Chiến Tranh Nhìn Từ Một Phía : Phía Của Không Phía
Điểm qua cuộc tranh luận về “Gọi tên gì cho cuộc chiến” ở trên Talawas,
tôi rất lấy làm lạ là tất cả những người tham dự chỉ bàn đến một yếu
tố: chủ thuyết chính trị, lý tưởng thế tục (political, secular
ideology) trong cuộc chiến, trong khi thực chất của cuộc chiến 20 năm
hậu-Genève, 1955-1975, chính là do sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam với
sự hội tụ của ba yếu tố: kinh tế (economics), thần học Ki-tô Giáo
(Christian theology), và chính trị. Ngoài ra, khi viết về cuộc chiến ở
Việt Nam mà không xét đến nguồn gốc quan trọng nhất trong sự tham chiến
của Mỹ vào Việt Nam là nền văn hóa Mỹ thì thật quả là một thiếu sót.
Tôi hi vọng phần sau đây, dù chỉ là sơ lược vì không có cách nào có thể
viết đầy đủ về cuộc chiến ở Việt Nam trong vòng một bài viết ngắn ngủi,
có thể bổ túc phần nào, dù ít ỏi, cho những sự thiếu sót trên. Vì không
thể viết hết về cuộc chiến nên tôi xin tự giới hạn vào ba chủ đề trong
cuộc tranh luận trên trang nhà TALAWAS, và ngay cả về ba chủ đề này tôi
cũng không có cách nào viết ra đầy đủ chi tiết vì chúng sẽ họp lại
thành một cuốn sách dày ít ra là vài trăm trang..
- Tại sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt Nam sau khi hiệp định Genève
được ký kết, chia đôi đất nước? (Tiêu Dao Bảo Cự) và tính chất pháp lý
của cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.
- Những nguyên nhân nào đã đưa đến cuộc chiến ở Việt Nam
- Cuộc chiến ở Việt Nam có phải là nội chiến hay là một chiến tranh ủy nhiệm hay không?
Những ý kiến sau đây về cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là sơ lược một số
điểm trong những tài liệu trong trên 100 cuốn sách viết về Việt Nam mà
tôi đã đọc. Điều này không có nghĩa là tôi muốn khoe là đã đọc nhiều
sách. Được đào tạo trong ngành khoa học nên tôi nằm lòng câu: “tận tín
thư bất như vô thư”, dịch thoát là “Tin tất cả vào một cuốn sách thì
thà chẳng đọc sách”. Do đó phương pháp làm việc của tôi là, bất cứ về
một vấn đề nào, tôi cũng tìm đọc càng nhiều sách càng tốt, và rút tỉa
từ những cuốn sách đó một mẫu số chung. Tôi tin rằng với phương pháp
làm việc này, tôi không đến nỗi vấp phạm phải những sai lầm trầm trọng
trong việc khảo luận. Tôi cũng ý thức được rằng tôi không tránh được sự
chủ quan khi viết về những vấn đề lịch sử. Như Gaetano Salvemini đã
nhận định: “Người viết sử nào mà nghĩ rằng mình hoàn toàn khách quan
thì bị mắc cái bệnh mặc cảm của Thượng đế” (Any historian who thinks he
is fully objective suffers from a God-complex). Tuy vậy, tôi luôn luôn
cố gắng trình bày vấn đề qua sự tổng hợp một số tài liệu, hi vọng có
thể giảm thiểu tính cách chủ quan của tôi.
Ông Nguyễn Hòa viết: “Thiển nghĩ, người Mỹ nghiên cứu cuộc chiến tranh
ở Việt Nam trước đây nhằm phục vụ cho mục đích của họ”. Không hẳn vậy,
đây chỉ là một thiểu số người Mỹ không đáng kể. Giới trí thức Mỹ không
lệ thuộc chính quyền, và những công cuộc nghiên cứu của họ về chiến
tranh Việt Nam rất nghiêm chỉnh trong lãnh vực học thuật, một lãnh vực
đặt sự lương thiện trí thức lên hàng đầu vì nó liên hệ đến uy tín cá
nhân trong giới trí thức khoa bảng. Những tài liệu tôi dùng sau đây sẽ
chứng minh điều này.
Cuộc chiến ở Việt Nam đã chấm dứt trên 30 năm rồi, nhưng “Hội chứng
Việt Nam” (The Vietnam Syndrome) vẫn còn tiếp tục ray rứt cho đến ngày
nay với người Mỹ [số cựu quân nhân Mỹ tự tử đã lên tới số tử vong ở
Việt Nam, cả triệu cựu quân nhân bị nhiễm độc Agent Orange, khoảng
30000 cựu quân nhân đang ngồi tù] và lẽ dĩ nhiên, với người Việt, ở
trong nước cũng như ở hải ngoại. Tôi là một người Mỹ gốc Việt từ trên
25 năm nay, là một cựu quân nhân trong quân lực VNCH trên 8 năm, là
người đã từng phục vụ nhiều năm trong ngành giáo dục Nam Việt Nam trước
đây, tôi nghĩ tôi cũng muốn bày tỏ vài ý kiến, rất có thể thuộc loại
“lội ngược dòng” ở hải ngoại, về cuộc chiến trên. Bất cứ người nào cũng
có quyền bất đồng ý kiến với tôi, nhưng tôi mong rằng đừng có ai có ý
định tước bỏ quyền bày tỏ ý kiến của tôi bằng bất cứ thủ đoạn nào khác
thí dụ như chụp mũ, mạ lỵ v..v... ngoài phê bình trí thức, đứng đắn,
những luận điểm trong bài,
Trước hết, tôi nghĩ cũng nên đưa ra những tổn thất sau đây, những con
số về số người Việt Nam tử vong không chắc đã là chính xác, theo tài
liệu trong cuốn The Vietnam War Almanac, General Editor: John S.
Bowman, Barnes & Noble, Inc., New York, 2005, trang 358, để cho
chúng ta có thể nghĩ lại và hiểu rõ hơn bộ mặt thật của cuộc chiến:
- Mỹ: Chết 57702; bị thương 313616, cộng với hơn 1000 chết không phải do chiến trận.
- Nam Việt Nam: Chết 185528; bị thương 499026.
- Bắc Việt: Chết 924048; số bị thương ước tính ít nhất gấp đôi.
- Cả hai miền: 415000 thường dân chết; 936000 bị thương.
- Nam Hàn: Chết 1107.
- Thái Lan: Chết 350.
- Úc và New Zealand: Chết 475.
- 8 triệu tấn bom đã thả xuống Việt Nam, Cambod, và Lào (vào khoảng gấp
hơn 2 lần tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)
- Viện trợ của Nga Sô Viết và Trung Cộng cho Bắc Việt ước tính khoảng 3 tỷ Mỹ Kim.
- Mỹ đã tiêu ở Việt Nam khoảng 300 tỷ Mỹ Kim (viện trợ và quân phí).
Ngoài ra, Mỹ cũng đã trải trên đất nước Việt Nam 76.954.806 lít hóa
chất trong đó có 49.268.937 lít chất độc màu da cam (Nguyễn Văn Tuấn,
Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam, Giao Điểm 2005, trang 52).
Tác hại lâu dài của các loại hóa chất, nhất là chất độc Da Cam, trên
môi sinh và con người Việt Nam là một sự kiện không ai có thể phủ nhận.
Mỹ đã bỏ ra $180 triệu để bồi thường cho các cựu quân nhân Mỹ bị nhiễm
ảnh hưởng của chất độc Da Cam nhưng từ chối trách nhiệm, không hề có ý
định bồi thường cho người dân Việt Nam, biết rằng mức độ tác hại của
chất độc Da Cam trên con người Việt Nam ở mức độ nặng và nhiều hơn
nhiều so với các cựu quân nhân Mỹ. Tổng Thống Jimmy Carter của Mỹ trước
đây đã tuyên bố: “Chúng ta không nợ Việt Nam cái gì cả, sự tàn phá là
cho cả 2 bên” (The destruction is mutual). Trước những con số tổn thất
trên, và trước thái độ của Mỹ đối với Việt Nam sau cuộc chiến, ai là
người có thể biện minh cho cuộc chiến chống Cộng của Mỹ ở Việt Nam là
đúng, xin lên tiếng.
Nhìn lại cuộc chiến mà kết quả là trên dưới 3 triệu người chết trong đó
có vô số người dân vô tội, thuộc đủ mọi lớp tuổi; đất nước tan hoang vì
bom đạn; cây cỏ mùa màng và con người cho tới ngày nay còn chịu ảnh
hưởng của chất độc da cam; khoảng 2 triệu người bỏ nước ra đi, có người
mừng vì được dịp từ bỏ gốc gác Việt Nam, không dám nhận mình là người
Việt Nam, tự cho mình đã trở thành văn minh trong thế giới văn minh, có
người tủi vì phải xa quê hương mà không có chọn lựa nào khác v..v..,
tôi cảm thấy khó hiểu khi trong thời buổi này mà người Việt chúng ta
còn tranh cãi về vấn đề gọi tên cho cuộc chiến 30 năm trước, hay đặt
vấn đề ai thắng ai bại.
Đặt tên cho cuộc chiến, hay biện luận về ai thắng ai bại trong cuộc
chiến, tôi cho đó là những chuyện làm vô ích, nếu không muốn nói là phí
thì giờ. Vì gọi tên cuộc chiến như thế nào là tùy thuộc người gọi ở
phía nào, và kết cục của cuộc chiến đã quá rõ ràng, nếu chúng ta muốn
phân định rõ vấn đề thắng bại. Tôi cũng có quan điểm là trong cuộc
chiến Việt Nam, cũng như trong bất cứ cuộc chiến nào khác giữa hai phe,
cả hai phe đều thua, tất nhiên không phải thua theo cái nghĩa của giáo
sư Lê Xuân Khoa: “thực tế là một cuộc nội chiến vì ý thức hệ và cũng là
một cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa các đại cường mà rốt cuộc là tất cả
mọi phe đều thua.” bởi vì đó không phải là thực tế. Cuộc chiến ở Việt
Nam không phải là một trận túc cầu, không phải là một cuộc đấu quần vợt
v..v.. mà có một bên thắng bên thua. Nó là một cuộc chiến với cái giá
của nhiều triệu sinh mạng chưa kể đến những sự tổn thất khổng lồ về vật
chất. Xin đừng cho tôi là phủ nhận công lao của các chiến sĩ tranh đấu
cho nền độc lập thống nhất của nước nhà. Cũng đừng cho tôi là phản bội
lý tưởng quốc gia. Nhưng ai thắng ai bại? “Nhất tướng công thành vạn
cốt khô”. Ý nghĩa chữ “thua” của tôi nằm trong điểm này. Cho nên, chúng
ta nên nghe lời khuyên của anh bạn trẻ: Quá khứ đã qua rồi, hãy chấp
nhận nó như nó đã xảy ra.
Cuộc chiến 30 năm ở Việt Nam, từ 1945 đến 1975, gồm 2 giai đoạn với 2
sắc thái khác nhau: trước và sau Hiệp Định Genève. Nhìn lại 2 giai đoạn
của cuộc chiến này, tôi không thể nghĩ khác hơn là giai đoạn sau Hiệp
Định Genève, theo quan điểm của đa số người Việt Nam, chỉ là sự tiếp
nối của một sứ mạng dang dở của giai đoạn trước: giành độc lập và thống
nhất đất nước. Người dân Việt Nam nói chung có thể bất mãn về chế độ
này hay chế độ kia, nhưng người dân Việt Nam trong suốt giòng lịch sử,
bao giờ cũng trân quý nền độc lập và thống nhất quốc gia, và đã đổ biết
bao xương máu để gìn giữ mạch sống này của quốc gia, trừ những kẻ thuộc
loại như Nguyễn Chí Thiện với câu thơ “Nay người dân luyến tiếc (thằng
Tây) vô chừng”, hay Linh mục Hoàng Quỳnh với câu nói lưu xú vạn niên
“Thà mất nước chứ không thà mất Chúa”, hay Nguyễn Gia Kiểng, đòi “Tổ
Quốc phải ăn năn và phải theo văn hóa Tây phương”, hay Võ Văn Ái với
câu “Nghị định 31/C ... biến miền Nam cũ thành một Nhà tù lớn” v..v..
và v..v..
Nếu chúng ta thuộc khối tuyệt đại đa số người Việt Nam yêu nước, trân
quý nền độc lập và thống nhất của nước nhà thì, theo tôi nghĩ, cuộc
chiến trong 30 năm, từ 1945 đến 1975, không thể có tên nào khác ngoài
cái tên “Một [trong nhiều] Cuộc Chiến để giành độc lập và thống nhất
đất nước”, theo đúng tinh thần Điều 3, Chương I, trong bản Hiến Pháp
đầu tiên của Việt Nam năm 1945: “Đất nước Việt Nam là một khối
Trung-Nam-Bắc thống nhất không thể phân chia.”. Tên này thích hợp nhất
và gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm để giành độc lập và thống nhất
đất nước của Việt Nam. Những người Quốc Gia chân chính không thuộc
những đoàn thể, thế lực phi dân tộc, dù thất vọng về kết cục của cuộc
chiến, dù thất bại trong việc mưu đồ cho đất nước Việt Nam một chế độ
khác với chế độ Cộng Sản, cũng không thể phủ nhận được sự kiện này. Sau
cuộc chiến, Việt Nam đã là một nước độc lập và thống nhất. Còn giành
độc lập như thế nào, thống nhất theo đường lối nào, Việt Nam hậu chiến
ra sao, đó lại là vấn đề khác. Bàn về những vấn đề này, chúng ta đã đi
vào lãnh vực phân tích đường lối đấu tranh, mục đích đấu tranh, phương
tiện đấu tranh, hậu quả của cuộc chiến trên xã hội v..v.. chứ không
phải là đặt tên cho cuộc chiến.
Người Mỹ gọi cuộc chiến đó là “Chiến Tranh Việt Nam” (Vietnam War)
giống như trước đây họ đã gọi cuộc chiến ở Triều Tiên là “Chiến Tranh
Triều Tiên” (Korean War). Một số nước khác gọi đó là cuộc “chiến tranh
Đông Dương” vì nó không chỉ giới hạn ở Việt Nam. Một số người Việt hải
ngoại, hay một số người Việt trong nước, muốn đặt tên cho cuộc chiến đó
như thế nào, chống Cộng hay chống Mỹ, là quyền của họ, tôi tôn trọng
quyền này và không có ý kiến.
Nhìn vào kết quả của cuộc chiến dài 30 năm là đất nước không còn bóng
quân đội ngoại quốc, và tuyệt đại đa số người dân Việt Nam không còn là
nô lệ của thực dân, thực dân trên mọi hình thức, thực dân kinh tế, thực
dân văn hóa, thực dân tôn giáo v..v..., tôi nghĩ rằng đây là sự khao
khát của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, những người không thuộc
hàng ngũ của những thế lực phi dân tộc và tất nhiên phản dân tộc. Không
còn là nô lệ không có nghĩa là không còn chịu ảnh hưởng. Tôi không loại
trừ sự kiện là ở trong nước có một số người không nhỏ đang sống với tâm
cảnh vọng ngoại: cái gì của Mỹ cũng hay, hay “Tòa Thánh có đánh rắm
cũng khen thơm”. Họ chỉ nhìn thấy bề ngoài và không hề nhìn sâu vào
thực chất của những thế lực đế quốc thực dân kinh tế cũng như tôn giáo.
Tôi cũng không loại bỏ sự kiện là ở hải ngoại có một số người không nhỏ
nhìn cái gì ở Việt Nam cũng xấu, họ không nhìn sâu vào thực tại xã hội
Việt Nam, và nhất là không bao giờ muốn thử “sờ tay lên gáy xem xa hay
gần”
Tôi là người đã “chạy CS” từ Bắc vào Nam năm 1954, và từ Nam sang Mỹ
năm 1975. Hiện nay, tôi không còn bố mẹ hay anh chị em ruột thịt
(immediate relative) nào còn lại ở Việt Nam ngoài một số nhỏ họ hàng.
Tôi đã chọn Mỹ là quê hương thứ hai và không có ý định trở về sống ở
Việt Nam. Tôi vẫn cho rằng quyết định rời bỏ quê hương của tôi năm 1975
là đúng, cho chính tôi và cho gia đình tôi. Như vậy, nói thẳng ra là,
mọi sự việc xảy ra trên đất Việt, xấu hay tốt, bây giờ hay trong tương
lai, đều không có ảnh hưởng gì tới cuộc sống hay tương lai của gia đình
tôi. Nhưng không phải vì vậy mà tôi đã không còn bất cứ một ràng buộc
nào với Việt Nam. Mồ mả ông cha, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi trưởng
thành v..v.., không phải là những thứ có thể đoạn tuyệt dù ngày nay
chúng không có bất cứ một ảnh hưởng trực tiếp nào đối với cuộc sống của
tôi trên đất Mỹ. Nhưng nền văn hóa Việt Nam, lịch sử Việt Nam, tình
người Việt Nam v..v.. đã ăn sâu trong tim, trong óc, cho nên, tuy từ 25
năm nay tôi đã là công dân của nước Mỹ nhưng tôi vẫn còn nhiều chất
Việt Nam hơn Mỹ. Dòng máu Việt Nam vẫn tiếp tục lưu chuyển trong huyết
mạch, xa mặt nhưng chẳng cách lòng, tôi luôn luôn mong ước những gì tốt
đẹp nhất cho Việt Nam. Đó là lý do tại sao bao lâu nay tôi cứ hay viết
về Việt Nam.
Điều này không có nghĩa là tôi ghét Mỹ vì trong hơn 5 năm học ở đại học
Mỹ trước 1975, cộng với hơn 30 năm sống trên đất Mỹ sau 1975, tôi đã
tiếp xúc với rất nhiều người Mỹ, từ những người dân thường cho đến các
sinh viên cao học, giáo sư đại học cùng các chuyên gia trong nghề khi
tôi gặp ở các hội nghị khoa học quốc tế hội thảo về ngành chuyên môn
của tôi. Người Mỹ có rất nhiều cái đáng cho chúng ta học hỏi, nhưng vấn
đề là biết đánh giá đúng những gì thật sự đáng và những gì không đáng.
Người Việt Nam không nên để tự mình đánh mất mình trong những hành động
bắt chước dỏm, lố lăng, mà phải học hỏi cách làm việc của người Mỹ,
cũng như tinh thần phục vụ tận tâm, nhã nhặn đối với người dân trong
mọi dịch vụ liên hệ đến các cơ quan công quyền, cơ quan xã hội, kinh
tế, giáo dục, thương trường v..v... Theo sở thích cá nhân, ta có thể
uống trà Lipton hay uống trà với sữa, nhưng đừng cho đó là sang như Mỹ,
như Anh, vì theo quan niệm về uống trà của Á Đông, đó chỉ là “ngưu ẩm”.
Cũng vậy, mặc áo đầm xum xoe làm lễ cưới ở nhà thờ cũng chẳng có ai
cấm, nhưng đó không có nghĩa là văn minh tiến bộ, được Chúa kết hợp
(hơn 50% cặp vợ chồng ở Mỹ ly dị sau khi được Chúa kết hợp) mà chỉ là
bắt quàng làm sang dỏm. Ở hải ngoại, phần lớn trong các đám cưới, cô
dâu đều mặc áo dài, khăn đóng, giữ được phần nào truyền thống và sự
duyên dáng của cái áo dài Việt Nam mà cả thế giới đều khen ngợi..
Học hỏi những cái hay cái giỏi của ngoại quốc để biến chế, áp dụng một
cách thông minh vào hoàn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế đất nước là
một điều rất đáng được khuyến khích và cần phải làm. Trong thời đại
ngày nay, Việt Nam không còn chọn lựa nào khác ngoài việc đi theo con
đường hiện đại hóa, kỹ thuật hóa, vì chỉ có những kiến thức cập nhật
hóa mới có thể làm cho Việt Nam trở thành dân giàu nước mạnh, một căn
bản vững chắc để giữ nước và xây dựng nước. Nhưng hiện đại hóa và kỹ
thuật hóa không có nghĩa là Âu Mỹ hóa, mang nếp sống nô lệ vật chất cá
nhân của Mỹ, Ki Tô Giáo của Âu Mỹ, và ngay cả quan niệm về dân chủ,
nhân quyền, và tự do của Âu Mỹ, về cấy trên đồng ruộng, làng xóm Việt
Nam, hay gài chúng vào trong những bộ máy sản xuất trong những cơ xưởng
của Việt Nam. Chúng là những tế bào ung thư, có tác dụng lan rộng và
hủy hoại toàn thể đất nước.
Phần phân tích sau đây không phải là để tranh luận về vấn đề đặt tên
cho cuộc chiến hay ai thắng ai bại mà là chỉ là vài ý kiến “Tản mạn
xung quanh cuộc chiến 30 năm ở Việt Nam trước đây”.
1. Tiêu Dao Bảo Cự: Tại sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết, chia đôi đất nước?
Với những kinh nghiệm và hiểu biết của tôi trong nhiều năm phục vụ miền
Nam, trừ trên 8 năm trong quân ngũ, còn phần lớn là trong ngành giáo
dục, cộng với những tài liệu tôi đọc về cuộc chiến ở Việt Nam trong
trên 100 cuốn sách của các học giả, giáo sư đại học, chính trị gia, cựu
bộ trưởng, tướng lãnh, lãnh đạo tôn giáo, phóng viên, ký giả, luật sư
v..v.. thuộc các nước Anh, Mỹ, Pháp, Úc, phần lớn viết sau năm 1975,
cái nhìn của tôi về cuộc chiến có nhiều phần thay đổi. Qua những tác
phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh của các học giả trên về cuộc chiến ở Việt
Nam, về những gì mà người Mỹ đã làm ở Việt Nam, dưới danh nghĩa giúp
Nam Việt Nam chống Cộng, đã làm tôi suy nghĩ không ít và không khỏi
không đặt lại vài vấn đề: “Có thật là Mỹ thương Việt Nam, muốn giúp
Việt Nam?”; “Mỹ hiểu gì về Việt Nam? đã coi dân tộc Việt Nam như thế
nào?”; “Căn bản pháp lý của sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam” v..v..
Tôi có thể nói ngay rằng, tất cả những lý do qua những danh từ hoa mỹ
nhất dùng để biện minh cho việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam đều không có
tính cách thuyết phục. Tiêu Dao Bảo Cự muốn biết tại sao và những lý do
mà Mỹ đưa ra để biện minh cho cuộc can thiệp vào Việt Nam thì hãy đọc
đoạn sau đây của Giáo sư Cohen.
Giáo sư Mortimer T. Cohen viết trong cuốn From Prologue To Epilogue In
Vietnam, Publisher Retriever Bookshop, N.Y., 1979, trang 208:
Trong 21 năm bị lôi cuốn vào Đông Dương, Chính Phủ Mỹ đã đưa ra những
“lý do” về những hành động của mình. Những lý do này vô giá trị. Lý do
duy nhất mà Mỹ vào Đông Dương là để ngăn chận vùng này khỏi rơi vào tay
Cộng Sản bằng một cuộc bầu cử, một cuộc cách mạng nội bộ... Và đó cũng
đủ là lý do.
Thêm nhiều lý do. Và thêm nhiều lý do nữa. Chúng mọc lên như măng tháng
5. Trước khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, những lý do có thể chứa
đầy một cuốn sách. Không lý do nào hợp lý.
(During the course of its 21 years of involvement in Indochina, the
United States Government offfered “reasons” for its actions. These
reasons were worthless. The only reason for the American being in
Indochina was to prevent the area from going Communist by an election,
by an internal revolution... And this was reason enough...
More reasons. And more reasons. They sprouted like asparagus in May.
Before the Indochina War came to an end, a book could have filled with
reasons. None of them were valid.)
Còn nữa, cuốn sách Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri (Vietnam:
Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967) viết bởi ba giới
chức tôn giáo: Mục sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo
Học, đại học Stanford; Linh mục Michael Novak, Giáo sư về Nhân Bản Học,
đại học Stanford; và Tu sĩ Do Thái Abraham J. Heschel, giáo sư về đạo
đức và huyền nhiệm Do Thái tại trường Thần Học Do Thái ở Mỹ, mở đầu
bằng câu:
Những trang sách sau đây xuất sinh từ sự cùng quan tâm của chúng tôi
rằng: quốc gia của chúng ta (Mỹ) bị lôi cuốn vào cuộc xung đột ở Việt
Nam mà chúng tôi thấy không thể nào biện minh được trong ánh sáng thông
điệp của các nhà tiên tri hay của Phúc Âm của Giê-su ở Nazareth.
(The pages that follow grow out of our shared concern that our nation
is embroiled in a conflict in Vietnam which we find it impossible to
justify, in the light of either the message of the prophets or the
gospel of Jesus of Nazareth.)
Trong cuốn sách này, Mục sư Tin Lành Robert McAffee Brown viết, p. 67:
Ngay cả quyền hiện diện của chúng ta ở đó (Việt Nam) cũng bị chất vấn,
trong ánh sáng của luật quốc tế, bởi những người có địa vị cao trong
chính phủ của chúng ta, trong đó có các Thượng Nghị Sĩ Morse, Church,
Gore, và Gruening. Nhưng ngay cả khi có quyền, bản chất những gì chúng
ta đang làm ở Việt Nam cũng phải lên án.
(Our very right to be there is questioned, in the light of
international law, by men highly placed in our government, among them
Senators Morse, Church, Gore, and Gruening. But even if there is a
clearcut “right”, the nature of what we are doing in Vietnam must be
increasingly condemned.)
Nếu không có lý do nào chính đáng và cũng không thể nào biện minh được
thì chúng ta chỉ có một cách giải thích. Đó là thực chất cuộc can thiệp
của Mỹ vào Việt Nam là Mỹ đã xử dụng “luật rừng” và “cường quyền thắng
công lý”, những hành động mà Mỹ đang áp dụng ở Iraq, và ở nhiều quốc
gia khác trước đây. Điều này có nguồn gốc từ chính nền văn hóa của Mỹ
như sẽ được chứng minh qua một số tài liệu.
Thứ nhất, Tiêu Dao Bảo Cự viết rằng “Hiệp định Genève chia đôi đất
nước” là viết nhảm, là chưa hề đọc Hiệp định Genève. Không có một điều
khoản nào trong Hiệp định Genève chia hai miền Nam Bắc ra làm hai miền
riêng biệt về đất đai và chính trị. Hiệp Định Genève gồm hai phần: Phần
“Thỏa hiệp Ngưng Chiến Song Phương” giữa Pháp và Việt Minh (Bilateral
armistice agreement between France and the VietMinh) làm căn bản cho
Phần “Tuyên Ngôn Đa Phương Có Tính Cách Quyết Định” (The multilateral
Final Declaration), đồng ghi nhận (endorsed) bởi Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa, Lào, Cambod, Pháp, Anh, Trung Quốc, Nga Sô Viết, [với sự từ chối
không tham gia của Mỹ và chính phủ Bảo Đại].
Phần “Thỏa Hiệp...”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Tướng Pháp
Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông
Dương, và ông Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa. Có vài điều khoản chính như sau:
Điều khoản 1 (Article 1) nói về sự thiết lập “một đường ranh giới quân
sự tạm thời” (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để
quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở
phía Bắc, và lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) ở phía Nam làn
ranh giới.
Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17
thuộc Việt Minh và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the
regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the
hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to
be in the hands of the French)
Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: “Trong khi
chờ đợi cuộc Tổng Tuyển Cử để Thống Nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân
sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân
(nghĩa là Pháp và Việt Minh) theo tinh thần của bản Thỏa Hiệp.”
(Pending the general elections which will bring about the Unification
of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone
shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped
there in virtue of the present Agreement).
Điều khoản 14, đoạn (c) viết: “Mỗi phe sẽ tự kiềm chế để không có bất
cứ hành động trả thù hay kỳ thị nào đối với những cá nhân hay tổ chức
vì những hoạt động trong khi có cuộc tranh chấp quân sự, và phải bảo
đảm quyền tự do dân chủ của họ.” (Each party undertakes to refrain from
any reprisals or discrimination against persons or organizations on
account of their activities during the hostilities and to guarantee
their democratic liberies)
Bản “Tuyên Ngôn...” gồm 13 đoạn, liên quan đến cả Cambod và Lào, có một đoạn đáng để ý:
Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:
“Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt
Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối
nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ
DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH
TRỊ HAY ĐẤT ĐAI . Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều
khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo
nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp
chính trị ở Việt Nam”
(The Conference recognizes that the essential purpose of the
Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a
view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS
PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A
POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The Conference expresses its
conviction that the execution of the provisions set out in the present
Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities
creates the necessary basis for the achievement in the near future of a
political settlement in Vietnam.)
Vậy nếu không phải là đất nước chia đôi qua Hiệp định Genève thành hai
miền độc lập về chính trị và đất đai, thì cuộc chiến hậu-Genève ở Việt
Nam từ đâu mà ra, và tại sao Mỹ lại lâm chiến ở Việt Nam. Câu trả lời
đã nằm sẵn trong câu hỏi. Nếu không biết đến thì ngày nay, chúng ta đã
có vô số tài liệu do chính người Mỹ viết. Nếu chúng ta biết rằng cả
Trung Cộng lẫn Nga Sô đều không muốn cho Việt Nam thống nhất thì chúng
ta nên suy nghĩ lại về hai từ “nội chiến” và “ủy nhiệm”. Tôi sẽ bàn về
hai từ này trong một đoạn sau.
Thứ nhất, không phải là sau Hiệp định Genève và vì Bắc Việt gài cán bộ
ở lại Mỹ mới can thiệp vào Việt Nam mà Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam từ
trước đã lâu. Mỹ đã đồng lõa với thực dân Pháp trong mưu toan tái lập
nền đô hộ của Pháp trên dân Việt Nam. Những người thực sự tin rằng Mỹ
là “đồng minh” của Nam Việt Nam, muốn giúp dân Việt Nam để chống lại
Cộng Sản, để cho dân Việt Nam, hay ít ra là dân miền Nam, được tự do
dân chủ, nên nhớ kỹ rằng chính Mỹ đã đài thọ hơn 80% chiến phí cho Pháp
trong cuộc chiến tiền-Genève, từ 1945 đến 1954, để Pháp tái lập chế độ
thực dân ở Việt Nam, đưa Việt Nam trở lại vòng nô lệ Pháp, trong khi Mỹ
đã biết rõ chế độ thực dân Pháp đối với dân Việt Nam là như thế nào?
Lịch sử Việt Nam sẽ lên án hành động đế quốc thực dân này. Nếu chúng ta
coi Pháp là quân xâm lăng thì Mỹ cũng là kẻ xâm lăng không kém. Chỉ sau
khi Pháp thất trận Mỹ mới đưa ra chiêu bài giúp Việt Nam, bảo vệ nền tự
do (sic) của Nam Việt Nam trong khi, như chúng ta đã biết, theo Hiệp
Định Genève, Nam Việt Nam không phải là một quốc gia độc lập mà chỉ là
một vùng rút quân của Pháp và những lực lượng quân sự dưới quyền Pháp,
trong đó có lực lượng quốc gia, chờ ngày Tổng Tuyển Cử trên toàn thể
đất nước vào năm 1956. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã chứng tỏ lòng
người dân Việt muốn gì. Và đây là quyền tự quyết của Việt Nam mà Mỹ đã
hứa là sẽ không can thiệp trong một bản tuyên ngôn đơn phương
(unilateral declaration) sau khi Hiệp Định Genève được ký kết. Do đó,
mọi lý do Mỹ dùng để can thiệp vào Việt Nam trở thành vô giá trị, không
thể biện minh được, trước những sự kiện trên.
Thứ nhì, bảo rằng Mỹ giúp Nam Việt Nam chống Cộng sau Hiệp Định Genève,
nhưng tại sao lại là Việt Nam? Thuyết Domino của Mỹ cho rằng, theo học
giả Gareth Porter: ““lý thuyết domino” cho rằng những nước không cộng
sản trong vùng Đông Nam Á sớm muộn sẽ bị lần lượt lật đổ nếu miền Nam
Việt Nam mất vào tay cộng sản. Căn cứ theo những suy diễn bình thường,
các chiến lược gia Mỹ đã thổi phồng hiểm họa cộng sản, và họ đã tin vào
những nguy cơ bị chính họ phóng đại ấy.” Nhưng vấn đề không phải là ở
thuyết Domino mà là Mỹ đã nuốt lời hứa là sẽ không can thiệp vào quyền
tự quyết của các dân tộc. Mỹ tự ban cho mình quyền của một cảnh sát
quốc tế, ép buộc mọi quốc gia phải theo sự xếp đặt của mình, nghĩa là,
như trên đã nói, áp dụng luật rừng và cường quyền thắng công lý của kẻ
mạnh. Nhưng thực ra, theo những tài liệu hiện hữu của một số học giả
Mỹ, cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam nằm trong chủ trương bá quyền
của Mỹ trên khắp thế giới chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam. Mỹ đã
can thiệp vào nội bộ của nhiều nước: El Salvador, Dominican Republic,
Philippines, Thailand v..v..
Mặt khác, trong thời điểm đó, hơn ¼ thế giới theo Cộng Sản, Cuba ở ngay
sát nách Mỹ là Cộng Sản, toàn thể Đông Âu theo Cộng Sản, và hai Cộng
Sản gộc là Nga và Tàu, tại sao Mỹ không chống ở những nơi đó mà lại đi
chống ở một nước nghèo, nhỏ, xa xôi như Việt Nam, vừa mới giành được
độc lập sau một cuộc chiến đấu gian khổ dài 9 năm, nhân dân mệt mỏi,
tài nguyên kiệt quệ, và nhất là không có khả năng gây bất cứ sự nguy
hại nào cho Mỹ?
Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học
Stanford, viết trong cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri
(Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967), trang
79:
Thật là khôi hài, ngay khi mà chúng ta nói rằng chúng ta phải “chặn
đứng Cộng Sản” ở Việt Nam, thì ở những nơi khác chúng ta lại sống chung
với Cộng Sản, soạn thảo những hiệp ước với Nga Sô, mở rộng giao thương
với Đông Âu, ủng hộ Tito ở Nam Tư. Ở những nơi khác, chúng ta rõ ràng
quyết định là sống chung hòa bình với Cộng Sản, và khuyến khích những
xã hội Cộng Sản độc lập, không cần đến sự liên kết với nhau trong khối
Cộng sản.
(It is ironic that at precisely the moment we are saying that we must
“halt communism” in Vietnam, we are coming to terms with it elsewhere,
working out new treaty agreements with Russia, extending trade in
Eastern Europe, giving support to Tito in Yougoslavia. Elsewhere, we
have clearly decide to coexist with communism, and to encourage
independent Communist societies that will be increasingly free of the
need for alliance with one another.)
Mục sư Brown nhận định không sai. Ngày 4 tháng 11, 1956, xe tăng Nga
tiến vào Budapest, thủ đô Hung Gia Lợi, một sự xâm lăng trắng trợn để
dẹp một chính quyền Cộng Sản ngỏ ý cho dân được bầu cử tự do. Mỹ chỉ
can thiệp bằng miệng, dùng đài phát thanh VOA khuyến khích dân Hung
chống trả, hứa suông là sẽ đem quân vào can thiệp, rồi án binh bất
động. Việt Nam không có quân xâm lăng từ ngoài vào. Vậy tại sao lại là
Việt Nam?
Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu những động cơ nào đã khiến cho Mỹ can
thiệp vào Việt Nam. Như trên tôi đã nói, sự can thiệp của Mỹ vào Việt
Nam là sự hội tụ của 3 yếu tố: chính trị, thần học Ki-tô Giáo, và kinh
tế.
Mục đích chính của Mỹ không phải là để tạo nên một miền Nam dân chủ tự
do. Người Mỹ không có thực tâm, không có ý tốt giúp Việt Nam, cũng như
ngày nay không có thực tâm, ý tốt giúp Iraq. Người nào tin rằng Mỹ thực
tâm giúp Nam Việt Nam để bảo vệ những giá trị tự do dân chủ cho người
dân Nam Việt Nam là đang nằm mơ. Hãy xét đến thực chất của các chính
quyền Ngô Đình Diệm và “Diệm không Diệm” của Nguyễn Văn Thiệu. Hãy xét
đến những chiến dịch quân sự dã man nhất của Mỹ ở Việt Nam đối với
người dân trong cuộc chiến. Thật vậy, ngày nay chúng ta đã rõ mục đích
tham chiến của Mỹ ở Việt Nam. Sau đây là 2 tài liệu nói về cùng một vấn
đề.
Trong cuốn The Vietnam War and American Culture của John Carlos Rowe
& Rick Berg, Columbia University Press, 1991, trang 72, chúng ta có
thể đọc đoạn sau đây:
Bảo vệ sự “tự do” của người dân Việt Nam ư? Trong những tài liệu nội bộ
(của Mỹ) những sự thực ác nghiệt về những mục đích của Mỹ về cuộc chiến
tranh (ở Việt Nam) đã nói ra rõ ràng – không gì rõ hơn là trong một bản
ghi nhớ của Thứ Trưởng Quốc Phòng John McNaughton, viết thay cho Bộ
Trưởng McNamara (với một bản sao chỉ để cho George Bundy đọc) về những
mục đích chiến tranh của Mỹ: 70% để duy trì danh dự quốc gia của chúng
ta, 20% để cho Nam Việt Nam khỏi bị Trung Quốc chiếm đóng, và 10% để
cho người dân Việt Nam được hưởng một lối sống tốt hơn và tự do hơn.
(Protecting the “freedom” of the people of South Vietnam? In internal
documents the harsh realities of US War aims were spelled out – none
more succinctly than a memorandum prepared by Assistant Secretary of
Defense for Secretary McNamara (with an eyes-only copy to George Bundy)
on US War aims: 70% to preserve our national honor,; 20% to keep South
VN territory from being occupied by the Chinese; and 10% to the South
VN to enjoy a better and freer way of life)
Chúng ta có thể thấy một đoạn tương tự trong cuốn Cuộc Chiến Bất Tận:
Cuộc Đấu Thanh Của Việt Nam Để Giành Độc Lập (The Endless War:
Vietnam.s Struggle For Independence, Columbia University Press, New
York, 1989) Giáo Sư James P. Harisson viết, trang 4:
“Ngày 24 tháng 3, 1965, Thứ Trưởng Quốc Phòng John T. McNaughton tuyên
bố là trong khi thực ra chỉ có 10% nỗ lực của Mỹ để giúp người dân Nam
Việt Nam, 20% có mục đích giữ Nam VN (và những lãnh thổ lân cận) khỏi
rơi vào tay Trung Quốc, và phần lớn nhất, 70%, là để “tránh một cuộc
thất bại nhục nhã của Mỹ.”
(On March 24, 1965, Assistant Secretary for Defense John T. McNaughton
stated that whereas in effect only 10% of US efforts aimed to help
Vietnamese people, 20% aimed “to keep South VN (and adjacent territory)
from Chinese hands”, and the greatest part, or 70%, aimed “to avoid a
humiliating US defeat”)
Xét đến những hành động của Mỹ tại Việt Nam, cách đối xử của Mỹ đối với
Việt Nam, những chiến dịch mà Mỹ tung ra ở Việt Nam, số thường dân bị
thương vong ở Việt Nam v..v.. mà ngày nay chúng ta có hàng đống tài
liệu, tài liệu của chính Mỹ, thì 10% để giúp dân Việt Nam không thể để
trên cán cân cân bằng với 90% có tính cách tàn phá, hủy diệt Việt Nam.
Sau đây chúng ta hãy xét đến những yếu tố đã góp phần trong cuộc can
thiệp của Mỹ vào Việt Nam: chính trị, tôn giáo, và kinh tế. Những yếu
tố này đan quyện với nhau tạo thành chính sách và hành động của Mỹ,
không riêng gì ở Việt Nam mà còn ở trên khắp thế giới.
Can thiệp vào Việt Nam, chính trị của Mỹ không đặt căn bản trên sự hiểu
biết về Việt Nam, điều mà tất cả các học giả ngày nay đều công nhận, mà
là trên những gì người Mỹ nghĩ về chính họ, nói khác đi là đặt trên nền
văn hóa Mỹ.
Sau thế chiến thứ II, những cường quốc thực dân Âu Châu như Anh, Pháp,
Hòa Lan đều trở nên suy yếu, Mỹ đương nhiên là quốc gia mạnh nhất về
quân sự cũng như kinh tế. Mỹ độc tôn về vũ khí nguyên tử, tự cho mình
là cái đầu tầu kéo cả thế giới theo, hoặc là một thị trấn ở trên ngọn
đồi (A city on a hill) mà thế giới phải nhìn lên ngưỡng mộ và dập theo
những giá trị đạo đức xã hội của Mỹ. Mặt khác, Mỹ có những hành động
trịch thượng, kiêu căng vô lối, tự cho mình có quyền định đoạt số phận
của Việt Nam. Chúng ta hẳn còn nhớ, sau Thế Chiến II, trước khi giúp
Pháp trở lại Đông Dương, Tổng Thống Mỹ Roosevelt đã hỏi Tưởng Giới
Thạch là “Có muốn Đông Dương không?”. Và Tưởng Giới Thạch đã trả lời:
“Điều này không giúp gì cho chúng tôi. Chúng tôi không muốn. Họ không
phải là người Tàu. Họ sẽ không chịu hòa nhập vào dân Tàu” (Backfire, p.
43: Mr. Roosevelt asked Chiang: “Do you want Indo-China?” The
Generalissimo replied: “It’s no help to us. We don’t want it. They are
not Chinese. They would not assimilate into the Chinese people.”)
Có lẽ không có cuốn sách nào đi thẳng vào những vấn đề như giải thích
cuộc chiến, tại sao nó lại xẩy ra, tại sao người Mỹ lại lâm vào cuộc
chiến như vậy để cuối cùng đi đến thất bại v..v.. bằng cuốn Kết Quả
Ngược Chiều: Việt Nam – Những Huyền Thoại Khiến Chúng Ta Chiến Đấu,
Những Ảo Tưởng Giúp Chúng Ta Thua, Cái Di Sản Vẫn Ám Ảnh Chúng Ta Ngày
Nay (Backfire: Vietnam – The Myths That Made Us Fight, The Illusions
That Helped Us Lose, The Legacy That Haunted Us Today, Ballantine
Books, New York, 1985) của Giáo sư Loren Baritz, Trưởng Khoa Lịch Sử,
Đại Học Rochester. Sau đây là một đoạn giải thích của Giáo sư Loren
Baritz, trang 10-11:
Người Mỹ không biết gì về người Việt Nam không phải là chúng ta đần
độn, mà vì chúng ta tin vào một số điều về chính chúng ta... Muốn hiểu
sự thất bại của chúng ta, chúng ta cần phải suy nghĩ về thế nào là một
người Mỹ... Huyền thoại về Mỹ như là một thị trấn trên một ngọn đồi uẩn
hàm Mỹ là gương mẫu đạo đức cho phần còn lại của thế giới, một thế giới
cho rằng sẽ đặc biệt ngưỡng mộ chúng ta. Điều này có nghĩa là chúng ta
là một dân tộc được [Thiên Chúa, lẽ dĩ nhiên của Ki Tô Giáo] chọn, mỗi
người trong đó, vì được sự ưu đãi và sự hiện diện của Thiên Chúa, có
thể vật chết dễ dàng 100 kẻ thù ngoại đạo...
Có vô số cách để người Mỹ biết trong lòng – nơi duy nhất mà những huyền
thoại có thể sống được – là chúng ta được chọn để dẫn giắt thế giới
trong vấn đề đạo đức công cộng và dạy cho thế giới trong đức tính chính
trị. Chúng ta tin rằng những sự tốt đẹp trong nước chúng ta kết thành
sức mạnh đủ để triệt hạ đối thủ của chúng ta, những người, theo định
nghĩa, là kẻ thù của đức tính, của tự do, và của Thiên Chúa. [Người Mỹ
tin tưởng như vậy. Nhưng sự thực ra sao? Trong phần trước tôi đã đưa ra
một số thống kê của chính Mỹ, chứng tỏ rằng về những tệ đoan xã hội, Mỹ
chiếm giải quán quân trên thế giới. Không ai có thể phủ nhận Mỹ là nước
giàu nhất và mạnh nhất về quân sự. Nhưng còn về các vấn đề đạo đức xã
hội, đạo đức thế giới, đức tính của con người, thì Mỹ không có gì để so
sánh với các quốc gia Á Châu. Tổng thống Bush mở cuộc xâm chiếm Iraq
cũng không ít thì nhiều có niềm tin như vậy. Sống ở Mỹ chúng ta không
lạ gì khi thấy những nhóm “da trắng ưu việt” (white supremacists) có
những hành động bạo động ác ôn đối với những người da màu mà chúng cho
là thấp kém trong khi tuyệt đại đa số chúng không tốt nghiệp nổi Trung
Học.]
(Americans were ignorant about the Vietnamese not because we were
stupid, but because we believe certain things about ourselves... To
understand our failure we must think about what it means to be an
American... The myth of America as a city on a hill implies that
America is a moral example to the rest of the world, a world that will
presumably keep its attention riveted on us. It means that we are a
Chosen People, each of whom, because of God’s favor and presence, can
smite one hundred of our heathen enemies hip and thigh...
In countless ways Americans know in their gut – the only place myths
can live – that we have been Chosen to lead the world in public
morality and to instruct it in political virtue. We believe that our
own domestic goodness results in strength adequate to destroy our
opponents who, by definition, are enemies of virtue, freedom, and God)
Tuy vậy, sau Thế Chiến II, lực lượng đối đầu Mỹ duy nhất trong thời đó
là Nga Sô Viết và Nga Sô lại là Cộng Sản vô thần, do đó đương nhiên là
kẻ thù của Thiên Chúa, cũng là kẻ thù của dân được Thiên Chúa chọn: Mỹ.
Cuộc chiến tranh lạnh đã mang đến cho Mỹ sự sợ hãi Cộng Sản vì ảnh
hưởng của Cộng Sản càng ngày càng lan rộng trên thế giới, khắp Đông Âu,
và ở các nước thuộc địa ở Phi Châu và Á Châu. Chủ thuyết của Truman
(The Truman doctrine) năm 1947 đưa đến sự viện trợ $400 triệu về quân
sự và kinh tế cho Hi Lạp để chống những du kích quân có sự ủng hộ của
Cộng Sản. Thất nghiệp và lạm phát ở Âu Châu khiến cho ảnh hưởng của
Cộng Sản lan vào cả những nước như Ý, Pháp, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, và Bỉ, và cho tới ngày nay ảnh hưởng của Cộng Sản cũng chưa
hết hẳn. Truman đưa ra kế hoạch Marshall năm 1948 với $12.6 tỷ đô-la
viện trợ để giữ Tây Âu khỏi rơi hẳn vào vòng ảnh hưởng của Cộng Sản.
Nhưng năm 1949 có 3 biến cố làm cho sự sợ hãi Cộng Sản của Mỹ lên đến
độ hoang tưởng. (From Communist fears to paranoia). Nga sô chặn đường
bộ tới Tây Bá Linh khiến cho Mỹ phải tổ chức không vận để hàng ngày
cung cấp các phẩm vật cho một thị trấn có 2 triệu người. Sau cùng Nga
Sô phải nhường bước. Cũng năm 1949 Nga Sô cho nổ quả bom nguyên tử đầu
tiên tạo nên một làn sóng sợ hãi khắp nước Mỹ. Sau cùng, cuối năm 1949,
Mao Trạch Đông đuổi Tưởng Giới Thạch ra khỏi lục địa. Một quốc gia đông
dân nhất thế giới, vừa mới là đồng minh của Mỹ cách đó 4 năm, nay đã
rơi vào tay Cộng Sản. Từ sự sợ hãi Cộng sản đến mức hoang tưởng, Mỹ đã
quyết định ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản.
Trong cuốn Can Thiệp Và Cách Mạng: Mỹ Đối Đầu Với Những Phong Trào Nổi
Giậy Trên Khắp Thế Giới (Intervention and Revolution: America’s
Confrontation With Insurgent Movements Around The World, A Meridian
Book, New York, 1972), Sử gia kiêm nhà khoa học chính trị (historian
and political scientist) Richard J. Barnet, đã từng là nhân viên Bộ
Ngoại Giao cũng như Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, viết, trang 301:
Sự hiện diện của một sự đe dọa của Cộng Sản, ngay chỉ là có thể có sự
đe dọa của Cộng Sản (như ở Cộng Hòa Dominique) cũng đủ để cho Mỹ biện
minh cho những sự can thiệp của Mỹ. Nhận định là có sự đe dọa cũng đủ
để ngăn ngừa mọi chất vấn có thể đặt ra về sự cần thiết hay đạo đức để
dẹp bỏ sự đe dọa. Mỹ càng ngày càng nói trắng ra khi tuyên bố là Mỹ có
quyền đơn phương quyết định là một sự xung đột ở bất cứ nơi nào trên
thế giới là sự đe dọa đối với nền an ninh quốc gia của Mỹ hay trật tự
thế giới và Mỹ sẽ làm gì để đối phó.
(The presence of a Communist threat, even the possibility of a
Communist threat (as in the Dominican Republic) has supplied adequate
justification for a variety of interventions. To identify the threat
has been enough to preclude any further challenge to the necessity or
morality of its suppression. The US has become increasingly outspoken
in claiming the unilateral right to make the determination whether a
conflict anywhere in the world constitutes a threat to its national
security or international order and what should be done about it.)
Một trong những lý do Mỹ đưa ra để biện minh cho sự can thiệp của Mỹ
vào Việt Nam là Mỹ đơn phương quyết định là chế độ Cộng Sản ở Việt Nam
sau Genève là sự đe dọa cho nền an ninh quốc gia của Mỹ. Cho nên Mỹ đã
chọn Việt Nam làm tiền đồn chống Cộng bất kể là sau ngày tuyên bố đất
nước độc lập, 2 tháng 9, 1945, Ông Hồ Chí Minh đã viết 8 bức thơ gửi
Tổng Thống Truman và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, yêu cầu Hoa Kỳ ủng hộ tinh
thần nền độc lập của Việt Nam và còn ngỏ ý Việt Nam có thể là một thị
trường lớn cho những sản phẩm của Mỹ, nhưng Mỹ không hề trả lời.. Mỹ
chọn Việt Nam làm tuyến đầu chống Cộng, làm phòng tuyến cuối cùng chống
sự bành trướng của Cộng Sản ở Á Châu, vì cho rằng Việt Nam là một nước
nhỏ yếu không có khả năng chống lại ý định của Mỹ, cho nên Mỹ sẽ thành
công trong mục đích chống Cộng cùng lúc tạo uy tín của Mỹ trên thế
giới. Mặt khác Mỹ còn muốn chứng tỏ cho thế giới biết là vũ khí và
chiến thuật của Mỹ có thể đối phó với chiến thuật du kích của Cộng Sản.
Đây là một sự tính toán chính trị sai lầm, đan quyện với một ý đồ đế
quốc thực dân mới (thực dân kinh tế), cộng với tâm cảnh của những
“cao-bồi bắn dân Da Đỏ” (cowboys shooting Indians) trong những phim
“Westerns”, tự cho rằng Mỹ là khuôn mẫu “thiện” của cả thế giới, vì Mỹ
tin tưởng ở Thiên Chúa (In God We Trust), vì Mỹ là “quốc gia của Thiên
Chúa” (God Country), theo tinh thần Ki Tô Giáo và lịch sử Ki Tô Giáo:
kẻ nào không tin Thiên Chúa của Ki-tô Giáo là kẻ ác, cho nên với quan
niệm trắng đen, thiện chống ác, và đã tin vào ưu thế của vũ khí, để can
thiệp vào Việt Nam bất kể lý do, bất kể đạo đức, bất kể pháp lý, đưa
đến kết quả là thất bại sau khi tàn phá đất nước Việt Nam một cách man
rợ, vô nhân tính. Noam Chomsky đã châm biếm, cho rằng Mỹ đã thắng một
phần ở Việt Nam (A partial victory) vì đã thành công để lại cho Việt
Nam một di sản tan hoang đất nước, khó có cơ hội phục hồi về xã hội và
kinh tế, cộng với cuộc cấm vận của Mỹ kéo dài trong 19 năm. Hãy nghĩ
tới một Việt Nam sau cuộc chiến, mọi mặt đều kiệt quệ đến tận xương
tủy, cộng với sức ép của Mỹ (Ấn Độ muốn viện trợ cho Việt Nam 100 con
trâu cũng bị Mỹ ngăn chận), Việt Nam vươn lên được tới tình trạng ngày
nay, kể ra cũng là một phép lạ rồi. Trong phép lạ này cũng có phần của
người Việt hải ngoại không chịu nghe theo lệnh của bọn người áo đen bán
phở và viết báo chống Cộng, yêu cầu Mỹ đừng bỏ cấm vận, hô hào dân tỵ
nạn đừng gửi tiền về, đừng về Việt Nam v..v...
Không ai hiểu Mỹ bằng người Mỹ, nhất là giới trí thức Mỹ. Mục Sư Tin
Lành Robert McAfee Brown viết (Ibid., trang 14) về khía cạnh tôn giáo
của cuộc chiến:
Đây là cuộc chiến của “những kẻ tốt chống kẻ xấu” (good guys versus bad
guys), “những kẻ tin Chúa chống những kẻ vô thần” (the godly versus the
ungodly), “ánh sáng chống tối tăm”, là “cuộc đối đầu giữa những quốc
gia nô lệ và quốc gia trong thế giới tự do” (the antagonists are the
“slave nations” and the nations of the “free world”), cuộc chiến chống
“những kẻ man rợ đe dọa những dân tộc văn minh, luật pháp và trật tự,
và lối sống của người Mỹ” (Barbarians threaten civilized peoples, law
and order, and the American way of life). Đó là cách nhìn lịch sử của
những người tin vào một cuộc chiến giữa thiện và ác trong ngày tận thế
(Their view of history is apocalyptic)...
Trong những phim “cao-bồi”, bao giờ cũng có hai phe riêng biệt. Một phe
chiến đấu cho luật pháp và trật tự, phe kia vô luật pháp và vô trật tự.
Nếu trong chuyện phim có những dân da đỏ, sự xung đột là giữa những
người da màu dã man và những người da trắng văn minh, yêu hòa bình. Kết
cục bao giờ cũng là cảnh tàn bạo. Phe thắng là phe có nhiều vũ khí tối
tân hơn hoặc rút súng nhanh hơn. Khi mà, trong vài trường hợp, những kẻ
xấu (da màu) tiêu diệt một nhóm nhỏ những kẻ tốt (da trắng), đó là một
sự tàn sát độc ác và tàn nhẫn (it is a cruel and heartless massacre);
khi mà những kẻ tốt (da trắng) giết vô số những kẻ xấu (da màu) [when
the good guys kill huge numbers of bad guys], đó là một sự chiến thắng
của công lý và văn minh (it is a victory for justice)
Nhận định của một giới chức Ki-tô Giáo như trên thật là rõ ràng trong
cuộc chiến ở Việt Nam với những motto: “Kill a gook for God” viết trên
mũ sắt của lính Mỹ, “A good VC is a dead one”, và Hồng Y Spellman sang
Việt Nam ủy lạo binh sĩ Mỹ rằng họ đang chiến đấu để bảo vệ nền văn
minh Ki-tô Giáo, một nền văn minh quy thần, hạ thấp phẩm giá con người,
rất xa lạ đối với nền văn minh nhân bản và nhân chủ của Việt Nam.
Mỹ đã thất bại ở Việt Nam trong những mục đích tham chiến và bảo vệ nền
văn minh Ki Tô Giáo. Trước thế giới, Mỹ không còn là “một thị trấn trên
ngọn đồi”. Tại sao Mỹ thất bại ở Việt Nam? David Lamb (UPI reporter
1960’s; Los Angeles Time’s first peacetime bureau in VN) đã đưa ra một
nhận định khá đúng trong cuốn Vietnam, Ngày Nay (“Vietnam, Now” ,
Public Affairs, NY, 2002) trang 85,91:
Sai lầm lớn của người Mỹ là không hiểu lịch sử, văn hóa và trạng thái
tâm lý đặc trưng của Việt Nam. Họ quá tin chắc vào sức mạnh quân sự sẽ
thắng cuộc chiến, không bao giờ buồn để ý đến chuyện tìm hiểu là họ
chiến đấu với ai... Mỹ đã tới Việt Nam để xây dựng nhưng rút cuộc là
phá hủy. Mỹ tới rừng rú Việt Nam để chiếm lòng dân, nhưng trong cuộc
chiến lâu dài nhất – cuộc chiến đầu tiên mà Mỹ thất trận –đã khám phá
ra rằng những dụng cụ chiến tranh không thể thay thế cho sinh khí của
tinh thần quốc gia [của người dân Việt].
(The big mistake the Americans made was not understanding the
Vietnamese’s history, culture, mentality. They were so sure military
strength sould win the war, they never bothered to learn who they were
fighting.... The US had come to Vietnam to build and ended up
destroying. It came to the jungles of VN to win hearts and minds, and
in fighting its longest war – the first war the US had ever lost –
discovered the tools of war were no substitute for the vitality of
nationalism..)
Nhưng nghiên cứu kỹ vấn đề, căn bản không phải là “Sai lầm lớn của
người Mỹ là không hiểu lịch sử, văn hóa và trạng thái tâm lý đặc trưng
của Việt Nam” mà chính là căn bản pháp lý của sự can thiệp của Mỹ vào
Việt Nam. Như vài tài liệu trên đã chứng tỏ, Mỹ không có lý do nào
chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ 1945 đến 1975. Mỹ đã bất kể đến
công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý, mà dựa trên “luật rừng” và
“cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành
trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực” như Gareth Porter đã
viết trong bài : “Biện giải vấn đề Việt Nam 30 năm sau — Bàn cờ domino
Châu Á hay sự khống chế của Hoa Kỳ?“, Hà Minh dịch trên Talawas:
Trước vai trò chính của quân đội Hoa Kỳ trong việc quyết định can thiệp
sâu hơn vào Việt Nam, sự tương đồng lịch sử giữa việc chiếm đóng Việt
Nam và Iraq càng trở nên hiển nhiên. Trong cả hai trường hợp, ưu thế
quân sự toàn cầu của Mỹ đã nuôi dưỡng ý đồ bành trướng thế lực và ảnh
hưởng trên toàn khu vực. Và trong cả hai trường hợp, các lãnh đạo an
ninh quốc gia đã giả định rằng họ có thể dùng vũ lực mà không sợ nguy
cơ mở rộng chiến tranh, sự giả định này phụ thuộc nặng nề vào hiệu quả
răn đe đối với kẻ thù. Họ đã sai lầm nghiêm trọng tại cả hai nơi: Việt
Nam và Iraq.
Bài học Việt Nam chưa làm Mỹ tỉnh giấc mộng bá vương, cho nên ngày nay
chúng ta lại thấy Mỹ đơn phương đi vào cuộc chiến ở Iraq, dựa trên
những quyết định đơn phương vô căn cứ hay ngụy tạo: Iraq có vũ khí giết
người hàng loạt (Weapons of mass destruction) và Iraq can dự vào vụ
9-11 ở New York.
Viết về chiến tranh Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố kinh tế.
Phải chăng những lý do Mỹ đưa ra về sự can thiệp vào Việt Nam chỉ là,
như Tướng Telford TayLor, cố vấn trưởng của Mỹ tại Tòa Án Nuremberg để
xử các tội phạm chiến tranh Đức quốc Xã (Chief counsel for the
prosecution, with the rank of Brigadier General, at the Nuremberg
war-crimes trials), đã viết trong cuốn: “Nuremberg Và Việt Nam: Một Tấn
Thảm Kịch Của Mỹ” (Nuremberg and Vietnam: An American Tragedy, New York
Times Book, 1970, trang 103): “che dấu ý định khai thác Nam Việt Nam
như là một căn cứ quân sự Mỹ để “ngăn chặn” Cộng Sản, hay thống trị
Đông Nam Á và những tài nguyên thiên nhiên khổng lồ ở đó” [only to
conceal the intention to exploit South Vietnam as an American military
base to “contain” Communism, or to dominate Southeast Asia and its
enormous natural resources].
Tây phương đã đến Á Châu như là những đế quốc thực dân, Á Châu
không có mấy lý do để tin tưởng rằng Mỹ nhân đạo hơn những người da
trắng đã đến trước. Và chúng ta đã biết, mục đích chính của Mỹ không
phải là giúp dân Việt Nam.
Hành động can thiệp vào Việt Nam của Mỹ không nằm ngoài chủ trương của
Mỹ là thiết lập một trật tự thế giới ổn định (a stable world order),
theo ý định của Mỹ, mà trong cái gọi là trật tự thế giới này, Mỹ nắm
Ngân Hàng Quốc Tế (World Bank), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF =
International Monetary Fund). Mỹ đã dùng những cơ quan này để cho các
nước nhỏ đang mở mang vay nhẹ lãi, hỗ trợ những dự án có lợi cho Mỹ, và
khi cần có thể làm sụp đổ nền kinh tế địa phương. Thật vậy, theo Mục sư
Robert McAfee Brown (Ibid., trang 24) thì:
Trật tự thế giới ngày nay rất lợi lộc cho những nhà tư bản Mỹ, những
người ngồi trên chóp của đống lợi nhuận. Ngoại viện của Mỹ cho những
kém mở mang được coi như là một chủ nghĩa đế quốc mới; không phải là đế
quốc quân sự mà là đế quốc đô-la. Đế quốc đô-la không hiển nhiên như đế
quốc thực dân; nó không toan tính thiết lập một văn phòng chính trị
thực dân. Nó mua chuộc những chính trị gia bản xứ sẵn sàng bán linh hồn
và xen vào nội bộ của quốc gia qua những phương pháp kinh tế chứ không
phải là chính trị. Nó cũng có hiệu lực như là thực dân quân sự nhưng
khó mà có thể lột mặt nạ của nó ra. [Chúng ta hãy nhìn kỹ vài bộ mặt
chính trị gia được Mỹ mời đến dự ngày độc lập của Mỹ tại Tòa Đại Sứ ở
Việt Nam]
(The present world order is very profitable for capitalists in the
United States, who are sitting on top of the heap. The foreign aid
given by the United States to underdeveloped nations is regarded as a
new kind of imperialism: not military but dollar imperialism; it does
not attempt to set up a colonial political office. Instead, it buys out
willing native politicians and interferes in the country through
economic rather than political methods. It is just as effective as
colonial imperialism, though harder to unmask.)
Trong cuốn Turning Points in World History: The Vietnam War, yếu tố kinh tế cũng được nói tới ở trang 50:
Trong ngôn từ chiến lược và kinh tế, Đông Nam Á cũng là vấn đề quan
trọng đối quyền lợi của Mỹ. Đông Nam Á rơi vào tay Cộng Sản sẽ đe dọa
chuỗi đảo trải dài từ Nhật tới Phi Luật Tân, cắt đường hàng không của
Mỹ tới Ấn Độ và Nam Á và dẹp bỏ phòng tuyến phòng vệ đầu ỡ Thái Bình
Dương. Úc và Tân Tây Lan (New Zealand) sẽ bị cô lập. Vùng (Đông Nam Á)
có nhiều tài nguyên thiên nhiên và chiến lược, gồm có thiếc, cao su,
gạo, nguồn dầu dừa, quặng sắt, đồng, tungsten, và dầu hỏa. Mỹ không chỉ
bị cắt đứt, không tơ hào gì được những nguồn tài nguyên đó, mà tiềm
năng về những thị trường to lớn để tiêu thụ những sản phẩm của Mỹ cũng
bị đe dọa.
In strategic and economic terms, Southeast Asia was also critical to
American interests. The fall of Southeast Asia would threaten the
island chain stretching from Japan to Philippines, cutting off American
air routes to India and South Asia and eliminating the first line of
defense in the Pacific. Australia and New Zealand would be isolated.
The region was loaded with important natural and strategic resources,
including tin, rubber, rice, copra, iron core, copper, tungsten, and
oil. Not only would be the US be cut off from those resources, but huge
potential markets for American products would be threatened.
Ở trên tôi đã đưa ra sơ lược ba yếu tố chính trị, tôn giáo, và kinh tế
đã góp phần trong cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Căn bản là Mỹ đã
chọn Việt Nam làm địa bàn chống Cộng ở Đông Nam Á, bất kể là người Việt
Nam có muốn hay không. Mỹ đã quyết định dùng vũ lực để chống Cộng ở
Việt Nam, Nam Việt Nam là phòng tuyến không cho Cộng Sản vượt qua, vậy
những “nếu” hay “tại vì” đặt ra để giải thích cuộc can thiệp của Mỹ vào
Việt Nam đều không thích hợp. Mỹ sẽ nhảy vào can thiệp nếu có nguy cơ
miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, bất kể là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
gồm 100% người Nam hay 100% người Bắc. Nguy cơ này càng ngày càng hiện
rõ vào từ năm 1961 đến cao điểm vào những năm 1964-1965, cho nên Mỹ đã
ồ ạt đem quân vào Việt Nam. Tuy nhiên, để cho vấn đề được rõ ràng hơn,
có lẽ chúng ta cũng nên bàn đến hai điều sau đây trên Talawas.
2. Tiêu Dao Bảo Cự: Nếu không có cuộc chiến tranh giải phóng của miền
Bắc, được chuẩn bị ngay từ năm 1954 khi cài cấy cán bộ ở lại và sau đó
từng bước đưa vũ khí và quân đội vào miền Nam và cuộc chiến lan rộng
thì Mỹ có trực tiếp đưa quân vào miền Nam không?
Lê Xuân Khoa: “Cuộc chiến 1955-1975 ở Việt Nam được gọi là nội chiến vì
sau khi đất nước bị chia đôi, chính quyền miền Bắc đã để lại cán bộ,
chôn dấu vũ khí và hoạt động bí mật đàng sau các phong trào tranh đấu ở
miền Nam; trong khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng phát động chiến
dịch tố cộng sâu rộng và mãnh liệt.”
Đọc hai đoạn trên của 2 tác giả Lê Xuân Khoa và Tiêu Dao Bảo Cự trong
cuộc tranh luận về gọi tên cho cuộc chiến, tôi quả lấy làm thất vọng vì
đến thời buổi này mà hai tác giả trên còn có thể viết ra được những câu
như vậy. Hai tác giả trên, và có thể còn một số người khác cũng đồng ý
với những lập luận trên, không lý gì đến nguồn gốc cuộc chiến ở miền
Nam từ đâu phát khởi, phát khởi từ bao giờ, và tại sao nó lại phát
khởi. Nói ngắn gọn, nó phát khởi là từ một số người ở miền Nam bị dồn
đến đường cùng, cho nên nổi giậy để chống những chính sách của chính
quyền gia đình trị, tôn giáo trị Ngô Đình Diệm. Sự nổi giậy này dần dần
bành trướng thành Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia, và sau đó, để đối phó
với sự đàn áp của chính quyền Diệm do Mỹ đứng đàng sau, đã phải chịu sự
chi phối và chỉ đạo của Bắc Việt. Ngày nay, tuyệt đại đa số viết về Mặt
Trận Giải Phóng Việt Nam cho thấy tuyệt đối không phải là vì có cuộc
chiến tranh giải phóng của miền Bắc, được chuẩn bị ngay từ năm 1954 khi
cài cấy cán bộ ở lại và sau đó từng bước đưa vũ khí và quân đội vào
miền Nam như Tiêu Dao Bảo Cự viết, mà cũng không phải là vì sau khi đất
nước bị chia đôi, chính quyền miền Bắc đã để lại cán bộ, chôn dấu vũ
khí và hoạt động bí mật đàng sau các phong trào tranh đấu ở miền Nam
như Giáo sư Lê Xuân Khoa Viết. Không hiểu hai tác giả trên đã đọc đến
vài cuốn sách điển hình như của Jean Lacouture với cuốn Vietnam:
Between Two Truces, Vintage Book, 1966, Chương 3: The Birth of The
National Liberation Front; Frances Fitzgerald với cuốn Fire In The
Lake, 1972, Chương 4: The National Liberation Front, Phần The Origins
Of The National Liberation Front; và nhất là cuốn The Pentagon Papers,
Published by The New York Times, 1971, Chapter 2, pp. 67-78:
Sau đây là vài đoạn điển hình trong cuốn The Pentagon Papers, tài liệu
của Ngũ Giác Đài, hiển nhiên không phải thuộc loại phản chiến hay thiên
Cộng:
Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, tình báo Mỹ ước tính trong thập niên 1950 là
chiến tranh phát khởi phần lớn là do sự nổi giậy ở miền Nam để chống
chế độ tham nhũng và càng ngày càng đàn áp dân chúng của Ngô Đình Diệm .
Tài liệu Ngũ Giác Đài nói về những năm 1956-1959, khi mà cuộc nổi giậy
bắt đầu, hầu hết những người đứng lên cầm vũ khí là những người Việt
miền Nam và những nguyên nhân họ chiến đấu không có cách nào có thể bảo
đó là do kế hoạch tính toán trước ở Bắc Việt.
Chỉ có rất ít bằng chứng là Bắc Việt đã chỉ đạo, hoặc có khả năng để
chỉ đạo, những sự bạo động ở miền Nam (3 tháng cuối 1957: 75 viên chức
địa phương bị ám sát. Ngày 22 tháng 10, 1957, 13 người Mỹ bị thương
trong 3 cuộc nổ bom ở Saigon)
Từ năm 1954 đến năm 1958 Bắc Việt tập trung vào sự phát triển nội bộ,
hiển nhiên là hi vọng vào một cuộc thống nhất đất nước hoặc qua cuộc
bầu cử theo như Hiệp Định Genève hoặc là kết quả của sự sụp đổ đương
nhiên của chế độ Diệm yếu ớt. Cộng sản để lại ở miền Nam một bộ phận
nòng cốt khi họ đi tập kết ra Bắc năm 1954 sau cuộc chiến với Pháp chấm
dứt, nhưng những cán bộ được lệnh chỉ được “tranh đấu chính trị” [để
sửa soạn kiếm phiếu trong cuộc bầu cử mà Bắc Việt hi vọng, và điều này
không vi phạm hiệp định Genève].
Tháng 5, 1959, các nhà lãnh đạo Bắc Việt quyết định nắm quyền cuộc nổi giậy càng ngày càng lớn mạnh ở miền Nam.
Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, cả tình báo Mỹ và các tù binh Việt Cộng đều
cho sự thành công nhanh chóng của Việt Cộng sau 1959 là do những sai
lầm của Diệm.
Tài liệu Ngũ Giác Đài mô tả trạng thái tâm lý của Ngô Đình Diệm như là của một “Đại Phán Quan Tây Ban Nha).
(American Intelligence estimates during the 1950s show, The Pentagon
account says, that the war began largely as a rebellion in the South
against the increasingly oppressive and corrupt regime of Ngo Dinh Diem.
“Most of those who took up arms were South Vietnamese and the causes
for which they fought were by no means contrived in North Vietnam,” the
Pentagon account says of the years from 1956 to 1959, when the
insurgency began.
There is only sparse evidence that North Vietnam was directing, or was
capable of directing, that violence (Last quarter of 1957: 75 local
assassinated or kidnapped. On October 22, 1957, 13 Americans were
wounded in three bombings in Saigon)
From 1954 to 1958 North Vietnam concentrated on its internal
development, apparently hoping to achieve reunification either through
the election provided for in the Geneva settlement or through the
natural collapse of the weak Diem regime. The Communist left behind a
skeletal apparatus in the South when they regrouped to North Vietnam in
1954 after the war with the French ended, but the cadre members were
ordered to engage only in “political struggle.”
North Vietnam’s leaders formally decided in May, 1959, to take control of the growing insurgency.
The Pentagon account says that both American intelligence and Vietcong
prisoners attributed the Vietcong’s rapid success after 1959 to the
Diem’s mistakes.
Diem’s mentality is described in the account as like that of a “Spanish Inquisitor”.)
Đến đây, có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu chút ít là chính quyền Ngô
Đình Diệm đã làm những gì để cho người dân miền Nam phải nổi giậy chống
đối, và như chúng ta đã biết, không phải là chủ trương của Bắc Việt cho
đến năm 1959. Đây không phải là chỗ đi vào chi tiết những hành động
khủng khiếp của chính quyền Diệm đối với người dân, các đảng phái, và
tôn giáo khác. Quý độc giả nào muốn biết rõ hơn thì có thể tham khảo
nhiều cuốn sách hiện hữu ngày nay bằng tiếng Anh, hoặc hai cuốn “9 Năm
Máu Lửa Dưới Chính Quyền Ngô Đình Diệm” của Nguyệt Đam và Thần Phong và
“Đảng Cần Lao” của Chu Bằng Lĩnh. Ở đây, tôi chỉ đưa ra vài nét chính
qua những nhận định của Giáo sư Mortimer T. Cohen trong cuốn From
Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 240, 41, 61:
Diệm là một người Công Giáo thuộc thời Trung Cổ - ông ta đúng, mọi
người khác đều sai. Chân lý (Phúc Âm) có quyền ưu tiên, những sự sai
lầm không có. Và, biết rõ bản chất bất ổn định của quyền cai trị của
ông ta, ông ta bị ám ảnh bởi ý tưởng là người nào phê bình bất cứ điều
gì về chế độ của ông ta cũng là những kẻ thù thâm căn cố đế.
Ông ta là thánh Dominique (Người được Giáo Hội Công Giáo giao cho nhiệm
vụ phát động những Tòa Án Xử Dị Giáo (The Inquisition) trong thời Trung
Cổ).
Tháng 5 1955, ông ta mở chiến dịch Tố Cộng. Hiệp Định Genève đặc biệt cấm không được trả thù chính trị.
Do đó, Diệm đã khởi sự những sự thù nghịch. Chính hắn, bằng chính sách
tấn công tiêu diệt Việt Minh, đã khởi sự cuộc chiến ở miền Nam. Và
chúng ta cần nhấn mạnh là, hắn ta hành động như vậy không phải là để
trả đũa bất cứ sự khiêu khích nào của Việt Minh, nhưng từ sự thúc đẩy
là phải tiêu diệt Cộng đỏ - tinh thần của một tên Công Giáo thời Trung
Cổ đi săn lùng kẻ lạc đạo...
(Diem was a medieval Catholic – he was right, the others were wrong.
Truth has privileges, error đoes not have. And, well aware of the
precarious nature of his rule, he was obsessed with the idea that all
who criticized anything about his regime were inveterated enemies.
He was St. Dominick.
June of ’55 he opened an “Anti-Communist Denunciation Program”. The Geneva Accord specifically forbade political reprisals.
Thus, Diem began the hostilities. It was he, who by his assault on the
Vietminh, began the fighting in the South. And, it must be emphasized,
that he did this not in response in any Vietminh provocations, but out
of his compulsion to exterminate the Reds – the spirit of the Medieval
Catholic heretic-hunter.)
Phê bình chiến dịch Tố Cộng với những kết quả khủng khiếp của nó qua
một vài con số trích dẫn mà tôi không muốn kê ra ở đây, Avro Manhattan
viết trong cuốn Vietnam: Why Did We Go, 1984, trang 99, như sau:
Đằng sau cái bề mặt (Tố Cộng), mục tiêu thực của nó là Công Giáo hóa
quốc gia. Sự đàn áp của Công Giáo ở Nam Việt Nam không phải là sự tác
động của một cá nhân cuồng tín, hay của một nhóm cá nhân thí dụ như ba
anh em của Diệm, hiến thân cho chính sách Công Giáo hóa một nước Phật
Giáo. Nó là phó sản của một chính sách dài hạn đã được tính toán cẩn
thận, nhận thức và đẩy mạnh bởi những bộ óc mà những mục tiêu căn bản
là bằng mọi giá, bành trướng một tôn giáo mà họ tin chắc rằng là một
tôn giáo chân thật duy nhất trên thế giới.
Người gây cảm hứng chính và theo đuổi chính sách này, như chúng ta đã
thấy, là Giáo Hoàng Pius XII. Chính sách đó hoàn toàn hợp điệu với
chiến lược toàn cầu của ông ta, nhắm tới hai mục tiêu căn bản: tiêu
diệt Cộng Sản, và bành trướng Giáo Hội Công Giáo
Behind itd facade its real objective was the Catholicization of the
Country. The Catholic repression of South Vietnam was not the work of a
fanatical individual, or a group of individuals, like the three Diem
brothers, dedicated to the Catholicization of a Buddhist country. It
was the by-product of a well calculated long range policy conceived and
promoted by minds whose basic objectives were the expansion at all
costs, of a religion which they were convinced was the only true
religion on earth.
The main inspirer and prosecutor of such a policy, as we have seen, was
Pope Pius XII. Such policy was totally consonant with his globl
strategy, directed at two fundamental objectives: the destruction of
Communism, and the expansion of the Catholic Church.
Tưởng chúng ta cũng nên nhắc lại là Giáo Hoàng ngày nay, Bê-Nê-Đít-To
16, nguyên là Hồng Y Thiết Giáp Ratzinger, cách đây không lâu, đã cùng
với Giáo Hoàng John Paul II, tung ra tài liệu Dominus Jesus, khẳng định
Công Giáo là tôn giáo chân thật duy nhất, không có sự cứu rỗi (cái bánh
vẽ trên trời của Giáo hội) ngoài giáo hội, và đã từng phê bình một câu
rất khiếm nhã, nếu không muốn nói là hạ cấp, đối với Phật Giáo. Tin vào
những lời đường mật của Bê-Nê-Đít-To 16 là đánh đu với tinh, chết lúc
nào không biết.
Sau cùng, tôi muốn bàn qua đến chủ đề 3.
3. Nội Chiến Hay Chiến Tranh Ủy Nhiệm ??
Thế nào là nội chiến và thế nào là chiến tranh ủy nhiệm? Nếu chúng ta
không định nghĩa rõ ràng những từ này thì bàn về chúng là vô ích. Theo
định nghĩa, nội chiến là cuộc chiến giữa hai phe trong một quốc gia mà
không có sự nhúng tay hay hiện diện của người ngoài. “Nội”. Còn ủy
nhiệm có nghĩa là ủy thác cho một người khác một nhiệm vụ làm thay cho
mình. Tôi cho rằng cả hai từ “nội chiến” và “chiến tranh ủy nhiệm” đều
không thể áp dụng trong trường hợp Việt Nam. Thật ra thì từ “ủy nhiệm”
chỉ có thể áp dụng cho phía Việt Nam Cộng Hòa chứ không thể áp dụng cho
phía Bắc Việt. Lý do rất đơn giản. Mỹ dựng lên chế độ miền Nam và quyết
định mọi việc, dùng miền Nam để chống Cộng cho Mỹ. Điều này thật là rõ
ràng qua những tài liệu lịch sử trích dẫn trong các phần trên. Nước nào
dựng lên chính quyền Bắc Việt, và chiến đấu để thống nhất đất nước có
phải là một nhiệm vụ đã được nước ngoài giao phó cho không? Bảo rằng vì
Trung Cộng và Nga Sô tiếp tế vũ khí cho Bắc Việt là ủy nhiệm cho Bắc
Việt chống Mỹ hộ Nga Sô hay Trung Cộng để thực hiện âm mưu bành trướng
chủ nghĩa Cộng Sản, tôi cho là ngớ ngẩn. Vì đây cũng chính là sự thẩm
định chính trị vô cùng sai lầm của Mỹ khiến cho Mỹ can thiệp vào Việt
Nam và cuối cùng đi đến thất bại.
Khi Pháp thất trận và họp hội nghị Genève, ngoại trưởng Mỹ John Foster
Dulles đã lên án Trung Quốc là đã viện trợ vũ khí cho Việt Nam. Giáo sư
Mortimer Cohen đã châm biếm (Ibid., pp. 207, 253):
Dulles không chịu chấp nhận là Việt Nam tự mình thắng trận. Họ phải có
viện trợ từ bên ngoài. Chắc chắn là họ có rồi – cũng như Pháp. Hiển
nhiên là ý tưởng về công bằng của Dulles và những người thuộc phái hữu
là trang bị cho Pháp từ đầu đến chân với những vũ khí hiện đại và hi
vọng rằng Việt Minh sẽ chiến đấu với những súng của đầu thế kỷ 19, gươm
và giáo.
Thái độ của Dulles có vẻ như là Mỹ viện trợ quân phí cho Pháp nhiều tỷ
đô-la thì được, nhưng những quốc gia Cộng sản viện trợ cho Việt Minh
chỉ có một phần nhỏ (so với viện trợ của Mỹ cho Pháp) thì đó là một tội
ác và là hành động xâm lăng.
(Dulles simply would not admid that the Vietnam did it alone. They must
have had aid from the outside. Sure they did – so did the French.
Apparently Dulles’ and the right-wingers’ idea of fair play was to arm
the French to the teeth with modern weapons and expect the Viet Minh to
fight with early 19th century guns, swords and spears..
Dulles’ attitude seemed to be that it was all right for the US to hand
the French billions in military aid, but a crime and an aggression when
the communist nations supplied a fraction of that to the Viet Minh.)
Trong cuộc chiến ở miền Nam, Mỹ cũng vẫn tiếp tục lên án sự viện trợ
của Nga Sô và Trung Quốc cho Bắc Việt, và Bắc Việt tiếp tế cho Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam, và không thiếu gì người Việt chống Cộng, có đầu mà
không có óc, thí dụ như ông Trần Trung Đạo đã dùng điểm này, phóng đại
vài con số, để “đối thoại” với ông Nguyễn Hòa. Về vấn đề này, Giáo sư
Cohen lại viết (Ibid., p. 260):
Nhưng Mỹ làu bàu về cái nỗi gì? Bắc Việt tiếp tế cho VC? Thế thì Mỹ cho
Quân Đội Nam Việt Nam cái gì? Súng hỏa mai?? Từ 1949 về sau những người
Âu Châu ở Việt Nam ca thán và phàn nàn vì kẻ thù đã được tiếp tế vũ khí
có cùng phẩm chất như của họ. Tây phương mơ tưởng đến những ngày huy
hoàng xưa kia khi dân bản xứ chống lại họ với cung tên và bị họ bắn tan
hoang bởi những súng của hải quân, pháo binh, và súng máy. “Gậy ông đập
lưng ông” chỉ là công bằng.
(But what was the US growling about? The North was supplying the VC?
And what were the American giving the ARVN -–muzzle loaders? From 1949
on the Europeans in Vietnam whined and complained because their enemies
were supplied with the same quality armament as they. The West was
dreaming of the good old days when the natives fought with bows and
arrows and they were shattered them with naval guns, artillery, and
automatic weapons. “Turn about” is fair play.)
Cuộc chiến ở Việt Nam có phải là nội chiến không? Có lẽ không có gì rõ
ràng hơn là đoạn sau đây của Daniel Ellsberg trong cuốn Secrets: A
Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:
Không làm gì có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ..
Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một
cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai
trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là
tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống
chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực,
và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.
Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã
không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ
ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và
trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết
định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình –
thì không phải là một cuộc nội chiến.
Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội
chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh
hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn
giản chỉ là che dấu một sự thực đau lòng hơn, và cũng chỉ là một huyền
thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.
Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà
chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của
Mỹ.
There had been no First and Second Indochina Wars, just one continuous conflict for almost a quarter of century.
In practical terms, on one side, it had been an American war almost
from its beginning: at first French-American, eventually wholly
American. In both cases it was a struggle of Vietnamese – not all of
them but enough to persist – against American policy and American
financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and
pilots.
It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during
the US-supported French at colonial reconquest. A war in which one side
was entirely equipped and paid by a foreign power – which dictated the
nature of the local regime in its own interest – was not a civil war.
To say that we had “interfered” in what is “really a civil war”, as
most American writers and even liberal critics of the war do to this
day, simply screened a more painful reality and was as much a myth as
the earlier official one of “agression from the North”. In terms of the
UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign
agression, American aggression.
Tại sao Daniel Ellsberg lại có thể viết như vậy. Vì Ellsberg là viên
chức trong chính quyền Mỹ, đã từng đọc được những tài liệu mật nhất của
Mỹ và biết rõ nhất về thực chất cuộc chiến ở Việt Nam. Chính ông là
người đã tiết lộ Tài Liệu Ngũ Giác Đài. Và ông viết đoạn trên năm 2002
chứ không phải là trong thời kỳ “phản chiến” sôi nổi trên đất Mỹ. Nếu
chúng ta đã đọc một số những sách viết về cuộc chiến Việt Nam, viết sau
1975, của các học giả và cựu quân nhân Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy rằng đa
số đồng ý với Daniel Ellsberg về điểm này.
Có lẽ chúng ta cũng nên biết thêm một tài liệu khác về bản chất của
cuộc chiến ở Việt Nam cách đây trên 30 năm. Trong cuốn Chiến Tranh Việt
Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia
University Press, New York, 1991), John Carlos Rowe and Rick Berg viết,
trang 28-29:
Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không
có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân
chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo
đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”
Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp
để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc
gia của Việt Nam. Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ
lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên
ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng
70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự
ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ
phá ngầm. Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc
tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải
rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng
triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ
bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận
rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ
London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm
lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.” Mỹ chưa bao giờ coi
những tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ
thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước
sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía
ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là
phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ
xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng
với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương.
(As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually
no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70%
of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still
regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a
mistake”..
It is worth recalling a few facts. The US was deeply committed to the
French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout
that the enemy was the nationalist movement of Vietnam. The death toll
was about half a million. When France withdrew, the US dedicated itself
at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the
south a terrorist regime that killed perhaps 70000 “Viet Cong” by 1961,
evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern
half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that
the US had undermined. In 1961-1962, President Kennedy launched a
direct attack against rural South Vietnam with large-scale bombing and
defoliation as part of a program designed to drive millions of people
to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed
wire from the guerillas whom, the US conceded, they were willinggly
supporting. The US maintained that it was invited in, but as the London
Economist accurately observed, “an invader is an invader unless invited
in by a government with a claim to legitimacy.” The US never regarded
the clients it installed as having any such claim, and in fact it
regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient
enthusiam for the American attack or sought to implement the neutralist
settlement that was advocated on all sides and was considered the prime
danger by the aggressors, since it would undermine the basis for their
war against South Vietnam. In short, the US invaded South Vietnam,
where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous
and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)
Như trên tôi đã trình bày, từ “chiến tranh ủy nhiệm” không thích hợp,
vì nó chỉ đúng có một phía: Mỹ ủy nhiệm [ủy thác nhiệm vụ] cho Nam Việt
Nam làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ, nhưng Nga và Tàu không ủy nhiệm cho
Việt Nam kháng chiến chống Pháp, cũng như không ủy nhiệm cho Việt Nam
gây chiến với Mỹ và chống Mỹ để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản của Tàu
và Nga như nhiều người đã ngộ nhận. Thật vậy, tuyệt đại đa số những nhà
nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam đều công nhận rằng thuyết Domino của
Mỹ là sai, và Việt Nam không lệ thuộc Nga và Tàu như người ta thường
tưởng. Hơn nữa, khối Cộng Sản không phải là thống nhất, đoàn kết muôn
người như một và lý tưởng Cộng Sản của những quốc gia bị áp bức dưới
chế độ thực dân mỗi nước một khác và chủ đích áp dụng là để giải phóng
quốc gia. Trong cuộc chiến 30 năm, từ 1945 đến 1975, Việt Nam chỉ ở
trong thế bắt buộc để tự vệ trong mục đích giành độc lập và thống nhất
cho nước nhà mà tôi tin rằng tuyệt đại đa số người dân Việt khao khát,
lẽ dĩ nhiên không thể không có sự trợ giúp ở bên ngoài, từ các nước
bạn. Nhiều sử gia đã cho rằng chính Mỹ đã đẩy ông Hồ Chí Minh hẳn về
phía Cộng Sản, vì ông Hồ Chí Minh không có con đường nào khác để thực
hiện hoài bão giải phóng đất nước, giành độc lập và thống nhất cho nước
nhà.
Tôi nghĩ tôi có thể ngưng tại đây được rồi. Viết về một cuộc chiến 30
năm trên đất nước mà chỉ viết có vậy thật quả là quá thiếu sót, nhưng
trong khuôn khổ một bài viết thuộc loại rất hạn chế này, viết như vậy
kể ra cũng đã quá dài rồi. Tôi tự biết, rất có thể tôi đã “lội ngược
dòng” truyền thông hải ngoại, nhưng với tinh thần khoa học tôn trọng sự
thực, dù có đau lòng cách mấy tôi cũng không thể bán rẻ lương tâm để tự
dối lòng viết lên những điều mà tôi biết rằng sai.
Như chúng ta đã biết, cuộc can thiệp của Mỹ, hay nói đúng hơn là cuộc
xâm lăng của Mỹ, vào Việt Nam, đã gây nên một cuộc chiến tàn khốc trên
khắp đất nước, thực chất là một sự sai lầm căn bản và phi luân. Một số
nhỏ người Mỹ, và đa số người Việt thuộc chế độ cũ, vẫn cho rằng sự can
thiệp của Mỹ bắt nguồn từ một ý định tốt. Nhưng như trên tôi đã chứng
minh là điều này không thực, dùng ngay tài liệu của Ngũ Giác Đài và của
các bậc trí thức cũng như các bậc lãnh đạo tôn giáo có uy tín trên nước
Mỹ. Ngay cả cựu bộ trưởng Quốc Phòng Robert McNamara cũng phải thừa
nhận cuộc chiến Việt Nam là một sự sai lầm của Mỹ.
Như vậy, mọi lý luận dựa trên những “nếu”, những “tại vì” dùng để biện
minh cho cuộc xâm lăng của Mỹ vào Việt Nam đều trở thành vô giá trị. Để
kết luận, tôi xin dịch một đoạn trong trang 209 của một cựu quân nhân
Mỹ trong cuốn Nhìn Lại Việt Nam: Những Bài Học Từ Một Cuộc Chiến
(Vietnam Reconsidered: Lessons From A War, Edited by Harrison E,
Salisbury, Harper & Row, Publishers, New York, 1984,), một cuốn
sách gồm rất nhiều tác giả với những quan điểm về mọi khía cạnh của
cuộc chiến. Tôi hi vọng đoạn này sẽ giúp chúng ta hiểu thực chất cuộc
chiến ở miền Nam và tại sao Mỹ không thắng được ở Việt Nam:
Sau khi được lệnh tấn công vào một làng qua một ruộng lúa, sau đây là
những điều viết lại của một binh sĩ Mỹ đã tham dự cuộc tấn công:
“Trong làng chỉ có vài dân làng và vài gia súc. Một người đàn bà đang
kêu khóc và nguyền rủa chúng tôi khi chúng tôi đi qua. Tôi không hiểu
bà ta nói cái gì. Không phải là những lời khen tặng. Tại sao bà ta lại
hét vào mặt tôi? Tôi đến từ mười sáu ngàn cây số, đi trong mưa, mưa
rầm, sức nóng vùng nhiệt đới, cánh đồng lúa, sông ngòi, lội bùn đến
hông, ngã lên ngã xuống, bị mọi thứ sâu bọ cắn, luôn luôn mệt mỏi, bị
tiêu chảy, sống bằng thức ăn mà tôi không cho cả chó ăn, bị bắn, phục
kích, bị ném lựu đạn v..v.. để giải thoát bà ta – mà bà ta đang đứng
kia nhổ vào mặt tôi và nguyền rủa tôi? Một tiếng nói thì thầm trong óc
tôi. Nó nói rằng: “Này, ngươi, người đàn bà này cóc cần biết là ngươi
cao quý như thế nào khi đến từ ngàn dậm để giải thoát bà ta khỏi Cộng
sản; tất cả bà ta biết là nhà ngươi, hay là người nào đó giống ngươi,
vừa mới đốt nhà bà ta. Nhà ngươi có thể gọi đó chỉ là cái nhà tranh và
cười vì nó không có cửa, nhưng đó là nhà của bà ta và nó vừa bị đốt
cháy, bất kể là vì những lý do cao quý nào. Đó là tại sao bà ta đang
nguyền rủa nhà ngươi cũng như tổ tiên ba đời nhà ngươi. Vì chính ngươi,
chứ không phải là những người Cộng sản, vừa mới đốt nhà bà ta và hủy
diệt tất cả những gì đáng quý trong đời của bà ta. Về vấn đề nhà không
có cửa, bà ta tiến bộ hơn các ngươi nhiều, điều mà có thể nhà ngươi
không bao giờ biết được. Bà ta có một xã hội mà nhà không cần đến cửa,
đừng nói đến một lô những khóa cửa, đối với cái xã hội cao quý của nhà
ngươi. Đúng vậy, đồ ăn mày, nhà ngươi nghĩ rằng nhà ngươi quá văn minh
đi; nhà ngươi nghĩ rằng nhà ngươi đã làm nhiều để giúp những dân nghèo,
những dân man rợ ngu dốt này. Có thể trong một ngàn năm nữa, nếu xã hội
của nhà ngươi còn tồn tại, nó sẽ tiến hóa đến mức nó có thể sống không
sợ hãi để đến nỗi phải khóa cửa. Và rồi sau một ngàn năm nữa, nó sẽ
tiến tới độ nhà không cần cửa. Hãy chịu khó để thì giờ nghĩ về điều đó
đi, đồ cứt chim”
(There were only a few villagers and some domesticated animals.. A
woman was screaming and cursing at us as we filed through the village.
I do not know for sure what she was saying. It was not complimentary.
Why is she yelling at me? I com ten thousand miles, march in the rain,
monsoons, tropical sun, rice paddies, rivers, hip-deep in slime,
tripping over vines, falling over dikes, being bitten by uncounted
species of bugs, always tired, getting diarrhea, living on crap I
wouldn’t have given a dog, getting shot at, ambushed, hand
grenaded...to save her – and she is going to stand there and spit and
curse at me? A voice in the back of my head started speaking softly,
very softly. It was saying: “Hey, man, this woman doesn’t care how
noble you are from coming all this way to save her from the communists;
all she knows is that you or someone like yoi just set her house on
fire. You may call it a hooch and laugh because it dosen’t have a door,
but it is her house and it has just been torched, for whatever noble
reasons. That’s why this woman is cursing you and all your ancestors.
Because you, and not her evil communist, just Zippoed her home and
destroyed all the things valuable in her life. As far as having no door
goes, she is so far ahead of you, you will probably never know. She has
a society that does not need a door, let alone a series of locks on the
door, as opposed to the noble society you come from. That’s right,
asshole, you thought you were so civilized, you thought you were going
to do so much for these poor, ignorant savages. Maybe in a thousand
years, if your society lasts that long, it will have evolved to the
point where it can live without the fear that causes people to put
locks on doors. And then after another thousand years, it will get to
the point where even the doors won’t be necessary. Think about that for
a while, shitbird.”)
Trần Chung Ngọc
Giaodiemonline
|