Cách Hội An 42 Km và cách Trà Kiệu khoảng 30 Km về phía tây có một thung lũng nhỏ đường kính ước chừng 2 Km đó là thánh địa Mỹ Sơn, nó nằm gọn giữa những ngọn núi bao quanh và chỉ có một lối vào duy nhất là theo con đường độc đạo nằm giữa hai quả đồi, hai quả đồi này tạo thành hai cái trạm gát, một cái chốt phòng ngự cao khoảng 30 mét và một con suối nằm chắn ngang trước mặt con đường vào thung lũng như một chiến hào sâu và rộng gây thêm một chướng ngại cho những ai muốn vào khu vực thánh địa, một thứ chiến lũy của thiên nhiên sẵn có, con suối chảy quanh co theo sườn núi phía bắc, rồi đâm thẳng vào phía trung tâm, sau đó nó chạy vòng quanh tạo thành một thủy lộ lưu thông cho toàn bộ khu vực này trong mùa mưa và chỉ cần một cái đập nhỏ chắn ngang dòng suối thì sẽ là lý tưởng, hình như con suối này ăn thông với một nhánh của sông Vu Giang, Thu Bồn... Sau khi băng qua suối đi dọc theo một con đường ngoằn nghèo khoảng 3 Km thì đến khu vực với các công trình kiến trúc quan trọng nhất của nền văn hóa vương quốc Champa. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) có ghi lại một số sự kiện liên quan đến sự hình thành của vương quốc Champa, kinh đô Trà Kiệu và thánh địa Mỹ Sơn. ĐVSKTT trang 158: “năm 137 người man ở huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam là bọn Khu Liên đánh phá quận huyện giết trưởng lại, năm 138 Thị Ngự sử Giả Xương cùng quân các châu huyện hợp lại đánh Khu Liên không được, bị Khu Liên vây đánh hơn một năm..." Khu Liên được xem như vị vua đầu tiên của Lâm Ấp hay còn gọi là Vương quốc Champa sau này. ĐVSKTT trang 173: “Năm 399 vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt đánh lấy Nhật Nam và Cửu Chân rồi vào cướp Giao Châu“. Kinh đô của Lâm Ấp bấy giờ là Trà Kiệu. Năm 420 Tuệ Độ đánh Lâm Ấp phá được chém giết đến quá nửa, Lâm Ấp xin hàng...Lần đầu tiên Kinh đô Trà Kiệu và Thánh địa Mỹ Sơn bị xâm chiếm. Năm 432 vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại sai sứ sang cống nước Tống xin cai trị Giao Châu... Năm 436 Hòa Chi hạ thành Khu Túc, chém Phù Long, thừa thắng tiến vào Tựơng Phố (Trà Kiệu), đây là lần thứ hai Thánh địa Mỹ Sơn bị chiếm. ĐVSKTT trang 222 chép: “Năm 982 Vua Lê Đại Hành thân đi đánh Chiêm Thành chém chết vua Chiêm tại trận. Chiêm Thành thua to, bắt sống của chúng nhiều vô kể, cùng các kỷ nữ trong cung trăm người và mộ nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quí đem về thu được vàng bạc châu báu vô kể, san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư ...“ Đó là lần thứ ba khu Thánh địa này bị tàn phá và về sau các Vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông đánh chiếm Chiêm Thành nhiều lần nữa. Những nghiên cứu của các nhà khảo cổ cho biết Thánh địa này xây dựng từ thế kỷ thứ IV và liên tục được trùng tu, phát triển và xây mới thêm những đền tháp cùng các pho tượng điêu khắc bằng đá khác cho đến thế kỷ thứ XIII mới chấm dứt. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC) quyển 2 trang 332 thì vùng đất Quảng Nam – Trà Kiệu - Mỹ Sơn thì xưa là đất Việt Thường thị ; đời Tần thuộc Tượng quận, đời Hán là bờ cỏi quận Nhật Nam; đời Đường thuộc Lâm Ấp; đời Tống thuộc Chiêm Thành là đất Châu Lý và Chiêm Động, Nước ta đời Trần năm 1306 gọi là châu Hóa ; năm Hồng Đức thứ nhất ( 1470 ) Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục trang 1104 ghi: “Vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, mở rộng đất đai đến núi Đá Bia đặt tên Thừa Tuyên Quảng Nam và tên Quảng Nam có từ ngày đó (tháng 6 năm 1472). Trong ĐNNTC về phần cổ tích có ghi Thành cổ Hoàn Vương (Trà Kiệu) ở huyện Diên Phước tục gọi là Vệ Thành, tương truyền ngày xưa Hoàn Vương đóng đô ở đấy. Ba mặt thành, trước, tả, hữu bị xói lở chỉ còn góc phía tây bắc hiện nay vẫn còn; về tháp cổ Chiêm Thành ở huyện Diên Phước có hai cây tháp nay đều đổ nát, một tháp đổ xuống thành gò ước hơn một mẫu....và còn mô tả một số tháp có trong tỉnh nhưng không có chỗ nào trong sách mô tả phong cảnh và tháp miếu như ở Mỹ sơn mà chỉ nói ở Khương Mĩ là có ba tòa liền nhau cao 80 trượng, phía trên có lỗ thông thiên, phía trong có tượng đá, nay đã đổ nát, tương truyền đây là chỗ táng vợ vua Chiêm Thành. Hiện tại Thánh địa Mỹ Sơn là quần thể kiến trúc phong phú và đa dạng nhất của nghệ thuật Champa về đền tháp, văn bia, tượng, điêu khắc trên đá và trên gạch. Lịch sử phát triễn của Thánh địa Mỹ Sơn có lẽ là song song với sự xây dựng, hoàn thiện kinh đô Trà Kiệu trong một tổng thể không thể thiếu được trong nền văn minh, văn hóa Á đông nhất là văn minh Champa là: Kinh đô - Lăng Miếu, Thánh địa, Đền đài để thờ cúng các tiên vương, chư thần... Trong một bi ký cho biết chính vua Bhadravarman đệ nhất là người khởi công xây dựng thánh địa này với những dòng như sau: “Ngài đã cúng dâng cho thần Bhadresvara một khu vực vĩnh viễn, phía đông là núi Sulaha, phía nam là núi Mahaparvata, phía tây là núi Kusala, phia bắc là núi...làm ranh giới. Ngài cũng cúng dâng cho thần tất cả các ruộng đất và cư dân trong phạm vi đó, hoa lợi cũng được dâng cúng cho thần... Nếu có kẻ nào dùng vũ lực để chiếm đoạt hay phá hủy ruộng đất này thì nhân dân không phải tội, mà tội lỗi sẽ dành cho kẻ đó..." Có bao nhiêu lối đi vào bên trong khu vực thánh địa hay vào một quần thể tháp Champa, có hay không một lối đi vào trực diện với cửa chính của tháp đến nay vẫn còn là một điểu bí ẩn , hầu hết các tháp đều quay mặt về phía đông, hướng của mặt trời và của thần linh, khi quan sát người ta thấy chỉ có một lối đi vào bên hông hay mặt sau của tháp mà thôi. Từ một vị trí cao nhất trong thung lũng để quan sát hết quần thể kiến trúc của Thánh địa Mỹ Sơn ta có thể phân chia các di tích, các tháp theo kiểu phong thủy của nền văn minh Châu Á người ta thường chọn hướng Đông Tây làm trục chính, Nam Bắc làm trục phụ, gò cao, thế núi và mạch sông làm chuẩn trong việc thiết kế xây dựng kinh đô, lăng miếu, đền đài, nhà cửa... Trong thung lũng có hai ngọn đồi, ngọn phía đông cao hơn ngọn phía tây, hai ngọn đồi này đối diện nhau ở điểm trung tâm ngã tư của một con suối, các nhánh của con suối này bao bọc 4 khu vực trong Thánh địa. Khu A: gồm các tháp và di tích nằm trên ngọn đồi phía đông. Khu B: gồm các tháp và di tích nằm trên ngọn đồi phía tây. Khu C: gồm các tháp và di tích nằm phía nam, có hai khu C1 và C2. Khu D: gồm các tháp và di tích nằm phía bắc. Cách phân chia này phù hợp với địa thế phong thủy, tránh được tình trạng xé lẻ từng mảnh vụn của tổng thể kiến trúc của mỗi tháp mà trước đây nhà khảo cổ học người Pháp ông H.Parmentier đã công bố năm 1904. Khu A có 5 kiến trúc: 1 tháp chính và 4 tháp phụ. Khu B có 4 kiến trúc: 1 tháp chính và 3 tháp phụ. Khu C chia làm C1 và C2. C1 nằm phía đông được bao quanh bằng một con suối gồm có 16 kiến trúc (4 kiến trúc nằm rải rác bên ngoài và 12 bên trong): 2 tháp chính với 8 tháp phụ, 1 tháp chính và 2 tháp phụ đi kèm cùng một số tượng điêu khắc bằng đá. C2 nằm phía tây gồm có 26 kiến trúc (6 ngoài và 20 trong): 3 tháp chính và 12 tháp phụ cùng với một số tượng, phù điêu cùng các tác phẫm điêu khắc , bi kí bằng đá mang tính tôn giáo. Khu C là khu vực có nhiều tháp và các tác phẩm điêu khắc nhất. Khu D có 12 kiến trúc (1 ngoài và 11 trong): 2 tháp chính, và 4 tháp phụ, trong đó có 1 tháp chính không có tháp phụ đi kèm cùng một số tượng điêu khắc bằng đá. Tất cả là 46 kiến trúc có thể đếm được trong khoảng ước chừng 70 kiến trúc của Thánh địa này. Quan sát một số tháp, di chỉ tiêu biểu mà hiện nay (năm 2003) còn lại trên thực địa. Khu A: gồm 5 kiến trúc nằm trên ngọn đồi phía đông là ngọn đồi cao nhất trong thung lũng, có một tháp chính và 4 kiến trúc phụ trong đó có một tháp nhỏ để đựng bi kí nằm ở giữa, một thủy tháp, một hỏa tháp và nhà bày mâm dùng để sửa soạn đồ tế. Tháp chính có hai cửa theo hướng đông tây, ở mỗi cửa có 8 bậc cấp để đi lên, ở mỗi cửa đều có vòm cuốn. Các vật trang trí quanh tháp chất liệu sử dụng toàn là gạch và đất nung, không bằng sa thạch như ở tháp khác. Đặt biệt, tiêu biểu và khá độc đáo nhất là cách trang trí ở chân tháp, mỗi góc của chân tháp có một con sư tử đực vóc dáng cực kỳ dũng mãnh bằng đá có kích thước khá lớn trong tư thế chống đỡ các góc tháp, quanh chân tháp được trang trí bằng những hàng mặt nạ gồm các ô vuông bằng đất nung cùng một kích thước và cùng một chủ đề là mô tả dương vật bằng hình ảnh thật mà không cách điệu như bộ Linga – Youni mà ta thường thấy, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc rất tinh tế, sắc sảo, đầy ấn tượng với dương vật ngắn, hai tinh hoàn to và tròn, qui đầu tròn, đỉnh nhọn, mạnh mẽ đầy sinh khí. Mặt nạ này cũng có thể nhìn theo một cách khác đó là mặt của một quái vật mắt lồi, mũi to, môi trên xếch lên, nhe răng, dáng dấp của sư tử, mỗi ô vuông là mỗi tác phẩm điêu khắc rất sinh động và hấp dẫn, không có cái nào giống cái nào. Nếu chỉ tách riêng phần sống mũi và hai cánh mũi của quái vật để so sánh với một Linga ở khu D thì khuynh hướng thiên về hình ảnh của Linga không cách điệu dễ dàng đựơc chấp nhận hơn, thế nhưng giải thích đó là mặt nạ của mặt sư tử theo như vùng đất mang tên Shimhapura thì cũng là một điều thú vị, bởi Shimhapura là Trà Kiệu hay còn gọi là thành phố sư tử. Khu A có thể được xem như là khu vực linh thiêng nhất, nó mô tả toàn bộ triết lý của vương quốc và dân tộc Champa hay chỉ riêng vùng đất Shimhapura. Các biểu tượng sư tử hay về bộ phận sinh dục nam và nữ được các nhà điêu khắc và các nghệ sĩ cổ đại Champa sáng tác theo hình ảnh thật chứ không cách điệu như các tác phẩm ở nơi khác, hình ảnh bộ phận sinh dục được thờ phụng rất trân trọng ở nơi đây, ngoài ra Khu A là một trong toàn bộ một tổng thể kiến trúc mang tính chất triết lý và thờ phụng đặc sắc nhất của nghệ thuật sử dụng gạch và đất nung để trang trí trên tháp của dân tộc Champa trong thời kỳ vàng son của vương quốc này. Một số trong các tác phẩm bằng đất nung vẫn còn vẻ đẹp sắc sảo, với các nét đặc thù của nó, mặc dù nó đã phơi mình giữa nắng mưa suốt gần 1500 năm mà vẫn không hề hấn gì, phần còn lại của toàn cảnh thánh địa Mỹ Sơn điêu tàn, thê lương như nhận xét cách đây hơn một thế kỷ rữơi của sách Đại Nam Nhất Thống Chí. Khu B: gồm có các kiến trúc nằm trên ngọn đồi phía tây có một tháp chính và 3 kiến trúc phụ. Theo tác giả Trần Kỳ Phương thì tất cả nhóm tháp này đều có cùng một niên đại. Tháp chính xoay mặt về hướng đông, một kiến trúc phụ đối diện với tháp chính, có thể đó là chỗ bày mâm, nơi dùng để sửa soạn vật dụng tế lễ, chếch về phía nam một kiến trúc khác có thể đó là Hỏa tháp - Thủy tháp và một miếu nhỏ dựng bi kí phía đông nam. Hiện nay tháp chính đã bị phá hủy, đổ nát tạo nên một cái gò cao bằng gạch, phía dưới chôn vùi những gì bí ẩn thì chẳng có ai biết, ngoài đống đổ nát này chỉ còn một mảng tường cao về phía bắc, trên tường còn một cửa giả và 5 trụ áp tường. Cửa giả có vòm cuốn có hình ba lưỡi mác chồng lên nhau, trước nhỏ sau lớn hơn. Trụ áp vào chân tường cũng có hình lưỡi mác nhỏ. Tất cả những phần trang trí trơn không chạm hoa văn. Vật trang trí là những đầu thủy quái Makara bằng sa thạch trông rất kỳ cục và hung dữ. Trên cửa chính là một tấm đá chạm thần Siva múa, thần có 8 tay, hai tay chắp lên đầu, hai lòng bàn tay úp lại với nhau, vẫn còn trông rõ các ngón tay, một kiểu thức đặt biệt của nghệ thuật múa Champa và 4 cánh tay bên trái của nữ thần Siva mô tả chi tiết không rõ rệt nhưng các bàn tay bên phải thì sinh động hơn nhiều, các ngón tay nắm lại như đang cầm một vật phụ thuộc, một đai dây đeo trước bụng, dưới rốn một phần đai dây thòng xuống che kín bộ phận sinh dục, đầu đội mũ Kirita-Mukuta, dưới chân hai con Makara có vòi cuốn. Khu B tương đối là nhỏ nhất trong quần thể kiến trúc ở đây, tháp chính không có các kiến trúc phụ đầy đủ đi theo kèm như Hỏa tháp, Thủy tháp....như các tháp khác của Champa, tuy nhiên ở đây có nét đặt biệt là tượng thần Siva trở thành chủ đề thờ phụng chính của khu này. Khuôn mặt với mắt có hai hàng lông mày mỏng, mắt nhắm nghiền, khuôn mặt trong trạng thái siêu thoát, sóng mũi cao và cánh mũi nở lớn, môi dày và hơi mím lại, tai đeo búp hoa, trái tai trệ xuống, nữ thần Siva trong thế múa với các động tác rất đặt trưng là hai hàng tay dang ngang rồi cong vút lên đầu, phần thân được kéo xuống do tư thế dang hai đầu gối ra và gót bàn chân chụm lại, bàn chân chài ra và các ngón chân hất ngược lên. Về phương diện múa cổ điển hay biến tâu hiện đại thì đây là một động tác trong 5 động tác chân căn bản của nghệ thuật múa đòi hỏi nhiều kỹ năng và thời gian luyện tập lâu dài mới có khả năng thực hiện được động tác khó này, bởi nghệ sĩ múa chỉ tỳ trọng lượng của tòan bộ cơ thể chỉ trên một điểm tiếp xúc nhỏ ở một phần ở lòng bàn chân phải làm điểm tựa và toàn bộ chịu lực đặt vào gan bàn chân phần ngón cái của bàn chân trái. Dưới chân nữ thần Siva có hai người trong tư thế quỳ, hai tay chấp lại đang dâng cho nữ thần một phẩm vật, hai nhân vật này không đối xứng và có động tác mô tả sự hiến dâng lễ vật cho nữ thần rất khác nhau, một người ở phía trước nữ thần và một người sau, những chi tiết hoa văn trang trí phần này là một biến tấu trong nghệ thuật điêu khắc rất đa dạng tinh vi. Phần đế là hai con Makara nằm phủ phục hai bên với vòi cuốn cong, con bên trái của nữ thần vòi được chạm trổ che khuất một phần ống chân, mắt mở to, mí mắt hai vồng ngước trông lên đầy sùng bái và ngữơng mộ. Con Makara bên phải ở trong tư thế khác, nằm sau nữ thần, phần đầu của vòi kẹp một xâu chuỗi có hơn 25 hạt hướng dâng lên nữ thần. Nữ thần Siva đang thể hiện điệu múa trên một tòa sen có nhiều cánh trong trạng thái trầm tư thanh thoát như đang hội nhập vào cõi siêu nhiên vô hình. Khu B bây giờ hoang tàn đổ nát bởi những cuộc chiến tranh tàn phá hủy diệt của Tuệ Độ thứ sử Giao Châu thời Tấn năm 420, của Thứ sử Hòa Chi đời Tống năm 436 hay các cuộc chinh phạt của Lê Đại Hành Hoàng đế năm 942, của Lý Thánh Tông năm 1044, của vua Lê Thánh Tông (1472 )..., có chăng chỉ còn một gò cao gạch vụn màu đỏ nồng nàn của đất cát bazan núi rừng cao nguyên đất đỏ và màu rêu xanh của năm tháng trầm luân, u uất nơi mà ngàn năm trước đây các nghệ sĩ Champa đem hết lòng sùng kính và tài hoa của mình qua nét chạm trổ, điêu khắc và xây dựng nên một thánh địa để bày tỏ sự ngưỡng mộ của họ đối với các vị tiền nhân tổ tiên cũng như các vị thần linh che chở dân tộc và vương quốc Champa. Thánh địa Mỹ Sơn giờ đây chỉ còn sót lại lác đác vài đền tháp rệu rã, những bức tượng không đầu rải rác đâu đó trong bụi rậm,dưới lòng suối hay nơi gò mối ... Hoang vu như những cơn gió nam oi nồng thổi qua trên đỉnh núi Mahaparvata nhưng cái hồn của Champa vẫn còn phảng phất đâu đó trên cỏ gai và cây dại, cái tinh anh của các nghệ nhân Champa cổ đại vẫn còn thấp thoáng trong điệu múa của nữ thần Siva trên khu cổ tháp ngậm ngùi. Từ trên đồi cao của khu miếu tháp A chúng ta có thể nhìn thấy được bao quát toàn bộ Thành địa Mỹ Sơn với những nóc tháp bên dưới ẩn hiện trong những tàn cây hay bị che lấp sau những bụi cỏ gai, điêu tàn, xơ xác, thê lương đến ngậm ngùi, những ngôi tháp không còn nóc rệu rã, những pho tượng mất đầu, các di chỉ, bi ký, các tác phẩm điêu khác bằng gạch hay sa thạch lên mốc thời gian, các loại cây ký sinh tầm gởi như sanh hay bồ đề có tuổi thọ khá cao đeo bám như những phần xương máu huyết mạch của các công trình kiến trúc, dưới chân tháp thì cỏ dại dây leo chui rúc qua kẻ hở, ngóc ngách của các pho tượng hay các khung trang trí của các mặt nạ ở chân tường gậm nhấm, xói mòn, rạn nức, sụp đổ... những kiệt tác của một nền văn hóa mà độ dài thời gian ai nghĩ đến cũng phải nuối tiếc thương hại cho số phận của nó, đó một hình ảnh của Thánh địa Mỹ Sơn, một di tích văn hóa của Quảng Nam – Đà Nẳng và của tất cả chúng ta. Nếu là biểu tượng đại diện cho Thánh địa Mỹ Sơn thì khu C này là nơi tiêu biểu nhất, không những về mặt cảnh quan mà còn về số lượng, chất lượng của các đền tháp, bi ký, tượng đài và các tác phẩm điêu khắc bày biện ở đây vô cùng phong phú, đa dạng, ngoài ra diện tích của khu vực này cũng lớn nhất so với các khu khác, bởi vì từ đây đến chân núi Mahaparvata cũng còn hơn 1 Km rưỡi. Nhìn trên cao phía từ Đông Nam của thung lũng thì khu C trải rộng nằm soãi ra bắt đầu bởi một mặt bằng, đỉnh của một ngọn đồi thấp, khu vực này chạy dọc theo triền dồi về hướng tây và càng xuống, càng thấp dần cho đến khi gặp khu bình nguyên đáy của thung lũng, khu C được phân chia thành những ô đất hình bậc thang, trên đó các kiến trúc đền tháp được xây dựng, phần bình nguyên dưới chân đồi tương đối rộng rãi và thoáng, diện tích đất ở đây đủ để cất lên nhiều đền tháp. Và từ khu vực này có thể quan sát các đền tháp chung quanh thánh địa, xét về mặt địa lý thì nó được xem như trung tâm của vùng đất này. Một con suối chạy vòng vèo bao quanh làm cho cảnh trí ở đây thêm phần huyền bí, có khi thì dòng suối như chảy ngầm trong hang động, len lỏi qua các tàn cây ụp xuống nước, tàn lá cây rừng nguyên sinh che kín ánh mặt trời làm cho khung cảnh càng mờ ảo, âm u, bí ẩn... Người ta có cảm giác rờn rợn bất an... lẩn khuất đâu đó với ma rừng sơn lam chướng khí khi ngang qua một đoạn của con suối, mà từ mặt nước đen ngòm rong rêu chằng chịt bên dưới khói bốc lên như sương mù, ở một chỗ khác con suối lại phơi mình dứơi ánh sáng mặt trời chói chang hai bên bờ chỉ là sỏi đá khô khốc, tia nắng chiếu từ hướng đông tới, xuyên qua dòng nước trong veo mát lạnh soi rõ từng tảng đá có nhiều màu sắc bên dưới thanh thoát và an bình. Bình minh phía đông đầu suối là nơi trú ngụ các vị thần linh và hoàng hôn phía tây dưới suối là nơi yên nghỉ nghìn thu của các vị vua, của các quan đại thần của dân tộc và vương quốc Champa, một truyền thuyết cùa người dân Champa có từ khi lập quốc. Khu vực C1 bây giờ gần như bình địa, lác đác chỉ còn những đống gạch màu nâu sẫm, những trụ đá nằm đơn độc, lẻ loi giữa những đám cỏ tranh, bụi gai cao ngút đầu. Đi len lỏi trong những gai nhọn sắc của cây cỏ, ngừơi ta có thể tìm thấy được dưới chân mình những nền cũ của các đền tháp đã sụp đổ do bàn tay của con người hay do tàn phá xói mòn của mưa gió, bão táp, của nắng cháy, của các cơn gió Lào nghiệt ngã thổi qua những ngọn núi đá phía tây dãy Trường Sơn trong gần một ngàn năm. Vĩ đại và đơn độc là một tượng đá đã bị lấy mất phần trên mà phần còn lại là một kiến trúc gồm có ba tầng được xếp từ nhiều mảnh khác nhau, nhìn kỹ hóa ra đó là hình của Youni trong tổng thể của một bộ Linga – Youni, phần Youni còn lại nằm trơ vơ vững chắc trên một bệ đá có nhiều gờ, các gờ này có đường viền chung quanh . phần chân đế của bệ đá thỉnh thoảng có hoa văn mà nét sắc sảo đã bị bào mòn, dưới bệ đá có một rãnh nước. Tất cả đều được vây quanh bằng 4 bức tường gạch đổ nát có hai lối vào theo hướng đông – tây. Đó là di chỉ duy nhất còn sót lại tại khu vực này: Một bệ đá to nhất (trên thế giới) hình Youni mà người ta tìm thấy cho đến thời điểm hôm nay, ngoài nó ra thì vương vãi trên mặt đất, trong đám cỏ tranh là các trụ đá, gạch vụn... Khu C1 là nền cũ của một ngôi tháp với một kiến trúc đẹp nhất và vĩ đại nhất trong Thánh địa Mỹ Sơn, chung quanh nó, đôi chỗ vãn còn thấy di tích nền móng của sáu ngôi tháp nhỏ bao bọc tạo thành một quần thể kiến trúc tăng thêm phần uy nghi vĩ đại của ngôi tháp chính, theo những tài liệu để lại thì đây là ngôi tháp cao nhất trong Thánh địa Mỹ Sơn với chiều cao 24m, diện tích đáy là hình vuông, xcạnh dài 10m, tháp có 2 cửa ra vào hướng đông và tây, hướng tây nhìn xuống khu C1, trong tháp thờ một bộ Linga – Youni lớn (nay chỉ còn một bệ đá Youni ), phần trên tháp có 3 tầng, các tầng nhỏ dần lại và trên cùng là đỉnh tháp bằng sa thạch, ở mỗi tầng đều có cửa giả có hình người đứng dưới vòm cuốn, hai cửa giả hai bên hông là hai vòm cuốn chồng lên nhau, trên mỗi vòm cuốn là một hình tháp thu nhỏ, mỗi cửa chính đều có tiền sảnh, cửa hình vòm hoa văn rất tinh xảo, hai trụ vuông ép sát nằm hai bên làm tăng thêm vẻ uy nghi ngôi tháp. Ngoài cửa tháp thì các trụ áp tường kéo dài khỏang 4m với những trang trí hoa văn hình lá cuốn hình chữ S nối liền nhau, các vật trang trí là các tượng điêu khắc bằng sa thạch hình Makara, hình vũ nữ Apsara, sư tử, voi, chim thần Garuda... Kiến trúc chân tháp gồm có hai phần, dưới nhỏ hơn trên, trang tri bằng những đóa sen trong các ô hình chữ nhật cùng các tác phẩm điêu khắc bằng sa thạch khác, cửa lên được thiết kế bởi 6 bậc cấp bằng đá. Ngôi tháp này là biểu tượng cho nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc xây dựng và thiết kế, nó có thể là mẫu mực cho các công trình kiến trúc sau này. Ngôi tháp chính mà ngày hôm nay trên nền đá của nó chỉ còn sót lại một bệ đá Youni cô đơn buồn hiu trong buổi chiều nắng quái đỏ rực trên thánh địa Mỹ Sơn hoang vu đầy gió, nắng, cỏ tranh và hoa dại, một vùng đất thánh, một nơi linh thiêng một thời của dân tộc và vương quốc Champa. Trong khu C1 còn có một ngôi đền nhỏ nằm phía tây của ngôi tháp có mái cong hình thuyền này, đền quay về hướng đông, nóc tháp nhọn đổ nát nhiều chỗ, các hoa văn trang trí không còn nguyên vẹn, tiền sảnh bị sập chỉ còn lại sườn của vòm cuốn dưới có tạc tượng một hình người chắp tay phần mặt bị hư hại nặng, chân dứng trên một bệ đá mà hoa văn đã bị hủy hoại, hai bên có trụ chống cho vòm cuốn trên hoa văn lá xoắn hình chữ S liền nhau, tường và các cửa giả cách nhau là cho nó bớt nặng nề phù hợp với chiều cao của ngôi đền làm cho nó có một vẻ đẹp vừa nhẹ nhàn vừa thanh thoát. Trong cuốn sách Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chăm kể lại: Trong chỗ sâu kín của ngôi đền này vào khỏang năm 1904, những nhà khảo cỗ học đã sưu tầm được một bộ trang sức bằng vàng, đầy đủ dành cho một pho tượng lớn cỡ nửa người thường. Kiểu thức hoa văn trang trí cho biết nó thuộc phong cách Đồng Dương . Đây là một bộ trang sức bằng vàng lá duy nhất còn nguyên vẹn tìm thấy trong nghệ thuật Chăm. Nó từng được đem trưng bày tại Hội Chợ Marseille năm 1926. Bộ trang sức này được chế tác bằng những miếng vàng không dày lắm, gồm một cái mũ Kirita-Mukuta, trang trí 5 đóa hoa lớn, phía trên có đính một viên hồng ngọc, phía sau có một miếng che lấp gáy, hai miếng che sau tai và một vòng hào quang sau đầu hai hoa tai, một vòng kiềng đeo cổ, một bộ phận nịt ngang ức với bản khá lớn, đồ đeo ở hai vai là hai đóa hoa lớn, hai vòng đeo ở cổ tay và chân có bản lớn, một sợi dây chuyền cổ, các vòng đeo được móc lại với nhau bằng những cái khóa. Tất cà các miếng vàng này được chạm trổ hết sức tinh tế và điêu luyện. Bộ trang sức này dùng để đeo cho các tượng thần bằng sa thạch hoặc bằng đồng khi hành lễ, ngày thường chúng được tháo ra và cất giữ cẩn thận. Bi ký Chăm tại Mỹ Sơn đã nhiều lần nhắc đến bộ lễ vật này, nó được dâng cúng bởi các vua Chăm. Hiện tại bộ trang sức này đang ở đâu, ai là chủ nhân của nó là điều mà nhiều người muốn biết. Con người đã lấy đi rất nhiều thứ từ khu Thánh địa này với rất nhiều lý do. Hiện tại tổ chức UNESCO thừa nhận nó là một di tích lịch sử của nhân loại, hãy trả lại cho khu Thánh địa Mỹ Sơn những gì của nó, đó cũng là lòng tự trọng của con người chứ không phải sợ một lời nguyền của vua Bhadravarman đệ nhất là người khởi công xây dựng thánh địa này với những lời nguyền như sau: "... Nếu có kẻ nào dùng vũ lực để chiếm đoạt hay phá hủy... thì nhân dân không phải tội, mà tội lổi sẽ dành cho kẻ đó..." |