào nhau hoặc nắm lấy
dâi đai ni-lông dọc theo thành máy bay. Mặt khác họ cố giữ súng khỏi
rơi hoặc tránh cụng đầu vào nhau trong lúc phi công mở hết tốc lực.
Tiếng ồn dội lại từ buồng lái rung lên. Sau va chạm và đung đưa, máu
bay lên thẳng nghiêng về phía trước để bốc lên tiếp nối nhau thành hàng
với ánh đèn nhấp nháy trong đêm.
Lính Việt Nam sợ hãi. Có thể thấy nỗi sợ trên mặt họ. Ngược lại các đại
úy Mỹ phấn khích vì sắp sửa hành động. Cũng như Vann và đồng nghiệp
trong năm đầu này, họ nghĩ bây giờ đi chiến đấu để đến ngày thắng lợi
vì lợi ích của đất nước.
Bốn mươi lăm phút sau họ xác định được ánh sáng xanh hình chữ Y nổi lên
qua mảng sẫm cây cối bao quanh những ngôi nhà dọc theo bờ sông. Máy bay
hạ xuống ba điểm lựa chọn ở chỗ nối hai con sông, tắt đèn báo để không
làm bia cho một Việt cộng tình cờ gặp báo động. Sĩ quan Sài Gòn và các
đại úy Mỹ hét lên để át tiếng động cơ và binh lính đứng dậy ra trước
cửa. Bánh xe bắn tung nước ruộng vào sáu giờ ba phút, 15 phút trước
bình mình; 200 người nhảy xuống nước đến đầu gối, bắt đầu lội đến các
ngôi nhà. Phi công bốc lên, lại bay về phía đông và khu Mộc Hóa cách 25
cây số, đến gặp lại 13 “quả chuối bay” từ Tân Sơn Nhất tới để lấy quân
vận chuyển tiếp. Trong lúc đó một chiếc hai động cơ C-47 bay trên đầu
những người tập kích, thả pháo sáng như mặt trời nhân tạo xua tan bóng
đêm cuối cùng.
Vann hình như chơi không may. Xóm làng chỉ còn đàn bà, trẻ em và người
già. Ngồi ở ghế sau chiếc máy bay quan sát Cessna để dò tìm Việt cộng
suốt đầu buổi sáng và điện thoại liên lạc với các cố vấn của mình, Vann
rủa thầm nghĩ rằng cuộc tấn công ban đêm đầu tiên này được lính thủy
đánh bộ thực hiện với biết bao công phu đã không đưa lại kết quả gì cả.
Đại đội của Tiểu đoàn 504 mà Drummond tưởng ở chỗ hai con sông giao
nhau đã đi từ hôm trước. Một trung đội lính địa phương ở trong một xóm
đã thoát theo dọc sông; thực ra máy bay lên thẳng của quân đội từ Sài
Gòn đến chậm nửa tiếng làm lỡ cuộc đổ quân biệt kích có nhiệm vụ chặn
đường. Vann trở về Mộc Hóa cố gắng giải quyết tình huống bất ngờ này và
cho tiếp tục chuyển quân. Anh không tìm được giải pháp và cuộc tập kích
tiếp theo chậm mất hai tiếng rưỡi. Giận sôi lên, anh thấy người ta vạch
một con số không trên bản đồ.
Cuộc đổ quân thứ tư nhằm mục tiêu hai xóm cách 11 cây số phía trên, dọc
con kênh từ con sông đi về hướng tây và Campuchia. Vann chọn địa điểm
này vì anh cho rằng Việt cộng có thể xây dựng cơ sở ở đây, thuận lợi
vận chuyển đường thủy. Sử dụng hai mươi chín máy bay lên thẳng hiện có,
anh lần lượt đưa đi hai lực lượng tấn công vào phía bắc các xóm lúc
chín giờ năm mươi phút sáng. Họ gặp 150 quân nổi dậy. Lần này Vann ở
lại trạm chỉ huy. Liên lạc điện thoại cho anh biết một số Việt cộng bắn
súng tự động và phần lớn mặc đồng phục ka-ki, điều gần như chắc chắn
đây là đội quân thường trực. Kết quả, thông tin của Drummond là chính
xác. Vann bù lại cho sự thiếu hụt cụ thể bằng dùng địa hình phát hiện
Việt cộng có thể ở chỗ nào và dựa vào kỹ thuật thăm dò của Ziegler để
thẩm tra linh cảm của mình.
Những người Việt cộng thấy pháo sáng trong những buổi tập kích ban đêm
và quan sát máy bay lên thẳng trong những cuộc đổ quân ban ngày. Phản
ứng đầu tiên họ nghĩ là mạng lưới dăng ra không đủ xa để với tới họ và
nếu ở nguyên tại chỗ sẽ an toàn hơn phân tán ngay từng toán nhỏ về phía
biên giới Campuchia cách đấy bảy cây số về phía bắc và chỉ ba bốn cây
số về phía tây dọc theo con kênh. Lầm lỗi đầu tiên ấy nghiêm trọng hơn
khi họ phạm một sai lầm không tha thứ được trong chiến tranh; chạy đến
chỗ tàn sát quân địch đã chuẩn bị.
Tấn công gần biên giới, Vann biết xu hướng Việt cộng sẽ chạy sang
Campuchia. Họ đã đào những hầm trú ẩn cá nhân ngụy trang kín dưới những
rặng cây, bờ bụi trên đường. Đáng lẽ sử dụng những hầm đó chống cự chờ
đến đêm có cơ hội thoát ra, họ sợ hãi sau loạt đạn đầu như Vann dự
kiến, bỏ chỗ ẩn được che phủ chạy lộn xộn hy vọng tìm nơi an toàn.
Năm phút sau cuộc đổ quân thứ tư, một người quan sát Việt nam trên máy
bay nhận ra một đoàn khoảng 100 Việt cộng chạy lộ liễu qua cánh đồng
lau lách cao 60 phân đến hai mét, ngập nước gần một mét. Có những người
lội giữa lau sậy, những người khác chống những con thuyền nhỏ chở hơn
một chục đồng đội. Người quan sát đề nghị cho gọi máy bay tiêm kích –
ném bom. Đây là lúc Vann đã chờ đợi từ tháng Năm. Anh gợi ý với Cao để
máy bay quần cho đến lúc máy bay lên thẳng chuẩn bị đủ nhiên liệu và
đưa đơn vị dự phòng thứ nhất đến để bắt đầu bao vây tiêu diệt. Cao
không bao giờ chống đối một cuộc tập kích không quân. Ông ta ra lệnh.
Đạn súng máy cỡ 50 và ca-nông 20 ly trên máy bay xả xuống làm bắn tung
nước. Đạn rốc-két nổ trên những chiếc thuyền bay từng mảnh. Những thùng
nhôm chứa bom napalm lần lượt rơi xuống vỡ ra trong lau sậy trùm lên
Việt cộng một chùm hoa vàng. Nhìn từ bầu trời quang cảnh đẹp lạ lùng.
Trong ánh sáng xanh buổi sáng người ta không hề ý thức đến nỗi kinh
hoàng bên dưới trong lò lửa. Trên những chiếc máy bay theo đúng lệnh
chỉ huy, với vũ khí không thể chiến bại, người ta có cảm giác vui thích
đầy sức mạnh. Phi công hiếm khi biết một cuộc săn lùng nào đẹp hơn.
Điện đài thường xuyên vang lên những tiếng nói phấn khích bằng ngôn ngữ
Việt Nam, Pháp, Anh hoặc trao đổi với người quan sát điều khiển tầm
bắn. Máy bay cánh quạt của họ, Skyraider và Trojan phù hợp với lối bắn
trong hành quân vì phi công có thể bổ nhào thong thả hơn và nhắm vào
mục tiêu dễ dàng hơn. Lúc máy bay chúi xuống, gió rít bên thân, đạn
súng cối và rốc-két tóe lửa dưới cánh. Người ta có thể nghĩ là một cuốn
phim Thế chiến thứ hai khi những anh hùng lực lượng Không quân cho quân
Đức, quân Nhật một bài học xứng đáng. Những bóng người nhảy ra khỏi
thuyền tránh loạt đạn. Trên khoảng đất trống trải rất ít người thoát
khỏi. Rồi máy bay bồng bềnh trên lau sậy. Các cố vấn của Vann đếm được
khoảng bốn chục xác chết . Lính bộ binh, súng máy và súng bán tự động
cũng bắn vào Việt cộng đang hoảng loạn nhưng máy bay làm chết nhiều
người nhất. Trong lúc máy bay tiếp tục tấn công và máy bay lên thẳng vẫn đổ quân,
Vann kích thích Cao tổ chức thu hoạch cuối cùng vụ mùa đã chuẩn bị biết
bao công phu này. Hai lực lượng dự phòng được thành lập thêm vào đơn vị
đã có. Với ba đơn vị này họ có thể chặn đứng cuộc rút lui của Việt cộng
bất cứ về hướng nào. Khi máy bay lên thẳng lấy đủ nhiên liệu, đơn vị dự
phòng thứ nhất gồm hai đại đội xuất phát từ đường bay Mộc Hóa đổ quân
xuống mạn bắc giữa Việt cộng và biên giới Campuchia. Những toán biệt
kích ra quân từ chín giờ năm mươi phút sáng được lệnh dừng lại ở “tư
thế rào chắn”. Hai đại đội mạn bắc tiến về phía họ theo chiến thuật
thông thường “búa và đe”. Những Việt cộng thoát được làn đạn máy bay ẩn
nấp trong lau sậy sẽ bị giết hoặc bắt sống bởi “lưỡi búa” từ mạn bắc
xuống hoặc bị đè bẹp trên “đe” nếu họ tìm cách chạy về mạn nam. Vann
lên một chiếc máy bay lên thẳng khuyến khích các chỉ huy Sài Gòn và nắm
được những gì xảy ra để hướng dẫn Cao có hiệu quả trong lúc hoạt động
đã đi vào giai đoạn cao độ.
Các phi công máy bay lên thẳng chuyên chở quân dự phòng nhận thấy Việt
cộng đi về biên giới phía tây. Điều này không làm Vann bận tâm vì đã dự
kiến hoạt động này và đã nói với Cao trước khi ra quân. Để chắc chắn
mọi việc tiến hành tốt anh gọi điện cho Faust thay thế anh trong lúc
vắng mặt ở cơ sở chỉ huy, bảo nhắc Cao gửi đơn vị dự phòng thứ hai về
mạn tây bắc chặn toán Việt cộng này với chỉ thị đánh bạt họ về “chiếc
đe”. Faust làm anh an tâm : đã có sự nhắc nhở này và Cao đã đồng ý.
Chiến thắng Vann dự kiến chuyển biến thành cơn ác mộng bất ngờ bắt đầu
một cách thật bối rối. Anh săp bay đến chỗ máy bay tấn công và có thể
chứng kiến hiệu quả trên cánh đồng lau sậy, dừng lại để xem việc chỉ
huy tiểu đoàn biệt kích bây giờ đang dàn trận làm nhiệm vụ “chiếc đe”.
Mọi người vui vẻ. Họ phát hiện ra một súng cối 81 thêm vào nhiều vũ khí
hạng nhẹ thu được của Việt cộng. Anh khen ngợi họ và bay lên để kiểm
tra bước tiến về mạn nam của lực lượng dự phòng đổ quân ở mạn bắc. Lên
đến độ cao anh ngạc nhiên nhận thấy binh lính ở nguyên nơi đổ quân. Hạ
máy bay xuống để hỏi xem vì sao, anh được đại úy chỉ huy trả lời nhận
lệnh của chỉ huy trung đoàn phải ở tại chỗ bố trí “tư thế hàng rào
chắn”. Vann bảo như thế thật vô lý. Những toán biệt kích đàu đã làm rào
chắn và đại tá Cao ngay từ lúc ra quân có lệnh cho tiến về mạn nam càng
nhanh càng tốt. Đại úy trả lời “ Vâng, nhưng chỉ huy trung đoàn vừa có
lệnh qua điện đài phải đóng quân lại không tiến lên”.
“Nhưng lạy Chúa ! Vann kêu lên, một chỉ huy trung đoàn có thể vượt qua mệnh lệnh của đại tá Cao từ khi nào vậy ?”.
Viên đại úy ngơ ngác không nói gì. Vann hét lên :
“Ông ta có biết những Việt cộng ông định giết hoặc bắt sống đang thoát ra trong lúc ông chần chừ như thế không ?”.
Đại úy nhún vai. Vann đề nghị anh gọi cho tổng hành dinh trung đoàn
giải thích tình hình và xin phép tiến lên. Vann trở lại những toán biệt
kích đầu tiên để xem chỉ huy trung đoàn có ra lệnh họ tiến về mạn bắc
không. Không, họ được lệnh là giữ vững vị trí. Vann quay về đội quân dự
phòng. Đại úy nói đã liên lạc với trung đoàn, hỏi kỹ và lại nhận được
lệnh ở nguyên tại chỗ. Vann gọi cố vấn của mình ở tổng hành dinh trung
đoàn và Faust để Cao giải quyết ngay sự lẫn lộn này. Không có kết quả.
Anh cố gắng thuyết phục viên đại úy tiến lên và Vann chịu trách nhiệm.
Đại úy từ chối. Vann quay lại toán thứ nhất cố thuyết phục đại úy tấn
công lên mạn bắc. Không kết quả. Bốn mươi phút trôi qua trong bàn cãi
vô vọng như thế trong lúc Việt công tiến gần đến biên giới Campuchia.
Còn những máy bay lên thẳng phải đổ lực lượng dự phòng thứ hai không
thấy đến. Khi Vann gọi về tổng hành dinh đòi giải thích. Faust trả lời
hình như Cao chối bỏ lời hứa. Anh bèn trở về Mộc Hóa cố vực dậy tình
hình.
Đến nơi, anh nhảy ra máy bay chạy lại lán tổng hành dinh nói với Cao
phải ra lệnh đơn vị dự phòng thứ nhất tiến lên và cử ngay đơn vị thứ
hai về phía tây bằng những máy bay đang có tại chỗ, nếu không Việt cộng
thoát ra hết. Cao trả lời ông không thể làm như thế.
- Tại sao vậy ? Vann hỏi.
- Vì chỉ huy trưởng Trung đoàn 10 không muốn san sẻ thắng lợi của mình cho một trung đoàn khác.
Chỉ huy trưởng Trung đoàn 10 ấy là người đã ra lệnh cho lực lượng dự
phòng ở lại tại chỗ. Đấy là một trong các tiểu đoàn của ông ta được thả
từ đợt bay đầu tiên xuống còn những đơn vị dự phòng thuộc về những
trung đoàn khác.
Vann kinh ngạc đến nỗi không tìm ra lời, hiện tượng hiếm có ở anh.
“Sao ?” Anh nói, nhìn thẳng vào mắt Cao.
Cao bình tĩnh mỉm cười, nhắc lại điều vừa nói.
Vann phải đấu tranh để kìm mình lại. Anh kéo Cao riêng ra tránh làm ông
ta lúng túng trước cấp dưới. Anh bảo không thể để một ai đó ganh tị làm
cản trở thắng lợi của cuộc chiến. Chính ông ta chỉ huy sư đoàn, phải
vượt qua người dưới quyền để ra lệnh. Không có nguy cơ nào cả. Quân số
của họ vượt xa Việt cộng. Cao chỉ có hai người chết và một chục bị
thương và hiện có thể 200 Việt cộng đang sống đi về phía Campuchia. Cao
không thể để thoát những người cộng sản để sau này trở lại chiến đấu.
Ông phải bảo vệ danh tiếng một chỉ huy năng nổ. Hôm nay ông có dịp thực
hiện một chiến công chưa từng có, có thể nắm bắt cả một tiểu đoàn Việt
cộng, không hành động thì có vẻ như một người hèn.
Cao vẫn vô cảm và nói không muốn làm phật lòng chỉ huy trung đoàn.
Nhưng rồi Vann cũng thuyết phục được Cao cho triển khai đội quân dự
phòng về mạn nam; họ không lên đường trước hai giờ chiều, nghĩa là ba
tiếng sau cuộc đổ quân trước. Việc Vann cố nài ép đưa lại cho Cao chút
ít cố gắng. Binh lính tìm lại được một khẩu súng máy hạng nặng cỡ 50
Việt cộng bỏ lại. Họ cũng phát hiện ra bảy kẻ nổi dậy ẩn mình dưới nước
thở bằng thân lau sậy, bị bắn hạ khi bỏ chạy; thu được một số vũ khí
hạng nhẹ khác. Cao cho tập hợp ngay chiến lợi phẩm. Ông ta cho máy bay
lên thẳng mang khẩu súng cối và vũ khí bắt được trong đợt tập kích lần
đầu về và báo cáo với tổng hành dinh Sài Gòn để khoe khoang về những
vật đã tịch thu. Vann hầu như tiếc về khẩu súng máy Cao lấy được nhờ
anh khi thấy tổng tham mưu trưởng Sài Gòn và một đại tá những ô và a!
trước khẩu cối, súng máy và hai mươi bảy vũ khí hạng nhẹ mà phần lớn là
súng Pháp có quy lát Cao cho trình bày trước lán trên dãy bàn phủ vải
trắng như những chiến tích.
Tổng hành dinh sư đoàn cũng mê mải vì trong niềm phấn khởi Cao bỏ cả
việc chỉ huy hành quân, được phần lớn các phó của ông ta bắt chước. Sau
này Vann phải tuyên bố trong một báo cáo theo quy định :”Tập trung được
sự chú tâm của chỉ huy và ban tham mưu theo dõi được những cuộc hành
quân tiếp tục là một khó khăn lớn nhất”. Anh sững sờ thấy viên tướng
Sài Gòn cho là không có gì đáng chê trách trong thái độ của Cao và cũng
tỏ ra chẳng hơn gì ông này. Cao cũng để sổng mất 80 đến 100 Việt cộng ở
phía đông khu vực trong lúc Vann mệt nhoài cố đẩy lực lượng dự phòng
lên một cách vô ích. Những Việt cộng ấy của Tiểu đoàn 504 chậm lại một
ngày ở chỗ tiếp giáp hai con sông. Không một trong hai tiểu đoàn Sài
Gòn nào phát hiện và đuổi theo họ mặc dù cố vấn Mỹ thúc giục. Cao cũng
không động đậy khi Vann đề nghị. Một chiếc A-26 bay phía trên và Cao
với sở thích bình thường về tấn công máy bay, cử đi những máy bay ném
bom. Phi công cho rằng giết được 25 Việt cộng. Vann đi máy bay lên
thẳng kiểm tra cẩn thận tại chỗ. Lần này máy bay nhấn chìm lau sậy và
bụi cây. Không có một xác người nào.
Hôm sau Vann lại phải nhận những tin tức xấu hơn. Cao để lỡ một dịp phá
hỏng điều gì đó đối với chủ nghĩa cộng sản quan trọng hơn một tiểu
đoàn. Trong rừng phía trên xóm có trại huấn luyện quan trọng nhất miền
bắc đồng bằng. Thẩm vấn mười một tù nhân biết một trong hai đơn vị đó
là đại đội huấn luyện mà Drummond không phát hiện ra. Đơn vị kia là một
đại đội của Tiểu đoàn 504 phụ trách bảo vệ trại. Phần còn lại gồm những
thanh niên ở các đội cảnh sát địa phương được tuyển chọn để bổ sung vào
các tiểu đoàn thường trực. Đã bốn tháng nay trong trại, họ được đào tạo
sử dụng vũ khí, chiến thuật, phương pháp ngụy trang và những kỹ thuật
khác về chiến tranh lật đổ. Drummond phát hiện dưới tán cây có bốn lớp
học trang bị bảng đen và trong hai nhà khác là nơi đào tạo về y tế. Phi công rùng mình lo sợ thấy khẩu súng máy hạng nặng Mỹ cỡ 50 có thể
trở thành vũ khí chống máy bay trong những bàn tay có kinh nghiệm. Rõ
ràng Việt cộng bắt đầu huấn luyện đánh máy bay lên thẳng. Cảm giác ấy
được nhanh chóng khẳng định. Hăng hái thu thập chiến lợi phẩm ngày hôm
sau, Cao cử đi hai toán cùng những kíp mìn. Họ phát hiện dưới nước có
một chân súng loại tương tự nhưng không có ống, không có máy. Tù binh
khai đại đội huấn luyện có ba súng máy cỡ 50 và họ tập cho thanh niên
bắn máy bay. Drummond và đồng sự Việt Nam Bình tìm thấy trong trại
những tài liệu giảng dạy giải thích phải bắn phía trước máy bay như thế
nào để đón đường bay. Một tài liệu khác chỉ rõ số hiệu ba khẩu súng
máy, chắc lấy được của Pháp hoặc của đơn vị Nam Việt Nam vùng khác vì
Bình biết ở Sư đoàn 7 không mất khẩu nào. Tù binh kể lại có những Việt
cộng dũng cảm cố dùng súng máy bắn hạ máy bay tiêm kích – ném bom trước
khi bị giết hoặc chạy trốn.
Sự thất bại hoàn toàn khiến Vann khổ tâm hơn là bất ngờ. Anh không
tưởng tượng được trước đây hai mươi bốn giờ đã chuẩn bị tỉ mỉ đến thế,
phối hợp tài năng của Ziegler và Drummond và dùng mọi biên pháp mà Cao
đã biến tất cả thành số 0. Theo Vann và luật lệ sĩ quan, không thể hy
sinh người của mình để quân địch thoát khỏi như Cao đã làm. Việt cộng
bị thiệt hại nhiều nhưng còn khoảng 300 thoát được, sẽ có nhiều người
sống sót để khôi phục lại các đơn vị. Khung cán bộ sẽ được tăng cường
và Tiểu đoàn 504 có thể lại tấn công những tiền đồn và tổ chức những
đợt phục kích khác.
Một bê bối chung đáng lẽ đã kết thúc cuộc chơi cùng với Cao nhưng anh
muốn theo đuổi mặc dù thất bại. Hơn thế anh sẽ bị tướng Harkins cách
chức vì đường lối quan hệ thân mật giữa cố vấn Mỹ và các đồng cấp Việt
Nam. Khi một nhà báo của Hiệp hội báo chí xin đi máy bay lên thẳng từ
Sài Gòn đến Mộc Hóa, Vann cho biết cảm giác từ đầu đến cuối những việc
diễn ra theo kế hoạch đã xây dựng. Anh nói việc đổ bộ ban đêm của lính
thủy đánh bộ là một “công việc xuất sắc”.
“Họ đổ quân đúng theo giờ quy định và lần đầu hình như chúng ta làm cho Việt cộng hoàn toàn bất ngờ”.
Khi Cao thông báo các toán quân của ông và máy bay đã giết đến con số
kỷ lục 131 Việt cộng trong một cuộc hành quân thành công nhất trong
chiến tranh và một trong số mười một tù binh là đại diện ban chấp hành
huyện ủy cộng sản. Vann ý từ không cải chính trước các nhà báo. Anh
phải xác định lại sự thật trong báo cáo mật gửi cho Porter và Harkins,
nói cụ thể số Việt cộng bị giết “không quá 90”. Anh đành nén giận nhìn
Cao nhận vinh quang của người anh hùng vì không muốn sự thật làm mờ sự
nghiệp của ông ta.
Diệm hài lòng đến mực cho Cao tổ chức diễu hành chiến thắng gây ấn
tượng nhất ở Sài Gòn kể từ cuộc thao diễn chào mừng thắng lợi năm 1955
của lính dù sau khi diệt đội quân riêng của Bình Xuyên kình địch với
Diệm. Đài phát thanh Sài Gòn và báo chí của chính phủ ca ngợi “chiến
thắng lớn nhất trong chiến tranh”. Cuộc diễu hành tổ chức vào ngày thứ
bảy để thu hút được số lượng lớn nhất viên chức và gia đình đi trong
hàng ngũ. Những cô gái đẹp mặc quần áo cổ truyền Việt Nam, áo dài tha
thướt xẻ hai bên thân đón tiếp Cao và các sĩ quan của ông ở ngoại vi
thành phố để trao tặng dây hoa. Cao vào Sài Gòn đứng trên chiếc xe Jeep
chào dân chúng hai bên đường cho đến địa điểm tập trung. Đi đầu các sĩ
quan ông ta theo con đường chính đến Nhà hát nhạc vũ kịch Pháp cũ bây
giờ là nhà Quốc hội của Diệm. Quân lính đều mặc quần áo chiến đấu, đi
ủng, đội mũ sắt cứng trừ Cao với đặc quyền một vị tướng và để được chú
ý nổi bật, đội cát-két kiểu bóng chày đang trở thành mốt trong quân đội
Mỹ. Ông ta cầm chiếc gậy nhỏ trong tay và một khẩu Colt 45 trong bao da
đeo bên hông. Một bệ rộng đặt trước thềm nhà hát trưng bày cho công
chúng xem những vũ khí thu được. Huân, huy chương được trao cho nhiều
sĩ quan binh lính và bộ trưởng Bộ Quốc phòng gắn một chiếc huân chương
trên lá cờ cảu Sư đoàn 7. Cao được đưa vào phủ tổng thống để Diệm tuyên
dương công trạng.
Tương phản giữa sự lập lờ đối với công chúng và sự trung thực trong báo
cáo mật của Vann chỉ dội thêm tiếng vang về dấu hiệu cảnh báo anh đã
thầm lưu ý với thượng cấp. Bây giờ anh biết rõ những bất cập của việc
chỉ huy quân đội Sài Gòn mà anh đã nêu ra dần dần trong những báo cáo
trước để bắt đầu hiểu tầm cõ những vấn đề đặt ra cho phái đoàn cố vấn.
Các bạn đồng nghiệp và anh được giao dẫn dắt một cuộc chiến bộ binh với
một quân đội về cơ bản không hề muốn chiến đấu. Vann đã linh cảm điều
ấy khi mới đến chủng viện. Clay bị đánh bại, bị thương trên máy bay lên
thẳng vì viên chỉ huy quân đội Việt Nam từ chối đuổi theo thậm chí
không bắn vào một trung đội Việt cộng chạy trốn lộ liễu trên đồng
ruộng. Và Clay đích thân đuổi theo với hai máy bay lên thẳng. Lần này
chỉ huy sư đoàn để sổng quân nổi dậy nhiều hơn mười năm lần. Sự nhát
gan ấy đưa đến hốt hoảng thực sự về những nguy cơ và thấy bại tự chuốc
lấy. Vann viết “Một tình trạng tệ hại được dựng lên, vì những người chỉ
huy dù ở cấp bậc nào cũng không làm gì cả vẫn chỉ huy thậm chí được
thăng cấp còn những người xông vào nguy hiểm có thể bị giáng chức nếu
không thành công hoặc thất bại nặng”. Mặt khác các sĩ quan Nam Việt Nam
không hiểu trách nhiệm của họ. “Những ganh tị ti tiện giữa chỉ huy sư
đoàn và đại đội đặt trên nhiệm vụ chủ yếu là tiếp cận tiêu diệt địch và
quay lưng lại nhiệm vụ. Các chỉ huy tuân theo mệnh lệnh phù hợp với h ọ
và không biết hoặc điều chỉnh những mệnh lệnh khác”. Nếu những cố vấn
Mỹ phải thực hiện nhiệm vụ với quân đội Nam Việt Nam, họ phải ý thức
được tầm quan trọng của những thiếu sót đó và có những biện pháp thích
đáng để cứu chữa. Vann cảnh báo với Porter và Harkins “Trừ phi đào tạo
lại toàn bộ quân đội Việt Nam để chỉ huy theo thứ bậc mà nền tảng là
tuân thủ mệnh lệnh, người ta không bao giờ đạt đến hiệu lực chiến đấu ở
mức độ chấp nhận được”. Một sĩ quan quân đội Hoa Kỳ được đào tạo chiến đấu hết sức mình với
những gì người ta cung cấp. Thừa nhận khả năng thất bại không có nghĩa
chấp nhận nó mà ngược lại là một kích thích phải kiên trì, hình dung
thất bại sẽ không xảy ra. Thái độ ấy ở Vann rõ rệt hơn ở đại bộ phận
các sĩ quan vì anh kiêu hãnh không bao giờ để một thách thức thắng
mình. Anh công nhận một phần lời thanh minh của Cao giải thích viên chỉ
huy Trung đoàn 10 đã cản trở ông đuổi theo Việt cộng. Anh không đồng
tình với Cao nhưng biết ông ta có những vấn đề với các tỉnh trưởng và
nghĩ rằng việc chỉ huy có lẽ do một người thân tín khác của Diệm đảm
nhiệm.
Thực ra Cap có quan niệm lành mạnh về cuộc chiến tranh này. Ông ta
không dấu diếm ý muốn ngăn cản chủ nghĩa cộng sản áp đặt nền chuyên chế
nghiêm khắc ở miền Nam. Ông nói, khi nắm quyền họ sẽ từ bỏ lời hứa chia
ruộng đất cà những quyền lợi khác của nông dân. Họ sẽ tàn sát những
người thực sự hoặc có khả năng đối lập, thiết lập hợp tác xã nông
nghiệp, xóa bỏ tôn giáo, phá hủy những tập tục Việt Nam và một số tự do
cá nhân mà nhân dân miền Nam được hưởng dưới chế độ Diệm để xây dựng xã
hội độc tài mác-xít.
Vann cũng nghĩ những người cộng sản sẽ phạm tất cả những tội ác ấy nếu
họ thắng trong chiến tranh. Anh kết luận tuy Cao có lỗi ông ta nhưng là
người yêu nước Việt Nam, một người dân tộc trung thực muốn đưa lại cho
đất nước giải pháp thích hợp của một chính phủ chống cộng sản ở Sài
Gòn, hiện đại hóa dần dần với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Anh đồ chừng miền
Nam Việt Nam đối với Cao cũng như đất nước Hoa Kỳ đối với anh và với
thời gian anh có thể khuyến khích lòng tự trọng, khiến ông ta xử sự như
một nhà chỉ huy quân sự mà nước ông đang cần.
Sự kiện ngày 20 tháng Bảy đối với Vann như vậy trở thành mặt trái chứ
không phải một thất bại. Tháng Tám,, anh gửi về cho Mary Jane một bức
ảnh Cao và anh đứng bên nhau trước lều vải trong một cuộc hành quân.
Anh cho tô màu tấm phim đen trắng ở một cửa hàng Mỹ Tho để có vẻ hiện
thực hơn. Vann nhìn ống kính và Cao nhìn vào Vann. Ở lưng tấm ảnh, Vann
viết bằng bút bi :
Vann và Cao
Tháng Tám năm 1962
Kíp US Việt Nam tốt nhất để đánh thắng những người cộng sản
Dù Vann muốn bỏ Cao, anh cũng không có khả năng nào để làm được. Đầu
mùa thu 1962 anh đã trở thành tù nhân của chò trơi của anh “Cao, con
hùm” nhờ số lượng Việt cộng bị giết theo chất lượng kế hoạch bố trí và
thông tin cũng như tác động của kỹ thuật công nghiệp Mỹ : máy bay lên
thẳng, xe bọc thép và máy bay tiêm kích – ném bom. Vann bị mắc vào bẫy
của thành công bề ngoài. Trong bốn tháng sau khi anh đến, số lượng Việt
cộng bị giết ở Sư đoàn 7 do tập kích trên bộ và bằng máy bay lên thẳng
là 4.056 người kể cả những người hỗ trợ ở làng xóm, bằng cả trong nước
cộng lại. Con số này được sĩ quan Sài Gòn cung cấp gồm cả tổng kết
những cuộc tấn công của quân bảo an và cảnh sát địa phương mà người Mỹ
không bao giờ có mặt để xác định. Dù số liệu nói quá lên 50% - tỷ lệ mà
cố vấn Mỹ cho là hợp lý ở miền Nam Việt Nam – 2.000 người chết trong 4
tháng là một tổn thất nghiêm trọng cho Việt cộng ở mạn bắc vùng đồng
bằng. Đúng là không một tiểu đoàn thường trực hoặc địa phương nào bị
tiêu diệt, nghĩa là không có một số lượng chết như thế để đủ người sống
củng cố lại đơn vị. Nhưng con số đã khá cao để chẳng bao lâu họ sẽ bị
loại khỏi vòng chiến đấy. Vann bắt đầu tin tưởng nếu anh có thể giữ
nhịp điệu hành quân như hiện nay, tác động dồn dập sẽ đập tan được lực
lượng của Việt cộng dù cao từ chối trả lương tình nguyện cho bộ binh.
Sáu cuộc hành quân trong tháng Tám và tháng Chín được trả bằng hàng
trăm thiệt hại của Việt cộng. Ngày 18 tháng Chín một cuộc tập kích khác
ở Đồng Tháp Mười vào Tiểu đoàn 502 quân thường trực còn có kết quả lớn
hơn nhiều “chiến thắng lớn” trên giấy của ngày 20 tháng Bảy. Một đại
đội Việt cộng và hàng trăm quân địa phương phối hợp bị xe bọc thép hủy
diệt hoàn toàn.
Việt cộng cố gắng tổ chức một hàng phòng ngự phía sau bờ ruộng ngập
nước nhưng những con quái vật bánh vòng sắt nghiền nát hết và bắn vào
họ trong lúc đạn của họ nảy lên một cách vô ích trên vỏ thép. Phía
trong xe tăng lính đứng trước cửa xe bắn xối xả. Khẩu súng máy lớn 50
bố trí phía trước cắt ngang những người chạy trong bùn bết vào chân,
nước cao đến thắt lưng. Những người sống sót cố ẩn mình trong nước thở
bằng cọng lau rỗng hoặc để hở mũi trên mặt nước. Nhưng những lái xe bọc
thép phá vỡ mưu mẹo ấy bằng chuyển động mười tấn sắt của họ từ trước ra
sau làm dồn sóng. Lựu đạn của quân lính Sài Gòn cũng làm họ lộ mặt. Khi
một trong bọn họ bị lộ, lái xe tiến về phía ấy, chồm lên nghiến nát họ
nếu họ chưa bị đạn giết chết.
Ngày hôm ấy 158 Việt cộng bị giết và 60 bị bắt sống. Vann gửi cho Mary
Jane mẩu cắt ở bài báo trang nhất bằng tiếng Anh ở Sài Gòn, Times of
Viet Nam. Anh viết trên đề mục bằng chữ lớn “Cuộc tàn sát lớn nhất
trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam”. Diệm khen thưởng Sư đoàn 7 phần
thưởng quân công của quân đội Nam Việt Nam, một dải tết sợi nhiều màu
tất cả quân lính mang ở vai trái, theo tập tục Pháp được Hoa Kỳ và các
quân đội phương Tây sau đó bắt chước. Đây là lần đầu tiên phần thưởng
này được tặng cho cả một sư đoàn AVRN. Diệm thông báo với Cao có ý đinh
thăng chức cho ông ta cấp tướng và ủy nhiệm ông ta chỉ huy một Quân
đoàn.
Về phần mình Vann trở thành cố vấn tin cậy của tướng Harkins. Không
phải vì những báo cáo của anh trở nên lạc quan hơn. Chúng vẫn được viết
với sự thật tàn ác, đặc điểm của báo cáo ngày 20 tháng Bảy. Một trung
tá nào đó có lẽ đã trình bày các sự kiện tích cực hơn, phù hợp với ý
muốn thắng lợi của quân đội, nhưng Vann không nương nhẹ các khía cạnh.
Chủ đề luôn trở lại là anh và các cố vấn là không thể tiến lên với mục
tiêu lâu dài : biến quân đội Việt Nam ARVN thành một quân đội có thể
chiến đấu và đánh bại chiến tranh du kích. Harkins có vẻ không bối rối
trước những tiêu cực trong các báo cáo của Vann. Viên tướng và ban tham
mưu của ông đánh giá, trong cuộc chiến tranh không có mặt trận này,
cách đo tốt nhất những tiến bộ đạt được là số lượng Việt cộng bị giết,
theo lối nói của bàn giấy là “việc tính toán xác chết”. Sĩ quan tham
mưu Sài Gòn phụ trách trình bày một cách quen thuộc với những người mới
đến và khách đến thăm theo lối nói ít rùng rợn hơn “Trong một cuộc
chiến tranh không có một chiến tuyến nào, chỉ số tốt nhất về những tiến
bộ đạt được là chỉ số thiệt hại”. Các sĩ quan báo chí của Harkins khuyến khích các phóng viên mặt trận
đến các phân đội của Vann và đi theo những cuộc hành quân của sư đoàn
7. Các đại biểu Quốc hội, những tướng tá và nhân vật dân sự của Lầu Năm
Góc luôn được cử đến để nghe một bản trình bày của kíp Vann – Cao,
những quán quân về số lượng người bị giết. Theo chiến lược của mình,
Vann dạy cho Cao thành chuyên gia về thông tin tỏa sáng tinh thần tấn
công trên bục phòng chiến tranh trong nhà ở của ông ta. Vann cũng bố
trí cho Cao những bản đồ và đồ thị maù cũng như những cuốn phim dương
bản không làm mất vẻ đẹp của dụng cụ dùng ở Lầu Năm Góc. Nếu Cao luôn
là nhân vật trung tâm của những cảnh ấy, thì Vann chỉ giới thiệu một
cách ngắn gọn. Anh đã học nghệ thuật trình bày cô đọng khi còn là thiếu
tá trẻ ở tổng hành dinh quân đội Mỹ ở châu Âu. Anh tập dượt ở đó đến
mức làm chủ sự hài hòa của những thống kê và những chuyện kể truyền cảm
có tác dụng mạnh và gây được lòng tin ở người nghe. Sau khi anh đi khỏi
đó đã lâu người ta vẫn nhớ đến anh như một sĩ quan báo chí tốt nhất. Ở
Việt Nam anh cũng tác động mạnh đến thính giả. Nếu có thì giờ, thường
hiếm trường hợp ấy, Vann đưa viên tướng hoặc quan chức Lầu Năm Góc lên
phòng khách tầng một của chủng viện để trao đổi riêng nhưng với giọng
khác hẳn. Nếu không anh để cho ban tham mưu của Harkins tỉ mỉ truyền
đạt lại những gì anh trình bày trong các báo cáo. Nhưng những chính trị
gia và các nhà báo không bao giờ được hưởng ân huệ đặc biệt đó.
Cao khoái trá về những lời khen và triển vọng được gắn những ngôi sao
cấp tướng. Ông ta thông báo với các phóng viên đến tổng hành dinh của
ông :” Hôm nay tôi giết được 50 Việt cộng”. Ông bắt đầu biết rõ nghề
quảng cáo. Mỗi lần “việc tính toán xác chết” lên đến con số tương đối
cao, ban tham mưu của Harkins hoặc phủ tổng thống, chắc chắn báo chí –
gồm cả phóng viên Pháp và Việt Nam – đưa người thắng trong cuộc chiến
này lên hàng đầu. Horst Faas, nhà nhiếp ảnh của Hiệp hội báo chí, người
hai lần được giải thưởng Pulitzer trong 10 năm ở Việt Nam, một hôm đến
trước các nhà báo khác. Ông thấy Cao đang dựng lại trận đánh. Lính Nam
Việt Nam kéo thân thể những Việt cộng đặt vào vị trí chiến đấu với vũ
khí bị tịch thu trước mặt. Cao bước đĩnh đạc, chiếc gậy nhỏ trong tay,
hướng dẫn việc dàn cảnh.
Nhiều người phó của Vann khó chịu về chiếc mũ dắt lá rừng Cao đội khi
ra khỏi lều. Họ bắt đầu nghĩ Cao làm hơi quá đáng; ông ta xoa tay khi
máy bay tiêm kích – ném bom hoặc xe bọc thép thực hiện được một chiến
công và tự hào đã giăng bẫy Việt cộng.
Theo lời Ziegler, bây giờ ông ta chơi lối lám tướng. Ông lắng nghe Vann
nói cần phải khôn ngoan, để anh giải thích một ít nữa rồi bĩu môi chán
nản, tuyên bố không muốn tranh cãi nhiều. Nếu Vann cố gặng, ông đứng
dậy nói “Ông là một cố vấn. Tôi là chỉ huy trưởng và chính tôi quyết
định”.
Vann cố tự chủ nhưng những người phó của anh biết anh tự kìm mình khó
khăn đến mức nào. Anh đỏ mặt và giọng mũi của anh càng khàn. Trở về
chủng viện anh để cảm giác thất vọng của mình bùng lên, chửi Cao với
những lời rủa thừa kế từ thời thơ ấu nghèo khổ ở ngoại ô Norfolk.
Trong một cuộc tranh cãi, anh ra hiệu cho Faust và những cố vấn khác đi
ra rồi nắm cánh tay kéo Cao lại trước tấm bản đồ. Từ xa những phó của
anh thấy anh chỉ nhiều lần vào chỗ hổng Việt cộng thoát ra. Họ nghe anh
nói với Cao giọng nhỏ cố nén giận. Cao phải cáng đáng trách nhiệm tinh
thần của sĩ quan và binh lính. Ông ta phải bịt lối ra và tiêu diệt tiểu
đoàn ấy không để Việt cộng sống sót. Các cố vấn chờ đợi Cao ra lệnh cho
bộ binh lên máy bay lên thẳng. Vann nổi nóng và ý kiến của anh chắc
chắn sẽ có giá trị. Lần này Cao không ra vẻ tướng nữa. Ông ta đành ra
khỏi lều không nói một tiếng. Faust bắt đầu tự hỏi Cao có phải là một
cộng sản bí mật không.
Nhờ những thiệt hại Vann gây ra cho Việt cộng, anh được tướng Harkins
coi trọng đến mức khi Maxwell Taylor trở lại Nam Việt Nam trong đợt
kiểm tra ngắn vào tháng Chín, anh là một trong những sĩ quan được mời
đến ăn trưa cùng ông ta ở chỗ Harkins tại Sài Gòn. Đã gần một năm trôi
qua kể từ đợt Taylor sang đây vào mùa thu năm 1961 thúc đẩy nhanh quyết
định của Kennedy đưa lực lượng quân sự Mỹ can thiệp vào cuộc chiến
tranh. Lần này Taylor sang xem có những tiến bộ gì sau một năm. Vann
được chọn đại diện cho các cố vấn cấp sư đoàn cùng ba người khác cấp
thấp hơn, một thiếu tá và hai đại úy. Họ sẽ trình bày với Taylor ý kiến
thẳng thắn của mình về tình hình khu vực đang đánh nhau.
Vann rất phấn khởi vì dịp may được nói hết những suy nghĩ của mình với
một người có khả năng tác động đường lối đến cấp cao nhất và vực dậy
tình hình. Kennedy đưa Taylor đã về hưu năm 1961 ra làm cố vấn quân sự.
Tháng Bảy, tổng thống xác định lòng tin của mình khi cử ông này làm
tham mưu trưởng quân đội. Khi được phát biểu, Vann có ý định trình bày
với Taylor quan điểm trung thực và tàn nhẫn như đã nói trong những báo
cáo mật gửi Harkins. Anh thất vọng nhận thấy những lo ngại của anh
không làm nảy sinh tinh thần khẩn cấp như anh hy vọng ở Harkins. Porter
thông cảm với điều đó nhưng không tác động được với cấp trên. Chính anh
John Vann ấy, tháng Năm trên đường đi Mỹ Tho, tin tưởng sẽ thắng trong
cuộc chiến tranh, đến tháng Chín chẳng còn tin chắc có thể hoàn thành
nhiệm vụ đựoc giao trong khuôn khổ áp đặt và lo ngại cho tương lai.
Thành công ngoài mặt làm giảm nhẹ sự lo toan của anh nhưng không làm
mất hẳn hoặc bớt đi. Anh vẫn hy vọng tiêu diệt các tiểu đoàn Việt cộng
qua mặt Cao vốn không có trách nhiệm, anh không biết dự tính có thể làm
được không. Có nhiều cơ may những quân nổi dậy cộng sản sớm muộn sẽ
không sợ nữa và chiến đấu thông minh hơn và như vậy sẽ kết thúc việc
tàn sát dễ dàng. Trong lúc chờ đợi, thậm chí anh không đạt được những
mục tiêu tối thiểu đã xác định với Porter. Sau bước đầu sốt sắng, Cao
không hợp tác nữa trong những vấn đề sơ đẳng như việc huấn luyện quân
lính tập bắn và chiến thuật bộ binh. Ông ta không bao giờ cho phép tiểu
đoàn nào tham gia hết ba tuần lớp họcVann tổ chức ở trung tâm Tân Hiệp
và không một quân lính nào khi về trại thực hiện một động tác giống như
đã được huấn luyện. Những báo cáo hàng tháng của các cố vấn đều đặn nêu
lên phần lớn thời gian các đơn vị “nghỉ ngơi”. Khi một tiểu đoàn đến
Tân Hiệp, mấy ngày sau Cao gọi trở về phần nhiều là để đuổi theo một
toán Việt cộng đánh chiếm một vị trí tiền tiêu hoặc phục kích. Vann
chắc chắn Cao cũng biết như anh trong trường hợp ấy không thể có kết
quả vì Việ cộng đã chuẩn bị cẩn thận việc rút lui. Nhưng Cao không bao
giờ muốn nhận ra điều đó. Vann nghi ngờ ông ta đi săn lùng một con mồi
không tìm thấy duy nhất chỉ để tạo cho phủ tổng thống có cẳm giác ông
ta luôn ở tình trạng báo động. Sau đó ông ra lệnh cho tiểu đoàn về trại
“nghỉ ngơi” thay vì trở lại trung tâm huấn luyện. Việc đào tạo quân
lính chiến đấu không phải một trong những ưu tiên của Cao. Ông ta cho
rằng họ đã được tập dượt kỹ.
Cao cũng cản trở những cố gắng của Vann muốn mở rộng việc tuần tra và
phục kích ban đêm nhằm hạn chế Việt cộng tự do nổi dậy ban đêm. Cao chỉ
tỏ ra đồng ý lúc ban đầu vì Diệm chỉ thị phải thỏa thuận với người Mỹ
khi không thiệt hại gì và ông cũng muốn dễ mến với cố vấn mới. Một khi
bước ấy đã qua, ông ta trở lại với thái độ ông cho là hợp lý. Một buổi
sớm vừa ăn sáng xong, ông được tin Vann đi tuần tra cả đêm chỉ với năm
người. Cao giận dữ mời Vann đến và hét lên dữ dội nếu anh không thôi
những ngu ngốc ấy, ông sẽ xin một cố vấn khác. Vann có muốn một sĩ quan
Mỹ cấp bậc cao đến trung tá bị bắt hoặc giết để tổng thống Diệm quở
mắng ông,Cao, về trách nhiệm và sẽ không bao giờ tha thứ cho ông việc
ông đẩy chính phủ vào chỗ lúng túng ? Sự nghiệp của ông sẽ tan vỡ thậm
chí Diệm sẽ cho ông vào tù ! Vann trả lời anh chấp hành lệnh của Porter
phải hành động ban đêm và tất nhiên phải có người chỉ huy các toán. Anh
nhắc lại với Cao anh không phải một người không chuyên và đã học được ở
Triều Tiên cách hành quân ban đêm với một toán nhỏ ít nguy hiểm hơn với
một phân đội lớn. Cao trong tình trạng giận dữ và sợ hãi đến mức Vann
thấy nên có sự thỏa hiệp nếu anh muốn tiếp tục cử sĩ quan, hạ sĩ quan
đi tuần tra ban đêm. Anh thống nhất với Cao những sĩ quan cấp cao của
sư đoàn chỉ hành quân ban đêm với quân số ít nhất là một đại đội. Còn
những sĩ quan cấp thấp và hạ sĩ quan, họ vẫn tiếp tục đi cùng đơn vị
nhỏ. Cao cầm chân những người Mỹ như thế rồi ông dùng sức ép một cách
khác. Những sĩ quan trẻ và hạ sĩ quan của Vann rất khó tập hợp được
những người nhận đi với họ. Cao đã có những chỉ thị cho quân lính mình. Nhưng Vann còn những lo toan khác ngoài việc tập luyện và tuần tra ban
đêm. Anh bị tác động bởi sức bật của Việt cộng. Drummond cho biết một
số tiểu đoàn bị anh đánh tan đã có đủ quân số thay thế. Drummond cũng
phát hiện thấy mặc dù số lượng bị giết chết trong vùng của sư đoàn từ
đầu chiến tranh đến nay rất nhiều, tổng quân số lực lượng thường trực
và địa phương của Việt cộng trong năm tỉnh vẫn không thay đổi. Những
đơn vị thoát khỏi Vann đã phát triển quân số và bù vào số lượng mất mát
của những đơn vị khác. Nghiêm trọng hơn, Drummond được biết trong các
làng xóm thuộc vùng này những người nổi dậy nhiều hơn rất nhiều con số
10.000 ước tính lúc đầu. Không biết chính xác con số, anh thấy sự chênh
lệch ấy thật lớn. Như vậy có nghĩa những người cộng sản có một lực
lượng dự trữ để bổ sung thiệt hại lớn hơn Vann nghĩ.
Trên chiếc xe Jeep đưa anh tới Mỹ Tho sáng hôm 11 tháng Chín năm 1962
ấy, anh nhắc lại cùng một cường độ điều anh đã nói năm 1956 những gì
anh sẽ nói với Taylor trong bữa ăn trưa để lưu ý ông ta trong khi anh
trình bày quan điểm của mình.Anh phải rất cẩn thận để không tỉ ra là
người báo động. Vả lại Vann không tự cảm thấy mình là người chủ trương
thất bại. Anh vừa được kích thích vừa lo ngại và anh muốn chia sẻ với
Taylor hy vọng lẫn sự e ngại ấy. Khi tổng tham mưu trưởng quân đội biết
được sự thật, ông sẽ nói với Kennedy và khi tổng thống đã hiểu điều gì
xảy ra ở Việt Nam, tổng thống có sức ép với Diệm còn Taylor cũng làm
thế với Harkins và Vann không còn phải lo lắng nữa.
Khi anh bước qua những bậc thềm ngôi nhà Harkins, mấy phút trước mười
hai giờ rưỡi, anh cũng có dáng điệu vững chắc trong bộ quân phục kaki
với chiếc mũ lưỡi trai như lúc anh đến trình diện Porter hồi đầu tháng
Ba. Giấy mời của anh được viết tay trên một tấm thiếp trang trí cờ hiệu
đại tướng bốn sao trên nền đỏ. Ngôi nhà là một khối trắng ở khu sang
trọng của Sài Gòn, trước đây do những nhân vật cao cấp Pháp ở. Một con
đường vòng bao quanh bãi cỏ được chăm sóc chu đáo. Quản lý ngôi nhà là
một trung sĩ Mỹ, còn lại là công nhân Việt Nam. Bức tường cao bảm đảo
cuộc sống riêng tư và an ninh nhưng cách đấy không xa là bể bơi và sân
tennis Câu lạc bộ thể thao của cộng đồng người nước ngoài và xã hội
thượng lưu Việt Nam.
Maxwell Taylor trở về Hoa Kỳ sau bữa ăn trưa ấy hai ngày. Buổi sáng
trước khi đi ông họp báo trong phòng khách danh dự sân bay Tân Sơn
Nhất. Ông gạt bỏ những câu hỏi của một số nhà báo về khả năng căng
thẳng giữa những cố vấn Mỹ và các đồng sự Sài Gòn. Ông nói :
“Phải có mặt tại chỗ để cảm nhận được sức mạnh của tinh thần quốc gia,
sự chống trả của nhân dân Việt Nam đối với hoạt động nổi dậy lật đổ
đang đe dọa. Cảm giác tôi thu nhận được là một phong trào dân tộc rộng
lớn, tất nhiên được người Mỹ giúp đõ chừng mực nào đó nhưng chủ yếu là
một phong trào của những người Việt Nam bảo vệ đất nước họ chống một kẻ
thù nguy hiểm và độc ác”.
Vann trở lại Mỹ Tho với những nỗi lo sợ vẫn nguyên vẹn. Anh giải thích
điều đó trong một bản tóm tắt về bữa ăn trưa ghi phía sau lưng giấy mời
trước khi xếp vào hồ sơ :
“Một dịp trình bày quan điểm với tướng Taylor với tư cách một trong bốn
cố vấn (2 đại úy, 1 thiếu tá và tôi). Bữa ăn trưa kéo dài một giờ mười
lăm phút. Nội dung chung của cuộc nói chuyện : Harkins trình bày sự
nhìn nhận của mình và gạt bỏ những điểm quan trọng tôi muốn nêu lên”.
Trước mắt, Vann rất bận rộn vì mặc dù số lượng thiệt hại của Việt cộng
tăng lên, Hoa Kỳ không đánh vào vấn đề cơ bản, việc cung cấp vũ khí cho
quân đội do bị quân nổi dậy lấy được. Phái đoàn viện trợ Mỹ cung cấp
cho Việt cộng vũ khí Mỹ một cách không chấp nhận được. Từ mùa xuân
1962, 28.000 quân thường trực vùng đất Sài Gòn trong phạm vi sư đoàn đã
thay đổi loại súng Pháp cũ có quy-lát bằng súng tự động Mỹ. 10.000 quân
bảo an được trang bị một số lượng lớn vũ khí bộ binh US, từ súng M-1
đến liên thanh và súng cối. 18.000 cảnh sát khiêm tốn hơn nhận các-bin
nửa tự động cỡ 30, liên thanh nhẹ Thompson và BAR. Nhưng Harkins và ban
tham mưu của ông, trước khi đẩy nhanh chương trìng hiện đại hóa vũ khí,
không thấy trước việc không nên phân phối một khẩu súng nào cho những
tiền đồn do địa phương quân chốt giữ mà không được xóa bỏ hoặc tăng
cường. Nếu không đây là những chỗ quân nổi dậy trực tiếp lợi dụng món
quà hậu hĩnh của Mỹ. Việc đã xẩy ra đúng như thế. Bảo an quân và cảnh
sát giữ 776 tiền đồn của mạn bắc vùng đồng bằng là mục tiêu chính của
Việt cộng. Phần lớn những tiền đồn ấy tiếp thu của quân Pháp (có 2.500
tiền đồn trên địa phận Quân đoàn 3) rất dễ nhận thấy : những tháp xây
bằng gạch mà Vann gọi là “những chiếc quan tài gạch” chỉ nửa tá cảnh
sát và những lô cốt tam giác tường đất có đường hào bao quanh được bố
trí không quá một tiểu đội. Xóa bỏ những “trung tâm cung cấp cho người
Việt” như Vann và các cố vấn đặt tên, là một việc nữa trong những ưu
tiên anh thống nhất với Porter. Anh đã cho kiểm tra tất cả những vị trí
ấy và đích thân tới nhiều chỗ. Sau đó anh đề nghị Cao và các tỉnh
trưởng biến 776 tiền đồn ấy thành 216 trại có quân số ít nhất là một
đại đội có khả năng tự bảo vệ cho đến lúc lực lượng tăng cường tới.
Những trang trại ấy cũng dùng làm cơ sở tuần tra và hành quân địa
phương. Cao và các tỉnh trưởng đều trả lời không thể xóa bỏ những tiền
đồn, biểu tượng cho quyền lực thống trị và Diệm không bao giờ cho phép.
Vann đã tranh luận để họ báo cáo với tổng thống, giữ lại những biểu
tượng ấy thật vô lý vì thực tế chúng làm lung lay chính quyền. Hệ thống
tiền đồn ấy không chỉ ngu ngốc về mặt quân sự mà còn là sự độc ác. Phần
lớn cảnh sát đưa gia đình đến các lô cốt vì nếu họ ở ngoài làng, Việt
cộng sẽ bắt giữ làm con tin buộc lính trong đồn đầu hàng. Xác chết và
những người đàn bà, trẻ con bị què cụt sau những đợt tấn công là tài
liệu tốt cho các nhà nhiếp ảnh của cơ quan thông tin Mỹ. Không lập luận
nào của Vann có tác dụng. Anh nhận thấy Cao và các tỉnh trưởng đều gắn
bó vô lý với những đồn bốt ấy cũng như Diệm. Những đồn tiền tiêu bị
Việt cộng tấn công và bị phá hủy trước khi họ rút đi. Ngay sau đó, các
tỉnh trưởng cho xây dựng lại.
Những người cộng sản Việt Nam tuyển mộ nông dân theo khả năng vũ khí
cung cấp cho họ. Việc hiện đại hóa trang bị thể hiện ở sự tăng trưởng
quân số và các loại súng các-bin, tiểu liên Mỹ mà các đơn vị thường
trực và địa phương quân lấy được. Chẳng những không làm gì để ngăn chặn
việc cướp trang bị Mỹ ở các đồn điền tiền tiêu mà Harkins còn luôn
khuyến khích các cố vấn phân phối nhanh vũ khí mới mặc dù Vann và những
cố vấn khác đã cảnh báo. Như vậy là họ sẽ chạm trán với một lực lượng
Việt cộng ngày càng trang bị vũ khí tốt hơn. Và nếu chiến dịch tiêu
diệt kẻ địch vì lý do nào đó bị gián đoạn hoặc chậm lại, những người
cộng sản sẽ có đủ điều kiện khôi phục lực lượng để tấn công, tước đoạt
vũ khí Mỹ và trở thành một đối thủ vô cùng đáng sợ hơn Vann có thể
tưởng tượng. Cuộc chiến tranh này mang một dáng vẻ bỉ ổi vượt quá, bởi thái độ muôn
thuở của quân đội Sài Gòn đối xử với nông dân – coi họ như một dân tộc
bị chiếm đóng, cướp gà, vịt, hành hạ phụ nữ. Vann đã thấy tù binh bị
ngược đãi, bị giết ở Triều Tiên. Những tháng đầu chiến tranh, người Bắc
Triều Tiên thường giết những người Mỹ bị họ bắt. Người Mỹ cũng trả thù
lại khi có thể. Vann vẫn xem là ngu ngốc khi giết một người có thể khai
thác được thông tin. Nhưng anh hiểu binh lính căm giận quá mức trước
cái chết của bè bạn nên đã có những hành động bạo hung bạo như vậy.
Nhưng những gì anh thấy hoặc nghe ở Triều Tiên vẫn không làm anh đủ khả
năng hình dung sự tàn ác của quân đội Sài Gòn đối với những người bị
bắt.
Điều tệ hại anh biết là một sĩ quan can đảm, một đại úy gốc Campuchia
tên Thưởng chỉ huy đại đội biệt kích ưu tú. Người của Thưởng, phần đông
cũng người Campuchia, là binh lính thiện chiến nhất của Sư đoàn 7. Vị
trí của Thưởng tương đương chức vụ chỉ huy một tiểu đoàn vì trong chiến
đấu thường được giao dưới quyền một đại đội biệt kích thứ hai. Cao tin
tưởng đặc biệt Thưởng và đội quân này, không ngần ngại cử đi hành quân
riêng lẻ, điều mà Vann không bao giờ nhận được với một đại đội bộ binh
thường.
Đại úy Thưởng muốn có vẻ hung tợn. Ziegler lúc đầu huấn luyện cho đại
đội biệt kích này và thỉnh thoảng cùng đi hành quân, nhớ lại anh ta là
một người sức lực và tương đối cao lớn có nước da đậm của người
Campuchia, mũi tẹt, rộng và cặp môi dày. Anh ta đeo kính râm gọng kim
loại to. Khẩu Colt 45 bỏ trong bao da mang vai và trước ngực là một dây
đeo đạn dự trữ. Thưởng gia nhập quân nhảy dù Pháp rất lâu trước khi
người Mỹ thuyết phục Diệm tổ chức những đội biệt kích để chống chiến
tranh du kích. Anh ta tự hào về những tiền bối của mình. Đầu hổ với hàm
răng mở to, người Mỹ nghĩ ra để làm huy hiệu cho quân lính biệt kích
may vào vai áo bên trái những trước túi ngực bên phải là đôi cánh quân
nhảy dù Pháp. Anh ta vẫn giữ của lính dù boj quân phục ngụy trang và
bê-rê đỏ hoặc chiếc mũ lưỡi trai. Trong một bao ở thắt lưng, anh ta
luôn mang một vũ khí Mỹ điển hình, một dụng cụ ưa thích : con dao
Bowie, lưỡi nặng, dài 35 phân mà James Bowie đã làm cho nổi tiếng trước
khi tự sát ở Alamo.
Ziegler đã ghi vào danh mục những kỹ thuật Thưởng và quân biệt kích sử
dụng, thấy có 12 cách. Anh đặt gọi đó là “những phương pháp cứng rắn”,
một từ ngữ dùng vào tra tấn “
1 – Buộc xoắn bằng sợi dây thép gai;
2 – Lóc từng mảng da lưng;
3 – Nghiền nát bằng xe cộ hoặc một con trâu;
4 – Dúi đầu xuống bùn trong một phút rưỡi;
5 – Kéo tai thật căng;
6 – Chạy điện bằng máy điện thoại ( Hai dây máy điện thoại chạy pin nối
với dương vật đàn ông hoặc âm hộ và vú của đàn bà. Quay máy có thể thay
cho chạy dòng điện theo ý muốn);
7 – Bắt ngồi trên một cái mai ( Lưỡi dụng cụ này xếp được, do quân đội
Mỹ cung cấp để đào hố cá nhân được chôn chặt xuống đất. Người tù trần
truồng ngồi trên đầu cán bị kẻ tra hỏi dùng hết sức nhấn người xuống);
8 – Găm dao vào lưng ( Thưởng trói quặt tay người tù ra sau buộc con
dao Bowie ở cổ tay mũi hướng về lưng. Nạn nhân buộc tựa vào một cây to.
Thưởng đặt tay vào ngực người tù hỏi vừa nhấn mạnh tay);
9 – Dùng nước làm ngạt thở ( Bắt buộc người tù uống nước cho đến khi dạ
dày trương lên đau đớn. Hoặc dùng giẻ ướt bịt mũi và đổ nước vào họng);
10 – Đánh dữ dội vào cẳng chân’
11 – Giữ đầu chúi xuống đất, tì gối ép mạnh lên lưng và bẻ khớp vai;
12 – Đánh vào bụng cho đến khi người tù nôn ra và bất tỉnh.
Ziegler làm dấu hoa thị ở số 11, nó phù hợp với hai bức ảnh anh chụp
được và dán bằng băng dính trên trang đối diện trong nhật ký của anh.
Người ta thấy một lính biệt kích bẻ sai khớp vai một tù nhân và đánh
vào dương vật trong lúc người này đang ở trên đất. Ba người bị bắt
khác, bị trói tay, do những biệt kích khác canh giữ, đang chờ đến lượt
mình. Họ can đảm lạ lùng trước cảnh những người bạn bị tra tấn. Họ quay
nhìn rất kiên cường như tập hợp lòng dũng cảm chịu đựng thử thách khi
bọn lính hành hạ họ. Mỗi lần Ziegler cố gắng can ngăn Thưởng và lính
biệt kích, thì chúng sẽ dấu anh. Nhưng cảm giác bất lực và lo lắng càng
mạnh hơn khi những người tình nghi bị bắt ngay tại làng họ. Vì đàn bà,
trẻ con bám lấy họ, cầu khẩn biệt kích đừng bắt đi cho đến lúc chúng
đấm đá đuổi họ ra xa. Và nếu sự tra tấn , giết hại tiến hành trước mặt
các gia đình như thường xảy ra, tiếng kêu van, rên khóc của đàn bà, trẻ
con chứng kiến càng làm nao lòng Ziegler hơn là thấy những ngược đãi.
Zieger kể với Vann những điều ấy. Nhưng không chỉ riêng gì lính biệt
kích. Vann đã nghe những câu chuyện tương tự từ những cố vấn khác của
sư đoàn và những đại úy, thiểu tá làm việc với quân bảo an và cảnh sát.
Anh bối rối khi được biết những tù nhân bị bắt được công bố biến mất
trước khi được dẫn lên các sĩ quan thông tin của sư đoàn, Drummond và
Bình. Vốn có xu hướng nghi ngờ những gì chính mình không nhìn thấy, anh
tự nhủ không biết những câu chuyện ghê gớm ấy có phải do những chàng
trai trẻ mới thấy chiến tranh lần đầu thổi phồng lên không. Một đêm
tháng Bảy anh cùng Ziegler đi theo đại đội của Thưởng phục kích ở huyện
Cai Lậy cách Mỹ Tho 25 cây số về phía tây. Có nhiều may mắn chiến thắng
vì đây là vùng của một pháo đài du kích mà đa số nông dân có cảm tình
với cộng sản từ cuộc chiến tranh chống Pháp.
Mờ sáng, 7 Việt cộng nghĩ là an toàn, đi qua ruộng ngay trước mặt đại
đội. Thưởng chờ họ đến cách dưới một trăm mét mới ra lệnh bắn rồi bao
vây, bắt sống. Họ chỉ bị thương nhẹ. Thưởng bắt tù binh xếp thành hàng,
rút dao Bowie ra và bắt đầu trò chơi ưa thích. Anh ta đi lại trước mặt
những người bị bắt, bảo nhẹ nhàng phải nói thật và sẽ không tha thứ nếu
có người nói dối. Anh ta vung lưỡi dao lên không rồi đột ngột dang cánh
tay, nắm tóc một nông dân trẻ kéo đầu ra sau cắt ngay cổ họng. Anh ta
lại đi tới, lui vừa nhẹ nhàng nói muốn biết rõ sự thật trong lúc nạn
nhân rúm người trên mặt đất tay ôm cổ co dật. Những tù binh khác bắt
đầu run rẩy như Thưởng muốn. Vann không bao giờ nghĩ anh ta sát hại tù
binh trước mắt mình. Anh nghĩ anh ta chỉ dọa họ sợ cho đến lúc anh ta
cắt cổ nạn nhân đầu tiên.
- Bảo anh ta ngưng trò thối ấy đi ! Vann kinh ngạc thét lên với Ziegler thay vì với Thưởng.
- Đấy là cách hỏi của anh ta, Ziegler rùng mình trả lời trong lúc Thưởng cắt cổ người thứ hai.
- Nhân danh Chúa ! Vann kêu, lần này nhảy tới chỗ Thưởng. Tôi bảo ngưng trò thối ấy !
Thưởng cắt nhanh cổ người thứ ba để chứng tỏ tiếng kêu của Vann không
làm anh ta nao núng, múa dao chỉ những người sống sót bảo thẳng vào mặt
Vann :
- Ông muốn giữ chúng à ? Cứ đưa chúng đi đi !
Anh ta không hiểu lời chửi rủa của Vann, lau máu ở lưỡi dao vào quần, cho dao vào bao và bỏ đi.
Một trong bốn người sống sót bị thương ở chân. Máy bay lên thẳng Vann
gọi đến để mang tù binh đi chỉ lượn trên đồng ruộng ngập nước mà không
đỗ xuống. Thời kỳ ấy do thiếu phụ tùng thay thế, phi công sợ hỏng máy
nên không dám cho bánh xe dính bùn. Vann ôm người bị thương trên tay bỏ
lên máy bay. Phi công lúc ấy lùi lại làm hai người lăn xuống nước. Tuy
chân bị thương, anh Việt cộng ôm lấy Vann đẩy lên và leo lên sau.
Ziegler và ba người kia lên theo họ.
Sau chuyến đi ấy, Vann tin rằng những chuyện khác cũng không phải do
người ta nói quá lên và việc tra tấn, giết người là những việc thường
ngày. Là sĩ quan Mỹ, anh ngần ngại trong việc phê phán đồng minh. Đến
cuộc họp cố vấn tiếp đó anh đề nghị không bao giờ để cho những việc bẩn
thỉu ấy tung ra ngoài nhưng mỗi lần xảy ra cần cho anh biết và cố gắng
ngăn cản họ. Anh trao đổi những kết luận của mình với Cao và phân tích để ông ta có
những biện pháp kỷ luật, tỏ ra với sĩ quan, binh lính là ông lên án
những hành động ấy.
Cao lắng nghe Vann, nhận thấy cần làm cái gì đó nhưng không thi hành kỷ
luật Thưởng hoặc một người nào khác và không có chỉ thị gì mới về việc
đối xử đúng đắn với tù binh. Kết quả duy nhất Vann nhận thấy là Cao cho
các sĩ quan biết ông ta không muốn người Mỹ tham dự vào những hành động
đáng tiếc. Một số đơn vị có thói quen làm những việc tàn ác khi nghĩ
rằng các cố vấn không thấy. Nhưng phần đông, đặc biệt Thưởng và người
của anh ta vẫn tiếp tục như cũ.
Vann có báo cáo việc này với Porter và Harkins hy vọng Harkins can
thiệp với Chính phủ Sài Gòn. Anh đã dự kiến không trình bày kỹ với
Taylor vì có thể kết quả sẽ ngược lại : một viên tướng đi thanh tra
không thích những chuyện tra tấn và giết người. Bao giờ ông ấy cũng sợ
bê bối với báo chí. Vann thấy nên tập trung vào một nỗi kinh hoàng khác
làm anh thương tâm hơn vì đụng chạm đến nhiều người : việc máy bay ném
bom và pháo bắn mù quáng vào các làng xóm, giết và làm bị thương nhiều
người dân thường, phá hủy nhà cửa, gia súc của họ, lực lượng Sài Gòn sẽ
ngày càng mất cảm tình của dân chúng. Vann có một lý do đặc biệt để nêu
vấn đề với Taylor, vì Harkins và những sĩ quan cao cấp của không lực
đều liên lụy trong vấn đề này.
Porter đã báo động với Vann về cuộc tàn sát dân thường này trong tháng
Ba. Bản thân ông, tháng Giêng đến Việt Nam đã trực tiếp thấy những cái
chết vô ích. Ông đã tham dự một cuộc đột kích bằng trực thăng vào một
xóm nhà ở Đồng Tháp Mười. Người ta bảo với ông đây là một “làng Việt
cộng”. Trước khi các trực thăng đỗ xuống, máy bay ném bom đã tấn công
để uy hiếp tinh thần Việt cộng và ngăn cản sự chống cự. Chiến thuật
“dội bom trước” đã cũ và được sử dụng lại vào cuối chiến tranh Triều
Tiên.
Khi Porter nhảy từ trực thăng xuống cùng những toán tấn công ông không
thấy một Việt cộng nào mà chỉ những xác ông già và đàn bà giữa những đổ
nát bị bom napalm thiêu cháy. Ông nghe tiếng kêu giữa cột kèo nhà gãy
đổ đang cháy : một đứa bé nằm trong bùn gào khóc đòi mẹ. Porter không
thấy được người mẹ, chắc bà đã chết hoặc bị vùi lấp đâu đó và đứa bé
được đưa đến trại trẻ mồ côi. Không có một Việt cộng nào trong vùng,
không một hố cá nhân hoặc dấu hiệu gì chứng tỏ họ vừa ở đấy. Xóm này
chắc chắn dưới sự kiểm soát của những người cộng sản cũng như toàn
vùng; mặt khác không thấy có một thanh niên nào. Nhưng rõ ràng không
một Việt công nào ở trong xóm lúc máy bay ném bom hoặc họ đủ kinh
nghiệm để bỏ trốn an toàn khi thấy máy bay thám thính tới. Bom đạn chỉ
giết hại đúng những người mà Porter nghĩ đến Việt Nam là để bảo vệ họ
chống cộng sản.
Vann chia sẻ lý tưởng của Porter. Một quân nhân trong danh dự và ý thức
về nhiệm vụ không giết hại hoặc làm bị thương những người dân thường.
Qua những đợt khảo sát trong khu vực sư đoàn, ngay cả trước khi nhận
quyền chỉ huy anh nhận thấy Porter không nói quá. Trong năm đầu ở Việt
Nam,, Vann đã ít nhất 15 lần chứng kiến những người già, đàn bà và trẻ
con bị các đợt ném bom giết hại. Mỗi lần như vậy những cái chết thật vô
ích.
Đại úy Bình, đồng sự với Drummond, nhớ lại một sự kiện xảy ra ở tỉnh
Biên Hòa phía nam Mỹ Tho. Sau một đợt máy bay tấn công, một số nông dân
bị chết và một người đàn bà bị thương nặng. Vann gọi ngay trực thăng
đưa bà đến bệnh viện. Bình thấy anh đỡ bà trên tay đưa tới máy bay, từ
từ nâng bà lên cửa để hai người trong đội bay đặt bà vào cáng. Khi phi
công nổ máy bay lên, Vann quay lại, Bình nhận thấy áo sơ mi và quần anh
đầy máu của người bị thương. Bình nghĩ “Đấy là một người Mỹ thực sự
quan tâm đến người khác. Không một sĩ quan Sài Gòn nào làm điều ấy”.
Anh tiến đến xin lỗi Vann nhưng họ chỉ nhìn vào mắt nhau vì Bình quá
cảm động không nói được lời nào.
Những người chết hoặc tàn tật ấy vì ý muốn hoặc vì sức mạnh, làm Vann
điên giận : không những việc ấy trái ngược với lý tưởng, nó còn là một
cách tệ hại dẫn dắt cuộc chiến tranh này. Cuộc chiến tranh chống du
kích đòi hỏi phải làm chủ chặt chẽ phi pháo. Anh tự nhủ không có bất cứ
một người Mỹ nào có thể hình dung những nông dân Việt Nam mất đi người
thân trong gia đình, bạn bè, nhà cửa lại không nổi giận như nông dân
Mỹ, trong những trường hợp tương tự. Những người Việt Nam này có một
giải pháp : trung thành với một chính phủ và quân đội khác để trả thù.
Vann khó tin được sự tách biệt hoàn toàn khi tự do thả lỏng cho máy bay
ném bom và pháo binh. Chỉ một phát súng bắn tỉa đủ làm cả một tiểu đoàn
dừng lại và đại úy chỉ huy đòi hỏi máy bay tấn công hoặc pháo bắn chặn
vào làng xóm có người bắn tỉa đó. Vann lấy việc đó giải thích cho viên
đại úy và Cao. Thật là kỳ cục để một phát súng bắn lẻ chặn được cả một
tiểu đoàn và thực sự là tội ác khi qua đó triệt hạ cả một làng. Tại sao
không co một tiểu đội đi vòng bắt người bắn, làm cho anh ta sợ hoặc
giết đi trong khi cả đơn vị cứ tiến lên ? Dân chúng cần đội quân bảo vệ
chứ không phải để tiêu diệt họ.
Các tỉnh trưởng và quận trưởng bố trí móc-chi-ê và súng cối 105 theo
cách có thể quay tròn 360 độ và bắn được mọi hướng. Trong một đợt hành
quân, Vann ở lại chậm trong lều chỉ huy để cập nhật những sự kiện trong
ngày. Anh chỉ một mình với sĩ quan trực và mấy người lính. Một tiếng
nói vang lên trong máy bộ đàm. Sĩ quan trực cầm máy, trao đổi ngắn, đến
chỗ bản đồ xác định cái gì đó rồi quay lại máy trả lời.
- Có gì xảy ra thế ? Vann hỏi.
- Quận trưởng hỏi chúng ta có quân lính trong xóm này không. Anh kia
chỉ một điểm ở bản đồ trả lời. Một nhân viên của ông ta bảo có Việt
cộng ở đấy và ông muốn bắn pháo vào.
- Anh trả lời ông ta thế nào ?
- Tôi bảo chúng ta không còn ai ở đấy.
- Thế ông ta không kể đến những dân trong xóm đó sao ?
Người sĩ quan nhún vai. Cách đấy mấy cây số, mócchiê bắt đầu dội vào trong đêm.
Vann phát hiện ra đấy là cách làm thông thường trong toàn khu vực Sư
đoàn 7. Các tỉnh trưởng, quận trưởng có quyền nã pháo vào các hướng bất
kể ngày đêm. Thậm chí họ không cần đến báo cáo mơ hồ của một nhân viên
mật tố giác hôm trước hoặc hôm kia có một số Việt cộng ở một xóm bên
cạnh. Vả lại Vann nhận xét, những nhân viên mật ấy tỉnh trưởng tuyển
dụng theo ngân sách riêng, trả tiền theo số báo cáo, không bao giờ báo
để bom đạn dội xuống những làng có gia đình họ sống. Ngoài ra các sĩ
quan Sài Gòn vận dụng theo cách riêng của mình chiến thuật tàn sát và
câm đoán. Tùy theo trạng thái tinh thần của họ, các tỉnh trưởng hoặc
các chỉ huy quân đội Nam Việt Nam chọn một địa điểm trên bản đồ, chỗ
lội qua con ngòi hoặc con sông, một ngã tư đường, một rặng dừa hoặc bất
cứ chỗ nào họ cho rằng Việt cộng lúc đó có ở đấy. Và họ ném bom, bắn
pháo vào những mục tiêu ấy. Không một quan sát viên nào chỉnh, sửa
đường bắn. Pháo binh tính hướng và tầm bắn trên bản đồ. Nhưng rất khó
bắn trúng mục tiêu nếu chỉ dựa vào bản đồ, hơn nữa những tài liệu cũ
của Pháp họ sử dụng nói chung đã sai lạc; những xóm làng hoặc mục tiêu
họ chọn không còn trên bản đồ nữa. Cách bắn hoàn toàn không hợp lý hình
như không làm các sĩ quan Sài Gòn bận tâm, vì đã không có biện pháp nào
khác sau khi Vann chỉ trích những sai lầm ấy. Trừ một số người như Bình, không ai có vẻ hối hận khi đạn bom đánh vào
những người dân chứ không phải Việt cộng như thường vẫn xảy ra. Dù sao
Vann cũng thuyết phục được Cao không dội bom trước khi tấn công bằng
máy bay lên thẳng : vừa làm hỏng tác động bất ngờ vừa vô ích vì Việt
cộng sẽ bị chấn thương vì máy bay đến bất ngờ. Ngoài điều đó, anh có
lập luận, trách cứ, kêu van mấy cũng không hiệu quả. Cao và các sĩ quan
khác trả lời với Vann những nạn nhân là người xấu, là thân nhân Việt
cộng. Các chỉ huy tiểu đoàn bị Vann chửi rủa vì đã triệt hạ một làng và
dân chúng, dẫn anh đến xem một cây to có găm cò hiệu Việt cộng hoặc một
khẩu hiệu tuyên truyền viết trên tường một ngôi nhà. John Vann đến Việt
Nam để chiến đấu với những chiến binh khác chứ không phải với bố, mẹ ,
vợ con họ. Việc những người đó là bà con của những người nổi dậy – và
chắc chắn có cảm tình và giúp đỡ họ - không vì thế mà mất đi danh nghĩa
những người dân thường. Đáng lẽ Chính phủ Sài Gòn phải cố gắng tranh
thủ họ bằng cách đối xử công bằng để rồi họ thuyết phục con trai hoặc
chồng họ rời bỏ hàng ngũ cộng sản.
Vann kết luận Cao và các sĩ quan Sài Gòn muốn giết những người ấy, phá
nhà, giết gia súc, không phải một cách có hệ thống mà thường để làm họ
sợ. Lý thuyết bình định của họ nhằm khủng bố nông dân để họ không giúp
quân nổi dậy. Cũng vì thế mà Cao và các nhà chỉ đạo dân sự không làm gì
để ngăn chặn những hành động tra tấn và bắn giết. Họ cho như vậy là có
ích. Thái độ của họ chứng tỏ “Phải cho những kẻ ấy một bài học, chỉ cho
họ thấy chúng ta mạnh và cứng rắn đến mức nào”. Câu trả lời Vann nhận
được của Cao khi anh chỉ trích những cuộc dội bom đạn mù quáng là phi
pháo nói lên sức mạnh của chính phủ và nó buộc dân chúng phải kính
trọng.
Khi Porter và Vann đề nghị Harkins phản đối việc tàn sát đó họ thấy ông
ta cũng có tầm nhìn hạn chế như những người Việt. Thay vì dùng ảnh
hưởng của mình để ngăn chặn những cuộc dội bom, ông ta vẫn tạo điều
kiện cho họ làm. Porter và Vann sững sờ vì thất bại của mình.
Viên tướng tư lệnh đến vùng đồng bằng để có những cuộc họp ngắn chỉ thị
cho tổng hành dinh hoặc các thủ phủ. Ông đi trên một chiếc máy bay hai
động cơ dành cho các sĩ quan cao cấp. Thân máy bay sơn trắng để khác
biệt với màu xanh của Không quân. Buồng chính bố trí 8 chỗ ngồi với bàn
xếp để làm việc hoặc ăn uống, phía sau là một quầy rượu nhỏ. Harkins
cẩn thận giữ gìn cốt cách lịch sự nhà binh. Porter hầu như luôn luôn là
người đi cùng nhân danh sĩ quan Mỹ cao cấp nhất trong vùng. Thường
Harkins cũng mang theo một sĩ quan Sài Gòn, khi ông đến vùng Sư đoàn 7.
Vann và Cao được đề nghị cùng đi.
Bay trên một vùng do Việt cộng kiểm soát, Vann và Porter lưu ý Harkins
về những dấu hiệu có mặt họ : đường hầm đào xuyên đồng ruộng để ngăn
mương ngòi, sự đổ nát của một đồn tiền tiêu. Khi họ trải bản đồ, Cao và
sĩ quan Sài Gòn chỉ vị trí một “làng Việt cộng” hoặc một “xưởng vũ khí”
và nói thêm “Phải dội bom vào đấy”.
Biết Porter và Vann phản ứng, Harkins bèn hỏi ở những nơi ấy có dân thường không.
- Không, không, chúng đều là Việt cộng, Cao trả lời.
- Chúng đã hoàn toàn bị cộng sản mua chuộc, sĩ quan Sài Gòn nói thêm.
Sau đó khi chỉ có họ với nhau, Vann và Porter giải thích cho Harkins
làng cho là “làng Việt cộng” cũng giống như tất cả những làng của nông
dân vùng đồng bằng. Những người Việt cộng đi qua đó để nghỉ đêm và có
thể còn lại vài người làm quận trưởng lo ngại. Nhưng nếu dội bom nhiều
cơ may họ sẽ thoát khỏi. Họ có những hầm kín dưới đất, sẽ nhảy vào khi
máy bay xuất hiện. Nhưng hàng trăm người dân khác thiếu chuẩn bị hơn,
hoảng sợ và sẽ bị sát hại. Việt cộng hướng dẫn nông dân đào hầm dưới
nền nhà phủ rơm dùng làm giường. Như vậy họ có một chỗ ở chắc chắn tại
chỗ nếu nhà cửa không bị dội bom napalm hoặc lân tinh đốt cháy.
Về “xưởng vũ khí” Cao chỉ trên bản đồ, Vann và Porter giải thích, qua
những thông tin nhận được, trong làng ấy Việt cộng có chế tạo súng với
những ống mạ kẽm, nhưng “xưởng” là một túp lều giống như những lều
khác. Hoàn toàn may rủi nếu túp lều ấy trúng bom trong đợt dội bom vào
làng.
Harkins khó chấp nhận được những điều họ nói. Ông nhìn họ và không tin
khi họ khẳng định Cao và sĩ quan Sài Gòn nói dối. Ông ta có cảm tưởng
những từ “làng Việt cộng” và “xưởng vũ khí” gợi lên cho ông những hình
ảnh trong Thế chiến thứ hai với một trại lính Đức lớn và một xưởng vũ
khí khổng lồ. Vì Harkins không bao giờ đi với bộ binh, ông ta không thể
nhận thấy những hình ảnh ấy sai khác đến mức nào. Vann và Porter cũng
không thuyết phục ông được, theo lối nói của Vann những cuộc dội bom
“giết chết nhiều, rất nhiều dân thường hơn Việt cộng và kết quả là củng
cố hàng ngũ những người nổi dậy”. Harkins bỏ ngoài tai những lời phản
đối của hai người và những ngôi làng bị dội bom. Ông ta cũng không kìm
hãm đạn pháo, điều mà ông dễ dàng làm khi trang bị vũ khí cho quân lính
Sài Gòn.
Các cố vấn Mỹ của hai sư đoàn khác của Quân đoàn cũng đánh giá như
Porter và Vann, những cuộc dội bom rất tai hại về mặt chính trị và vô
ích về quân sự. Một trong bọn họ là một nhân vật có thế lực, nói chung
quan điểm có trọng lượng đối với cấp trên : trung tá Jonathan Fred
Ladd, cố vấn Sư đoàn 21 bộ binh quân đội Nam Việt Nam ở phía nam vùng
đồng bằng. Bố ông là thiếu tướng, trước kia là bạn và là cấp trên của
Eisenhower và Westmoreland. Bản thân Fred Ladd đã là trưởng ban tham
mưu của Mac Arthur thời gian đầu chiến tranh Triều Tiên và được tặng
thưởng huân chương.
Harkins coi trọng những lập luận của Ladd trong những vấn đề khác nhưng
không nghe ý kiến về những nạn nhân dân thường của những trận bom.
Những cuộc bàn cãi bao giờ cũng kết thúc cùng một cách. Khi Cao hoặc
một sĩ quan Sài Gòn nêu lên vấn đề “một xưởng vũ khí Việt cộng” hoặc
các mục tiêu tương tự, Harkins chứng tỏ sự đồng ý, nói với một giọng đe
dọa hơn là hỏi “ Thế thì các ông chờ gì mà không xóa chúng trên bản đồ
?”. Ông cho Porter và Vann hiểu ông đã chán ngấy những than phiền về
dân thường, bị thiệt hại nhưng vẫn lịch sự lắng nghe họ. Đấy không phải trường hợp của thiếu tướng Rollen “Buck” Anthis, người
phi công hoạt bát chỉ huy toàn bộ Không lực Hoa Kỳ. Tên của Porter bị
bêu xấu ở tổng hành dinh Sư đoàn 2 Tân Sơn Nhất. Không lực Hoa Kỳ có
ảnh hưởng nhiều hơn những quân lực khác đối với đồng sự Sài Gòn để xây
dựng một lực lượng không quân Mỹ - Việt. Trung tâm hành động Tân Sơn
Nhất kiểm soát tất cả các phái bộ Nam Việt Nam thực tế nằm trong tay
những sĩ quan Mỹ. Tướng Anthis lúc đầu cho rằng những than phiền của
Porter là thổi phồng và chỉ có một số tình huống riêng lẻ. Tuy ở cấp
tá, Porter không sợ trực tiếp với viên tướng. Ông mời Anthis đến thực
địa xem xác đàn bà, trẻ con bị phi công giết hại. Viên tướng lần đầu
phản ứng giận dữ và có thái độ ngày càng cừu địch. Họ xoay quanh những
lập luận ấy. Anthis công nhận có thể có một số người vô tội bị chết
nhưng đó là thảm kịch không thể tránh khỏi của chiến tranh và dù sao
mọi người đều biết chiến tranh là điều đáng phỉ nhổ ! Porter đáp lại
không phải chỉ một số dân thường mà một số lớn hơn nhiều và đây không
phải là một cuộc chiến bình thường. Anthis trả lời chính Porter phóng
đại ; chỉ huy không quân Việt Nam và những sĩ quan quân đội nói với ông
người chết phần lớn là quân nổi dậy và những cuộc dội bom đã gây thiệt
hại nhiều cho cộng sản. Porter lại nói người ta đã lừa dối thiếu tướng,
cố gắng thuyêt phục ông này với báo cáo của Vann giải thích những cuộc
dội bom có nguy cơ ném “những người ấy vào tay Việt cộng”. Anthis không
cho rằng việc ném bom gây lợi thế cho cộng sản. Porter tiếp tục bảo nếu
Anthis không sợ sự thật, tại sao không đi xác nhận thực địa các nạn
nhân bị máy bay giết chết ? Anthis bèn lùi lại với một lập luận pháp lý
: bản thân ông cũng như các sĩ quan của ông không ai có sáng kiến ném
bom. Những cuộc tấn công bằng máy bay đều do yêu cầu chính thức của
chính quyền địa phương, những sĩ quan chịu trách nhiệm về quân lực Nam
Việt Nam, những tỉnh trưởng và quận trưởng.
- Nhưng nếu ông nghĩ nạn nhân sẽ là đàn bà, trẻ con và người già, ông
sẽ không chấp nhận những đề nghị ấy, đúng không ? Porter cố gặng.
- Không. Nhưng không phải chúng tôi đòi hỏi những cuộc tấn công đó. Chính những người Việt Nam. Anthis trả lời.
Ông ta dựa vào cách đó và cứng cỏi đến mức nổi giận để kết thúc cuộc
tranh cãi. Không bao giờ ông nhận lời Porter đi thực địa nữa.
Porter chỉ là đại tá, cố vấn một Quân đoàn, không đương đầu nổi với một
viên tướng không quân. Anh không như Vann. May cho anh, anh không có
dịp đối đầu với Anthis vì anh sẽ không ở lâu trên cương vị cố vấn Sư
đoàn 7. Anh hiểu sâu vấn đề. Mỗi một lực lượng đều muốn đóng vai trò
lớn nhất có thể được ỏ Việt Nam từ khi tổng thống Kennedy đưa Hoa Kỳ
can thiệp vào chiến tranh. Vị trí của Không lực sẽ tăng tỉ lệ thuận với
việc dội bom. Nếu người ta hạn chế sức mạnh của nó như phải làm, nó sẽ
không làm được việc gì đáng kể nữa trong cuộc chiến này. Lợi ích riêng
của Anthis cũng như của lực lượng ông là phải nghĩ những cuộc dội bom
tạo thuận lợi cho mọi cố gắng chiến tranh, cho nên ông ta tin. Giáp mặt
với xác chết đàn bà và trẻ con sẽ là sự ức chế nhiệt tình của mình.
Vann không qui trách nhiệm cho Không lực. Người sai lầm là tướng
Harkins đã không hiểu bản chất của cuộc chiến tranh và không kìm hãm xu
hướng tự nhiên của tội ác.
Việc ném bom mỗi tháng càng ác liệt dần khi Anthis và ban tham mưu của
ông tăng cường sức mạnh không quân Mỹ - Việt. Cuối năm 1961, Không quân
Sài Gòn có 70 máy bay. Đến tháng Chín năm 1962 số lượng ấy tăng lên gấp
đôi, phi công có thể là Mỹ hoặc Việt. Lực lượng Không lực Hoa Kỳ có 70
máy bay ở tiểu hạm đội Biên Hòa và những đơn vị khác. Số lượng phi công
Mỹ ở Việt Nam cũng tăng với nhịp điệu ấy : tháng Mười hai năm 1961 có
400, tháng Chín 1962 lên 2.000, bằng một phần ba quân số Sài Gòn,
khoảng 6.500. Mánh lới sơn máy bay B-52 và T – 28 theo màu sơn Không
lực Việt Nam che đậy sự phát triển lực lượng không quân Mỹ. Các nhà báo
không thể nhận thấy vì bị cấm vào khu vực sân bay Biên Hòa với lý do
đây là một “căn cứ Việt Nam” và Chính phủ Sài Gòn không cho phép. Vann
theo rõi sự tăng trưởng ấy qua số lượng tăng nhanh các “chuyến bay” và
khối lượng tăng liên tục về bom, đạn rốc két, napalm mà máy bay trút
xuống. Các chuyến bay thực tế tăng gấp bốn lần, từ 251 trong tháng
Giêng 1962 lên 955 vào tháng Tám và không một dấu hiệu nào chứng tỏ
đường cong ấy đổi hướng.
Theo thủ tục bàn giấy cổ điển, Anthis và ban tham mưu sáng tạo ra những
mục tiêu để giữ vững sự phát triển của các phi đoàn. Do những dịp tấn
công các đơn vị Việt cộng được xác định hạn chế vì tính chất cuộc chiến
tranh, một loạt mở rộng “những mục tiêu xây dựng trước” được tưởng
tượng ra : “ những nơi tập trung Việt cộng, tổng hành dinh, các kho vũ
khí, các xưởng sản xuất vũ khí” thực ra là những nơi Cao gọi là “làng
Việt cộng”. Trong báo cáo từng cuộc hành quân, tất cả những gì được
dựng lên đều được gọi là “khối nhà” để tránh phân biệt giữa những lều
lán Việt cộng, nhà ở nông dân hoặc chuồng lợn của họ. Đồng thời danh từ
ấy thỏa mãn cánh bàn giấy muốn chứng tỏ những cuộc dội bom có kết quả
rõ qua số lượng “các khối nhà” bị cháy hoặc phá hủy. Dĩ nhiên những báo
cáo chính thức đều ghi tất cả là những “khối nhà Việt cộng”. Trong
tháng Chín máy bay ném bom làm nát vụn bình quân mỗi tuần lễ một trăm,
theo Vann có thể quan sát trong khu vực mình, phần lớn là những nhà
tranh của nông dân.
Luật lệ quy định ở nơi nào và lúc nào có một cuộc tấn công bằng máy bay
cho phép kẻ quan sát trên máy bay L-19 quyết định ai chạy trốn đều là
Việt cộng. Cảm giác ghê rợn do máy bay rú trên đầu kích động phần lớn
nông dân dù đàn ông, đàn bà và mọi lứa tuổi phải bỏ chạy. Kẻ quan sát
gọi điện cho máy bay “Đã trông thấy Việt cộng” rồi chỉ mục tiêu. Sau
khi nã súng làm tan tác những người chạy trốn, quan sát viên và phi
công đếm số người chết hoặc xem như đã chết và viết báo cáo. Số lượng
những “người bị máy bay bắn chết” tự khắc được tính là Việt cộng cộng
thêm vào số người chết mà ban tham mưu của Harkins đánh giá, làm cơ sở
cho kết luận tiến triển thuận lợi của chiến tranh. Vann nghĩ ra một lời
khinh bỉ gọi những kẻ quan sát “vua của những kẻ giết người”.
Anh cho rằng nghiên cứu Việt cộng cũng có lợi. Những người cộng sản
Việt Nam anh đã nghĩ hình như độc ác, không có tình thương. Từ đầu
người ta đã nói với anh họ tra tấn chém giết tù binh cũng độc đoán như
quân đội Sài Gòn. Anh phát hiện thấy nó không đúng sự thật, và dù họ
khá đạo đức giả để thường vi phạm lý tưởng của họ, cấm tra tấn hành hạ,
thì họ cũng làm có chọn lọc. Triết lý của họ đối với tù binh cũng đơn
giản. Họ có thể hạ sát những người bị thương trầm trọng vì không cứu
chữa được. Những người què cụt hoặc bị thương nhẹ được chia làm hai
nhóm sau khi thẩm vấn : những người Việt cộng nghĩ có thể quy thuận
hoặc cải hối, đứng trung lập và những người họ cảm thấy vẫn luôn thù
địch. Những người sau này, nói chung là sĩ quan, hạ sĩ quan, thường bị
sát hại , một số có tra tấn. Những người khác đều được giáo dục lại
trong những trại tập trung bí mật, ở các vùng xa. Chế độ giáo dục là
làm việc, học sách, học chính trị và ăn uống tổi thiểu. Việc tập trung
như thế trung bình kéo dài ba đến sáu tháng rồi tù binh được trả tự do.
Những người Việt cộng khủng bố với sự phân biệt tương đối. Họ có thể
sát hại mù quáng : ném lựu đạn vào đám người xem phim quảng cáo mà cơ
quan thông tin Mỹ cung cấp cho chính quyền Sài Gòn, giết hoặc làm bị
thương những người qua lại khi tấn công các trụ sở, vợ con lính cảnh
sát khi đánh chiếm các đồn tiền tiêu. Nhưng điển hình là họ ám sát có
chọn lọc những đại diện chính quyền ở các làng và những người cố bám
theo chế độ Sài Gòn. Họ cố giải thích cho nhân dân lý do việc hành
quyết. Họ găm vào xác nạn nhân một “thông báo tử hình” kèm theo bảng
ghi những “tội ác” của người bị ám sát, nêu cụ thể “đã chồng chất nợ
máu đối với nhân dân”. Bản án được Việt cộng xét xử dưới danh nghĩa
“Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy”. Những người cộng sản Việt Nam tìm cách
thuyết phục dân chúng, những đại diện thực sự của pháp luật và trật tự
là chính họ chứ không phải chính quyền Sài Gòn. Những bản án tử hình
nhằm thực thi pháp luật chứ không phải những vụ ám sát. Việc áp dụng
lối khủng bố ấy có hai mục tiêu, làm lung lạc tinh thần của những người
chống đối họ trong chính quyền Sài Gòn, vừa chỉ rõ những người cộng sản
không làm hại gì những người không chống đối họ và chỉ dùng đến việc xử
tử khi đã thuyết phục không hiệu quả. Nguyên lý ấy vừa thắt chặt họ với
nông dân vừa gây nên cho quần chúng có cảm giác yên ổn khi có Việt cộng
bên mình. Khi một đơn vị quân thường trực hoặc điạ phương dừng lại
trong một làng, quân lính cư xử thật tốt, không bao giờ lấy trộm hoặc
hành hạ phụ nữa như quân lính Sài Gòn, họ trả tiền mua thực phẩm và
giúp dân làm ruộng. Những mất mát bắt đầu từ ngày mồng 5 tháng Mười năm 1962, ba tuần lễ
sau khi Taylor trở về Hoa Kỳ, mang ấn tượng về những tiến bộ từ một năm
nay của cuộc chiến. Hôm ấy sư đoàn tổ chức một cuộc hành quân trong
vùng du kích kiểm soát ở ven đồng bằng Tháp Mười phía tây Mỹ Tho , đột
kích tiểu đoàn 514 Việt cộng.
Việc trực thăng đổ quân tiến hành không có trở ngại gì. Một phân đội 40
người thuộc đại đội biệt kích của đại úy Thưởng tiến trên đồng ruộng
ngập nước về hướng một xóm khả nghi. Cuộc hành quân này là một phần của
kế hoạch Ziegler nhằm thăm dò vùng này, gây sợ hãi làm đối phương chạy
lộ liễu. Thưởng chia đại đội thành phân đội để phủ khắp vùng. Mục tiêu
phân đội hướng tới là một xóm điển hình của vùng đồng bằng, sau một con
kênh dẫn nước tưới ruộng. Con đê khá lớn dọc theo con mương bảo vệ làng
xóm tránh lụt được viền một hàng cây to và những bụi cây dày. Khi những
phần tử đi đầu của phân đội biệt kích đến cách đê 30 mét, một loạt súng
nổ vang. Lính biệt kích không thấy được Việt cộng đang bắn vào mình.
Nấp dưới hầm cá nhân đào trong đê dưới hàng cây và được ngụy trang, họ
không bị phát hiện từ đồng ruộng và từ máy bay thám thính bay trên đầu.
Bốn mươi biệt kích phần lớn bị giết hoặc bị thương trong loạt súng đầu.
Việt cộng nhảy ra khỏi hàng cây, ẩn mình sau những bờ ruộng để tiêu
diệt phân đội. Nhờ sự dũng cảm của cố vấn Mỹ trong đại đội, đại úy
James Torrence, một chàng trai lực lưỡng hai mươi chín tuổi, đã tránh
bị tiêu diệt toàn bộ. Anh tập hợp sau một bờ vùng những người sống sót
và bị thương nhưng còn bắn được, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của quân
địch.
Vann đưa máy bay lên thẳng đến viện trợ ngay nhưng những bộ phận khác
của Tiểu đoàn 514 xông tới bắn vào máy bay. Hai chiếc trúng rất nhiều
đạn phải hạ cánh bị gặp nạn. Một trong hai chiếc ấy có Vann. Những loạt
súng tự động bắn hạ hai người lính Mỹ bắn súng máy và giết hoặc làm bị
thương đa số lính Việt Nam trên máy bay. Vann thoát nạn, chỉ bị xây xát
vì mảnh đạn. Anh bắn hết băng đạn vào Việt cộng và kêu vài người lính
sống sót kéo những người bị thương. Trong lúc một Việt cộng cố hạ anh,
bắn thủng thân máy bay, anh phải trở lên đầu máy hãm động cơ mà anh phi
công trẻ vẫn để thế trong lúc hoảng sợ nhảy xuống đất chạy trốn. Sau
này gửi cho Mary Jane mảnh báo đăng ở báo quân đội Viễn Đông, anh ghi
bên cạnh bài viết về máy bay lên thẳng “Ba mươi mốt viên đạn. Anh đã là
trong số người bị hạ lần đầu”. Khi trở về phân đội anh chỉ thấy
Torrence và sáu biệt kích nguyên vẹn : mười bốn người chết và hai mươi
người khác bị thương. Vann đề nghị thưởng Ngôi sao đồng cho Torrence vì
lòng dũng cảm nhưng bị từ chối vì tổng thống Kennedy cấm khen thưởng
trong năm 1962 ở Việt Nam. Dù vậy sau ba năm Vann cũng đề nghị cho anh
này được phần thưởng ấy. Torrence chết chín năm sau đó, ở chức vụ thiếu
tá, khi máy bay lên thẳng của anh bị bắn hạ cũng ở đồng bằng sông Cửu
Long trong lúc anh làm việc cho Vann.
Máy bay ném bom tấn công bằng napalm và rốc két. Nhưng lần này Việt
cộng không hoảng sợ. Họ náu mình dưới hầm cho đến khi có thể trật tự
rút lui, len lỏi qua các bụi cây. Họ mang theo đồng độ chết hoặc bị
thương, sau khi đã cẩn thận nhặt vỏ đạn rỗng bằng đồng để sau này cho
thuốc súng làm đạn mới.
Vann thấy hiệu năng của họ rất đáng lo ngại. Một số chỉ huy Việt cộng
dạy người của họ không để sợ hãi lấn át lý trí, cần xoay sở chiếm lấy
phần thắng. Thời kỳ chiến tranh dễ dàng đã qua. Sư đoàn 7 bắt đầu phải
sử dụng bộ binh. Nhà báo David Halberstam vừa tới Việt Nam, là phóng
viên NEW YORK TIMES, đi cùng một tiểu đoàn khác của sư đoàn, khá gần để
nghe tiếng súng liên thanh và thấy máy bay bổ nhào. Tối hôm đó, trong
cuộc họp Vann giải thích cho anh cách đánh vừa qua chứng tỏ Việt cộng
bây giờ đã biết làm thế nào để hạn chế kỹ thuật công nghệ Mỹ đem lại
cho quân đội Sài Gòn. Những tù binh Việt cộng cho biết các sĩ quan lưu
ý nếu họ bắn đồng loạt vào máy bay lên thẳng, họ sẽ hạ được chúng. Lập
luận ấy có hiệu quả. Trong tương lai, những người lính bình thường ít
sợ hãi hơn. Thái độ ấy cũng làm tăng uy tín của họ đối với nông dân vốn
sợ hãi “những con chim sắt to lớn” như họ gọi.
Tổng cộng trong sư đoàn có 20 người chết và 40 người bị thương. Những
tổn thất ấy không đáng kể so với tổn thất trong tương lai và không quá
nghiêm trọng qua bản tổng kết những trận đánh bộ binh trong bất cứ cuộc
chiến tranh nào. Nhưng vẫn là nghiêm túc so với những con số không đáng
kể của những cuộc hành quân trước đây của sư đoàn, khi rất nhiều Việt
cộng bị giết.
Cao hành động tốt hơn Vann nghĩ. Ông ta xác định tình huống xảy ra
không làm chậm nhịp độ những cuộc hành quân tấn công. Chỉ cần “khôn
ngoan hơn” trong tương lại. Vann nhận ra sự cần thiết phải đề phòng,
đặc biệt trong vùng có cây cối. Kể từ nay mỗi đơn vị phải có người đi
trước thăm dò địa hình. Vann tự nhủ Cao bây giờ phải tiếp tục kinh
nghiệm và ông ta ít nóng nảy hơn lần sau khi họ gặp một hoàn cảnh khó
khăn. Anh nhớ lại sự nghiệp của mình đã không bị ảnh hưởng bởi sự thiệt
hại ấy. Mặt khác phải qua một thời gian trước khi những tiểu đoàn Việt
cộng khác học được cách đánh nhau tốt như 514. Ngoài ra, trận tàn sát
của xe bọc thép ngày 18 tháng Chín, trước đó chỉ hai tuần rưỡi, đánh
một đòn vào tinh thần, làm chậm sự phát triển của Việt cộng.
Ba ngày sau khi đại đội biệt kích bị phục kích, một đại đội lính bảo an
của tỉnh khác đụng đầu với một đơn vị chủ lực Việt cộng và bị chết 18
người. Họ cố gắng chống trả và tính sổ được 18 xác Việt cộng. Cao không
hành động gì : đấy không phải một cuộc hành quân của sư đoàn ông nên
ông không có trách nhiệm. Rồi tai họa xảy đến. Hôm sau Cao mời Vann đến gấp. Ông ta kinh hoàng
cho biết sáng nay vừa được Diệm triệu tập về phủ tổng thống để giải
thích những mất mát trong hai trận đánh. Họ cùng nhay chuẩn bị lời
trình bày mà Cao học thuộc lòng trước khi lên máy bay đi Sài Gòn vào mờ
sáng hôm tiếp đó. Vann cho rằng Cao có thể tự bảo vệ được. Cuộc phục
kích là một bài học nặng nề mà quân lính phải rút kinh nghiệm. Và Diệm
không trách cứ gì được ông ta về trường hợp của quân bảo an.
Sau đó Cao kể lại với Vann ông ta không thể giải thích gì. Ông vào đến
tiền sảnh của văn phòng Diệm và mong được tiếp đầu tiên. Một trợ lý bảo
ông chờ. Những người khác vào gặp tổng thống rồi đi ra. Cao ngồi suốt
ngày trong một góc. Không ai đề nghị ông đi ăn trưa. Cuối buổi chiều
người trợ lý đưa ông vào gặp người ông đã gọi là “hoàng đế của tôi”.
Diệm không ghê tởm tranh cãi khi ông ta thấy mình lợi thế. Ông nổi
tiếng về độc thoại, se dụng thủ thuật này với thuộc hạ có vấn đề và với
các sĩ quan Mỹ có thể đưa ra những câu hỏi rắc rối. Ông nói liền nhiều
giờ, không biết đến ý khách muốn ngắt lời mình , vừa hút liên tiếp loại
thuốc lá nội đại giống như thuốc Gauloises xanh. Bằng cách ấy ông không
thể bị phản bác. Cao chịu đựng cuộc độc thoại nặng nhọc này. Diệm trách
mắng ông ta nghe các cố vấn Mỹ quá nhiều và chuốc lấy nguy hiểm trong
những cuộc hành quân tấn công. Kết quả là bị mất mát quá nặng. Nếu muốn
trở thành tướng, chỉ huy một Quân đoàn như đã manh nha khả năng ấy thì
phải khôn ngoan hơn nhiều. Cao bị trả về không được ăn bữa tối.
Trở về Mỹ Tho, Cao từ bỏ hệ thống mà Vann đã nghiên cứu tỉ mỉ kèm theo
một kế hoạch chi tiết. Ông ta hoàn toàn không quan tâm đến tài năng của
Ziegler, đến những cuộc hội ý mà trước đây ông hoan nghênh nữa. Ông tự
mình chuẩn bị tất cả những cuộc hành quân đến từng chi tiết và đến phút
chót Vann mới phát hiện ra. Cao thể hiện sự khôn ngoan đến mức suốt 14
cuộc tấn công sau đó, từ giữa tháng Mười đến tháp Chạp, chỉ có 3 người
lính bị chết và theo báo cáo, trong những tình huống “tình cờ”. Ông ta
sử dụng dịch vụ thông tin vào mục đích Vann và Drummond không bao giờ
ngờ tới : những thông tin giúp ông tấn công vào chỗ chắc chắn không có
Việt cộng. Để tránh mọi rủi ro, ông dự kiến trong kế hoạch tấn công một
lối ra dế khám phá qua đó Việt cộng có thể chạy thoát trong trường hợp
có vài người ngẫu nhiên ở trong vùng này. Faust gọi đó là “lỗ hổng”.
Còn vấn đề thiệt hại của kẻ địch, Cao nhân số lượng người chết do máy
bay oanh tạc nhiều hơn lên so với trước đây.
Cuối cùng Vann hiểu vì sao Cao luôn luôn từ chối đưa những toán quân dự
trữ đi bao vây, tiêu diệt một tiểu đoàn Việt cộng. Cao biết rằng nếu
quân nổi dậy bị vây, họ trở lại tấn công và sẽ xẩy ra cuộc chiến giáp
lá cà. Một tiểu đoàn thiện chiến của những người cộng sản sẽ bị tiêu
diệt hoặc bị cầm tù vì nếu các toán quân Nam Việt Nam thất bại, Cao và
Vann có thể tiếp sức bằng máy bay lên thẳng, điều mà những người cộng
sản không làm được. Nhưng Cao cũng có những thiệt hại và sẽ rắc rối với
Diệm. Ông ta sẽ không bao giờ được thăng cấp tướng và có lẽ sẽ đổ vỡ.
Sau khi máy bay lên thẳng và xe bọc thép làm Việt cộng hoảng sợ và máy
bay bắn được một số người, dấn thân vào nguy hiểm sẽ khôg có lợi nữa.
Bản tổng kết tốt và ông ta chỉ cần có thể để được khen và thăng cấp.
Lệnh cho các toán dự trữ không được động tĩnh ngày 20 tháng Bảy do Cao
đưa ra chứ không phải do chỉ huy trung đoàn. Có một lời giải thích đơn
giản cho thái độ lạ lùng ấy cũng như cho nhiều hành động của phía Việt
Nam mà những người Mỹ ngây thơ tưởng rằng là vì họ ngu ngốc, dốt nát
hoặc vì “tính cách phương Đông”.
Vann đi sâu vào vấn đề và phát hiện Diệm từ lâu đã bí mật ra lệnh miệng
cho Cao và những chỉ huy khác không được lao vào những cuộc tấn công
đưa lại những thiệt hại nghiêm trọng, đặc biệt đối với đội quân thường
trực như trường hợp ngày 5 tháng Mười. Vann chưa hiểu đầy đủ chế độ để
phân tích nguyên nhân. Lý do về căn bản cũng tương đối đơn giản.
Diệm và thân cận xem thiệt hai trong những cuộc hành quân tấn công Việt
cộng là lý do chủ yếu của cuộc đảo chính không thành tháng Mười một năm
1960. Gia đình họ Ngô cho rằng sĩ quan dù của quân đội Nam Việt Nam,
những kẻ xúi giục làm phản cấu kết với các phần tử chính trị đối lập
bất mã bởi những thiệt hại trong chiến đấu. Đối với họ cũng như các nhà
chính trị, gia đình họ Ngô tạo điều kiện cho Việt cộng tiến lên. Họ
cũng não lòng thấy sĩ quan và quân đội của họ bị hy sinh cho những
người như Cao, người mà tổng thống và gia đình bổ nhiệm vào những vị
trí quyền lực. Họ Ngô không bao giờ tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa
của cuộc đảo chính năm 1960 và không chấp nhận một ai dám đương đầu với
mình. Họ không học hỏi gì, tin chắc những gì họ làm là đúng đắn và đạo
đức. Họ không muốn lại có đảo chính và do đó chống đối những cuộc tiến
công mang lại thiệt hại nghiêm trọng.
Tổng thống và gia đình cũng không muốn đưa quân đội Nam Việt Nam ra
chiến đấu vì quân đội là chỗ dựa chính của quyền lực. Người Mỹ cho Quân
lực Cộng hòa có nhiệm vụ bảo vệ miền Nam Việt Nam, còn đối với gia đình
họ Ngô, nhiệm vụ chính của nó là bảo vệ chế độ ; việc tồn tại của chế
độ được ưu tiên cao nhất. Để cho Quân lực Cộng hòa gặp rủi ro trong
chiến tranh là làm Chính phủ lâm nguy. Việc kiểm soát quân đội cho phép
họ đè bẹp những người đối lập không cộng sản. Họ nghĩ dù phần lớn đất
đai miền Nam Việt Nam có vào trong tay những người cộng sản, một đội
quân nguyên vẹn cho phép họ đứng vững khá lâu ở Sài Gòn và một số trung
tâm lớn chờ Washington gửi quân đội Mỹ và Hải quân đến cứu. Họ khẳng
định Hoa Kỳ, sức mạnh lớn nhất trên thế giời không thể để chính phủ
chống cộng sản của họ rơi vào tay những nhà lãnh đạo Hà Nội. John
Stirling, phóng viên tờ Times của Lon Don ở Sài Gòn năm 1962, nhận xét
tế nhị hơn những người Mỹ hiểu rõ thái độ của Diệm và gia đình, thích
lặp đi lặp lại “ Mục đích chính của đất nước này là chống cộng sản”. Họ
Ngô Đình không hề nghĩ thái độ của họ phải trả giá rất đắt bằng máu
người Việt Nam. Họ sẵn sàng chấp nhận mọi thiệt hại trong hành động bảo
vệ mình vì đó là cách duy nhất giữ được hệ thống các đồn tiền tiêu, cơ
sở quyền lực của họ ở nông thôn. Mất mát quan trọng nhất rơi vào những
người lính cảnh sát bảo vệ họ. Nhưng họ Ngô không quan tâm đến cái chết
của những người nông dân ấy. Chế độ được giữ vững và tính mạng của
những người nông dân ấy không đáng kể. Họ có thể được thay thế bằng
những lính đánh thuê khác với khoảng một trăm phrăng mỗi tháng chuyển
thành đồng bạc. Diệm không xem họ ra gì đến mức cấm họ vào sở ở tỉnh,
một loại tập trung mà việc chữa bệnh cho lính cảnh sát thật sơ đẳng. Ở
đấy thiếu thuốc men do nhân viên lấy bán ra ngoài. Chấy rận và hố xí
ngoài trời làm ô nhiễm môi trường. Ngược lại, đối với tổng thống và gia
đình, một đội quân thường trực đảm bảo cho họ đương đầu với mọi hoàn
cảnh.
Vann cố gắng thuyết phục Vao sự cấm đoán của Diệm thật vô lý về mặt
quân sự : những người cộng sản sẽ thắng trong cuộc chiến nếu quân đội
Nam Việt Nam không chịu đương đầu và bổn phận của Cao phải nói lên điều
đó với tổng thống. Vann không biết hết sự khôn khéo của người đối thoại
đã biến thành hợp lý những gì có lợi cho ông ta và anh còn quá tin vào
sự kiêu căng của Cao. Ông ta chuyển hóa sự từ chối chiến đấu bằng một
vỏ bọc thiên tài. Ông gửi một bức thư cho toàn sư đoàn ngày 31 tháng
Mười năm 1962 nhân kỷ niệm lần thứ Bảy ngày thành lập sư đoàn, trong đó
ông so sánh sự chỉ huy của ông ở miền Bắc vùng đồng bằng với sự chỉ huy
của tướng Võ Nguyên Giáp ở Điện Biên Phủ. Theo tuyên bố của Cao, tướng
Giáp là người bị thiệt hại lớn “ Năm 1954 ở Điện Biên Phủ, chiến thuật
của Võ Nguyên Giáp tồi và nhận thức sai đến nỗi hàng nghìn người dân và
binh lính chết một cách vô ích để giành được thắng lợi”. Khi Vann báo cáo với Porter và Harkins về
lệnh bí mật của Diệm. Harkins đến gặp tổng thống để xác định ý kiến.
Diệm đã sẵn sàng trả lời. Ông ta biết lập luận của người Mỹ về tính tấn
công trong chiến đấu. Đấy là triết lý của họ. Diệm thấy cách đặt vấn đề
như vậy là sai. Ông không chấp nhận sự lựa chọn giữa việc đưa quân đội
đến chỗ nguy hiểm và thấy cộng sản thắng trong cuộc chiến. Ông cho rằng
việc dội bom đạn bằng máy bay hoặc pháo binh có hiệu quả hơn chiến đấu
bằng bộ binh. Thực tế đã không một sĩ quan nào theo lý luận của người
Mỹ càng củng cố lòng tin của ông. Dĩ nhiên những người đồng ý với các
cố vấn không dám mạo hiểm nói ra. Ông ta cũng tin tưởng đã bắt đầu
thắng lợi trong cuộc chiến tranh với chiến lược khôn khéo phù hợp với
nhận thức của ông về cách khống chế nông dân. Ông tập trung họ vào các
“ấp chiến lược”. Người ta xây dựng khắp nông thôn hàng nhiều nghìn trại
tập trung có công sự, dây thép gai bao bọc. Người Mỹ tài trợ chương
trình bình định này và cung cấp dây thép ga. Diệm nghĩ làm như vậy sẽ
tách rời dân chúng với cộng sản, tát cạn nước trong đó con cá nổi lên
đã tha hồ vùng vẫy. Với chương trình “ấp chiến lược” sẽ không cần bộ
binh chiến đấu nữa.
Diệm và gia đình tăng cường thói quỷ quyệt trong quan hệ với người Mỹ.
Họ không ngần ngại thể hiện sự bất đồng khi đối đầu có lợi cho họ. Họ
phát hiện thấy người Mỹ nhạy cảm với những áp lực và đe dọa bê bối. Họ
cũng hiểu cách tốt nhất để lợi dụng các đại sứ Mỹ, rằng tướng lĩnh và
nhân viên CIA thường đồng tình với họ, nói những gì họ thích nghe là
nói dối. Họ Ngô biết những nhân vật quan trọng ấy thường thỏa mãn, sẽ
báo cáo với Washington những gì người ta nói với họ, mà không tìm hiểu
xem đó có phải là sự thật không.
Khi Harkins hỏi Diệm có đúng ông ta ra lệnh cho các sĩ quan đừng mạo
hiểm để thất thoát, Diệm bèn nói dối. Dĩ nhiên điều ấy không đúng, ông
ta khẳng định. Ngược lại, ông đã nhấn mạnh với các chỉ huy quân đội và
các tỉnh trưởng phải hăng hái hơn, ra lệnh tấn công không ngần ngại
quân Việt cộng mỗi khi có thể. Harkins không vặn hỏi. Ông bắt đầu nhận
những bảng tổng kết giả về thiệt hại của cộng sản của Cao và chuyển về
Washington không ý kiến gì. Vann đề nghị Porter không cho phép Cao sử
dụng máy bay lên thẳng để chấm dứt trò hề ấy. Porter bảo Harkins không
đồng ý.
Những quan hệ giữa những người bị lợi dụng và những người lợi dụng có ý
nghĩa nước đôi. Vann nghĩ đã điều khiển Cao nhưng Cao chỉ làm theo ý
mình. Hai tổng thống Mỹ, Eisenhower và Kennedy gửi sang Sài Gòn những
người có giá để điều khiển Diệm vì lợi ích của Hoa Kỳ nhưng những người
họ Ngô ĐÌnh cứ làm theo ý họ.
Trong tháng Mười một và Mười hai, Vann giận dữ và thất vọng nhận thấy
những tiến bộ của những người cộng sản : họ chiếm được nhiều đồn tiền
tiêu hơn, bắt được vũ khí hiện đại Mỹ nhiều hơn, phục hồi lại các tiểu
đoàn của họ ở mạn bắc vùng đồng bằng. Vann đã mắc sai lầm cùng với Cao
như thần tượng của anh, Lansdale cùng với Diệm, người đã đưa anh sang
Nam Việt Nam vào buổi đầu cuộc phiêu lưu này.
II
DI SẢN CAY ĐẮNG
“Xem này ! Họ dẫm lên chân tôi!” Trong máy bay đưa ông ta trở lại Sài
Gòn, Diệm phấn khởi nói, nhìn đôi giày xây xát và bụi bặm vốn đen nhánh
sáng nay.
Ông miễn cưỡng đến đây vì từ trước tới nay ông ta vẫn thỏa mãn cai trị
trên bàn giấy phủ tổng thống. Bây giờ ông hài lòng đã nghe lời Lansdale
và những người Mỹ vây quanh ông. Trong số đó có Everet Bumgardner, quê
ở một thành phố nhỏ của Virgina như Vann, đã bắt đầu cuộc chiến tranh
tâm lý ở Việt Nam những năm năm mươi lúc còn là nhiếp ảnh gia của hãng
Thông tấn Mỹ. Anh hoan hỷ về chuyến bay này, vào năm 1955, một trong
những cuộc đi thăm đầu tiên của Diệm đến một vùng do cộng sản kiểm
soát, một vùng “giải phóng” như họ nói. Từ sáng sớm máy bay bay đến
cảng nhỏ Tuy Hòa trên bờ biển miền Trung mà người Pháp không chiếm đóng
do không đủ quân số, để lại cho mặt trận Việt Minh của Hồ Chí Minh
trong chín năm cuộc chiến tranh đầu. Những người nổi dậy vừa rút về
cảng Qui Nhơn lên tàu Ba Lan và Nga đưa họ ra khỏi vĩ tuyến 17 theo
Hiệp định Geneve.
Việt Minh đã phá sân bay nên phi công của CIA phải đậu chiếc hai động
cơ già cỗi C-46 xuống một đám ruộng. Máy bay vừa ngừng lại, nông dân
từng đoàn hăng hái chạy đến làm Bumgardner sợ họ bị chết vì chong chóng
trước khi phi công tắt máy. Khi Diệm xuất hiện, đám đông người ùa qua
vệ sĩ suýt dẫm lên bóng người nhỏ, béo tròn mặc như tất cả những nhân
vật chính phủ, một bộ quần áo lanh trắng, thắt cà vạt đen. Náo nức thấy
và sờ vào người ông ta, nông dân dẫm chân trần lên giày ông, để lại dấu
vết của cuộc đón tiếp nồng nhiệt.
Không ai ở Sài Gòn nghĩ đến điều đó dù Ngô Đình Nhu em ông và là cố vấn
chính trị đã cử nhiều người đến tổ chức nhiều ngày trước cuộc đón tiếp
ở Tuy Hòa. Chặng đường đi qua thành phố liên tiếp được hoan nghênh. Trẻ
con vẫy những lá cờ nhỏ bằng giấy vẽ biểu tượng của chính quyền Sài Gòn
: ba gạch ngang đỏ trên nền vàng. Bumgardner ngạc nhiên, ít nhất 50.000
người, có thể đến 100.000 đứng chật sân vận động nghe Diệm phát biểu.
Ông nói về những cái xấu của chủ nghĩa cộng sản của cụ Hồ và Việt Minh
là bù nhìn của Nga và Tàu, lên án cụ Hồ muốn phá tan những truyền thống
Việt Nam để áp đặt một chế độ độc tài vô thần lên đất nước. Giọng nói
giả tạo gốc Huế hình như không cản trở khả năng truyền đạt của ông. Đám
đông hét lên đồng tình và vỗ tay mỗi lần ông ngừng lời. Bumgardner chụp
ảnh những gương mạt phấn khích và ghi chép để viết bài đăng ở một tạp
chí của cơ quan thông tấn Mỹ phát hành trong tất cả các nước không cộng
sản. Những tài liệu này cũng phục vụ cho các báo chí bạn ở Việt Nam và
nước ngoài.
Trở lại Sài Gòn sau cuộc đón tiếp nhiệt tình đó, Bumgardner kết luận,
những nông dân và người thành phố ở Việt Nam vui mừng được thoát khỏi
sự đè nén của cộng sản và chào con người kia như là người giải phóng
cho họ . Chắc chắn những người Mỹ ở Việt Nam thành công trong việc đưa
Diệm lên thành một anh hùng dân tộc đối mặt với người lãnh đạo của phía
bên kia.
Lansdale muốn làm cho Diệm thành một Ramon Magsaysay khác, một người
châu Á cấp tiến, trung thành với những nguyên tắc chống cộng sản. Như
vậy miền Nam Việt Nam sẽ biến thành nước Philippines những năm năm
mươi, một khuôn mẫu dân chủ có hiệu quả đế quốc Mỹ áp đặt ở châu Á.
Những nhà kiến thiết chế độ này là Dean Acheson, bộ trưởng ngoại giao
của Truman, hai anh em Dulles trong chính quyền Eisenhower, John Foster
ở Bộ ngoại giao và Allen ở CIA. Họ không quá ngây thơ nghĩ rằng có thể
xuất cảng nền dân chủ sang tất cả các nước trên thế giới. Hoa Kỳ đã bắt
đầu xây dựng ở Tây Đức, Nhật Bản và thuộc địa cũ của họ là Philippines.
Họ lựa chọn trong số nước dân chủ hoặc độc tài cải lương. Chiến lược
của họ nhằm tổ chức thế giới không cộng sản thành một hệ thống đồng
minh hoặc lệ thuộc vào Hoa Kỳ, được sức mạn quân sự của họ bảo hộ, công
nhận ưu thế của họ trên trường quốc tế, sáp nhập vào hệ thống kinh tế
của đồng đô la và nền thương mại Mỹ đóng vai trò quyết định.
Ho Kỳ không tìm cách có những “thuộc địa” kiểu Châu Âu, khái niệm làm
phật ý quan điểm chính trị của người Mỹ. Họ xác định hệ thống đế quốc
của họ không thiệt hại gì cho những dân tộc khác. Một “lợi ích cá nhân
tỏa sáng” là hình thức vị kỷ quốc gia duy nhất được họ chấp nhận. Những
người Mỹ cho rằng thể chế của họ là một hình thức mới rất có ưu thế
trong những vấn đề quốc tế. Nó không bóc lột các dân tộc như chế độ
thực dân của các đế quốc Châu Âu thế kỷ XIX, cũng không phá hoại sự tự
do cá nhân và các giá trị nhân văn khác như chế độ độc tài của Liên Xô,
Trung Quốc và các đồng minh cộng sản. Thay vì các thuộc địa, Hoa Kỳ tìm
kiếm những chính phủ bản xứ ngoan ngoãn theo ý muốn Mỹ, nếu có thể phụ
thuộc vào một sự giám sát gián tiếp, hoạt động thay thế sức mạnh Mỹ.
Mục đích cuối cùng là áp đặt cho đồng minh hoặc nước phụ thuộc sự thống
trị mà mọi nước đế quốc cần để thực hiện ý muốn của mình trên thế giới
vừa tránh được cơ cấu chế độ thực dân lỗi thời.
Những người cộng sản và phái hữu nói chung cho rằng chế độ đế quốc Mỹ
ấy là một dạng quỷ quyệt hơn chế độ thực dân kiểu châu Âu. Họ gọi là
“chế độ thực dân mới”. Nhưng đối với đa số người Mỹ những năm năm mươi
và đầu sáu mươi, chính những người cộng sản mới thực sự là thực dân
mới. Các nhà lãnh đạo của họ, đặc biệt ở châu Á, phản bội đất nước họ,
đi theo học thuyết Mác – Lênin Chua Âu, dưới thế lực của Liên Xô.
Lansdale so sánh Hồ Chí Minh với kẻ phản bội lớn của cách mạng Mỹ,
Benedict Arnold ( Tướng Mỹ trong chiến tranh giành độc lập. Bị chi phối
bởi những lời trách móc viên tướng này đã đề nghị Washington trả West
Point cho người Anh năm 1780. Việc bại lộ, Benedict Arnold đã chạy sang
hàng ngũ người Anh, chống lại những người đồng hương yêu nước) : “Bi
kịch cuộc chiến tranh cách mạng giành độc lập của Việt Nam, ông ta
viết, là việc “Benedict Arnold của họ” đã đạt được. Hồ Chí Minh được
một nhóm Đảng hỗ trợ, bị người Nga và Trung Quốc lôi kéo, đã bí mật
thay đổi mục tiêu chiến đấu. Thay vì đấu tranh cho nền độc lập chống
thế lực thực dân Pháp, ông đã hướng cuộc chiến tranh đánh những người
Pháp và sáp nhập Việt Nam vào đế quốc thực dân mới cộng sản”.Philippines năm 1954 là mẫu mực hoàn hảo nhất của đế quốc Mỹ. Đã là một
nước thuộc địa, nước này được độc lập vào năm 1946. Để thay thế, Hoa Kỳ
được thuê dài hạn trong 99 năm 23 căn cứ quân sự, đặc biệt hải cảng
Subic Bay và sân bay Clark. Những dịch vụ quân sự và thông tin tiếp tục
hoạt động như phụ trợ cho người Mỹ. Chính phủ còn chống cộng sản hơn cả
anh em Dulles và các hòn đảo cung cấp cho Hoa Kỳ một lực lượng nhân lực
được huấn luyện để chiến đấu với phong trào cộng sản Châu Á.
Thế nhưng cách đây mấy năm, mô hình đó bị phá sản. Nông dân bất bình
với chủ đất và cảm giác chung của nhân dân về sự sụp đổ của một chính
phủ phản động đã gây nên sự nổi dậy của Hukbalahap do những người cộng
sản lãnh đạo. Cuối năm 1949, những người Huk có đến 15000 chiến binh vũ
trang và có một triệu người có cảm tình. Bộ chính trị của họ hoạt động
bí mật ở ngay trung tâm Manila; ở hòn đảo chính Lucon, các xã trưởng và
trưởng đồn cảnh sát đồng mưu với quân nổi dậy vì sợ hoặc do cảm tình;
quân đội và cảnh sát không có hiệu lực; những cuộc bầu cử chỉ làm một
trò hề gian lận và doạ nạt đến mức những người Huk công khai tuyên bố
phải dùng súng đạn để thay đổi chính phủ chứ không phải những phiếu
bầu. Họ báo trước sẽ chiếm tất cả các đảo trong quần đảo Philippines
trong vòng hai năm.
Trong những thời kỳ khủng hoảng đó, Lansdale đã xây dựng biện pháp của
mình. Ông là người xúc tác và hướng dẫn ở hậu trường các hành động cứu
nguy. Ông nhận thấy Ramon Magsaysay là loại chỉ huy có phép màu và
trung thực có thể tập hợp những ai không thích một chính phủ cộng sản
nhưng đang không người dẫn dắt và mất định hướng. Con trai một chủ
trang trại đồng thời là giáo viên, từ Thế chiến thứ hai Magsaysay bắt
đầu làm việc hướng dẫn các đoàn ô tô chuyên chở cho những người bảo vệ
Mỹ và Philippines ở Bataan. Cuối chiến tranh, ông ta cầm đầu mấy nghìn
quân kháng chiến chống Nhật. Năm 1950 trong cao trào nổi dậy người Huk
và lúc ấy vị trí không cao lắm, ông nhận làm bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.
Hướng tới các mô hình nước ngoài, có nghị lực dồi dào nhưng thiếu định
hướng, đầu óc hiếu kỳ có ý thức về những vấn đề xã hội, ông cần có
những cố vấn kinh nghiệm.
Đấy là vai trò của Lansdale. Trongg một chuyến đi qua các đảo với danh
nghĩa sĩ quan thông tin của Không quân nghiên cứu về người Huk, ông
nung nấu một số ý đồ trấn áp cuộc khởi nghĩa. Sau đó ông trở lại
Philippines với vai trò của CIA. Là người nhã nhặn dễ kết bạn, Lansdale
nhanh chóng gần gũi với bộ trưởng mới của bộ Quốc phòng. Họ ở cùng nhau
trong trại binh Mỹ. Những buổi tối họ cùng nhau nghiên cứu những vấn đề
hiện hành. Hai người hợp thành một kíp tuyệt vời và những người Huk
phải hứng chịu hậu quả của một cuộc phản công xuất sắc. Với Lansdale là
người hướng dẫn Magsaysay tổ chức một cơ quan tình báo giỏi, cải tổ
quân đội và cảnh sát thành những tổ chức có kỷ luật về tinh thần và
thực lực. Ông sa thải những sĩ quan lười và biến chất, bổ nhiệm những
chỉ huy năng động biết thuyết phục dân chúng rằng quân đội có mặt để
bảo vệ chứ không phải để tàn phá họ. Binh lính bắt đầu đối xử lịch sự
và dễ chịu với dân chúng. Những người dân thường bị thương trong những
cuộc đụng độ cũng được cứu chữa như quân nhân trong các bệnh viện nhà
binh. Magsaysay cho phép nông dân bị bóc lột được đối xử công bằng
trước tòa án và đề nghị các luật sư quân đội bào chữa cho họ trước các
chủ điền. Bất cứ ai ở Philippines cũng có thể gửi thư khiếu nại lên bộ
trưởng Bộ Quốc Phòng và được xem xét. Ông giải thích với mọi người
chính phủ chăm sóc họ. Ông áp dụng luật bầu cử và để cho công dân có
quyền thay đổi chính phủ. Ông cũng tạo cho người Huk có một sự lựa chọn
: đầu hàng để được ân xá hoặc chạy theo nguy cơ ngày càng lớn bị vào tù
hoặc chết. Năm 1953 cuộc nổi dậy bị dập tan, những người nổi dậy bị
phân tán thành những băng nhóm đơn độc nhanh chóng bị cảnh sát quét
sạch. Năm ấy Magsaysay được bầu là tổng thống Philippines.
Lansdale trở về tổng hành dinh CIA ở Washington như một nhân vật quan
trọng. Cục tình báo chưa bố trí ở những tầng nhà hiện đại ở Langley tại
Virgina mà chiếm gần Bộ Quốc Phòng một ngôi nhà cũ bằng gạch với một
biển đề vô nghĩa ở cổng « Bộ Hải quân. Viện nghiên cứu y học ».
Lansdale nổi tiếng làm ra những phép lạ, trở thành chuyên gia của CIA
về chiến tranh du kích và lật đổ.
Ông được cử sang Việt Nam trong sự thất vọng sau khi Điện Biên Phủ sụp
đổ, ngày 7 tháng Năm năm 1954. Trong một cuộc họp ở Washington bốn
tháng trước đó, trước khi quyết định sẽ đi Sài Gòn, ông hỏi John Foster
Dulles phải làm gì ở đấy. Ông Ngoại trưởng này đã trả lời « Điều ông đã
làm ở Philippines ». Lansdale được hưởng những ân huệ đặc biệt chính
phủ dành cho những người làm ra phép lạ. Ông phải hợp tác với đại sứ Mỹ
và tổng chỉ huy Phái đoàn viện trợ quân sự nhưng không phụ thuộc vào
họ. Ông bố trí kíp riêng của mình và trực tiếp báo cáo với Washington
thông qua CIA.
Đêm ông vừa đến, ngày 1 tháng Sáu năm 1954, Việt Minh tổ chức mừng
chiến thắng quân Pháp bằng phá hủy kho đạn dược Tân Sơn Nhất, sau này
báo chí viết là « làm rung chuyển Sài Gòn suốt đêm ». Không phải một
bước đầu hứa hẹn đối với một người say đắm chiêm tinh học nhưng ông
không xao xuyến trước nỗi buồn càng tăng của Sài Gòn. Khi người Pháp
chấp nhận bỏ rơi miền Bắc cho Việt Minh tại Hội nghị Geneve ngày 21
tháng Bảy năm 1954, ông đã quyết định những biện pháp cụ thể để đạt mục
đích và làm sống lại thành công của ông ở Philippines : ông cắm vào
miền Bắc những nhóm kháng chiến cản trở cộng sản trong việc điều hành
và xây dựng lại nửa đất nước và làm chậm việc can thiệp vào miền Nam.
Đồng thời ông cố sức củng cố vị trí của Diệm.
Tháng Sáu 1954, CIA tác động Bảo Đại để đề nghị Diệm làm thủ tướng
Chính phủ. Tuy cựu hoàng đã ra đi từ tháng Tư sang hẳn Cote d’Azurc,
ông ta vẫn mang danh là quốc trưởng. Diệm được chính thức bổ nhiệm ngày
7 tháng Bảy năm 1954, 5 tháng sau khi Lansdale đến Việt Nam và hai tuần
trước khi Hiệp định Geneve được ký kết. Chính quyền Eisenhower vội vàng
tìm một nhà lãnh đạo Việt Nam có thể tin tưởng được trong lúc nước Mỹ
trực tiếp can thiệp vào Việt Nam thay thế người Pháp đã sa sút. Không
có nhiều ứng cử viên và Diệm có vẻ là người thích hợp nhấ. Niềm tin tôn
giáo cuồng nhiệt của ông đối với người Mỹ là một chứng chỉ chống cộng
không chê được. Khác với phần lớn các nhà chính trị không cộng sản khác
mà người Mỹ biết, ông được xem như một nhà yêu nước, không hợp tác với
người Pháp vì không nhận chức vụ gì trong chính phủ Bảo Đại. Ông đưa
lại cho những nhân vật Mỹ một cảm giác thật tốt : thượng nghị sĩ Mike
Mansfield, giáo chủ Spellman, John Kennedy , bấy giờ là nghị sĩ bang
Massachusetts, người cha có ảnh hưởng đến John, Joseph. Thẩm phán
William O Douglas năm 1953 đã viết về ông : « Diệm là một anh hùng ..
được người Việt Nam tôn sùng vì ông trung thực, độc lập và đã đương đầu
với ảnh hưởng của người Pháp ». Một lời nhận xét như vậy là một đảm
bảo. Người Mỹ không biết rõ đất nước này để có một tầm nhìn ít đơn giản
hơn về hành động trước đây của Diệm. Dù họ có muốn nắm được nhiều hơn
về ông cũng không được, thời gian không đủ để làm một cuộc điều tra :
trong thời kỳ sôi động này hình như những người cộng sản chỉ tạm ngừng
ít lâu để củng cố quyền lực ở miền Bắc trước khi chiếm toàn bộ miền Nam. Everest Bumgardner nhớ lại chuyến đi thắng lợi ở Tuy Hòa như một thử
thách của Lansdale và kíp mình để biến Diệm thành một Magsaysay khác và
Việt Nam thành Philippines. Bumgardner cũng đến Sài Gòn sau Điện Biên
Phủ không lâu. Tuy ông không thuộc ê-kíp của Lansdale nhưng thường gặp
ông này vì thành viên Cơ quan Thông tấn Hoa Kỳ ( USIS) được tham dự các
hoạt động là điều họ nhiệt tình thực hiên. Lansdale lúc nào cũng hoạt
động, xúc tác và tổ chức như ông đã làm ở Philippines. Đôi khi ông bận
đồng phục phi công nhưng không bao giờ mặc bộ quần áo trắng, cravát đen
bắt buộc đối với những người chính quyền Pháp trước đây mà Diệm và các
nhà ngoại giao thường mặc. Phần lớn thời gian ông mặc quần thể thao và
sơ mi ngắn tay. Bumgardner nhận thấy người Việt Nam kính trọng ông vì
ông lo về số phận của họ. Một trong những người Mỹ hiếm hoi nói về
chiến tranh du kích và chống chiến tranh du kích, một người hành động
đã đạt nhiều kết quả. Nếu ai muốn biết việc gì đã xảy ra hoặc cần việc
gì bất thường, chỉ cần đến gặp Lansdale hoặc một người trong kíp ông,
chẳng hạn như Lucien Conein, « con người cắng rắn » gốc Pháp, nhân viên
CIA dưới vỏ bọc là thiếu tá bộ binh. « Lou » Conein từ Đức tới, nơi ông
phụ trách điệp viên ở các nước phía Đông. Ông được chuyển sang Đông
Dương để bố trí những mạng lưới kháng chiến ở miền Bắc. Lansdale đưa
ông về vì là sĩ quan cũ duy nhất về nhiệm vụ đặc biệt còn hoạt động, đã
đánh bại người Nhật ở Đông Dương với một đội đặc công thuộc địa Pháp và
Việt Nam. Ông đã xây dựng một mạng lưới trong những người sau này trở
thành những sĩ quan quân đội Pháp. Những thành viên khác của nhiệm vụ
đặc biệt ở Đông Dương trong Thế chiến thứ hai đã làm việc cho cụ Hồ và
Việt Minh tất yếu Lansdale không dùng.
Bumgardner gặp Lansdale lần đầu tiên ở Hải Phòng, hải cảng lớn của miền
Bắc Việt Nam. Mùa hè năm 1954 ở đây bắt đầu cuộc di tản 900.000 người
vào miền Nam. Việc di cư gần một triệu người rời bỏ miền Bắc được cộng
sản gọi là một sự kiện chủ yếu về tương lai của Diệm và miền Nam Việt
Nam. Lansdale là người xúi giục và phối hợp. Diệm đã cố xây dựng một tổ
chức những người tị nạn mà nhanh chóng bị sa lầy vào tệ nạn quan liêu
hội họp. Các Đại sứ quán Pháp và Mỹ chậm chạp vô ích. Lansdale nắm lấy
mọi việc : dẫn dắt Diệm, quân đội Mỹ và những người Pháp cùng làm việc
với nhau, nhận được của Hải quân Mỹ những phương tiện của Hạm đội 7 để
chở một phần ba người tị nạn theo đường biển, vận động người Pháp ký
một hợp đồng chở đường không của Công ty Vận chuyển hàng không dân sự.
CIA lợi dụng dịp này để lén lút đưa vào miền Bắc những nhân viên mật
với trang bị vũ khí theo kế hoạch của Lansdale. Lansdale cũng để thâm
nhập những người tình nguyện Philippines do CIA trả lương. Bumgardner
đặc biệt nhớ đến một giám mục Mỹ lai Philippines đã hình thành một tổ
chức giúp những người tị nạn vượt qua hàng rào Việt Minh được ông cung
cấp ăn uống ở Hải Phòng cho đến lúc họ được chuyển hết vào miền Nam.
Ông ta sử dụng tiền giả Pháp và Việt Minh để mua thực phẩm cho họ và
hối lộ những người cảnh sát miền Bắc muốn ngăn cản những người ra đi.
Ông phá rối những người cộng sản đến mức họ bắn vào văn phòng ông ở Hải
Phòng để cố ám sát ông.
Bumgardner được cử đến Hải phòng để khai thác tài liệu cho những bào
báo, ảnh chụp, chứng minh những người bỏ miền Bắc ra đi, như Washington
nói , « vì hoan nghênh Thế giới tự do và lên án những người cộng sản »,
không phải đều là người Công giáo. Không phải dễ dàng làm được điều ấy
vì thực tế hai phần ba số đó, hơn sáu trăm nghìn người đúng là người
Công giáo. Phần lớn ba trăm nghìn người khác có lý do đặc biệt để trốn
chạy : gia đình sĩ quan, binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp thực
dân cũ, những người Trung Hoa sợ Chính phủ cộng sản tịch thu tài sản
buôn bán của họ, một số ít người dân tộc Nùng đứng về phía nước Pháp,
những người Việt Nam quốc tịch Pháp. Những người Công giáo đứng về phía
người Pháp thay vì phía tự do thuộc địa phận Giám mục đông nam đồng
bằng sông Hồng. Phần đông họ sợ bị trả thù và muốn được che chở bởi
chính phủ của một đạo hữu.
Lansdale dùng những biện pháp để những người Công giáo còn ngần ngừ
chọn đi theo con đường ấy. Diệm được cử ra miền Bắc thuyết phục các
giám mục. Các cha cố bắt đầu giảng đạo ở các giáo xử. Họ giải thích
trong những bài thuyết giáo rằng Đức mẹ đã vào Nam và giáo dân phải đi
theo. Lansdale tung ra một chiến dịch tuyên truyền bôi đen những điều
kiện sống đang chờ họ dưới chế độ Việt Minh. Người của ông ta phân phối
những truyền đơn có vẻ như của chính phủ cách mạng Hồ Chí Minh, loan
truyền dư luận xôn xao và in ra những tờ lịch dân gian Việt Nam.
Lansdale nói cụ thể trong báo cáo mật : « Những nhà chiêm tinh Việt Nam
nổi tiếng được mua chuộc để đưa ra những tiên đoán thảm họa sẽ xảy ra
do trách nhiệm của các nhà lãnh đạo Việt Minh ». Hôm sau ngày phân phối
một tờ truyền đơn giả dối đặc biệt bi thảm, số lượng người đăng ký di
tản tăng gấp ba lần. Theo một lời đồn cẩn mật, người Mỹ sẽ thả bom
nguyên tử lên vùng Việt Minh sau thời hạn di chuyển người ấn định cuối
cùng vào tháng Năm năm 1955 của Hiệp định Geneve. Những người di tản
đến Hải Phòng với những tờ truyền đơn cho là do Việt Minh in, vẽ ba
vòng tròn bị bom hạt nhân phá hủy trên mặt bằng thành phố Hà Nội.
Những tàu lớn của Hạm đội 7 chuyển đi cả toàn bộ nhiều làng. Tổng cộng,
65% người Công giáo miền Bắc di cư vào miền Nam. Chính phủ Hoa Kỳ dành
93 triệu đô la cho việc xây dựng nơi ăn ở của họ trong năm 1955 và
1956. Cuộc di cư này tạo cho Diệm một hạt nhân vững chắc những thuộc hạ
cuồng tín. Những toán quân đầu tiên được tin cậy đưa vào bảo vệ phủ
tổng thống Sài Gòn năm 1954 gồm toàn bộ cảnh sát Công giáo người Bắc
Việt Nam.
Tác phẩm của Lansdale vào những năm 1954 và 1955 chứng tỏ tính cách và
tầm nhìn của một con người có thể tác động cả quá trình lịch sử. Không
có ông ta, cuộc phiêu lưu của Mỹ vào Việt Nam có thể bị nhận chìm ngay
từ đầu. Cho dù Diệm có được Washington lựa chọn, ông ta cũng không thể
tồn tại nếu không có Lansdale bên cạnh. Người Pháp bị bật ra ngoài. Họ
không để lại được đội quân viễn chinh ở miền Nam dù Hoa Kỳ có đảm nhận
về tài chính. Tinh thần của họ đã sa sút cùng cực và người Ả-rập ở
Algieria trong đó có một triệu thực dân châu Âu sinh sống, bắt đầu nổi
dậy năm 1954 lôi kéo nước Pháp vào một cuộc chiến tranh thuộc địa mới.
Có vẻ như người Pháp tuân thủ những cam kết của h ọ ở Geneve sẽ tổng
tuyển cử ở miền Nam Việt Nam vào tháng Bảy năm 1956 để xác định giữa
Chính phủ Sài Gòn được Pháp bảo trợ hoặc Chính phủ Hồ Chí Minh ở Hà
Nội, ai sẽ lãnh đạo một đất nước Việt Nam tái thống nhất. Tuyên bố cuối
cùng của Hội nghị Geneve nói rất rõ những thỏa thuận không có nghĩa một
sự chia cắt vĩnh viễn đất nước và « giới tuyến tập kết ở vĩ tuyến 17
chỉ là tạm thời và không trường hợp nào được coi là một biên giới chính
trị hoặc đất đai ». Không ai nghi ngờ những người cộng sản sẽ thắng
trong cuộc tổng tuyển cử, hoặc hợp pháp hoặc gian lận khôn khéo hơn
những đối thủ miền Nam. Thực tế họ có một tổ chức tốt hơn và dân số
miền Bắc đông hơn. Eisenhower năm 1954 công nhận, nếu việc bầu cử tự do
tổ chức ở cả hai miền, Hồ Chí Minh sẽ thắng với 80% phiếu. Dưới con mắt
nhiều người Việt Nam ông đã là người cha của đất nước. (Dù sao thì đã
không có và không bao giờ có những cuộc bầu cử trung thực trong một
miền Việt Nam nào !) Một cuộc thắng lợi của cộng sản năm 1956 đã cho
phép những người Pháp cứu vớt vẻ ngoài khi rút quân đội viễn chinh. Họ
mang theo những người quốc tịch Pháp và phần lớn những người Việt đứng
về phía họ, Dù cuộc bầu cử năm 1956 không thành, nước Pháp chắc chắn
cũng tìm được một lý do biện hộ để bỏ rơi miền Nam. Dù lối thoát có
nặng nề đến đâu, Hoa Kỳ cũng không có sự lựa chọn nào khác là chấp nhận
một nước Việt Nam thống nhất và cộng sản. Eisenhower đã quyết định
không gửi quân đội Mỹ sang thay thế quân Pháp. Tướng Matthew Ridyway,
tham mưu trưởng quân đội đã thuyết phục tổng thống không thực h iện một
cuộc can thiệp với lý do của một đất nước và những vấn đề chính trị của
nó sẽ khiến lính Mỹ mất hút trong một vũng bùn. Mặt khác cuộc chiến
tranh Triều Tiên vừa mới kết thúc, dư luận Mỹ kịch liệt phản đối Hoa Kỳ
nhũng tay vào một cuộc chiến tranh mới ở châu Á. Lansdale ngăn cản việc tranh chấp ở Việt Nam kết thúc bằng thắng lợi
hoàn toàn của Hồ Chí Minh vào năm 1956 hoặc sớm hơn nếu người Pháp bỏ
đi trước đó. Miền Nam Việt Nam thực sự là một tạo dựng của Edward
Lansdale. Ông ta lừa gạt những sĩ quan ủng hộ Bảo Đại của đội quân quốc
gia Việt Nam khi họ định lật đổ Diệm năm 1954 và tổ chức bãi nhiệm họ.
Ông điều khiển xuất sắc chiến dịch mùa xuân năm 1955 đè nát những đọi
quân được người Pháp trả lương của hai phái tôn giáo Cao Đài, Hòa Hảo
và những đội quân của xã hội tội phạm Bình Xuyên. Những toán này, trước
là cướp trên sông, được miễn trừ ở Sài Gòn và không bị cảnh sát kiểm
soát ; đổi lại họ cam kết làm chấm dứt nạn khủng bố của Việt Minh trong
thành phố, điều mà họ thực hiện có nhiều hiệu quả.
Tướng J.Lawton Collins, đại sứ mới nhận nhiệm vụ từ mùa thu 1954 đã nói
với Diệm tiến lên từ từ và thỏa hiệp với các phe phái. Lansdale ngược
lại, khuyến khích ông này theo xu hướng tự nhiên, tiêu diệt phe phái,
khẳng định quyền lực của chính phủ trung ương, mua chuộc và lừa gạt để
vô hiệu hóa một số thủ lĩnh, giết chết những người không lừa gạt hoặc
mua chuộc được. Nhờ quan hệ đã có với các sĩ quan, Conein giúp Lansdale
lôi kéo quân đội quốc gia Việt Nam về với Diệm. Lập luận của ông đơn
giản và có sức thuyết phục trong tương lai chính Hoa Kỳ sẽ tài trợ và
trang bị trực tiếp cho họ chứ không qua trung gian người Pháp nữa. Nếu
muốn ở lại quân đội và được thăng câp, tốt nhất là đi theo Diệm và
Lansdale, người được mọi cấp cao ở Washington nghe theo. Lòng can đảm
của Conein và việc huấn luyện của ông về những công việc đặc biệt là
chủ bài mấu chốt của toán hành động Lansdale cho ra đời nhân danh Diệm
cho Bình Xuyên một số « đòn gãy gục ». Từ đầu tháng Ba năm 1955 đến
tháng Năm, Lansdale hầu như hàng ngày ở phủ tổng thống và qua nhiều đêm
với Diệm để khuyến khích ông này xây dựng kế hoạch hành động với tài
năng chiến thuật ông đúc rút được trong chiến đấu với người Huk mà Diệm
đang thiếu. Không có mưu mẹo của Lansdale, sự nhạy cảm làm những cú táo
bạo và danh tiếng về « phép lạ » ở Philippines mà ông nhận được ở
Washington, Diệm đã bị xóa sổ.
Việc ấy cũng dễ xảy ra. Đại sứ Collins cho Lansdale là một người tin
vào trực giác lãng mạn và Diệm là một kẻ hoang tưởng. Tháng Tư năm 1955
ông bay về Washington gần như thuyết phục được John Foster Dulles loại
bỏ hai người này, trở lại hợp tác với người Pháp vốn khinh ghét Diệm và
Lansdale, khuyến khích các giáo phái và Bình Xuyên kháng chiến. Nếu ý
kiến của Collins được coi trọng, có nhiều khả năng người Pháp đã theo
diễn biến các sự kiện kết thúc bằng việc những người cộng sản nắm được
miền Nam. Allen Dulles tổ chức một cuộc họp với người em John Foster,
Collins và Frank Wisner chỉ huy các vụ hành động bí mật của CIA, cấp
trên của Lansdale. Khi là sĩ quan về những công việc đặc biệt trong Thế
chiến thứ hai, Wisner đã chứng kiến việc Hồng quân và cảnh sát mật của
Stalin chiếm Romania. Kinh nghiệm kinh khủng ấy đã tạo ra một chiến sĩ
chống cộng cũng kiên cường như Lansdale.
Collins giải thích Lansdale thật điên khi cho rằng có thể xây dựng một
chính phủ vững chắc xung quanh Diệm. Diệm hoàn toàn không có kinh
nghiệm cai trị, không có cảm tình với mọi người, từ chối đối xử hợp lý
hơn với các phe phái và không mở rộng chế độ dựa vào những nhà chính
trị khác. Triển vọng duy nhất đối với Mỹ là thay thế Diệm bằng một
người khác không cộng sản mà người Pháp chấp nhận được và mong rằng ông
này sẽ thành lập được một chính phủ nào đó. Khả năng thành công sẽ hạn
chế theo dư luận hiện tại nhưng ít nhất cũng có một hy vọng. Với Diệm
và Lansdale thì chẳng có gì.
Wisner bảo vệ Lansdale. Ông hầu như không biết gì về Việt Nam, không hề
biết về châu Á nhưng người Mỹ đã thành công ở nơi khác, tại sao không
có thể thành công ở Việt Nam ? Ông giải thích đã đến Philippines, gặp
Magsaysay và thấy Lansdale đã hoàn thành tốt công việc ở đó. Triển vọng
ở Việt Nam chắc chắn rất tốt ; Lansdale cũng xác nhận thế trong báo
cáo. Dù sao cũng có một cơ may và Lansdale đã chứng tỏ tài năng, trực
giác của mình trong những vấn đề người khác không giải quyết được. Vậy
phải ủng hộ ông ấy.
John Foster Dulles không cùng chia sẻ lòng tin với Wisner. Ông gửi cho
Đại sứ quán ở Sài Gòn một bức điện ngày 27 tháng Tư, chỉ thị cho người
phụ trách phái đoàn tìm một người khác thành lập chính phủ. Ngày hôm
sau, trước khi Đại sứ quán kịp hành động, Diệm được Đại sứ quán của
mình ở Washington cho biết quyết định của Dulles, đã hỏi ngay Lansdale
về tin ấy. Lansdale bảo đảm với ông, dù ông nghe được thế nào, Việt Nam
cũng cần có một người lãnh đạo và Hoa Kỳ vẫn ở sau lưng ông. Ông ta
thuyết phục Diệm ngay chiều hôm đó cho tấn công quân Bình Xuyên đã bắt
đầu bắn súng cối vào phủ tổng thống và giết binh lính của quân đội Việt
Nam. Nhưng 2.500 người của xã hội đen không đủ sức đương đầu với những
tiểu đoàn Lansdale tập hợp được với sự giúp đỡ của Conein. Trong 9 giờ
chiến đấu, quân Bình Xuyên trước đây chiếm giữ trung tâm Sài Gòn bị
đánh tan tác phải trốn vào khu phố người Hoa ở Chợ Lớn. Sau trận thất
bại này, các giáo phái không có vẻ đáng sợ nữa. Dulles vội vàng hủy bỏ
chỉ thị và Đại sứ quán đốt bức điện. Từ lúc này, không còn bóng che vào
sự tin tưởng ở Lansdale. Hoa Kỳ đã có sự lựa chọn. Như Dulles đã nói
:”người ta nhào xuống nước” với Diệm.
Tháng Mười năm 1955, Lansdale đóng dấu ấn dứt khoát vào sự cam kết của
Mỹ. Ông giúp Diệm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý gian lận để hạ bệ
quốc trưởng Bảo Đại và bổ nhiệm Diệm làm tổng thống nước Cộng hòa mới
Việt Nam. Vì đây là một lý do chính đáng, việc gian lận trong bầu cử có
thể chấp nhận được ! Diệm thu được 98,2% phiếu bầu, hơn nhiều số phiếu
Hồ Chí Minh đạt được ở miền Bắc. Và dù những nhóm kháng chiến gài lại ở
Bắc Bộ bị Việt Minh quét sạch, Lansdale đã hoàn thành nhiệm vụ ở miền
Nam. Ông củng cố vị trí của Diệm và gia đình, đưa ra một chính phủ
trung ương bề ngoài có vẻ vững chắc. Chính sự thành công này đã gây ra
cuộc chiến tranh thứ hai ở Việt Nam mà Vann phải chiến đấu 7 năm sau đó.
Mãi về sau này nhớ lại cuộc đón tiếp Diệm ở Tuy Hòa năm 1955,
Bumgardner bỗng hiểu ra mình đã nhận thức sai lầm về cuộc trình diễn.
Ông nhớ đám đông trên sân vận động hình như không chú ý lắm về những
điều Diệm nói khi họ vỗ tay hoan hô. Những khuôn mặt tươi cười, thái độ
ồn ào nhưng mắt nhìn trống rỗng. Ông hiểu ngay : đám đông không nghe gì
cả.
Buổi lễ đối với người xem chỉ là một ngày nghỉ ngơi. Họ đã tập trung
khá nhiều dưới thời Việt Minh trong cuộc chiến tranh thứ nhất để biết
rằng khi cán bộ trong đám đông ra hiệu thì phải vỗ tay. Những người tổ
chức mà Nhu, em trai Diệm đã cử, đứng lẫn trong đám đông ra hiệu. Những
người nông dân ngoan ngoãn nghe theo. Thời kỳ ấy, người Việt Nam trung
lưu cũng không biết rõ Diệm, người dân ở nông thôn hẻo lánh càng không.
Họ đã chán cảnh những năm cách ly với bên ngoài, hân hoan vì chiến
tranh đã chấm dứt. Việc một máy bay hạ cánh, đưa tới một nhân vật cao
cấp nói chuyện với họ làm họ vui mừng như gặp ngày lễ. Họ xô đẩy Diệm
và dẫm lên chân, dù ông là thủ tướng nước Nepal thì cũng vậy.
Phần lớn những người đến xem đó có quan hệ gia đình với những người nổi
dậy đã ra miền Bắc. Khi bắt đầu cuộc chiến tranh thứ hai, vùng đồng
bằng Tuy Hòa đã trở thành một căn cứ mạnh nhất của Việt Minh miền Nam
mà nhân dân hoàn toàn chống lại chính quyền Diệm. Bumgardner nhận ra
mình ngốc đến mức nào cũng như những người Mỹ khác khi nghĩ có thể dựng
Diệm thành một anh hùng dân tộc so sánh được với Hồ Chí Minh. Không ai
tán thành Diệm trừ những người công giáo và tính cách, thái độ chính
trị, xã hội của ông ta không bao giờ có người ủng hộ. Việc cai trị của
ông chỉ có thể là phá hoại. Lansdale ở Việt Nam đã là nạn nhân của thành quả của ông ở Philippines.
Những người thành công trong những đợt khủng hoảng lớn thường bị sa bẫy
khi nghĩ rằng mình đã tìm ra một sự thật chung. Lansdale đã xây dựng
định đề như phần lớn cấp trên của ông, kinh nghiệm Philippines cũng có
giá trị ở Việt Nam. Kinh nghiệm ấy không là gì cả. Người Philippines,
những người bạn của ông những năm 40, 50 , là một dân tộc độc nhất
không điển hình như các dân tộc châu Á khác. Những người Philippines
của Lansdale là những người Mỹ da màu. Ngoài một số chi tiết về thân
hình họ cũng giống người Việt Nam như Lansdale vậy. Họ kỷ niệm ngày độc
lập của họ vào 4 tháng Bảy như người Mỹ. Họ nói tiếng Anh sử dụng tiếng
lóng Mỹ hơi sai lạc, thích nhạc Jazz và những dạng khác của văn hóa Mỹ.
Người ta thấy những tên họ như đại tá “mike” Barbero, phó của Magsaysay
về chiến tranh tâm lý mà người kế nhiệm là thiếu tá “Joe” Crisol, cả
hai cùng làm việc với một sĩ quan khác “Frisco Johnny” San Juan. Những
cuộc hành quân của họ chống người Huk mang tên mật như “Bốn bông hồng”,
tên của loại rượu Whisky ưa thích hoặc “Omaha” kỷ niệm cuộc đổ bộ lên
Normandie. CIA tuyển mộ những người Philippines vào những hoạt động của
họ ở những nước châu Á khác chính vì họ có tư duy Mỹ. Khi người ta gặp
một người Philippines trong một văn phòng hoặc một kho nguyên liệu, có
nghĩa là CIA cách đấy không xa.
Lansdale đã tác động một dân tộc mà quan niệm sống được hình thành từ
gần nửa thế kỷ Mỹ bảo trợ và bởi ảnh hưởng phương Tây hơn ba trăm năm
thuộc địa Tây Ban Nha trước cuộc chiến tranh năm 1898. Gần 95% dân
chúng là những người công giáo, Philippines là quốc gia công giáo độc
nhất ở châu Á. Trong cuộc chiến tranh chống Nhật, người Philippines và
Mỹ gắn bó khăng khít với nhau và sức mạnh chỉ có thể hiểu bởi những
người cùng nhay đối đầu với cái chết trong chiến đấu. Có nhiều anh hùng
người Philippines (65.000) hơn người Mỹ (15.000) trong việc bảo vệ bán
đảo Bataan. Quá trình đi đến cái chết tiếp đó, 2.300 người Mỹ chết và
người Philippines hơn ba lần ( giữa 5.000 và 7.500, người ta không biết
con số chính xác). Khi những toán quân của tướng Mac Arthur đổ bộ từ sà
lan lên vịnh Leyte ngày 20 tháng Mười năm 1944 để giải phóng các đảo,
hai người lính của Sư đoàn 24 bộ binh, mỗi người phất một ngọn cờ lệnh
trên bãi biển : lá cờ đầy sao và lá cờ xanh đỏ với mặt trời trong một
tam giác trắng của Philippines. Ngọn cở Mỹ cũng gây xúc động cho người
Philippines như cờ của họ vì họ thấy ở đấy tinh thần độc lập và sự giải
phóng khỏi nền độc tài. Những người Philippines của Lansdale thấy họ
muốn đạt mục đích gì. Họ như 11 cầu thủ bóng đá rất giỏi nhưng không
thành lập được một đội bóng vì thiếu huấn luyện viên. Lansdale là người
huấn luyện viên ấy nhưng chỉ thắng khi những người khác thực hiện lối
chơi như ông. Nghe Diệm nói với Lansdale ông ta đã chống lại người Pháp
và xem chủ nghĩa cộng sản vô thần như một điều ghê tởm, định kiến của
Lansdale dẫn đến những giả thuyết sai cũng như Vann sau n ày nghe Cao.
Ông nghĩ hoàn toàn bình thường khi một nhà lãnh đạo Việt Nam được Hoa
Kỳ trực tiếp bảo trợ và gắn bó với những người cấp cao Mỹ. Lansdale xem
những người công giáo di cư từ miền Bắc là những người yêu nước đã
“chiến đấu để giải phóng đất nước khỏi người Pháp” cho đến khi phát
hiện ra họ bị lừa gạt và lôi kéo vào một âm mưu cộng sản; họ chạy trốn
vào Nam để tạo dựng một “nước Việt Nam” tự do. Trong một báo cáo mật,
ông viết Hải Phòng trong những tháng cuối cùng của việc di tản “nhắc
lại thời kỳ những người mở đường Mỹ ở thế kỷ XVII”. Ông không thấy gì
sai trong việc Hoa Kỳ chọn những người công giáo đề giúp đỡ họ. Ông
thấy hoàn toàn đúng khi có một người công giáo làm tổng thống mà ông
quan niệm là một “người Việt Nam tự do”.
Thiểu số người công giáo có một khuyết tật. Lansdale rất lo lắng làm
cho họ phân biệt giữa những “thực dân” Mỹ và Pháp. Nhưng sự phân biệt
hời hợt ấy không dựa vào một sự phân biệt sâu sắc. Bây giờ ông đối mặt
với lịch sử Việt Nam chứ không phải Philippines. Quyết định dựa vào dân
công giáo và chọn trong đó một chính phủ Sài Gòn đúng như ông thông báo
cho những người Mỹ đến thay thế người người Pháp. Những người chuyển
theo Thiên chúa giáo được người Pháp sử dụng như một đội quân thứ năm
thâm nhập vào nước Việt Nam truyền thống và được quan chức thực dân
khen thưởng. Nhân dân coi họ là một giáo phái có xu hướng ngoại lai.
Sau khi người Pháp ra đi, lẽ tự nhiên họ tìm kiếm một người bảo trợ
nước ngoài khác. Họ nói với Lansdale với cách họ nghĩ ông này muốn nghe.
Diệm không tin vào một chính phủ nghị viện tuy hai năm rưỡi lưu vong ở
Hoa Kỳ ông học để hiểu được hệ thống nhà nước Hoa Kỳ khiến cho Lansdale
có cảm giác ngược lại. Công bằng xã hội cũng không làm ông quan tâm.
Ông không muốn điều chỉnh cơ cấu truyền thống người Pháp đã sắp xếp cố
định. Diệm là một người phản động cực đoan, quyết định thành lập một
triều đại gia đình mới trong một đất nước đã lỗi thời. Ở thế kỷ thứ X
họ Ngô đã cai trị ít lâu. Diệm tự thấy mình cầm đầu một triều đại thứ
hai thay thế họ Nguyễn mất tín nhiệm vì một Bảo Đại thoái hóa. Gia đình
giúp ông cai trị theo truyền thống. Ông chỉ có một nhân nhượng với thời
đại mới chấp nhận được gọi là “tổng thống”. Việc bất bình với Pháp thật
dữ dội nhưng về những vấn đề nhỏ và yêu sách về chính trị bị gạt bỏ do
việc bổ nhiệm ông làm thủ tướng của Bảo Đại. Diệm thừa hưởng của cựu
hoàng một chính quyền đầy phản động và bè phái Việt Nam, một quân đội,
cảnh sát và nạn quan liêu từ chế độ thực dân Pháp. Ông để cho Hoa Kỳ
đưa ông ra thay thế. Điều đã thành công ở Philippines có tác dụng ngược
lại ở Việt Nam; ở đây sẽ là không yêu nước nếu hợp tác với người Mỹ,
đồng thời với chủ nghĩa thực dân, áp bức và không công bằng xã hội.
Ám ảnh về những hình ảnh của Cách mạng Mỹ, Lansdale không thể hình dung
đã chọn sai địa bàn hay là trở thành phía thù địch trong một nước châu
Á rầm rộ cách mạng dân tộc. Sức mạnh lý tưởng Mỹ cũng ngăn cản những
người như Bumgardner và Vann hình dung khả năng ấy. Thế mà đó là những
gì đã xảy ra ở Việt Nam. Một cuộc cách mạng dân tộc đang tiến hành ở
đây và Hoa Kỳ không là gì cả. Nước Mỹ và đồng minh với bên sai trái khi
cung cấp trang bị và tài chính cho người Pháp hòng lập lại chế độ thực
dân trị của họ. Nước Mỹ lại lặp lại sai lầm ấy khi đưa Diệm và gia đình
ra nắm quyền lực. Tháng Giêng năm 1946, trung úy Alfread Kitts được chuyển đến Hải Phòng.
Kitts là con trai một sĩ quan pháo binh, tham gia đội đua ngựac của Hoa
Kỳ trong Đại hội Thể thao năm 1932 và 1936. Kitts vào quân ngũ năm 1943
khi vừa tốt nghiệp trung học, phục vụ ở Philippines rồi được cử sang
Bắc Bộ Việt Nam. Anh cầm đầu một toán 26 lính phụ trách trả tù binh
Nhật về nước chất trên những chuyến tàu Liberty. Kitts nói được một ít
tiếng Pháp và có thể trò chuyện với những sĩ quan và binh lính Việt
Minh kiểm soát thành phố. Người Việt Nam rất thân mật với người Mỹ.
Không bao giờ họ nói về “chủ nghĩa cộng sản” và chỉ nói về mong muốn
độc lập và hy vọng những người Mỹ giúp họ để đạt được điều đó. Thời kỳ
ấy Hồ Chí Minh thu hẹp những xác tín cộng sản và vai trò của Đảng trong
cuộc cách mạng dân tộc để xây dựng một mặt trận chính trị rộng rãi
trong nước và tranh thủ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ để tránh việc người Pháp
quay trở lại.
Kitts chứng kiến ở Hải Phòng những chuyến ra đi đầu tiên của quân đội
Pháp, ngày 6 tháng Ba năm 1946. Anh tưởng là quân đội Hoa Kỳ : mũ, quân
phục, ủng, tất cả là Mỹ, kể cả sà lan vận chuyển, vũ khí hạng nặng và
xe cộ Mỹ cấp cho nước Pháp tự do của De Gaulle để chống lại quân Đức và
Nhật.
Sĩ quan và binh lính Việt Minh giận dữ khi thấy binh lính Pháp tới. Họ
đã chấp nhận đội quân đồn trú Pháp ở Hải Phòng, Hà Nội và một số thành
phố lớn khác ở lại tại chỗ để tự bảo vệ nếu bất chợt bị tấn công và đổi
lại được hứa hẹn trả độc lập từng phần. Nhưng người Pháp nhanh chóng vi
phạm lời hứa. Những sự kiện kèm theo tiếng súng nổ bắt đầu ngay. Những
sĩ quan Việt Nam vẫn quan hệ thân mật với Kitts và những người Mỹ khác,
chưa nói gì như sau này Việt Minh trách cứ họ đã trang bị súng đạn cho
người Pháp. Hình như họ tiếp tục xem Kitts và lính Mỹ vẫn là đồng minh
của họ, khác với quân đội thực dân. Họ tin vào lời tuyên bố của Hoa Kỳ
về mục đích chiến đấu trong Thế chiến thứ hai và không quên việc đồng
minh chống Nhật. Những hành động của Cục tình báo chiến lược OSS (
Office of Strategic Services : Cục tình báo quân đội có trước khi CIA
được thành lập năm 1947) đã nhận thấy Việt Minh là nhóm kháng chiến duy
nhất tổ chức khá và bám sát khắp đất nước để cung cấp thông tin về
người Nhật, cứu phi công Mỹ bị bắn hạ và hoạt động quấy phá sau lưng
địch. OSS đã cho một phái đoàn huấn luyện xuống giúp một trong những
ban tham mưu bí mật của Hồ Chí Minh ẩn náu trong rừng phía bắc đồng
bằng sông Hồng, chưa kể đã cung cấp hàng nghìn súng trường, tiểu liên
và khí cụ khác trang bị cho các đội quân Việt Minh.
Những sĩ quan Bắc Việt Nam ra lệnh cho các toán quân của họ không lầm
lẫn binh lính của Kitts với người Pháp, không bắn vào họ. Điều này ngày
càng trở nên khó khăn đối với người lính Việt Minh vì số lượng người
Pháp ngày càng tăng, yêu sách càng nhiều và sự va chạm xảy ra liên
tiếp. Kitts tự nhủ : “ Làm sao nhận ra được một người Pháp hay một
người Mỹ khi họ lái chiếc xe jeep như nhau và bận cùng đồng phục ?”.
Một buổi tối anh cùng hai sĩ quan về trại, bị bắn từ một rào chắn. Họ
kịp nhảy xuống đất nhưng chiếc xe bị hỏng nặng. Hôm sau Kitts đến tìm
đại đội trưởng trẻ chỉ huy phân đội, trình bày rõ anh đến bến cảng trở
về bằng những con đường nào và đề nghị đại đội trưởng bảo quân lính
mình cẩn thận hơn trước khi bắn. Viên đại đội trưởng xin lỗi và hứa sẽ
bảo người của mình lưu ý đoạn đường Kitts đi. Anh sẽ hướng dẫn kỹ hơn
để về sau quân lính của mình không nhầm lẫn người Mỹ và người Pháp. Anh
nói : “Nhưng anh biết đấy, người của tôi háo hức muốn đánh nhau!”.
Kitts cười. Anh không một chút tình cảm nào với người Pháp. Người sĩ
quan Việt Minh cũng cười.
Đến tháng Bảy năm 1946 những cuộc đụng độ trở nên thường xuyên đến nỗi
giữ lại một toán quân Mỹ ở Hải Phòng rất nguy hiểm. Kitts và người của
anh được lệnh chuyển giao cho người Pháp trách nhiệm đưa người Nhật về
nước và rút đi. Kitts nhớ mãi mấy chữ những người Việt Nam biết tiếng
Anh viết lên tường một ngôi nhà ở cảng “Chúng tôi muốn người Mỹ”. Nhưng nếu người Việt Nam muốn nước Mỹ thì nước Mỹ đã không muốn họ. Đối
với Hồ Chí Minh, những năm 1945 và 1946 lặp lại những thất vọng và ức
chế ông đã biết ngay sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Thời
kỳ ấy tổng thống Hoa Kỳ là Woodrow Wilson; lần này là Hary Truman. Tên
các ông ấy khác nhau, một cuộc chiến tranh mới nổ ra và một phần tư thế
kỷ trôi qua nhưng thái độ của họ vẫn thế.
Khi Wilson tuyên bốn 14 điểm ngày 8 tháng Giêng năm 1918, ông Hồ coi
trọng con người và bản tuyên bố ấy. Wilson đã nói các dân tộc bị lệ
thuộc có quyền tự quyết định vận mệnh mình và trong luật lệ “của mọi
tuyên bố thực dân … những quyền lợi của dân tộc bị trị phải có trọng
lượng tương tự” như quyền lợi của thế lực thực dân. Dân tộc Mỹ phối hợp
với nước Anh, Pháp và những nước Đồng Minh khác vì “cuộc chiến tranh
cuối cùng cho nền tự do nhân loại”. Wilson đã xác định nguyên tắc bao
gồm 14 điểm và đã được các lực lượng Đồng Minh tán thành :”Đấy là
nguyên tắc công bằng cho mọi dân tộc và quốc tịch quyền được sống trong
những điều kiện bình đẳng về tự do và an toàn giữa họ với nhau dù họ
mạnh hay yếu”. Tổ chức xã hội các nước sắp thành lập sẽ chú trọng tới
việc đối xử đúng đắn ấy với tất cả các dân tộc.
Ông Hồ rất xúc động, với số tiền ít ỏi kiếm được ở Paris bằng công việc
sơn những đồ cổ Trung Hoa giả và chụp ảnh, đã thuê một bộ quần áo chỉnh
tề ra mắt ỏ Hội nghị hòa bình năm 1919, Wilson và các nhà lãnh đạo các
quốc gia đồng minh khác đến đấy bàn bạc về Hiệp ước Varsailless và Hiến
chương Liên Hợp Quốc. Ở Paris thời kỳ ấy, người Việt Nam 28 tuổi ấy,
đôi mắt đặc biệt lanh lợi, có vẻ vụng về trong chiếc áo đuôi tôm với
cra-vát trắng bắt chước cách ăn mặc khác lạ của một người hào hoa phong
nhã châu Âu. Ông mang tới một bản điều trần những tố cáo của người Việt
Nam về chế độ thực dân Pháp. Ông bắt chước Wilson chia làm 8 điểm tạo
cho người Việt Nam cơ may bù lại những thiệt thòi họ phải chịu. Ông
không đòi độc lập nhưng tự trị trong lòng thuộc địa Pháp. Không một
thành viên nào trong phái đoàn Mỹ hay một phái đoàn khác nhận tiếp ông.
Ông hiểu việc tự quyết định của Wilson chỉ áp dụng cho người Séc, Ba
Lan và những dân tộc da trắng khác ở Đông Âu dưới sự chiếm đóng của Đức
và Áo – Hung nhưng không phải cho người da nâu, da vàng châu Á, càng
không phải cho người da đen ở châu Phi. Điểm thứ Năm của Wilson về
“những đồi hỏi đối với thực dân” chỉ đơn giản giải quyết việc phân chia
giữa những người chiến thắng các thuộc địa của Đức ở châu Phi và châu Á.
Hai mươi sáu năm sau, ngày 15 tháng Tám năm 1945, ngày Nhật Hoàng
Hirohito tuyên bố đầu hàng, Hồ Chí Minh đề nghị Truman thực hiện đầy đủ
những cam kết thời chiến và áp dụng những tuyên bố của tổng thống tiền
nhiệm Franklin Roosevelt đã mất. Đại diện Việt Minh ở Côn Minh, Trung
Quốc đề nghị Hoa Kỳ “những người quán quân của nền dân chủ” biến nước
Việt Nam thành một nước bảo hộ của Mỹ “với thể chế như Philippines
trong một thời hạn không xác định” trước khi độc lập hoàn toàn. Hai
tuần lễ sau, ngày 2 tháng Chín năm 1945, trong khi phái đoàn Nhật Bản
cúi xuống chiếc bàn trải thảm xanh trên boong chiến hạm Missouri để ký
các văn kiện đầu hàng không điều kiên, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc
lập và công bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa. Ông phát
biểu trước đám đông 50 vạn người tập họp trên quảng trường Ba Đình của
Hà Nội. Ông bắt đầu bằng một câu trong bản Tuyên ngôn độc lập của mười
ba thuộc địa Mỹ do Jefferson công bố ngày 4 tháng Bảy năm 1776:” Mọi
người sinh ra đều có quyền bình đẳng ..”. Trong lúc ông nói, trên bầu
trời xuất hiện máy bay tiêm kích P.38. Viên phi công tò mò bổ nhào trên
quảng trường và đám đông cho hành động ấy như biểu hiện chào mừng của
nước Mỹ gửi tới đất nước Việt Nam.
Hồ Chí Minh không nhận được lời đáp nào của Hoa Kỳ về lời đề nghị bảo
hộ nhưng những tuyên bố chung của Truman khuyến khích ông tiếp tục. Lời
tuyên bố quan trọng đầu tiên về những vấn đề quốc tế, ngày 27 tháng
Mười năm 1945 là 12 điểm hoàn toàn trong truyền thống Wilson. “Đường
lối đối ngoại của Hoa Kỳ dựa trên những nguyên tắc cơ bản về quyền và
sự công bằng”. Rồi ông đưa ra 12 điểm chủ yếu của đường lối ấy. Ba điểm
trong số đó hình như áp dụng trực tiếp vào Việt Nam.
- Chúng tôi nghĩ tất cả những dân tộc còn yếu trong tương lai sẽ tìm lại được chủ quyền và nền độc lập …
- Chúng tôi nghĩ tất cả những dân tộc sẵn sàng tự lãnh đạo đất nước
phải có quyền lựa chọn, tự do khẳng định đất nước mình không có một
nguồn ngoại lai nào can thiệp. Điều đó đúng với Châu Âu, Châu Á, Châu
Phi cũng như với tây bán cầu.
- Chúng tôi không chấp nhận mọi chế độ chính trị do một lực lượng nước ngoài nào áp đặt.
Kết cục, Hồ Chí Minh phản đối Truman khi Hoa Kỳ quyết định nước Pháp
đại diện cho Việt Nam, Lào, Campuchia ở Hội đồng Viễn Đông trong Liên
Hợp Quốc vừa thành lập. Ông Hồ tuyên bố nước Pháp đã mất hết quyền về
tinh thần hoặc pháp lý thống trị Đông Dương vì trong Thế chiến thứ hai,
chính phủ Vichy “đã nhục nhã bán Đông Dương cho Nhật và phản bội Đồng
Minh” từ năm 1940, hợp tác với người Nhật cho đến năm 1945 quân chiếm
đóng gạt chính quyền thực dân Pháp và trực tiếp cai trị. Ngược lại,
Việt Minh đã “đánh bại không thương tiếc phát xít Nhật” bên cạnh Hoa
Kỳ. Ông Hồ gửi cho Truman và ngoại trưởng James Byrnes 11 bức điện và
thư trong 18 tháng mà không nhận được trả lời. Ông cũng kêu gọi sự giúp
đỡ của Clément AttLee, thủ tướng Anh, tổng tư lệnh Chiang Kaishel của
Trung Hoa Dân quốc và Joseph Stalin của Liên Xô. Không người nào trả
lời. Tháng Chín năm 1945, về quân đội Pháp chiếm đóng Bắc Bộ, Hồ Chí Minh
chỉ có người trao đổi là bí thư thứ nhất Đại sứ quán Mỹ ở Paris. Ông
đến đấy cố lần cuối cùng thỏa hiệp với những người Pháp đầy tự tin và
luôn hiếu chiến, đề nghị người Mỹ biến Việt Nam thành “một vùng trù phú
cho tư bản và xí nghiệp của họ”. Ông tỏ ý cho biết nếu Hoa Kỳ bảo vệ
người Việt Nam chống người Pháp, ông để họ sử dụng Vịnh Cam Ranh, một
trong những hải cảng đẹp, nước sâu nhất thế giới. Chỗ ấy sau này quân
đội Mỹ bố trí một trong những cơ sở lớn nhất về không lực, hải quân và
cung cấp trang bị cho cuộc chiến tranh thứ hai ở Việt Nam. Ngày 14
tháng Chín năm 1946 ông Hồ ký một tạm ước với nước Pháp và trở về Hà
Nội.
Đến tháng Mười, người Pháp phản bội thỏa thuận, nắm lấy việc kiểm tra
thuế quan và tài chính ở Hải Phòng. Họ muốn làm mất chủ quyền của Chính
phủ Hồ Chí Minh. Tháng Mười một, trong việc kiểm tra hàng hóa của một
thương nhân người Hoa, một cuộc tranh chấp nổ ra và hai mươi lính Pháp
bị thiệt mạng. Tướng Pháp Jean Etienne Valluy quyết định dựa vào sự
kiện này để cho “một bài học nghiêm khắc … và làm cho những nhà lãnh
đạo Việt Nam hiểu rõ tình hình hơn” – Đại tá Debes mà phó tổng lãnh sự
Mỹ ở Hà Nội đã xác định trong một báo cáo gửi về Bộ Ngoại giao là “nổi
tiếng vì tham ô và tàn bạo” được lệnh ném bom Hải Phòng. Ngày 23 tháng
Mười một năm 1946, pháo binh, tàu chiến Pháp và máy bay do Mỹ cung cấp
bắn phá suốt ngày. Sáu nghìn thường dân Việt Nam chết. Việt Minh hiểu
ngay bài học, Hồ Chí Minh trong năm cuối cùng này đưa tay ra với người
Mỹ, tóm tắt bằng một lời cảnh báo: “Chúng ta đơn độc; chúng ta chỉ phải
dựa vào bản thân chúng ta thôi”.
Vào 20 giờ 4 phút ngày 19 tháng Chạp năm 1946, biệt động đội Việt minh
phá nổ nhà máy điện trung tâm của Hà Nội và thành phố chìm trong bóng
tối hoàn toàn. Đấy là dấu hiệu tấn công qui mô lớn chống quân đồn trú
Pháp ở tất cả các tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Bây giờ không
có gì ngăn được cuộc chiến tranh giành độc lập lần thứ nhất nữa.
Những thư từ và điện tín của Hồ Chí Minh ngay từ đầu đã được xếp vào hồ
sơ cho những nhà viết sử tương lai. Hoa Kỳ đã bỏ rơi người Việt Nam và
những dân tộc Đông Dương khác cho người Pháp rất lâu trước khi ông Hồ
tuyên bố độc lập ở quảng trường Ba Đình. Việc ông là cộng sản không
liên quan gì đến việc này. Lịch sử muốn chính phủ Mỹ đối kháng với chủ
nghĩa thực dân Châu Âu ởchâu Á. Đấy là một truyền thuyết gợi ra do sự
huyênh hoang của Wilson, Roosevelt và ác cảm riêng của một số nhân vật
lớn như Douglas Mac Arthur đối với chế độ thực dân kiểu cũ. Nhưng chính
phủ Hoa Kỳ nhân danh đất nước không cố làm sụp đổ những đế quốc thực
dân Châu Âu vào cuối thế chiến thứ hai.
Franklin Roosevelt muốn giải phóng các dân tộc Đông Dương bằng một quá
trình, bắt đầu bằng đặt nước thuộc địa dưới sự ủy nhiệm 25 năm sau
chiến tranh. Tháng Giêng năm 1944 ông đã nói với bộ trưởng Ngoại giao
Cordell Hull :”nước Pháp đã chiếm đất nước này gần một thế kỷ và hoàn
cảnh 30 triệu dân ở đấy tồi tệ hơn cách đây 100 năm. Các dân tộc Đông
Dương có quyền được hơn thế”.
Churchill và những người Anh có ảnh hưởng, họ không thể nhận thấy mặt
trời cũng bắt đầu lặn trên đất đai của Rudyard Kipling. Họ sợ đặt Đông
Dương dưới sự ủy nhiệm làm sụp đổ quyền lực của họ ở Ấn Độ và phần còn
lại của đế quốc họ, đúng là điều Roosevelt đã có ý nghĩ. De Gaulle, bị
tác động bởi thất bại năm 1940 và sự thông đồng của một bộ phận quân
đội, của lớp trung, thượng lưu với chủ nghĩa và phát xít Nhật dưới chế
độ Vichy, bị ám ảnh bởi tầm nhìn : khôi phục vinh quang của đế quốc
Pháp, tiếp tục nhiệm vụ khai hóa của nước Pháp ở Đông Dương. Sự chống
đối của người Anh và quyết tâm của De Gaulle dẫn Roosevelt đến bỏ rơi
kế hoạch của mình. Ngày 5 tháng Giêng năm 1945 ông thông báo với Lord
Halifax, đại sứ Anh ở Washington rằng ông không chống đối nước Anh đưa
người Pháp trở lại Đông Dương. Ông chỉ mong không công khai công nhận
việc Pháp chiếm lại đất nước ấy. Một tháng sau ở hội nghị Yalta, ông
còn đi xa hơn chấp nhận chính thức một đề nghị của Bộ Ngoại giao có lợi
cho Pháp đặt lại nền đô hộ.
Sau cái chết của Roosevelt, ngày 12 tháng Tư năm 1945, Hary Truman tạo
điều kiện dễ dàng cho Pháp chiếm đóng lại. Tổng thống mới và các cố vấn
có đủ lý do để hy sinh những người Việt Nam, Campuchia, Lào, theo quan
niệm của người Pháp là gánh nặng của người da trắng. Hoa Kỳ tán tỉnh
Liên Xô để họ giúp đập tan hoàn toàn nước Nhật; họ cũng không kém xem
nước Nga là mối đe dọa tương lai. Averell Harriman, một trong những nhà
xây dựng đường lối đối ngoại sau chiến tranh, lúc ấy là đại sứ ở
Moscow, vội vã trở về Washington trong chiếc máy bay ném bom B-24 để
báo động với Truman, nói với ông này họ có nguy cơ bị một “sự xâm chiếm
dã man của châu Âu” đe dọa. Để kiến thiết châu Âu thời hậu chiến loại
trừ được lực lượng Xô Viết và cắm chắc lực lượng Hoa Kỳ, Truman và các
cố vấn cần có sự hợp tác của nước Pháp. Họ muốn sử dụng các hải cảng,
sân bay và căn cứ quân sự của Pháp để chống lại cái gọi là sự đe dọa
của Hồng quân Stalin. Họ công nhận chế độ thực dân Pháp kiểu thế kỷ XIX
sẽ không thực hiện được trên thế giới thời hậu chiến. Về tinh thần họ
cảm thấy không thoải mái khi đồng lõa với việc Pháp trở lại Đông Dương
và lo lắng thấy nước Pháp sa vào một cuộc tranh chấp với thời gian và
tốn kém không có giới hạn. Tuy thế Truman thừ nhận quyết định của
Roosevelt. Tháng Năm năm 1945, bốn tháng trước khi chưa người nào biết
ở Hà Nội sẽ có chính phủ loại nào, ông cho Georges Bidault, bộ trưởng
Ngoại giao của De Gaulle biết Hoa Kỳ không bao giờ đặt lại vấn đề “dù
ngầm ý, việc Pháp thống trị Đông Dương”. Truman đã theo Roosevelt, để
người Anh đảm nhận việc người Pháp trở lại. Người Anh hoan hỉ làm việc
đó, hy vọng thuộc địa của họ được vững vàng.
Viên tướng Sư đoàn Anh Douglas Gracey đến Sài Gòn ngày 13 tháng Chín
năm 1945 với một lực lượng can thiệp hỗn hợp gồm người Gurkhas, lính Ấn
Độ và lính dù Pháp. Ông giải phóng những quân lính Vichy bị quân chiếm
đóng Nhật tước vũ khí và cầm tù trong tháng Ba sau bốn năm rưỡi hợp
tác. Ông tăng cường đội quân bằng cách sáp nhập 17.000 lính Nhật nên
việc giái giáp ở miền Nam Việt Nam chậm lại mấy tháng để có thể đánh
nhau với người Việt Nam với mục tiêu duy nhất “Khôi phục trật tự”. Đầu
tháng Mười những người lính Pháp khác đến, được chở trên những tàu Hải
quân Hoàng gia kèm theo chiến hạm Richelieu và khu trục hạm Triomphant.
Tướng Philipe Leclerc, người giải phóng Paris , bay đến Sài Gòn để chỉ
huy đội quân viễn chinh. Với những đội quân Ấn Độ và Nhật giúp đỡ, ông
đuổi quân Việt Minh ra khỏi thành phố và đi khá sâu vào đồng bằng sông
Cửu Long, chiếm Mỹ Tho vào ngày 25 tháng Mười. Mấy ngày sau đó, Cần
Thơ, tỉnh chính vùng đồng bằng cũng rơi vào tay quân Pháp. Vào đầu
tháng Chạp năm 1945 Leclerc chỉ huy 21.500 lính Pháp ở miền Nam Việt
Nam, trong đó có Sư đoàn 2DB và xe tăng Mỹ. Theo đề nghị của Anh,
Truman cung cấp cho người Pháp 800 xe jeep và xe tải. Ông giải thích vì
chuyển từ Việt Nam đi quá phức tạp. Người Pháp cũng nhận được những
phương tiện đổ bộ đường thủy và tàu chiến để chinh phục lại đất nước
này. Tàu sân bay đầu tiên, Dixmude bắn phá Bắc Bộ là một tàu chiến Mỹ
và phi công lái máy bay ném bom Mỹ. Mùa thu năm 1945, Hải quân Mỹ chuẩn
bị cho việc đổ bộ quân Pháp lên Hải Phòng, với sự giúp đỡ của các toán
quân Nhật, đã tháo gỡ bom mìn ở hải cảng chính họ đã phong tỏa thời kỳ
chiến tranh để ngăn chặn quân Pháp của chính phủ Vichy và kẻ thù của họ
là quân Nhật.
Tàu bay và khí cụ lấy của quân Đức bổ sung cho việc trang bị của Mỹ cho
phép người Pháp có khá đầy đủ vũ khí để trụ vững cho đến cuối năm 1946.
Ba tuần lễ sau khi cuộc chiến tranh ở Hà Nội bắt đầu trong tháng Chạp,
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thông báo với Chính phủ Pháp có thể mua tất cả các
loại vũ khí của họ theo ý muốn “trừ việc dùng vào những hoạt động ở
Đông Dương”. Như vậy có nghĩa thực tế nước Pháp có thể gửi toàn bộ khí
tài hiện có ở châu Âu để rồi khôi phục lượng dự trữ bằng vũ khí mới của
Mỹ. Năm 1947, Truman cho Pháp vay 160 triệu đô la để mua xe cộ, máy bay
rõ ràng dùng cho Đông Dương. Cùng năm ấy nhiều trăm triệu đô la giúp đỡ
theo kế hoạch Marshall bắt đầu lấy lại sinh khí cho nền kinh tế Pháp,
giảm nhẹ gánh nặng cho một cuộc chiến tranh thực dân. Tất cả những thư
từ, điện tín của Hồ Chí Minh cũng như bản ghi nhớ cuộc trao đổi cuối
cùng của ông ở Đại sứ quán Paris đều được Bộ Ngoại Giao Mỹ xếp vào hồ
sơ “Bí mật hàng đầu”. Những văn bản này chỉ được công bố sau 25 năm sau
với những hồ sơ của Lầu Năm Góc. do khác ít cao thượng hơn. Nghe những lời lẽ huyênh hoang của các tổng
thống, những người da vàng, da nâu đã quên mất Hoa Kỳ là một sức mạnh
thực tế và có quyền, có khả năng kỳ lạ biện minh về một số xếp đặt
quyền lợi cho họ. Việc họ trở thành lực lượng hùng hậu nhất thế giới
sau chiến thắng ở Thế chiến thứ hai càng phát triển khuynh hướng thanh
minh cách xử sự của họ thường với những lý do không đẹp. Ngoài ra những
người châu Á lạc quan dựa vào Hoa Kỳ bảo trợ đã không hiểu người Mỹ
tiêm nhiễm chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đến mức tự họ không nhận thấy
mình đang chơi trò hai mặt ở châu Á. Trên bậc thang các xưởng máy trong
chiến tranh, người ta thường nghe hát bài :
Vừa làm vừa ca hát
Hitler chỉ đạt số không
Mussolini là kẻ lông bông
Người Nhật trông càng tệ hại
Người Nhật không tệ hại và người Đức là những kẻ thù nguy hiểm, quỷ
quái nhất. Nước Nhật không bao giờ đủ tiềm năng quân sự để uy hiếp Hoa
Kỳ. Nhưng Đức thì có. Việc phát triển bom nguyên tử trở thành cấp thiết
khi các nhà bác học Mỹ và châu Âu định cư xác định có lẽ Hiler tiến hơn
trong cuộc chạy đua “bom siêu việt” chỉ để cho Hoa Kỳ và Anh Quốc lựa
chọn giữa việc đầu hàng hoặc bị tiêu diệt. Khả năng kỹ thuật của Nhật
Bản bị hạn chế đến mức những khí cụ lớn không làm gì được trong những
trận chiến ban đêm và thời tiết xấu vì việc phát triển ra đa và vũ khí
hạt nhân ở ngoài tầm với của khoa học trong công nghiệp của họ. Bên
cạnh hiệu quả tàn ác, phe phát xít sử dụng những phương tiện của một xã
hội công nghiệp hóa để thủ tiêu 12 triệu người trong đó có 6 triệu
người Do Thái trong các trại tập trung, những hành động hung bạo của
Nhật, dù dã man, độc ác cũng chỉ là chuyện vặt.
Người Mỹ sợ và ghét hai kẻ thù ấy tỷ lệ nghịch với sự đe dọa của họ.
Việc thăm dò của Bộ Tài chính cho thấy một chiến dịch quảng cáo dựa
trên sự căm hờn đối với người Nhật bản được nhiều tín phiếu bảo vệ quốc
gia hơn với người Đức. Những cuộc điều tra tỏ tõ người Mỹ trung lưu phê
phán người Nhật là “báng bổ, vô nhân đạo, sức vật, xảo trá, bất nghĩa
“. Sự quảng cáo tín phiếu vậy là dựa vào tính hung bạo của người Nhật.
Cơ quan điều tra liên bang FBI đã bắt một số tên quốc xã gốc Mỹ nhưng
những người Mỹ gốc Đức nói chung không lo ngại gì.
Sau trận Trân Châu Cảng, một làn sóng đồn đại kích động được báo chí và
quân đội khuyến khích lan truyền ở California và các bang ven bờ biển
Thái Bình Dương : những người Mỹ gốc Nhật liên lạc bằng dấu hiệu với
tàu ngầm, gửi thông tin bằng làn sóng mật cho hạm đội xâm lược, lấy cắp
vũ khí và vẽ bản đồ hướng dẫn quân Nhật sau khi đổ bộ. Chính phủ đề ra
một chương trình tập hợp tình nguyện ở nội địa nhưng không ai tiếp nhận
những kẻ nhập cư ấy. Câu trả lời của toàn quyền Idaho thật điển hình :
“Những người Nhật sống như những con chuột, sinh sản như những con
chuột, cư xử như những con chuột. Chúng tôi không muốn chứa chấp họ”.
Mùa xuân năm 1942 quân đội tập hợp 150.000 người Mỹ gốc Nhật trong đó
có 60.000 công dân sinh tại Mỹ, đưa họ vào các trại tập trung ở những
vùng đất khô cằn ở phía tây. Tòa án tối cao xác nhận điều đó được xem
là vụ vi phạm nhân quyền lớn nhất trong lịch sử nước Cộng Hòa.
Thế nhưng người ta không bao giờ phát hiện ra một hành động do thám
hoặc phạm pháp nào của người Mỹ gốc Nhật Bản. Quân đội vẫn đòi hỏi
Nisei – người ta gọi những người Nhật sinh ra ở Mỹ như vậy – ra mặt
trận khi đến tuổi nghĩa vụ. Và gia đình của họ vẫn ở các trại tập trung
suốt thời gian chiến tranh. Một nghìn hai trăn Nisei tình nguyện đi
chiến đấu để chứng tỏ lòng yêu nước; những người khác để phiên chế vào
các đơn vị không phàn nàn gì. Đoàn quân 4a42 của họ trở thành một trong
những đoàn quân được khen thưởng nhiều nhất và được tổng thống tuyên
dương bốn lần trong các mặt trận Ý và Pháp. Phương châm của đoàn quân
do chính các chiến sĩ lựa chọn là :” Hãy nhớ tới Trân Châu Cảng “.
Nhưng quân đội vẫn tách những người Nhật ấy khỏi lính chiến đấu da
trắng, thực hiện việc phân tách như đối với những người da đen thời kỳ
ấy.
Nếu người Việt Nam là những người châu Âu da trắng, Roosevelt và Truman
không dễ dàng phó mặc họ cho chủ nghĩa thực dân hành hạ. Những nhìn
nhận vể chủng tộc đã điều tiết những mệnh lệnh về chiến lược. Lời cảnh
báo cao quí của Truman trong diễn văn tháng Mười năm 1945, trong đó ông
khẳng định Hoa Kỳ từ chối “công nhận một chính phủ do lực lượng nước
ngoài áp đặt cho một quốc gia” ( điểm thứ 12 trong bản tuyên bố của
Wilson vốn đã kích thích Hồ Chí Minh kêu gọi ông bảo vệ chống người
Pháp) chứng tỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc có tính hai mặt của các
nhân vật Hoa Kỳ không thay đổi từ thời Wilson. Lời tuyên bố của Truman
hướng về Liên Xô đã áp đặt nền thống trị các quốc gia da trắng ở Đông
Âu. Nếu Truman bối rối về những hành vi khắc nghiệt của họ ở đấy, xem
ra ông không băn khoăn về những tàn khốc của người Pháp khi chinh phục
lại Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long. Vả lại ông cũng chẳng quan tâm
đến cuộc tàn sát trong tháng Mười một năm 1946, giết hại 6000 thường
dân Việt Nam ở Hải Phòng khi quân Pháp tấn công miền Bắc Việt Nam.
Ông Hồ và Việt Minh cộng sản chỉ là một yếu tố ngẫu nhiên không đưa lại lợi ích gì cho những nhân vật Nhà nước Mỹ.
Ưu thê vượt trội của những người cộng sản cầm đầu cuộc cách mạng Việt
Nam tạo lý do cho những người có trách nhiệm ở Hoa Kỳ tiến hành ở Việt
Nam điều mà Washington dù sao cũng đã có ý định làm. Họ mau chóng quên
đi những cảnh ngộ buổi đầu, tự biện minh việc bắt người Việt chịu những
khổ sở của một cuộc chiến tranh còn kéo dài bảy năm rưỡi nữa là để ngăn
chặn đế quốc Xô viết ( đúng hơn là Trung Hoa Xô viết) bành trướng ở
Đông Nam châu Á. Các thế hệ những quan chức Mỹ nối tiếp nhau không
ngừng phát biểu như vậy. Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông trở thành cộng sản phải chăng do
một bất ngờ về đường lối chính trị của Pháp ? Những vị quan lại ấy, các
nhà nho Việt Nam là những nhà lãnh đạo tất nhiên của một dân tộc mà
người nước ngoài luôn luôn muốn chinh phục và dẹp yên không được. Ở đất
nước chúng ta hiếm có những tấm gương như thế : người Ireland trong số
đó, người Việt Nam cũng vậy. Sức kháng chiến dữ dội của họ là cả một
truyền thuyết. Và là lịch sử nhắc nhở những người sống không bao giờ
được làm nhục người chết.
Hệ thống trị đất nước của người Việt Nam phỏng theo người Trung Hoa.
Nước Trung Hoa do một hoàng đế cai trị dựa vào một hệ thống quan lại.
Vua ở Việt Nam là hình ảnh thu nhỏ của “con Trời” ở Bắc Kinh; các quan
lại là những người có học thức điều hành việc nước, được bổ nhiệm vì tỏ
rõ sự uyên bác về triết học Khổng Tử do một khoa thi theo cách Trung
Quốc lựa chọn. Cũng như ở Trung Quốc, các quan lại hình thành một tầng
lớp xã hội; giới trí thức bàn giấy trở thành lớp quý tộc mà thực tế
nông dân nghèo không với tới được.
Chế độ thực dân Pháp bẻ gãy hàng ngũ quan lại Việt Nam. Để bảo tồn vị
trí họ bắt đầu phục vụ người Pháp, chuyển thành quan chức của nước
ngoài và mất tính hợp pháp lãnh đạo đất nước. Họ cũng trở nên tha hóa
trong xã hội. Nhà nước độc quyền bán rượu, thuốc phiện và những điều
kiện bó buộc trong các đồn điền cao su cùng những lạm dụng khác biến
thực dân Pháp thành một chế độ bóc lột. Những quan lại cùng hợp tác
hàng ngày tham gia vào những tội ác chống dân tộc họ, lâu dần không cảm
thấy tội lỗi nữa. Một số ít trong bọn họ không chịu cúi đầu trước những
người Âu châu dã man. Sự chống đối lúc đầu đem lại nỗi sỉ nhục và cảnh
đói nghèo cho họ để rồi về sau cứu với gia đình và đất nước. Dưới con
mắt nông dân, qua những hình ảnh kháng chiến chống ngoại xâm, họ giữ
được vai trò lãnh đạo tất nhiên trong xã hội Việt Nam. Họ tự cảm thấy
và truyền lại cho con cháu nỗi sỉ nhục không nguôi chừng nào đất nước
chưa được giải phóng. Các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản phần lớn là con
cháu của những gia đình quan lại ấy phân hóa dưới chế độ thực dân vì
một số hợp tác với kẻ thống trị trong lúc những người khác vẫn theo con
đường chính trực.
Những bậc tiền bối trong gia đình và đường lối chính trị của Hồ Chí
minh là mẫu mực cho người Việt Nam noi theo. Bố ông Hồ, sinh ra ở Nghệ
An, một tỉnh bắc Trung Bộ Việt Nam, nổi tiếng về hoạt động chống Pháp,
là một nhà Nho môn đồ của Khổng Tử. Làm quan ở Bình Định, một tỉnh phía
nam, ông bị sa thải vì ý thức yêu nước. Bối cảnh chính trị của nước
chiếm đóng không khỏi ảnh hưởng đến số phận những người dân của nước bị
chiếm đóng. Vì thế những người Philippines của Lansdale lấy nền dân chủ
Mỹ làm khuôn mẫu, có hai đảng phái chính chống đối chế độ thực dân.
Jawaharlal Nehru và phần lớn các nhà lãnh đạo vì nền độc lập Ấn Độ là
những nhà xã hội Anh về đường lối. Lẽ tự nhiên khi Hồ Chí Minh ở Paris
trong Thế chiến thứ nhất đã theo những người xã hội vì đây là nhóm
chính trị độc nhất ở Pháp nghiêm túc bảo vệ nền độc lập của những nước
thuộc địa.
Năm 1920 Đảng Xã hội Pháp bị cuốn hút vào một trong những tranh luận
quan trọng nhất của lịch sử : ở lại Quốc tế thứ II được hình thành tại
Paris năm 1889 hoặc đi theo tổ chức cách mạng hơn nhiều là Quốc tế thứ
II do Lênin sáng lập ở Moscow năm 1919 để bảo vệ quyền lợi Bôn sê vích.
Ông Hồ kể lại trong một bài báo đăng 40 năm sau đó, ông đã tham gia
những cuộc tranh luận, rất chú ý lắng nghe, không hiểu hết những vấn đề
nêu ra nhưng nhận thấy vấn để chế đột thực dân không được bàn đến. Mà
điều ông muốn biết trước hết là “trong hai quốc tế, quốc tế nào đứng về
phía nhân dân các nước thuộc địa ?”. Người ta nói với ông là Quốc tế
thứ III. Vào mùa xuân, một người bạn Pháp đưa cho ông một bản sao báo
cáo của Lênin in trong báo Nhân đạo ( L’Humanité) : “ Luận cương về
những vấn đề dân tộc và thuộc địa”. Ông tả lại phản ứng của mình khi
đọc bài ấy trong gian phòng nhỏ đang ở :” Trong luận cương có những
danh từ chính trị khó hiểu. Cố gắng đọc đi đọc lại cũng nắm được vấn đề
cấn thiết, tôi cảm nhận ở đây bao cảm động, nhiệt huyết, sáng tỏ và tin
tưởng ! Tôi khóc lên vì vui mừng. Ngồi một mình trong phòng tôi kêu lên
rất to như nói với đông đảo quần chúng :
Hỡi những người đau khổ, những đồng bào của tôi ! Đây là điều chúng ta cần ! Đây là con đường giải phóng của chúng ta ! ». Trong những cuộc tranh luận tiếp theo, ông Hồ không ngồi im lặng. Ông
chế diễu những người chống đối Lênin bằng câu hỏi đơn giản này : « Nếu
các ông không lên án chế độ thực dân, nếu các ông không đấu tranh bên
cạnh các dân tộc thuộc địa bị áp bức thì các ông làm loại cách mạng gì
? ».
Ở hội nghị Tours tháng Chạp năm 1920, ông bỏ phiếu cho phía cực tả và
trở thành một trong những người sáng lập Đảng cộng sản Pháp.
Đảng Cộng sản Pháp cử ông đi Moscow vào mùa hè năm 1923 tham dự Hội
nghị quốc tế nông dân. Được bầu vào Ban chấp hành , ông ở lại Liên bang
Xô viết một năm nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và những chiến thuật
cách mạng ở Trường Đại học Phương Đông. Cuối năm 1924 ban chấp hành
Quốc tế cộng sản cử ông đi Quảng Đông làm phiên dịch cho Phái đoàn
chính trị và quân sự bên cạnh Đảng cách mạng dân tộc Trung Hoa, Đảng
Quốc dân của Tôn Dật Tiên trong đó những người cộng sản Trung Quốc còn
hợp tác với nhòm Tưởng Giới Thạch. Ít lâu sau khi đến ông viết một báo
cáo thông báo đã hình thành tổ chức cộng sản bí mật đầu tiên của lịch
sử Việt Nam : Thanh niên cách mạng đồng chí hội, gồm ông và tám nhà yêu
nước khác, đồng hương của ông sống ở Quảng Đông. Ông đi Hàng Châu,
Thượng Hải và những thành phố khác để nói chuyện với những người Việt
Nam xa quê hương, thuyết phục họ hình thành một tổ chức vững chắc vì
quyền lợi dân tộc.
Âm vang những hoạt động của ông lan truyền về Việt Nam, nhiều nhà yêu
nước trẻ tuổi tìm đến hội của ông. Những người chấp nhận quan điểm kinh
tế xã hội của ông có cùng một lý do như đã làm ông đi theo Lênin. Qua
những bài học ông trình bày về chiến lược và chiến thuật cách mạng
Lêninít, họ hiểu : xã hội cộng sản là đích tối cao và phương pháp đạt
tới phải qua nền độc lập dân tộc. Phần lớn những người thấy ở ông Hồ
điều mình tìm kiếm ở Quảng Châu, Quảng Đông cũng như sau này ở Việt
Nam, đều là con cái lớp quí tộc có học thức bị tước đoạt quyền lợi. Một
trong những người đầu tiên theo ông ở Quảng Châu là một sinh viên 17
tuổi, Phạm Văn Đồng, bố ông là quan lại, thư ký riêng cho nhà vua trẻ
Duy Tân. Bố ông Đồng bị cách chức khi người Pháp phế ông vua 18 tuổi
đày ra đảo Réunion vì ông này xúi giúc một cuộc nổi dậy trong số những
người lính Việt Nam Pháp tuyển mộ đi đánh nhau trong cuộc Chiến tranh
thế giới thứ nhất. Ông Đồng trở thành một trong những người hợp tác
thân cận nhất của ông Hồ, lãnh đạo phái đoàn Việt Nam ở Hội nghị Geneve
năm 1954 và trở thành thủ tướng Chính phủ miền Bắc Việt Nam. Nhưng
trước đó ông đã trải qua sáu năm trong tuổi thanh niên ở nhà tù Côn
Đảo. Người Pháp đào ở đây những hầm nhốt tù dưới đất phía trên gắn song
sắt ; những « chuồng cọp » này nổi tiếng trong chiến tranh mà người Mỹ
dùng giam những người nổi dậy Việt cộng.
Một tổ chức của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của tầng lớp quí tộc
bản xứ hoàn toàn bất thường so với các đảng cộng sản. Alexander
Woodside, nhà sử học người Canada chuyên về Việt Nam đã gọi đây là cuộc
cách mạng của các « quan lại mác-xít ». Trường Chinh, nhà lý luận, Lê
Đức Thọ, nhà thương lượng khôn khéo mà Henry Kissinger gặp ở bàn đàm
phán Paris năm 1968 và Võ Nguyên Giáp, nhà lãnh đạo quân sự lớn của
nước Việt Nam mới, tất cả đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc trí thức
ấy. Những người lao động chân tay và nông dân đều không có mặt trong
hàng ngũ ưu tú này. Trong số đó ngoại trừ có một trong những người bạn
và cộng sự của tướng Giáp, ông Văn Tiến Dũng, chỉ huy một sư đoàn trong
chiến tranh chống Pháp rồi tham mưu trưởng quân đội miền Bắc : một
người công nhân cũ của một xưởng dệt ở Hà Nội. Năm 1963 Đảng chính thức
thừa nhận đại bộ phận đảng viên xuất thân tầng lớp tiểu tư sản.
Hạt nhân không phá vỡ được này của tầng lớp quý tộc Việt Nam hoạt động
theo tiếng gọi của đất nước. Ngày 8 tháng Hai năm 1941, khi Hồ Chí Minh
vượt qua biên giới nam Trung Quốc sau 30 năm lưu vong, cuộc Chiến tranh
thế giới thứ hai xảy ra và sự cắt đứt quan hệ giữa các nước Đồng minh
và chính quyền thực dân Pháp vốn hợp tác với quân đội Nhật hình như là
dịp thuận lợi cho ông khơi nguồn một cuộc nổi dậy giành chiến thắng.
Ban chấp hành trung ương ông triệu tập trong một xóm hẻo lánh ở Pắc Bó
gồm những người sáng suốt và chín chắn trong chiến đấu. Họ chấp nhận
thực thi chiến lược tinh vi ông đề nghị. Người ta giảm mục tiêu phấn
đấu của Đảng về cuộc cách mạng xã hội để hình thành liên minh rộng rãi
với những người không cộng sản vào một mặt trận dân tộc : Tổ chức mới
gọi là Việt Nam độc lập đồng minh hội, từ đó được gọi tắt là Việt Minh.
Nhiệm vụ của Việt Minh , như trong lời tuyên bố của ông Hồ, là tiến
hành một cuộc chiến tranh « cứu nước, đuổi Nhật, Pháp và bè lũ phản
động Việt Nam ».
Bốn năm tiếp theo những « quan lại cộng sản » thành công kỳ diệu trong
việc chuẩn bị về quân sự. Truyền thống chung là một trong những lý do
chủ yếu cho phép họ thực hiện được nhiều điều trong thời gian ít ỏi như
vậy và cho họ sự gắn bó cần thiết để trong lịch sử nước mình vận dụng
những nguyên lý mác xít – Lêninít vào cuộc cách mạng trong điều kiện
đặc biệt của xã hội Việt Nam. Khác với những dân tộc nhỏ bé khác làn
nạn nhân của những cường quốc láng giếng, người Việt Nam không chỉ có
những người hy sinh vì lý tưởng. Noi theo ông cha và những gương sáng
trong lịch sử kháng chiến thắng lợi chống xâm lược nước ngoài, họ cũng
thành công như tổ tiên của họ. Người Việt Nam đã phải mất một nghìn năm nổi dậy và hy sinh để giành
được nền độc lập đối với Trung Quốc vào năm 938 sau Thiên Chúa giáng
sinh. Trong 900 năm tiếp đó cho đến lúc người Pháp đến vào năm 1850,
mỗi triều đại mới lên cầm quyền ở Trung Quốc đều sang xâm lược Việt
Nam. Từng thời kỳ buộc phải đẩy lùi quân phương Bắc và tình trạng chiến
tranh liên miên với những nước láng giềng ít đe dọa hơn họ phải đối mặt
trong việc bành trướng xuống phía Nam bán đảo, thêm một nhiệm vụ quân
sự vào nền văn hóa Việt Nam. Văn minh Trung Hoa không ưa chuộng người
lính. Trung Quốc đào tạo ra những tri thức đồng thời là những người
hành động, những quan lại cai trị học trò của Khổng Tử. Họ xứng đáng
được noi theo về kiến thức và giá trị đạo đức trong xử thế. Người lính
chiến được xem là người hạ đẳng, được dung nạp khi cần thiết nhưng
không bao giờ được ca ngợi. Về căn bản không có gì tốt trong nghệ thuật
chiến tranh. Lý tưởng Trung Hoa có thay đổi trong xã hội Việt Nam.
Người anh hùng trở thành người tri thức và người hành động cũng là một
người lính được tôn trọng, vị quan lại chiến đấu. Người Việt Nam ít
người hùng hiền lành như Lincoln. Những anh hùng của họ, như có thể
thấy các tượng nhỏ trang trí trên các giá sách, trên bàn, là những
người đàn ông cưỡi ngựa hoặc voi, bận áo giáp cầm gươm. Nữ anh hùng
truyền thuyết cũng thế, hai chị em bà Trưng nhảy xuống sông tuẫn tiết
năm 43, không chịu hàng quân Tàu khi thua chạy. Lòng can đảm rất được
mến chuộng trong văn hóa Việt Nam. Lê Lợi giải phóng đất nước dưới 20
năm bị Trung Hoa đô hộ qua một cuộc chiến tranh 9 năm trong thế kỷ XIV,
lập một triều đại mới có một nhận định thường được lặp đi lặp lại « Tuy
mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có ». Những
cuộc chiến tranh với cường quốc phương Bắc cũng đưa người Việt Nam đi
đến xây dựng lý luận cơ bản của học thuyết quân sự của họ : một lực
lượng rõ ràng nếu được lãnh đạo đúng có thể đánh thắng một lực lượng
mạnh hơn. Khái niệm độc nhất ấy trong truyền thống quân sự đã trở thành
động lực cho lý thuyết của họ. Việc rèn luyện quân đội Việt Nam, dựa
vào lịch sử, giải thích rằng để chiến thắng phải tiêu hao dần dần , làm
cạn kiệt sức kháng cự của quân địch. Những lực lượng Việt Nam phải sử
dụng cách rút lui nhanh sau cuộc tấn công chớp nhoáng, những hoạt động
làm chậm chễ, những cuộc phục kích, quấy rối bằng các toán quân du
kích. Quân địch bị lôi kéo vào những cạm bẫy trong rừng, đồi núi và
những vùng đáng sợ khác tiêu hao hết sinh lực, còn người Việt Nam sử
dụng chính những nơi ấy để ẩn náu và khôi phục lực lượng. Cuối cùng khi
đối phương kiệt sức và rối loạn, cuộc chiến được kết thúc bằng những
đòn phản công mạnh mẽ nhưng nhanh nhẹn, bất ngờ và dồn dập tối đa. Vị
tướng giỏi nhất thời xưa, Trần Hưng Đạo, đã dùng chiến thuật ấy chống
quân Mông Cổ tràn từ sa mạc Gobi làm kinh hoàng thế giới châu Á và
chinh phục nước Trung Hoa, xâm lược Việt Nam năm 1284 rồi năm 1287.
BINH THƯ YẾU LƯỢC của Trần Hưng Đạo viết cho binh tướng trở thành một
giáo huấn cho nền quân sự Việt Nam. Một trăm năm mươi năm sau Lê Lợi
cũng dùng những biện pháp ấy đánh đuổi hết tướng tá quân Minh.
Ba thế kỷ rưỡi sau bài học vẫn không mai một. Năm 1789 năm Cách mạng
Pháp, một viên tướng được ông Giáp và ông Dũng đặc biệt thán phục là
người giỏi nhất về hành quân chớp nhoáng và tấn công bất ngờ, đập tan
cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Hoa, lần này do triều đình nhà Thanh
tiến hành. Nguyễn Huệ, sau này trị vì với danh hiệu hoàng đế Quang
Trung, thần tốc theo dọc bờ biển Việt Nam lên đến châu thổ sông Hồng Hà
không vì tính chất thiêng liêng của lễ Tết, ngày đầu năm âm lịch mà cả
người Việt Nam và người Trung Quốc đều tôn trọng. Ông ta bất ngờ đánh
tan đội quân xâm lược vô cùng mạnh hơn đang dựng trại chỗ gần Hà Nội
bây giờ. Ông tấn công vào nửa đêm ngày mồng năm của lễ hội trong lúc
quân Thanh đang ngủ say sau những bữa yến tiệc ban ngày. Từ đó người ta
tổ chức lễ chiến thắng hàng năm vào ngày mồng năm Tết như là một chiến
tích lẫy lừng trong lịch sử Việt Nam. Năm 1968 cũng là một ngày như thế.
Những võ công và truyền thống kháng chiến chống ngoại xâm là một bộ
phận tất yếu của lịch sử nước Việt Nam trước thời kỳ thuộc địa. Nó thấm
vào văn học nghệ thuật truyền thống và tâm tính của tầng lớp nông dân
đồng thời là di sản của tấng lớp quan lại. Những điền trang - trại lính
là một yếu tố quyết định sự bành trướng của phần bắc Việt Nam đến vùng
đồng bằng sông Cửu Long. Cuộc « Nam tiến » ấy là một thiên anh hùng ca
khác của lịch sử Việt Nam kéo dài trên 450 năm, từ đầu thế kỷ XIV đến
cuối thế kỷ XVIII. Việc thờ cúng tổ tiên những người nông dân tiến hành
cùng với niềm tin ngưỡng vật linh và Phật giáo bao gồm lòng tôn kính
linh hồn những chiến tướng – quan lại nhiều đền thờ được xây dựng tôn
vinh họ ở những vùng trung tâm nông nghiệp và lễ thờ cúng là một phần
trong đời sống nông dân ; trách nhiệm lễ bái họ cho là một vinh dự
thiêng liêng. Một người nước ngoài thấy người nông dân Việt Nam còng
lưng trên ruộng có thể nghĩ hình như họ cam chịu, nhưng không nên xem
sự dè dặt và chăm chỉ làm lụng của họ là sự phục tùng. Khi họ vùng lên
vì quyền lợi và được chỉ đạo tốt, họ là những người chiến đấu đáng sợ,
chỉ cần ít lâu để trở thành người lính. Cuộc sống vất vả trên đồng
ruộng chuẩn bị cho họ về những khắt khe của một trại lính và kỷ luật
tập thể cần thiết cho việc cày cấy ruộng ngập nước chuẩn bị cho họ làm
quen với luật lệ tập thể ở chiến trường. Họ cứng rắn và khôn ngoan
trong chiến đấu và lòng can đảm được đề cao trong văn hóa truyền thống
thúc đẩy họ tự chứng minh sự dũng cảm để được bạn bè kính trọng.
Người Pháp đã có thể đè bẹp dân tộc này ở thế kỷ thứ XIX với một tổ
chức Châu Âu cùng kỹ thuật, vũ khí hiện đại hơn, vào thời kỳ nền văn
minh Việt Nam cũng như Trung Quốc đang trong tình trạng đình trệ. Nhưng
đã không thể xóa bỏ lịch sử của họ. Những cuộc nổi dậy liên tiếp nhau
chứng tỏ người Pháp không bao giờ bẻ gãy được nghị lực của dân tộc này.
Những biểu tượng, và gương sáng của quá khứ tiềm ẩn Trần Hưng Đạo, Lê
Lợi và Nguyễn Huệ chờ đợi một thế hệ mới hồi sinh, phát động đất nước
vùng lên chống lại.
Khi Hồ Chí Minh và các học trò của mình khơi dậy quá khứ nối liền với
hiện tại, nhân dân Việt Nam có thể đối mặt với kẻ thù do học tập lịch
sử. Người Pháp không phải là một giống người châu Âu thượng đẳng mà chỉ
là một kẻ xâm lược khác từ ngoài vào, vậy là có thể đánh thắng. Nhóm
quan lại và những nhóm xã hội khác hợp tác với người Pháp không còn là
những người có đặc quyền người ta phải phục tùng mà cũng là những «
quân lang sói » như Hồ Chí Minh gọi tên, đã từng là những con tin của
quân Tàu chiếm đóng. Bao giờ cũng có những quan lại sẵn sàng cuồng tín
vì kẻ xâm lược nước ngoài hoặc vì tiền, vì thuộc các nhóm phiến loạn
không phục tùng hoặc vì họ nghĩ việc chinh phục sẽ kéo dài, tốt nhất là
bám vào để có vị trí cho mình và gia đình trong trật tự mới ấy. Lịch sử
Việt Nam không thiếu những « tên phản động bán mình » theo cách nói của
những người cộng sản. Những nông dân và dân nghèo thành thị trong tổ
chức mật thám, cảnh binh và quân lính thuộc địa tra tấn, giết hại đồng
loại vì người Pháp. Người Tàu cũng đã tuyển mộ loại này để bổ sung vào
hàng ngũ tay sai. Không khí tệ hãi xã hội, mưu mô xảo trá và sự thối
nát lan tràn ở Huế, ở triều đình Bảo Đại và các quan chức cấp cao là
dấu hiệu muôn thuở của một triều đại xuống dốc không thể bảo vệ đất
nước nữa và phải bị quét sạch bởi những chiến sĩ – quan lại yêu nước. Trong Thế chiến thứ hai, những người này sống trong rừng núi ven biên
giới Trung Quốc phát triển tổ chức Việt Minh để vận động một phong trào
toàn quốc. Nhớ lại công cuộc di trú anh hùng, Hồ Chí Minh gọi cuộc tiến
về các làng xã, ruộng đồng vùng đồng bằng là « tiến xuống phía Nam ».
Những cơ sở rừng núi được mệnh danh Lê Lợi, Quang Trung và những anh
hùng khác của cuộc kháng chiến xưa kia. Cuối năm 1944, Việt Minh đã có
nửa triệu người tham gia mà ba phần tư là người miền Bắc và miền Trung.
Họ do một Đảng Cộng sản lãnh đạo lúc ấy không quá năm nghìn đảng viên.
Lời kêu gọi vẫn nhấn mạnh vào lòng yêu nước và một số yêu sách xã hội
nhằm tập hợp nông dân mà không làm những điền chủ giàu có yêu nước lo
sợ.
Mùa xuân năm 1945, người Nhật đánh giá đúng người Pháp Vichy đã đổi
hướng, trở thành những « người Pháp tự do » trong lúc nước Nhật đang
thất bại trong cuộc chiến. Những cú đánh mạnh của quân đội Thiên Hoàng
khắp Đông Dương ngày mồng 9 tháng Ba lúc hai mươi mốt giờ ba mươi không
những thủ tiêu chính quyền thực dân và giải giáp quân đội mà còn đánh
một đòn sinh tử cho chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Nỗi sợ hãi của
nhiều người Việt Nam đối với những ông thầy châu Âu tan biến khi thấy
họ bị bắn, bị đánh bại và kéo lê ở các trại lính còn vợ con họ bị những
người lùn da vàng làm nhục. Áp lực của chính quyền trung ương đột nhiên
biến mất còn những vùng nông thôn Bắc Bộ lâm vào nạn đói tệ hại nhất
trong lịch sử. Giữa cuối năm 1944 và mùa hè năm 1945, từ bốn trăm nghìn
đến hai triệu nông dân và vợ con chết đói. Người ta không thể biết con
số chính xác vì chính quyền không làm được thống kê nữa và người Nhật
đã bỏ nông thôn lui về thành thị. Nạn đói là hậu quả của việc người
Pháp thu vét lúa gạo theo lệnh người Nhật để làm chất đốt cho các xưởng
của quân đội Thiên Hoàng hoặc gửi sang Nhật. Các chủ điền đại bộ phận ở
miền Bắc lúc đầu bị phá sản rồi trải qua nạn đói, không thể mua hạt
giống để gieo cấy cũng không có thực phẩm cho gia đình nữa. Việc thu
gom lúa gạo do các lý trưởng, chánh tổng, cấp cai trị thấp nhất của
chính quyền thuộc địa, có cảnh binh giúp đỡ thực hiện. Những người Việt
Nam ấy tiếp tục tịch biên lúa gạo cho người nước ngoài trong lúc chính
đồng bào của họ chết đói cho thấy một ví dụ lạ lùng về sự tha hóa đạo
đức của chế độ thực dân.
Khi các tổ chức Việt Minh thâm nhập vào nông thôn, nạn đói đã nhấn chìm
nông dân vào mức độ tột cùng của thất vọng và căm hờn. Việt Minh bèn ra
một lệnh cũng quan trọng như về độc lập dân tộc « Phá các kho thóc để
cứu đói ». Các chiến sĩ cách mạng phá những kho tích lũy gạo của các
điền chủ đem phân phát cho dân. Đổi lại, nông dân giúp họ bắt giữ các
lý trưởng, chánh tổng. Những người này bị thay thế bởi chính quyền Việt
Minh trong các « Hội đồng nhân dân » được các đơn vị tự vệ gồm những
người nông dân vũ trang bằng dao, bổ cào và liềm hái. Khi nước nhật đầu
hàng ngày 15 tháng Tám năm 1945, ông Giáp có hơn 5000 chiến sĩ phần lớn
được trang bị vũ khí Mỹ do OSS cung cấp ; họ được đa số tầng lớp nông
dân miền Bắc phục tùng không điều kiện.
Rồi như các đợt sóng vỗ bờ : ngày 17 tháng Tám, « Hội đồng khởi nghĩa »
phất cao ngọn cờ cách mạng Việt Minh, ngôi sao vàng năm cánh trên nền
đỏ trong một cuộc tập hợp lớn. Mít tinh tổ chức ở nhà hát thành phố Hà
Nội do các công chức Việt Minh dựa vào sự ủng hộ của chính phủ bù nhìn
Bảo Đại được người Nhật dựng lên. Người lên diễn đàn đầu tiên vừa cất
lời thì những lá cờ Việt Minh phất lên trong gian phòng đầy ắp người và
trên diễn đàn. Một chiến sĩ cách mạng, được những người bảo vệ có súng
ngắn bao quanh, giật lấy micro kêu gọi khởi nghĩa « giành lại đất đai
của tổ tiên ». Cảnh binh có nhiệm vụ bảo vệ cuộc mít tinh ngả theo họ
và buổi họp biến thành một cuộc biểu tình rầm rộ ủng hộ Việt Minh, tiếp
đó là cuộc diễu hành suốt đêm trên đường phố. Những ngày tiếp theo,
nhiều nghìn nông dân đổ ra thành phố. Đại diện của Bảo Đại chạy trốn.
Đội quân đồn trú bảo vệ thành phố bị cầm tù và vũ khí được phân phát
cho những người khởi nghĩa. Ba mươi nghìn lính Nhật đóng ở Hà Nội từ
chối bảo vệ chế độ bù nhìn. Họ chỉ đành giữ gìn những ngôi nhà của Nhà
băng Đông Dương và binh trại của họ.
Cuối tháng Tám năm 1945 Bảo Đại thoái vị tại thủ đô hoàng gia Huế trong
một buổi lễ tầm vóc đáng kể đối với người Việt Nam. Hoàng đế, nhân danh
quốc gia cho đến khi người Pháp bẻ gãy biểu tượng, chuyển giao quyền
hành hợp pháp cho các đại diện của Hồ Chí Minh. Mặc áo bào nhà vua,
chít khăn vàng, ông đứng trên tường thành cửa Ngọ Môn của hoàng cung
giữa thành phố Huế. Bảo Đại trao lại cho phái đoàn Việt Minh ấn tín
triều đình và thanh kiếm nhà vua. Ngọn cờ vương quốc hạ xuống từ cột cờ
đồ sộ trên cồng thành và lá cờ đỏ sao vàng của Cách mạng được kéo lên
thay thế. Nhà vua cuối cùng của triều Nguyễn trở thành công dân Vĩnh
Thụy, được phong làm « cố vấn chính trị tối cao » của chính phủ Hồ Chí
Minh cho đến lúc ông ta rời đất nước vào đầu năm 1946.
Trái với những xác định sau này của các quan chức Hoa Kỳ, những Đảng
Cộng sản khác không giúp đỡ gì người Việt Nam trong cuộc chiến tranh
chống Pháp của họ. Người Trung Quốc còn bận rộn trong cuộc chiến với
Tưởng Giới Thạch. Những đồng minh Pháp buổi ban đầu cũng bỏ rơi họ. Với
hy vọng thắng lợi trong những cuộc bầu cử năm 1945 và 1946, Đảng Cộng
sản Pháp thực ra đang lo tránh mọi hành động mất lòng dân và im lặng về
lời tuyên bố lịch sử để các thuộc địa độc lập. Những đồng chí cũ của Hồ
Chí Minh khuyên không nên chống lại việc chính quyền thực dân quay trở
lại vì một cuộc chiến tranh giành độc lập trở ngại cho đường lối ngoại
giao của Liên bang Xô Viết.
Những người Việt Nam không nhận được của Moscow một sự giúp đỡ nào vì
Stalin chẳng có lợi gì để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc cách mạng
của họ. Ông không chia sẻ hy vọng về thắng lợi bầu cử của những người
cộng sản Pháp vì ông sáng suốt hiểu rằng Hoa Kỳ không bao giờ cho phép
có một chính phủ cộng sản ở Paris dù được bầu hợp pháp hay không. Tuy
vậy ông mong Đảng cộng sản Pháp tranh thủ được quần chúng vì lợi ích
chính trị có một pháo đài cộng sản mạnh ở nước Pháp. Ông cũng muốn các
nhà chính trị cánh tả không chú ý khi ông đang củng cố sự chi phối của
Xô viết ở Đông Âu, con đường xâm nhập vào nước Đức giữa hai cuộc tranh
chấp và là mối bận tâm hàng đầu về an ninh đối với Stalin.
Trên thực tế, những người cộng sản Pháp còn vượt quá sự từ chối giúp
đỡ. Họ đồng tình với việc chinh phục lại thuộc địa. Maurice Thorez,
tổng bí thư Đảng cộng sản Pháp là phó chủ tịch Hội đồng chính phủ ba
phái tiến hành chiến tranh chống Việt Minh năm 1946. Ông chú tâm để các
thành viên Hội đồng dân tộc không cản trở việc bỏ phiếu tiến hành những
biện pháp khẩn cấp và chi phí quân sự cho cuộc chiến tranh Đông Dương. Những điều kiện ấy thay đổi vào năm 1949 với cuộc chiến tranh lạnh và
các đội quân của Mao Trạch Đông tiến xuống biên giới Bắc Việt Nam.
Trong bốn năm đầu của cuộc chiến tranh chống Pháp, người Việt Nam, như
ông Hồ, nói « hoàn toàn đơn độc ». Việc xây dựng quân đội của họ là một
sáng kiến quân sự xứng đáng với những chiến công của tổ tiên họ. Họ đã
có những tiến bộ đáng kể khi ông Hồ mất hết hy vọng thỏa thuận một tạm
ước với người Pháp, đã cho phá vỡ trung tâm Hà Nội vào đêm 19 tháng
Chạp năm 1946. Trong một năm bốn tháng tiếp theo cuộc khởi nghĩa tháng
Tám 1945, ông Giáp và các phó của ông đã biến đội quân nhỏ bé 5000
người thành một lực lượng mười vạn người giá trị chiến đấu không đồng
đều, từ những toán du kích ở đồng bằng sông Cửu Long đến những tiểu
đoàn thường trực ở Bắc và Trung bộ Việt Nam. Việc trang bị của họ lẫn
lộn các loại vũ khí : súng Pháp già cỗi với các cỡ đạn khác nhau, súng
Nhật tước của quân đội Thiêh Hoàng, súng Mỹ do Trung Hoa Dân quốc bán
giấu giếm. Họ cũng sử dụng những khẩu các-bin Mỹ và Steven Anh sản xuất
thô thiển trong những xưởng thủ công với máy móc của các xưởng máy Pháp
cũ hoặc các xưởng nghành đường sắt. Thậm chí họ cử thợ lặn xuống tìm vũ
khó và trang bị trong các tàu Nhật bị đắm ở vịnh Bắc Bộ. Nhiều nghìn sĩ
quan binh lính và kỹ thuật viên Nhật Bản đào ngũ thay vì được đưa về
nước là bộ khung cán bộ của các xưởng và huấn luyện viên cho các chiến
sĩ tương lai. Những người đào ngũ Nhật Bản do ông Giáp và các thủ
trưởng Việt Minh khác lãnh đạo, những người này đã được rèn luyện trong
Hồng quân Trung Quốc hoặc đào tạo ở học viện quân sự đệ tam quốc tế xây
dựng ở Hoàng Phố năm 1925. Người Việt Nam đã có một quân đội quốc gia.
Người Pháp phải đánh nhau 3 tuần mới kiểm soát được Hà Nội và phải gần
ba tháng mới giải phóng hết những cơ sở đồn trú bị vây hãm.
Việc tuyển mộ và tập luyện quân không ngừng tăng tiến sau đêm quyết
định ở Hà Nội. Vũ khí nhiều hơn và chất lượng tốt hơn tước được của
quân Pháp hoặc mua ở Tàu và Thái Lan. Các tướng Tàu quốc dân ở miền Nam
Trung Quốc hoặc ở đảo Hải Nam sẵn sàng vì tiền đổi súng đạn Hoa Kỳ cung
cấp chọ họ đánh cộng sản. Việt Minh duy trì cho đến thời kỳ chiến tranh
Triều Tiên một phái đoàn thường trực mau súng đạn ở Bangkok trên cùng
đường phố với cơ quan thông tin Mỹ. Tiền không có mùi vị chính trị đối
với người Thái. Vũ khí được đưa về trên lưng vật nuôi, trên xe đạp hoặc
xe bò kéo đến cơ sở Việt Minh trong vùng biên giời phía Bắc. Nhiều loại
được chở lậu bằng thuyền và tàu đánh cá từ Hải Nam đến vô số các vũng
nhỏ bở biển phía bắc hoặc trên 350 cây số Việt Minh kiểm soát, đúng vào
chỗ mấy năm sau đó Bumgardner chứng kiến Ngô Đình Diệm đến thăm vùng «
giải phóng ». Ông Giáp đã bắt đầu tổ chức các chiến binh miền Bắc thành
đơn vị cỡ Sư đoàn trước khi những người cộng sản Trung Quốc bố trí quân
ở biên giới vào cuối năm 1949, mở ra triển vọng một sự giúp đỡ tăng
tiến. Con người sống bằng nghề dạy học môn lịch sử ở một trường trung
học Hà Nội, đã giảng dậy ở đây vể cuộc cách mạng Pháp và những trận
đánh của Napoléon, đã chứng tỏ là một vị tướng trí thức nổi tiếng, có
khả năng sử dụng chiến lược truyền thống Việt Nam chống lại người Pháp.
Từ cuối năm 1949 đến mùa thu năm 1950, ông Giáp tiêu hao quân Pháp
trong những núi rừng bao quanh đồng bằng sông Hồng. Tướng Marcel
Carpentier mất phương hướng, hốt hoảng và phạm vào sai lầm người Việt
Nam đã dự kiến. Ông ra lệnh thoát ra cấp tốc khỏi các tỉnh biên giới
vào năm 1950. Các đoàn quân Pháp đi vào con đường số 4 ngoằn nghèo giữa
những núi đá vôi và rừng vùng biên giới. Quân của ông Giáp đã chờ họ ở
đấy và con đường của đế quốc Pháp là con đường kết thúc thảm hại của
nền đế quốc ấy. 6000 binh lính đội quân thực dân Pháp biến mất tại đây.
Việt Minh chiếm đủ khí giới, quân nhu, xe hơi, xe bọc thép và thiết bị
các loại để trang bị cho toàn bộ một Sư đoàn. Đây là thất bại tệ hại
nhất của đế quốc Pháp ở hải ngoại. Chiến thắng này của ông Giáp là màn
mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Cú sốc tâm lý của thảm bại này có
lẽ sẽ đẩy nhanh những cuộc thương lượng để chấm dứt chiến tranh nếu
nước Pháp bị bỏ mặc với những nguồn lực của mình. Nhưng chính quyền
Truman vừa giao ước đóng góp một sự giúp đỡ quân sự trực tiếp và hào
phóng đã khuyến khích người Pháp tiếp tục cuộc chiến.
Từ năm 1950, nhiệm vụ của ông Giáp và các sĩ quan chủ yếu là trang bị
cho quân đội dày dạn của họ bằng xe pháo Xô-viết, những súng phòng
không và khí cụ hạng nặng khác nhanh chóng đưa tới cùng những huấn
luyện viên Trung Quốc để nâng tổ chức lên thành một lực lượng chiến đấu
hiện đại. Cần nhiều năm để đạt tới điều đó, đánh dấu bởi những sai lầm
và thất bại. Nhưng điều chủ yếu đã được thực hiện vì quân đội được thế
giới chú ý năm 1954 và viết nên thiên anh hùng ca mới trong lịch sử
Việt Nam được xây dựng từ rất lâu trước khi chiếc xe tải đầu tiên chở
vũ khí Xô-viết vượt qua biên giới Trung Quốc.
Việc lãnh đạo cuộc chiến tranh giành độc lập do Hồ Chí Minh và các học
trò của ông lãnh đạo đã in đậm hình ảnh nhân dân trong trí những người
Việt Nam và cụ thể hóa một số vấn đề cơ bản của cuộc sống chính trị. Cả
toàn dân tham gia từ những trẻ em vừa lớn lên đi do thám và đưa tin đến
những bậc ông bà có thể khôn khéo biện bác với tư cách những người già.
Những người Việt Nam có ba thái độ lựa chọn : gia nhập hàng ngũ những
người cộng sản để giải phóng đất nước, hợp tác với người Pháp vì những
lý do khác nhau hoặc không tham gia vào cuộc tranh chấp này về đạo đức
và chính trị quan trọng nhất thời đại ấy như một số ít người làm, đặc
biệt là Ngô Đình Diệm. Cuộc chiến tranh làm ông Hồ trở thành người cha
của nước Việt Nam mới : do vậy một người yêu nước là một người cộng sản
hoặc một người có cảm tình. Người đứng về phía Pháp là một kẻ hợp tác,
như những người phe Pétain ở Vichy. Người nào từ chối tham gia, như
Diệm, bị loại trừ khỏi cuộc đấu tranh và lối sống chờ thời dẫn đến hư
không. Những người có trách nhiệm ở Hoa Kỳ tỏ ra không thể chấp nhận những
thực tế ấy ở Việt Nam. Tuy ông Hồ không kêu gọi trực tiếp người Mỹ nữa,
ông đã cẩn thận để ngỏ cửa, hy vọng một ngày nào đó có một sự thỏa
thuận. Đầu năm 1949, Geogre Abbott, nhà ngoại giao đã có cuộc nói
chuyện thống thiết với ông Hồ ở Paris tháng Chín năm 1946, cố gắng lưu
ý Dean Acheson với ý tưởng ông Hồ có lẽ là một Tito châu Á. Việc cắt
đứt giữa Tito và Stalin bấy giờ đã thành chính thức và năm 1949,
Washington chấp nhận tình trạng thù địch gần với cuộc tranh chấp vũ
trang giữa Liên Xô và Nam Tư. Abbott đã nêu lên một nét đặc biệt trong
thái độ của những người cộng sản Việt Nam :
« Chế độ cộng sản Việt Nam có nét đặc biệt là rất ít tuyên truyền chống
Mỹ. Dĩ nhiên điều đó không phải do đường lối chính thức của đảng không
biết. Đây nhìn bề ngoài là dấu hiệu Hồ Chí Minh còn giữa hy vọng nhận
được hỗ trợ của người Mỹ đối với một chính phủ Việt Minh dưới quyền ông
hoặc ít nhất cũng được họ chấp nhận nếu họ không giúp đỡ ».
Dean Acheson nhân danh bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Truman đã
đưa vấn đề Đông Dương vào đường lối chính trị của Hoa Kỳ ngay từ đầu.
Nhận xét của Abbott không kích thích ông sửa đổi cách phân tích của
ông. Đối với Truman và các nhân vật khác của hai đảng, sự việc đã được
xác định tất cả mọi phong trào cộng sản là những con tốt của một đất
nước tập quyền tối cao do Kremlin lãnh đạo và Joseph Stalin là một
Hitler mới tiến tới chinh phục thế giới. Mặc dù thái độ hiển nhiên của
Tito, họ không tin được một thủ lĩnh cộng sản có thể có mục tiêu chính
là nền độc lập của nước mình. Người Mỹ giúp đỡ Tito nhưng không thoải
mái, xem ông là một biến dạng. Họ không trân trọng sự hiện diện của một
chủ nghĩa cộng sản quốc già và không hiểu rằng Stalin dù quái gở đến
mấy, trong đường lối ngoại giao cũng có những mục tiêu hạn chế. Việc
nhận định sai lầm này hình như do không nhận thức được hoàn cảnh phức
tạp của thế giới. Nếu Tito, Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông là những
người quốc gia đồng thời là những người cộng sản, nếu những nền văn
hóa, lịch sử khác nhau có thể dẫn những nước cộng sản phát triển theo
những hướng khác nhau thì thế giới vô cùng phức tạp hơn những người Mỹ
ấy hình dung. Xu hướng tự nhiên đẩy họ đến chỗ hình dung một toàn cầu
phân biệt rạch ròi một cách đơn giản với một bên Thiện một bên Ác.
Acheson có ý định tìm một giải pháp thay thế chống cộng sản đối với ông
Hồ. Ông xác định sai lầm cơ bản của đường lối chính trị Pháp xuất xứ từ
chế độ thực dân kiểu cũ. Nếu nước Pháp thiết lập một chính phủ bản xứ
và tuyên bố nền độc lập cho Việt Nam, những nhà lãnh đạo mới sẽ có cơ
may tranh thủ được sự gắn bó của quấn chúng tương đương hoặc cao hơn
đối thủ Hồ của họ. Thực tế Acheson muốn người Pháp áp dụng thể chế Mỹ
vào Đông Dương. Việc tìm kiếm một giải pháp thay thế chống cộng ấy càng
tăng nhanh khi lực lượng Mao Trạch Đông bắt đầu thắng trong cuộc chiến
tranh Quốc – Cộng ở Trung Quốc. Chính phủ Truman bèn nhử mồi nước Pháp
bằng lời hứa giúp trực tiếp về kinh tế và quân sự cho cuộc chiến nếu họ
bỏ lề lối cũ của thế ký XIX để áp dụng một đường lối hợp lý. Kết quả
sáng kiến Mỹ ấy biến cuộc tranh chấp thuộc địa thành một cuộc chiến
tranh chống cộng sản mà giải pháp là Bảo Đại.
Bảo Đại trở về Việt Nam năm 1949 su một thời gian lưu vong ở Hồng Kông
để nắm lại ngôi vua dưới sự bảo trợ của người Pháp và người Mỹ. Đối với
một ông vua đã mất tín nhiệm và đã thoái vị không phải dễ dàng xem như
không có việc gì xảy ra và được quần chúng ủng hộ, đặc biệt với tính
cách như Bảo Đại. Tuy vậy ông ta không kể đến buổi lễ năm 1945 đầy biểu
tượng với người Việt Nam khi ông giao lại những vật tượng trưng quyền
lực của mình cho các đại diện của ông Hồ. Ông cố gắng không chính thức
đòi lại ngôi vua. Ông dùng danh từ « Quốc gia » Việt Nam để phân biệt
với « Vương quốc » và lấy danh hiệu chính thức là Quốc trưởng. Ông nói
chính phủ của ông thực tế là người kế nhiệm nền Cộng hòa Việt Nam mà
ông Hồ đã công bố năm 1945.
Truman và Acheson công nhận chế độ Bảo Đại là chính phủ hợp pháp của
Đông Dương vào đầu năm 1950. Acheson tuyên bố ông Hồ là « kẻ thù sinh
từ của nền độc lập Đông Dương » và Bảo Đại đại diện cho « tinh thần
quốc gia thực sự ». Nhưng nhà lãnh đạo quốc gia này có những khó khăn
trong ngôn ngữ bản xứ. Được các gia sư Pháp dạy dỗ ở Huế và ở Pháp ba
năm thời niên thiếu, Bảo Đại không thể nói, đọc và viết đúng tiếng Việt
Nam. Tháng Năm năm 1950 Acheson chính thức thông báo sự giúp đỡ kinh
tế, quân sự như đã hứa với người Pháp để đổi lấy Bảo Đại.
Quốc trưởng mới vội vã bán nhượng quyền một tổ chức cờ bạc, đĩ điếm và
thuốc phiện ở Chợ Lớn cho ông bạn Bảy Viễn, trùm xã hội đen Bình Xuyên
để nhận phần trăm tiền lãi. Ông ta cũng bổ nhiệm Bảy Viẽn làm tướng đội
quân quốc gia Việt Nam người Pháp thành lập và người Mỹ trang bị cho
Bảo Đại. Kẻ « xa hoa bạc nhược » ấy , như một nhà báo Pháp định danh
còn ý thức về vai trò của mình trong cuộc sống hơn Acheson nhiều. Một
hôm người ta cho ông ta biết người thân tín của ông, một cô gái to béo
tóc vàng ông đem theo từ bờ biển Azur ( Bờ biển phía Nam nước Pháp)
đang trác táng công khai với người Pháp. Ông trả lời « Vâng, tôi biết.
Cô ấy chỉ hành nghề của mình. Nhưng trong hai người, kẻ thực sự đĩ điếm
là tôi ». Không có một giải pháp có thể nào chống được cộng sản ở Đông Dương. Từ
năm 1930 người Pháp và thất bại của những người dân tộc đã dọn đường
cho Hồ Chí Minh. Sau một cuộc nổi dậy không thành, Sở mật thám Pháp đã
tróc tận gốc đảng dân tộc không cộng sản lớn nhất, Quốc dân đảng theo
kiểu Trung Quốc. Các lãnh tụ bị lên máy chém, những người sống sót chạy
trốn sang Trung Quốc. Những người không cộng sản không khôi phục lại
phong trào trước sự đàn áp của thực dân Pháp vì họ đều thuộc tầng lớp
tinh hoa của thành thị, không quan tâm đến những đổi thay xã hội cần
thiết để được dân chúng ủng hộ. Những người cộng sản thời kỳ ấy cũng bị
đánh khắc nghiệt sau một cuộc nổi dậy tổ chức chưa tốt, kết thúc bằng
cuộc tàn sát nông dân của đội quân Lê dương nước ngoài. Một cuộc nổi
dậy của nông dân lần thứ hai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long vào tháng
Mười một năm 1940 cũng bị nhấn chìm đặc biệt độc ác do những nhà cầm
quyền Vichy. Những người cộng sản từ đó rút bài học kinh nghiệm vì mối
quan tâm của họ về mục tiêu xã hội bao giờ cũng đưa họ dựa vào cơ sở
của sự bất bình.
Hồ Chí Minh lên nắm quyền ở Hà Nội chấm dứt giai đoạn là những người
dân tộc không cộng sản. Xung quanh ông là những người cứng rắn và được
tôi luyện : Phạm Văn Đồng không phải người duy nhất nếm trải những nhà
tù Pháp ; người vợ trước của ông Giáp, cũng là cán bộ tích cực của
Đảng, chết trong một nhà tù Pháp năm 1943. Thời kỳ tiếp theo Thế chiến
thứ hai, những người Quốc dân đảng sống sót và những đảng phái tương tự
cố hình thành một tổ chức ở Bắc Bộ chống lại Việt Minh. Ông Hồ bèn tiêu
diệt họ. Hàng trăm những người có trách nhiệm trong các đảng phái này
bị bắt và hành quyết. Từ tháng Tám năm 1945 những người cộng sản tổ
chức một phong trào ám sát có lựa chọn. Khoảng bốn chục nhân vật chính
trị bị giết. Trong số đó có Ngô Đình Khôi, anh trai cả của Diệm phụ
trách về công giáo và thủ hiến tỉnh Quảng Nam cho đến lúc người Pháp
bãi chức vì âm mưu với người Nhật chống lại họ.
Những người cộng sản không tìm cách loại bỏ tất cả những kẻ chống đối
chính trị. Họ giết những đối thủ hăng hái nhất hoặc những người họ nghi
ngại sẽ hợp tác với người Pháp. Khái niệm về dân chủ còn xa lạ ở Đông
Dương và hai bên đối địch tiêu diệt lẫn nhau. Diệm thường kể lại với
người Mỹ, cộng sản đã ám sát anh ông ta như thế nào. Ông quên nói anh
ông đã mưu mô với người Nhật để ám sát các nhà lãnh đạo Việt Minh.
Những người cộng sản biết được, vội giết ông ta và con trai trước khi
ông hành động. Ngoài những cuộc hành quyết có kế hoạch ấy, những người
nông dân Việt minh tàn sát hàng nghìn người bị nghi ngờ có cảm tình với
người Pháp, đặc biệt ở Sài Gòn và vùng đồng bằng sông Cửu Long trong
cuộc chinh phục lại thuộc địa năm 1945 – 1946.
Những người dân tộc không cộng sản sống sót sau đợt tàn sát của chế độ
thực dân và những người cộng sản được Truman và Acheson khuyến khích
hợp tác với người Pháp thông qua Bảo Đại thể hiện sự sa sút đáng khinh.
Trong nhiều năm các nhà báo Mỹ và quan chức Đại sứ quán tiếp tục trân
trọng những vỏ bọc trống rỗng ấy. Những người lãnh đạo các phe nhóm
không cộng sản có nhiều tham vọng và biết khôn khéo khoa trương thanh
thế. Nhưng không một phe nhóm chính trị nào đại diện cho điều mà người
Pháp gọi là « một tá các ông ».
Hoa Kỳ cũng chịu trách nhiệm như những người Pháp về những đau khổ của
cuộc chiến tranh thứ nhất dù thỉnh thoảng họ định phủi tay về sự cứng
đầu và ngu ngốc của người Pháp. Trong 9 năm ấy có khoảng 250.000 đến
1.000.000 dân Đông Dương bị tiêu diệt, 200.000 đến 300.000 Việt Minh bị
giết trong chiến đấu, kéo theo cái chết của 95.000 lính thuộc địa người
Việt Nam, Algeria, Maroc, Senegal , Campuchia, Lào, Đức và những người
Tây Âu trong đội quân Lê dương. Thời kỳ Điện Biên Pủh, khi Eisenhower
vào Nhà Trắng, Hoa Kỳ chi 80% tài chính cho cuộc chiến tranh của Pháp ở
Đông Dương. Những người trong chính phủ Mỹ không bao giờ công nhận
trách nhiệm của họ trong cuộc tàn sát này. Sự khôn khóe trút mọi sai
lầm cho người Pháp miễn trừ cho họ gánh nặng tinh thần chất lên người.
Sau khi Hoa Kỳ và Edward Lansdale ủy nhiệm cho Ngô Đình Diệm khoản còn
lại của chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, ông này truất phế Bảo Đại
nhưng sử dụng cho nền cộng hòa lá cờ hoàng gia có ba sọc đỏ trên nền
vàng. Ông thải hồi cảnh sát trưởng Bình Xuyên và giữ nguyên sở Cảnh sát
và An ninh quốc gia ấy. Những đổi thay ông đưa lại không phải là những
việc làm tốt nhất. Con người Lansdale đưa lên là người lãnh đạo « nước
Việt Nam tự do » đã gây ra cuộc chiến tranh thứ hại của Việt Nam.
Trong 4 năm tiếp theo Hiệp định Geneve năm 1954, ông Hồ và các cộng sự
cộng sản đối mặt với nhiều vấn đề ở miền Bắc không giải quyết được :
xây dựng lại một đất nước bị tàn phá, nuôi sống số dân 14 triệu người
trong vùng thiếu hụt và bị cắt lúa gạo nhập truyền thống từ miền Nam,
thiếu kỹ thuật viên và một nền công nghiệp cũ kỹ mà họ muốn phát triển
và hiện đại hóa. Đồng thời họ phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội
biến miền Bắc thành một quốc gia mác-xít.
Những sai lầm họ mắc phải càng làm họ bận bịu thêm. Trường Chinh, tổng
bí thư của Đảng không kiểm soát nổi lòng cuồng nhiệt trong cải cách
ruộng đất. Hàng nghìn địa chủ lớn nhỏ chết, trong số đó có một số lượng
đáng kể đảng viên là nạn nhân của những cuộc thanh trừ hoặc xử tử trước
tòa án sai lệch của nhân dân thời kỳ ấy. Hồ Chí Minh tự kiểm điểm về
những sai lầm ấy, hủy bỏ các tòa án, ra lệnh tất cả những người bị giam
giữ phải được thả ra và phát động một « chiến dịch sửa chữa sai lầm »
để ổn định tinh thần quần chúng. Trường Chinh bị rút khỏi nhiệm vụ tổng
bí thư của Đảng. Võ Nguyên Giáp xác nhận trong những « sai lầm, chúng
ta đã hành quyết quá nhiều người trung thực ... và nhìn thấy kẻ địch
khắp nơi, chúng ta áp dụng lối khủng bố, mở rộng ra quá xa ..Tệ hơn
nữa, nhục hình cuối cùng được xem như một việc làm bình thường ».
Chính quyền Eisenhower có ý định duy trì việc chia cắt nước Việt Nam,
biến giới tuyến tạm thời tập kết ở vĩ tuyến 17 do Hiệp định Geneve qui
định thành một biên giới quốc tế. Hội đồng an ninh Hoa Kỳ bí mật quyết
định phá hoại những thỏa thuận ở Geneve ngay sau khi vừa ký. Washington
sử dụng Ngô Đình Diệm vốn nhiệt tình hợp tác để ngăn cản tổng tuyển cử
trong cả nước Việt Nam như lời tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneve
ấn định vào tháng Bảy năm 1956. Nhưng nếu Diệm lo càn trở một cuộc
tuyển cử mà ông biết mình sẽ thất bại thì không một trong hai bên Việt
Nam nào từ bỏ đòi hỏi sự thống trị trên cả nước. Vả lại ba băng đỏ trên
lá cờ của Bảo Đại rồi của Diệm là hình ảnh ba miền Việt Nam : Bắc,
Trung và Nam. Liên Xô cũng dự họp ở Geneve với Anh quốc nhưng cuối
những năm năm mươi, Khrusev theo đuổi đường lối « cùng tồn tại hòa bình
». . Để hòa giải với Hoa Kỳ, ông từ chối hậu thuẫn cho những yêu cầu
của Hà Nội đòi tiến hành tổng tuyển cử. Trong một cuộc bàn luận ở Hội
đồng Bảo an đầu năm 1957 sau khi người Mỹ đòi kết nạp miền Nam Việt Nam
vào Liên Hợp Quốc, đại biểu Xô viết đề nghị giải quyết vấn đề bằng chấp
nhận cả miền Bắc và miền Nam vì ỏ Việt Nam có hai quốc gia riêng rẽ.
Hồ Chí Minh phản kháng không quyết liệt lắm. Những biến động trong nước
quá bận rộn và ông rất phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Liên Xô để xây dựng
lại miền Bắc nên hình như đành để đất nước bị chia cắt, dù sao vẫn là
tạm thời. Người ta thấy một chứng cứ, có lẽ rõ hơn ông muốn, trong bức
thư công khai năm 1956 cho 130.000 quân lính và cán bọ chính quyền Việt
Minh tập kết ra miền Bắc cùng gia đình sau Hội nghị Geneve, Đảng đã bảo
họ có thể trở về sau cuộc tổng tuyển cử năm 1956. Ông Hồ cố giải thích
vì sao không thế : « Đường lối của chúng ta là củng cố miền Bắc chiếu
cố miền Nam ». Diệm sẽ giải quyết vấn đề tiến thoái lưỡng nan của Hồ
Chí Minh. Jean-Baptiste Ngô Đình Diệm ( người Thiên Chúa giáo thường đặt một tên
Pháp thêm vào tên họ Việt Nam) đã 53 tuổi. Ông cũng lạ lẫm như Lansdale
về thực tiễn chính trị và xã hội của đất nước sau 4 năm lưu vong trở về
ngày 7 tháng Bảy năm 1954. Nhưng việc không biết là do ông muốn thế.
Đây là một người mê muội về ảo tưởng quá khứ của vương triều. Ông vào
Sài Gòn một cách đặt biệt, ngồi trong chiếc xe kéo phủ rèm và không một
người Việt Nam nào tập hợp dọc đường để nhìn vị thủ tướng mới có thể
thấy ông ta và bản thân ông cũng chẳng quan tâm để thấy họ. Một thành
viên trong gia đình một hôm nói về ông : « Ông đến từ một hành tinh
khác ».
Ông nói với người Mỹ gia đình ông thuộc dòng dọi quan lại cao cấp từ
thế kỷ XVI. Thực ra ông nội ông xuất thân từ gia đình bình thường, một
người làm nghề đánh cá như một số người cho biết, có nghĩa là Diệm nói
quá lên để tô vẽ thành hình ảnh quan lại. Gia đình phất lên nhờ ông bố
của Diệm, Ngô Đình Khả được đoàn truyền đạo của Pháp lựa chọn đưa lên
làm linh mục và học tiếng Pháp trong một trường tôn giáo ở Malaysia.
Trong lúc Khả ở bên ấy hầu hết những người trong gia đình ở Đông Dương
bị nhốt vào một nhà thờ và thiêu sống. Cuộc tàn sát này đưa lại hậu quả
những cuộc chém giết giữa các đoàn truyền đạo và không theo đạo dẫn đến
việc can thiệp của Pháp năm 1858 và một cuộc chiến kéo dài 29 năm cho
đến khi thành lập Liên bang Đông Dương.
Nước Pháp lợi dụng Thiên chúa giáo có hệ thống hơn nhiều các nước Châu
âu khác để mở rộng thuôc địa. Những đoàn truyền giáo đến Việt Nam vì
vinh quang của Chúa trời và của nước Pháp, những cải hóa mới của họ
đóng một vai trò chủ yếu trong việc chinh phục đất nước này. Khi các
ông vua hành quyết những người theo đạo mà họ coi là một bộ phận xâm
lược của nước ngoài, nước Pháp biện minh việc can thiệp quân sự của họ
là cần thiết để buộc tôn trọng « sự tự do tín ngưỡng ». Việc can thiệp
càng kéo theo những cuộc tàn sát nhiều hơn, tạo điều kiên can thiệp
mạnh hơn và cuối cùng là sự chiếm đóng vĩnh viễn. Phần lớn những người
theo đạo đầu tiên vốn có đất đai bị tàn phá nghèo hèn đi và những người
mới từ nguồn gốc thấp kém. Người Pháp đến là dịp họ bước lên trên bậc
thang xã hội. Và do sợ hậu quả nếu Pháp thất bại, họ bắt tay phục vụ
người nước ngoài. Những người chiếm đóng mới tuyển mộ họ vào quân đội,
lấy những người có học nhất làm phiên dịch, và do có thể tin cậy vào
họ, bổ nhiệm họ vào những vị trí quan lại, nhất là những người hạn chế
về nho học. Các linh mục trong những tu viện giúp chính quyền thực dân
cung cấp những viên chức hăng hái. Về mặt cá nhân, những giáo dân chống
lại người Pháp với lòng yêu nước như những người Việt Nam khác nhưng
cộng đồng tôn giáo cho thái độ ấy là chống đối, nói chung gây cho giáo
dân một trạng thái bất ổn và phụ thuộc vào nước ngoài. Theo tập quán
dân gian, các nhà thờ và đại giáo đường phải được xây dựng dựa vào tiền
của, đất đai lấy của những người yêu nước và những người bị hành tội.
Những giáo dân đặc biệt bị các gia đình trí thức bị tước quyền lợi như
gia đình ông Hồ phỉ nhổ. Trong bản buộc tội nổi tiếng của ông chống chế
độ thực dân, « Bản án chế độ thực dân Pháp », xuất bản ở Paris năm
1925, Hồ Chí Minh mô tả các linh mục Thiên chúa giáo Việt Nam như những
chim săn mồi cướp đất.
Làm lễ rửa tội ở Nhà thờ thánh và việc biết tiếng Pháp đưa lại cho bố
ông Diệm một chiếc áo quan lại sau khi từ Malaysia trở về. Sau đó ông
được thăng chức thượng thư bộ Lễ ở Huế rồi về thị vệ đại thần của vụa
Thành Thái. Khi người Pháp phế truất ông vua họ nghi có âm mưu chống
lại họ vào năm 1907, ông Khả buộc phải rút lui nhưng nhờ quan hệ của
ông đối với triều đình và nhà thờ, ông đảm bảo được tương lai cho các
con trai trong chính quyền thuộc địa. Khôi được bổ nhiệm tỉnh trưởng
tỉnh Quảng Nam, một người anh khác của Diệm, ông Thục được phong linh
mục và cuối Thế chiến thứ Hai trở thành giám mục tỉnh Vĩnh Long, giáo
phận quan trọng nhất ở miền Nam. Thái độ hai mặt của gia đình đặc trưng
bởi việc Thục từ chối không hợp tác với ba giám mục khác trong nước khi
những ông này ủng hộ bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh năm 1945
trong nhiệt tình yêu nước buổi ban đầu.
Diệm là một trong những người đầu tiên tốt nghiệp trường hành chính
Pháp ở Hà Nội và bắt đầu sự nghiệp làm quan huyện. Năm 1930 là tỉnh
trưởng một tỉnh nhỏ miền Trung, ông ta bắt đầu giúp người Pháp tàn sát
cuộc khởi nghĩa đầu tiên của nông dân do Đảng Cộng sản phát động. Diệm
bỏ công nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin mà luận thuyết về cách mạng xã
hội và chủ nghĩa vô thần tác động đến ông như một sự rút phép thông
công, một thể hiện chống Thiên chúa giáo. Năm 1933, mới 32 tuổi , quá
trình làm việc cứng rắn, tính lương thiện và sự nhạy bén chính trị được
xác lập đến mức người Pháp chấp nhận bổ nhiệm ông làm thượng thư bộ Lại
của Bảo Đại lúc ông vua này 18 tuổi. Nhà vua trẻ chưa phải một kẻ sa
đọa, quan tâm đến Diệm đang muốn cải tổ hệ thống quan lại suy đồi và
thuyết phục người Pháp cho triều đình tự chủ hơn để cai trị đất nước
với đám viên chức có hiệu quả, trong sạch. Người Pháp từ chối thay đổi
bất cứ điều gì về nguyên trạng họ đã hoàn toàn hài lòng. Bảo Đại bèn
quên ngay những cải cách để lao vào hưởng lạc. Điều đó kéo theo việc
Diệm từ chức, nổi tiếng về sự thiếu mềm dẻo mà bởi nó thời niên thiếu
ông thường bị bố đánh.
Trong 21 năm tiếp đó, ông không giữ một vị trí xã hội nào hoặc một công
việc hưởng lương nào. Cho đến những năm cuối của Thế chiến thứ hai, ông
sống bằng lợi tức tài sản khiêm tốn của gia đình, dành thời gian đi
săn, cưới ngựa, chụp ảnh và chăm nom vườn hồng. Ông vẫn sống độc thân,
đi lễ, sáng nào cũng cầu nguyện, viết và nói về chính trị nhưng không
bao giờ tham gia một hoạt động nào. Những đảo lộn của Thế chiến thứ hai
đưa ông trở lại con đường chính trị nhưng vẫn ở ngoài rìa. Ông mặc cả
với người Nhật không có hiệu quả để làm thủ tướng chính trị bù nhìn Bảo
Đại, trốn tránh Việt Minh đã bắt và cầm tù ông, từ chối đề nghị của Hồ
Chí Minh vào trong chính phủ liên hợp và trở lại trốn tránh. Ông lại
mặc cả không có kết quả với Bảo Đại và người Pháp, cuối cùng đi sống
lưu vong năm 1950, lúc đầu ở Hoa Kỳ rồi Bỉ và Pháp vì ông sợ Việt Minh
mà người Pháp từ chối bảo vệ ông. Hai mươi mốt năm chờ đợi càng thể
hiện những đặc điểm trong tính cách của ông, cố chấp và bó mình vào tầm
nhìn phản động của một quá khứ đế chế chưa bao giờ có ở Việt Nam, trừ
một nhóm nhỏ những người quốc gia chống chính quyền, ông ngày càng chìm
vào quên lãng cho đến khi Hoa Kỳ kéo ông ra vào năm 1954. |