Vụ án tham nhũng Huỳnh Công Lý đã xảy ra dưới thời Vua Minh Mạng (1820)
cách nay 185 năm, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với dân chúng cũng như
trong triều đình nhà Nguyễn thời bấy giờ. Huỳnh Công Lý là người tin
cậy của vua, có con gái được tuyển vào cung, được nhà vua sủng ái, là
người có thế lực, từng giữ chức Tả Thống Chế Quân Thị Trung tại kinh
thành, rồi Phó Tổng Trấn Gia Định Thành. Nhưng khi có tội vẫn không
được chước giảm, bị án tử hình, con gái bị đuổi ra khỏi cung về làm dân
thường...
Người đứng ra khởi tố vụ án tham nhũng này là Tả Quân Lê Văn Duyệt,
Tổng Trấn Gia Định Thành. Có người đặt vấn đề: Tả Quân Lê Văn Duyệt, là
bậc khai quốc công thần, được Vua Gia Long ban cho Thượng Phương Kiếm
và có quyền “tiền trảm hậu tấu”... Ông đã từng giữ chức Tổng Trấn Gia
Định Thành, sau đó, ông được gọi về Huế trao cho nhiều chức vụ quan
trọng. Tuy là hoạn quan nhưng ông vẫn có đến 03 bà vợ “đẹp” ở tại Gia
Định. Lợi dụng thời gian mấy năm ông sống ở Huế, Phó Tổng Trấn Gia Định
là Huỳnh Công Lý đã liên hệ bất chính với những bà vợ của Lê Văn Duyệt.
Vì thế, khi được báo tin, Lê Văn Duyệt liền trở về Gia Định, dùng quyền
“tiền trảm hậu tấu” giết Huỳnh Công Lý, gởi đầu về Huế cho vua. Vụ án
tham nhũng Huỳnh Công Lý là “dàn dựng”, nguyên nhân chính là chuyện
ghen tương! Sự thật như thế nào?
Sự việc đã xảy ra vào thế kỷ thứ 19, cách nay 185 năm rồi. Nhưng vấn đề
“tham nhũng” vẫn là đề tài thời sự đối với dân tộc Việt Nam chúng ta
trong thời gian hiện tại. Dựa trên những sử liệu của triều đình Huế
cũng như nguồn sử liệu do người ngoại quốc để lại, sau đây, chúng tôi
xin trình bày lại diễn tiến vụ án
HOÀN CẢNH LỊCH SỬ:
Lê Văn Duyệt là khai quốc công thần đã có công theo phò vua Gia Long từ
những ngày còn lánh nạn Tây Sơn. Năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn
hà, lên ngôi Hoàng Đế, đóng đô tại Phú Xuân (Huế), Lê Văn Duyệt đi theo
Gia Long ra Bắc đánh dẹp, rồi được đưa về Huế lo bảo vệ kinh thành. Sau
đó, ông được đưa vào làm Tổng Trấn Gia Định và được trao cho “Thượng
phương kiếm” là kiếm của vua dùng và được quyền “tiền trảm hậu tấu” uy
quyền như một vị phó vương (người Pháp thường gọi ông là Vice-Roi). Đến
năm Bính Tý (1816), năm thứ 15 dưới thời Vua Gia Long, ông được gọi về
Huế làm việc bên cạnh vua và rất được vua tin cậy. Chức Tổng Trấn Gia
Định được trao cho Nguyễn Huỳnh Đức, và Trương Tấn Bửu làm Phó Tổng
Trấn. Tháng Chín năm Bính Tý (10-1816), vua lại gọi Trương Tấn Bửu về
kinh. Tháng Mười năm đó, Nguyễn Huỳnh Đức dâng sớ xin cử một vị Phó
Tổng Trấn, vua cử Trịnh Hoài Đức vào làm Hiệp Tổng Trấn Gia Định. Mùa
Thu năm Kỷ Mão (1819), Nguyễn Huỳnh Đức mất, vua cho Chưởng Hữu Quân
Nguyễn Văn Nhân vào làm Tổng Trấn Gia Định. (Đại Nam Thực Lục Chính
Biên, đệ I kỷ, bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội, 1963, trang 270, 300 và
305, 390, 391). Trong hai năm 1818 và 1819, Lê Văn Duyệt được vua sai
đi thanh tra các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, làm lại sổ dân đinh, tổ chức
lại công việc, ổn định tình hình. Nhân đó, Lê Văn Duyệt đã thu phục một
số những người có tội, biết ăn năn hối cải... được gia nhập quân đội,
cho lập công phục vụ đất nước. Tháng Mười năm 1819, Lê Văn Duyệt được
triệu về kinh.
Bất đồng về việc chọn người kế vị vua Gia Long:
Khi vua Gia Long bị Tây Sơn đánh đuổi, cùng đường phải trốn ra đảo Phú
Quốc, vua đã quyết định nhờ Giám Mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) đi
cầu viện người Pháp. Vua có ý định trao cho Giám Mục một người con trai
đem đi theo để làm tin, và để người con trai trưởng là Nguyễn Phúc Cảnh
lại, sau này nối dòng chính thống. Câu chuyện mà chúng tôi nghe được do
những người dân sống ở đảo Phú Quốc lâu đời kể lại: “Vua đã chọn Hoàng
Tử Hiệp - con trai duy nhất của bà Thứ Phi (Phi Yến). Bà Phi Yến không
chịu và năn nỉ vua đừng làm việc đó. Vua ra lệnh giam bà vào một hang
núi rồi mang Hoàng Tử Hiệp lên thuyền. Nhưng hoàng tử khóc không chịu
đi. Trong lúc đang lo sợ quân Tây Sơn đuổi bắt, vua đã tức giận và ra
lệnh ném cậu bé đó xuống biển. Dân chúng thương tình, đã vớt xác cậu,
chôn cất đàng hoàng và gọi là Mả Cậu. Hoàng Tử Hiệp còn có biệt danh là
Hoàng Tử Cải. Còn bà Phi Yến cũng có biệt danh là bà Phi Răm. Con chết,
chồng lưu vong ra nước ngoài, bà phải chịu nhiều đau khổ, đến nỗi bị
bọn người vô lại xúc phạm, phải tự tử để thủ tiết và giữ danh giá của
mình. Bà đã được an táng cạnh mộ của con bà: Mả Cậu. Vì thế trong dân
gian mới có câu hát:
Gió đưa cây Cải về trời,
Rau Răm ở lại, chịu lời đắng cay. (Chịu đời đắng cay)
(Câu chuyện này cũng đã được ông Nguyễn Phúc Liên Kỳ viết lại và được
trích đăng vào tập san “Đồng Nai-Cửu Long” số 02 trang 321)
Vạn bất đắc dĩ, vua Gia Long mới cho Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh (con
trai trưởng) đi theo Giám Mục Bá Đa Lộc. Theo Đại Nam Thực Lục Chính
Biên, đệ nhất kỷ: Nguyễn Phúc Cảnh sinh Tháng Tư năm 1780. Vua Gia Long
gặp Giám Mục vào Tháng Bảy năm Quý Mão (1783) lúc đó Nguyễn Phúc Cảnh
chưa đầy 4 tuổi. Tháng Mười Hai năm Giáp Thìn (01-1785) Nguyễn Phúc
Cảnh theo Giám Mục qua Pháp, lúc đó khoảng 5 tuổi; đến Pháp năm 1787,
mới hơn 7 tuổi, trở về Việt Nam Tháng Sáu năm Canh Tuất (1790) được
phong làm Anh Duệ Hoàng Thái Tử vào Tháng Ba năm Quý Sửu (1793) tại Gia
Định, mới 13 tuổi (tính theo Việt Nam là 14 tuổi), thường gọi là Đông
Cung Cảnh. Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định được cử làm Đông Cung Thị
Giảng để dạy cho Đông Cung học. (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất
kỷ, bản dịch, Hà Nội, 1963, trang 58, 98, 165, 166). Tháng Tư năm Đinh
Tỵ (1797) mới hơn 17 tuổi, Đông Cung Cảnh đã theo Gia Long ra đánh
Quảng Nam. Tháng Năm năm đó (1797), vua sai Đông Cung đem tướng sĩ dinh
Tả Quân đánh cửa biển Đại Chiêm (Quảng Nam), sau đó về giữ thành Diên
Khánh (Nha Trang). Năm Tân Dậu (1801) trong khi vua Gia Long tiến quân
ra Huế, Đông Cung trở về giữ thành Gia Định. Ông bị bệnh đậu mùa mất
vào Tháng Ba năm 1801 (tức Tháng Hai năm Tân Dậu), mới 21 tuổi (tính
theo VN là 22 tuổi), trước khi Gia Long tái chiếm Phú Xuân, đánh bại
quân Tây Sơn, thống nhất đất nước.
Về cái chết của Nguyễn Phúc Cảnh, sử quan nhà Nguyễn ghi như sau:
“Năm Tân Dậu (1801), Tháng Hai, ngày Quý Sửu, Đông Cung Nguyên Súy Quận
Công Cảnh mất. Trước kia, Đông Cung từ Tây Dương về, từng theo đánh
giặc, đến nay lưu trấn Gia Định, bị bệnh đậu mùa mất, 22 tuổi (tính
theo Việt Nam). Vua nghe tin rất thương xót. Sai Nguyễn Văn Nhân và
Nguyễn Tử Châu, hiệp cùng Bộ Lễ lo việc tang. Sắc cho Gia Định đình mọi
việc cúng lễ lớn nhỏ cho đến ngày an táng mới thôi, Bình Khang, Bình
Thuận thì đình 13 ngày. Việc giá thú thì Gia Định đình 60 ngày, Bình
Khang, Bình Thuận đình 30 ngày. Năm Gia Long thứ 4, truy tặng thụy là
Anh Duệ Hoàng Thái Tử, lập vườn tạm ở xã Vỹ Dạ. Sai Nguyễn Văn Nhân và
Nguyễn Tử Châu điều hành việc lưu trấn Gia Định”.
(Trích Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ I kỷ, bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội, 1963, trang 386)
Nguyễn Phúc Cảnh là người chịu ảnh hưởng rất nhiều tư tưởng và văn hóa
Tây Phương trong những năm gần gũi với Giám Mục Bá Đa Lộc. Vua Gia Long
cũng nhờ Giám Mục dạy cho Đông Cung học, tất nhiên Đông Cung biết tiếng
Pháp và đã đọc nhiều sách Pháp, nhất là về khoa học kỹ thuật. Giám Mục
Bá Đa Lộc qua đời vào Tháng Mười năm 1799 tại Gia Định, 2 năm trước khi
Đông Cung Cảnh mất. Nếu Đông Cung Cảnh không mất sớm, thì Việt Nam sẽ
có một nhà lãnh đạo đất nước chịu ảnh hưởng hai nền văn hóa Đông và
Tây, hy vọng ông sẽ có một đường lối chính sách cai trị tiến bộ và nước
Việt Nam đã đi trước Nhật Bản hàng nửa thế kỷ “Duy Tân”...
Vua Gia Long đã không chọn cháu đích tôn (con trưởng Đông Cung Cảnh) nối ngôi:
Nguyễn Phúc Cảnh có hai người con trai là Nguyễn Phúc Mỹ Đường và
Nguyễn Phúc Mỹ Thùy. Theo truyền thống Á Đông, khi con trai trưởng qua
đời thì cháu đích tôn (cháu nội trưởng) là Nguyễn Phúc Mỹ Đường sẽ lên
nối ngôi. Nhưng khi còn tại vị, Gia Long vẫn không chọn cháu nội để lập
làm Hoàng Tôn, cho nối ngôi sau này. Lê Văn Duyệt là người đã từng theo
Gia Long từ trong cơn hoạn nạn, vào sinh ra tử, và đã cùng Đông Cung
Cảnh chia sẻ những nỗi gian lao trong chiến đấu cũng như trong những
ngày chạy loạn, đói khổ. Sau khi Đông Cung Cảnh qua đời, Lê Văn Duyệt
đã từng khuyên vua Gia Long nên chọn cháu nội (là Nguyễn Phúc Mỹ Đường,
con của Đông Cung Cảnh) cho nối ngôi theo truyền thống dòng trưởng
(chính thống) nối ngôi.
Xin nhắc lại một kinh nghiệm xương máu: người cha của Nguyễn Phúc Ánh
(Gia Long) là Nguyễn Phúc Luân đã được chọn làm Thế Tử (để nối ngôi
chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát). Nhưng sau khi Nguyễn Phúc Khoát mất
(1765), quyền thần là Trương Phúc Loan hủy bỏ di chiếu, truất phế
Nguyễn Phúc Luân và đưa Nguyễn Phúc Thuần (16 tuổi) lên làm chúa. Loan
đã nắm hết mọi quyền hành. Trong hoàn cảnh đó, Tây Sơn đã nổi lên chiếm
Quy Nhơn và tiến chiếm Quảng Nam uy hiếp Phú Xuân; đồng thời quân Trịnh
đã vượt sông Gianh, đánh chiếm Thuận Hóa... Chúa Nguyễn Phúc Thuần bỏ
Phú Xuân, đem theo người cháu là Nguyễn Phúc Ánh chạy vào Gia Định, về
sau Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn giết... Nguyễn Phúc Ánh phải tranh đấu
suốt 24 năm trời mới lấy lại được giang sơn của tổ tiên.
Lúc bấy giờ Nguyễn Phúc Mỹ Đường còn nhỏ tuổi nên Gia Long không muốn
trao đất nước cho một người chưa đủ khôn ngoan và kinh nghiệm. Việc Gia
Long có chủ ý chọn vua Hoàng tử thứ tư để cho nối ngôi sau nầy đã được
nhà vua thực hiện từng bước theo một kế hoạch quy mô. Sau khi Hoàng
trưởng tử là Đông cung Cảnh chết, hoàng tử thứ hai là Hy, hoàng tử thứ
ba là Tuấn cũng nối nhau qua đời. Bà Hoàng hậu họ Tống (mẹ Đông cung
Nguyễn Phúc Cảnh) không còn người con trai nào, tất nhiên người nối
ngôi phải là con trưởng của Đông cung Cảnh, tên Nguyễn Phúc Mỹ Đường
(cháu đích tôn của vua Gia Long, thường gọi là Hoàng tôn Đán). Nhưng
Gia Long đã có chủ trương chọn Hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm cho
làm con của Hoàng hậu họ Tống, để nối ngôi sau nầy.
Ngày Ất Mùi, tháng 2 năm Giáp Tuất (1814), bà Hoàng hậu họ Tống mất,
thọ 54 tuổi. Lúc bấy giờ Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, con nuôi của bà đã
23, 24 tuổi rồi. Khi sắp đặt các nghi lễ theo phong tục, các đại thần
đã trình lên vua để chọn Hoàng tôn Đán (tức Nguyễn Phúc Mỹ Đường) đứng
chánh tế vì là cháu đích tôn. Nhưng vua Gia Long không chịu vì vua muốn
Hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm, con nuôi của Hoàng hậu họ Tống đứng
vai chánh tế để đọc điếu văn (chủ tự). Vua nói “Hoàng tử thứ tư là
Nguyễn Phúc Đảm đã được chọn làm con nuôi của Hoàng hậu, có giấy tờ rõ
ràng, nay phải để Hoàng tử đóng vai trưởng nam, đừng câu nệ “đích tôn
thừa trọng”. Nguyễn Văn Thành nói rằng “Như thế thì khó dùng danh xưng
cho đúng với tư cách của Hoàng tử trong văn tế” (là con nuôi chứ không
phải con ruột) trong khi Hoàng hậu hãy còn có Hoàng tôn (cháu đích tôn)
là Nguyễn Phúc Mỹ Đường. Những thắc mắc đó đã khiến cho vua Gia Long
không bằng lòng, vua đã nói một cách dứt khoát:“ Con theo mệnh cha để
tế mẹ là việc danh chính ngôn thuận, có gì mà không nên”. Để hiểu rõ
tính cách quan trọng của sự việc, chúng tôi xin trích lại nguyên văn sử
liệu nầy :
“Tháng hai, ngày ất mùi, Hoàng hậu Tống thị băng, thọ 54 tuổi. Đặt quan
tài ở điện Khôn nguyên. Vua thương tiếc không nguôi, đội khăn đen, mặc
áo trắng, ngự ở nhà mật nghị, vời bầy tôi, dụ rằng:“ Vua để tang Hoàng
hậu một năm là rất chính. Trẫm ở trong cung để tang một năm. Còn từ
hoàng tử trở xuống thì bàn định phép để tang theo thứ
bực”.......................
“Ngày canh tuất, lễ thành phục. Vua mặc áo vén gấu đến lạy hai lạy. Sai
Hoàng tử dâng cơm tế điện. Trước kia Hoàng tử thứ tư mới lên 3 tuổi,
vua cho Hoàng hậu nuôi làm con mình. Hoàng hậu đòi làm giấy khoán (theo
thế tục, phàm nuôi con người làm con mình thì phải có khế khoán quá
phòng). Vua sai Lê Văn Duyệt viết giấy đưa cho. Hậu giao cho cung tỳ là
Nguyễn Thị Lê cất giữ. Từ đấy Hoàng tử thứ tư thường vào chầu ở đại
nội, làm con của Hoàng hậu, thường gọi là mẹ. Đến khi hoàng cả là Cảnh,
hoàng hai là Hy, hoàng ba là Tuấn nối nhau mất, hoàng tư lấy thứ bực là
lớn nhất, duy đời trước phái trưởng phần nhiều khó nuôi cho nên không
muốn gọi là trưởng. Đến nay làm lễ tang Hoàng hậu, bầy tôi có người bàn
lấy Hoàng tôn Đán (con Hoàng tử Cảnh, tức là Mỹ Đường) làm chủ tự. Vua
dụ rằng “Hoàng tử từng làm con của Hoàng hậu, đã có giấy tờ, nên sai
làm chủ tự, việc lớn của nhà nước không nên câu nệ theo lễ đích tôn
thừa trọng như nhà thường”. Nguyễn Văn Thành cho thế thì văn tế khó
gọi. Vua bảo rằng: “Con theo mệnh cha để tế mẹ là việc danh chính ngôn
thuận, có gì mà không nên”. Bấy giờ việc bàn mới định. Nguyễn Văn Thành
tỏ ý không bằng lòng”.
(Trích Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, bản Hán văn do Quốc Sử
quán nhà Nguyễn biên soạn, bản dịch của Viện Sử học Hà Nội, 1963, trang
213, 214)
Năm Gia Long thứ 15, Mùa Hạ, Tháng Sáu ngày Kỷ Mùi năm Bính Tý (1816),
Nguyễn Phúc Đảm được sách phong lập Hoàng Thái Tử, và cho ở điện Thanh
Hòa. Nguyễn Phúc Đảm sinh năm Tân Hợi (1791) lúc đó đã 25 tuổi (26 tuổi
tính theo Việt Nam) và khi lên ngôi, lấy niên hiệu Minh Mạng cũng đã
gần 30 tuổi Việt Nam.
Mặc dù có sự bất đồng giữa Lê Văn Duyệt và Gia Long về việc chọn người
kế vị... nhưng Lê Văn Duyệt vẫn một lòng trung thành phục vụ nhà
Nguyễn. Năm Bính Tý (1816), trong lúc Lê Văn Duyệt đang thành công tại
Gia Định (miền Nam) thì ông được lệnh trở về kinh đô Phú Xuân (Huế) để
làm việc bên cạnh vua Gia Long và được vua sai đi thanh tra và củng cố
lại chính quyền cũng như quân đội tại hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An. Lê
Văn Duyệt đã thành công trong sứ mạng nhà vua giao phó. Vào giây phút
quan trọng nhất, trước khi lìa đời, để truyền ngôi cho con, vua đã gọi
hai người có thế lực nhất trong triều đình và cũng là hai người được
vua tin cậy nhất: một vị đứng đầu các quan võ là Lê Văn Duyệt và một vị
đứng đầu các quan văn là Phạm Đăng Hưng. Vua đã trao phó Hoàng Thái Tử
Nguyễn Phúc Đảm cho hai vị này bảo vệ. Lời trối trăn cuối cùng cũng như
di chiếu của vua trao cho Hoàng Thái Tử đã diễn ra trước sự chứng kiến
của hai vị khai quốc công thần này.
Chúng ta có thể nghĩ rằng vua Gia Long đã chuẩn bị giờ phút này từ năm
Giáp Tuất (1814) khi Hoàng hậu họ Tống qua đời, và nhất là từ năm Bính
Tý (1816) khi đưa Lê Văn Duyệt từ Gia Định về Huế làm việc bên cạnh
vua. Vua muốn tự mình xác định lòng trung thành của Lê Văn Duyệt trước
khi trao cho ông sứ mạng bảo vệ Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Đảm. Hơn 3
năm sau, vào Tháng Mười Một năm Kỷ Mão (1819) vua Gia Long đau nặng.
Một tháng trước khi băng hà, vua đã ra lệnh cho Hoàng Thái Tử trực tiếp
lãnh đạo đất nước:
“Tháng Mười Một năm Kỷ Mão (1819), ngày Bính Tý, vua không được khỏe.
Hoàng Thái Tử vào hầu... Vua hạ chiếu rằng: “Mọi việc quân, việc nước
đều phải tâu lên cho Hoàng Thái Tử quyết đoán trước, rồi sau mới tâu
vua”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ I kỷ, tập III, bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội, 1963, trang. 394)
Sau đó, chừng một tháng, vua lại triệu Hoàng Thái Tử và hai vị đại thần
Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng đến để nhận di chiếu truyền ngôi:
“Ngày Kỷ Hợi, 11 Tháng Chạp năm Kỷ Mão (26 Tháng Giêng năm 1820), vua
đau nặng, triệu Hoàng Thái Tử và các Hoàng Tử, tước công cùng các đại
thần là Lê Văn Duyệt và Phạm Đăng Hưng vào nhận di chiếu. Lê Văn Duyệt
được chỉ huy 5 đội quân Thần Sách”...
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ I kỷ, sđd, bản dịch, trang 398)
Một tuần sau đó, vua băng hà:
“Ngày Đinh Mùi, 19 Tháng Chạp năm Kỷ Mão (03 Tháng Hai, 1820) vua băng hà ở điện Trung Hòa, thọ 58 tuổi (Việt Nam)”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ I kỷ, sđd, bản dịch, trang 398)
Ngay sau khi vua Gia Long mất, Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Đảm, người kế
vị, đã ban hành một thông báo cho hoàng gia, triều đình và toàn dân,
nội dung như sau:
“Tháng Mười Một năm nay (Kỷ Mão), Đại Hành Hoàng Đế không được khỏe;
ngày 11 Tháng Mười Hai vua ốm nặng, ngày ấy triệu ta (Nguyễn Phúc Đảm)
cùng văn võ đại thần cùng nhận di chiếu. Ngày 19, Đại Hành Hoàng Đế bỏ
cả thiên hạ, ta thương xót như xé ruột gan, kính theo lời dạy thánh
hiền, để tang ba năm. Vậy định chế cho trong ngoài theo thứ bực...”
(sđd, trang 398)
(Thông cáo này ấn định thể thức để tang cho vua tùy theo thứ bậc từ
hoàng tử, hoàng tôn, cung tần... các người trong họ nhà vua cũng như
các quan trong triều và các tỉnh)
Ngày Quý Sửu (20 Tháng Chạp năm Kỷ Mão) lễ thành phục (mặc áo tang).
Ngày Bính Thìn (23 Tháng Chạp năm Kỷ Mão), Hoàng Thái Tử đến điện Hoàng
Nhân lạy nhận di chiếu, và chọn ngày Mồng Một Tháng Giêng năm Canh Thìn
(14 Tháng Hai năm 1820) tức ngày Tết Nguyên Đán để lên ngôi Hoàng Đế,
lấy niên hiệu là Minh Mạng. (sđd, trang 399)
Hai vị phụ chính đã được vua Gia Long tin cậy và giáo phó trách nhiệm
giúp vị tân quân trong việc trị nước an dân: Lê Văn Duyệt (1764-1832)
là khai quốc công thần theo vua Gia Long từ thuở hoạn nạn, lập được
chiến công hàng dầu diệt Tây Sơn phò nhà Nguyễn. Phạm Đăng Hưng
(1765-1825), quê Gò Công là Thượng Thư Bộ Lễ, kiêm Bộ Lại, có công phò
Gia Long và cũng được đứng vào hàng khai quốc công thần... SƯ KẾ NỔI LOẠN Ở MIỀN NAM; LÊ VĂN DUYỆT TRỞ LẠI GIA ĐỊNH ĐỂ ỔN ĐỊNH TÌNH HÌNH: PHÁT HIỆN HUỲNH CÔNG LÝ THAM NHŨNG
Sự kiện vua Gia Long đem Lê Văn Duyệt về Huế và sự kiện vua Minh Mạng,
sau khi lên ngôi vẫn giữ Lê Văn Duyệt ở lại kinh đô... là một điều rất
tế nhị. Sau khi củng cố được nội bộ triều đình ở Huế, thì tình hình ở
miền Nam gặp nhiều chuyện rắc rối, quan trọng nhất là vụ sư Kế (người
Miên) nổi loạn... Vì thế, Tháng Năm Canh Thìn (1820), vua Minh Mạng
phải cho Lê Văn Duyệt trở lại làm Tổng Trấn Gia Định để ổn định tình
hình:
“Tháng Năm, Canh Thìn (1820), cho Chưởng Tả Quân Lê Văn Duyệt lãnh Tổng
Trấn thành Gia Định. Phẩm truất thăng quan lại, hưng lợi trừ hại, tất
cả việc thành và việc biên cương đều cho tùy nghi mà làm”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ II Kỷ, quyển 3, bản dịch, Viện Sử Học Hà Nội, 1963, trang 96)
Trong dịp này, ông được mang theo 2,000 lính từ Bắc thành và Thanh,
Nghệ là những người mà ông đã thu phục trước đây, theo ông vào Gia
Định. Vua cho gọi Hiệp Tổng Trấn Gia Định là Trịnh Hoài Đức về kinh để
làm Thượng Thư Bộ Lại thay thế Nguyễn Hữu Thận (Thượng Thư Bộ Lại qua
làm Thượng Thư Bộ Hộ).
Trong thời gian Lê Văn Duyệt ở Huế (1816-1820), chức Tổng Trấn Gia Định
(Nam Kỳ Lục Tỉnh) được trao cho Nguyễn Huỳnh Đức và Trương Tấn Bửu làm
phó... Trịnh Hoài Đức là Thượng Thư Bộ Lại ở Huế cũng được tăng cường
vào làm Hiệp Tổng Trấn (coi về hành chánh). Về sau cả Trương Tấn Bửu và
Trịnh Hoài Đức đều được gọi về Huế, Gia Định không có chức phó tổng
trấn. Huỳnh Công Lý được làm phó tổng trấn. Nguyễn Huỳnh Đức chết,
triều đình chưa kịp cử người thay thế, lợi dụng lúc tình thế lộn xộn,
Huỳnh Công Lý đã có hành động tham nhũng, vơ vét của dân và cả quân
lính cũng bị bóc lột... Sư Kế là một người Miên đã lợi dụng tình trạng
bất công trong xã hội, kết hợp những người bất mãn, nổi lên đánh chiếm
nhiều nơi, tiến đến uy hiếp thành Nam Vang:
“Nhà sư nước Chân Lạp tên là Kế làm loạn. Kế lấy bùa chú làm mê hoặc
dân phiên (người Miên), người theo ngày càng đông, bèn họp đảng mưu
loạn, tự xưng là Chiêu Vương, lấn cướp các đạo phủ Quang Hóa, Quang
Phong, Thuận Thành (thuộc Trấn Phiên An). Dân Hán (Việt và người Hoa)
sợ chạy tan cả. Phó Tổng Trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý nghe tin báo
tức thì sai Trấn Thủ Phiên An là Đào Quang Lý đem quân đi đánh. Lại báo
cho vua Phiên phái Ủy An Phủ (tên một chức quan ở nước Chân Lạp) là
Tham-vi-đô-chân góp sức đánh bắt. Quang Lý không đánh được giặc,
Tham-vi-đô-chân lại bị giặc bắt, giặc càng hung hăng, giữ núi
Ba-cầu-nam để hoành hành cướp bóc”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ II kỷ, quyển IV, bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội, 1963, trang 125)
Qua đoạn văn trên trích từ các tài liệu lịch sử do Quốc Sử Quán triều
Nguyễn ghi lại, chúng ta thấy được tầm mức quan trọng của “Giặc Thầy
Chúa” tức vụ sư Kế nổi loạn như thế nào. Quan quân Việt Nam không đánh
dẹp được, quan quân nước Chân Lạp (Miên) cũng bị giặc bắt, dân Việt và
người Hoa cũng phải bỏ chạy (di tản). Bọn “sư Kế” tha hồ tung hoành
ngang dọc, vào ra xem như chốn không người, không còn chính quyền,
không còn lực lượng của triều đình để duy trì an ninh trật tự cho dân
chúng nữa. Trước tình thế đó, vua Minh Mạng phải nghĩ đến một người có
tài quân sự cũng như chính trị vào bậc nhất miền Nam (đất Gia Định) và
có thể nói được cũng là bậc nhất của Việt Nam lúc đó, một người không
xuất thân khoa bảng như những bậc đại thần khác dưới triều Minh Mạng,
nhưng thực học và tài ba thì không ai bằng. Đó là Tả Quân Lê Văn Duyệt.
Như đã trình bày trên, vua Minh Mạng đã cho Lê Văn Duyệt trở lại miền
Nam (Tổng Trấn Gia Định) với quyền hạn tuyệt đối về mặt quân sự, hành
chánh, chánh trị: “Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đã đến Gia Định, sai Huỳnh
Công Lý tiến đánh dẹp, gởi hịch cho nước Chân Lạp thêm quân để làm thế
đánh hai mặt. Công Lý đánh nhau với giặc, giặc thua chạy, bèn dẫn quân
về”. (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ II kỷ, quyển IV, bản dịch, Viện
Sử học Hà Nội, 1963, tr. 125)
Về việc đánh dẹp giặc “sư Kế” là công lao của nhiều người, nhưng người
vạch kế hoạch, chỉ huy toàn bộ và là niềm tin cho quân sĩ chiến đấu,
đạt thắng lợi... phải nói là Lê Văn Duyệt. Ta hãy nghe lời dụ (lời răn
dạy của vua gởi cho ác quan và toàn dân) của vua Minh Mạng như sau:
Năm Nhâm Ngọ (1822), Minh Mạng thứ 3, Tháng Giêng, truy xét công dẹp giặc ở nước Chân Lạp. Vua dụ rằng:
“Trước đây tội thần Huỳnh Công Lý phụng mệnh trấn thủ Gia Định, làm
việc ngang trái để đến nỗi bọn nghịch nước Chân Lạp mưu nhòm ngó, giết
chóc dân luôn và cất quân chống cự. Đến khi trẫm sai Lê Văn Duyệt vào
trấn thủ, tùy cơ phân phái biền binh đi đánh bắt, không bao lâu mà bình
định xong, báo tin thắng trận về triều. Tuy đã thi ân ban thưởng cho
quân sĩ, nhưng nghĩ việc điều khiển chỉ huy là do mưu của ngươi (tức Lê
Văn Duyệt), triều đình nghị công thù lao há nên để sót. Vậy thưởng cho
Lê Văn Duyệt gia một cấp quân công, những văn võ tòng chinh ai thực là
có công lao thì cũng phải xét rõ đệ sách tâu lên để giao bộ nghị công”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ II kỷ, q. IV, bản dịch, sđd, tr.32)
Miền Nam là vùng đất mới, người tứ xứ đến lập nghiệp, gồm đủ mọi hạng
người, anh hùng, trộm cướp, lưu manh đều có... Nhưng nhờ ông cai trị
rất nghiêm nên mọi người được yên ổn làm ăn, kinh tế phát triển. Nơi
nào ở trong nước có loạn lạc, vua đều sai Lê Văn Duyệt đến để ổn định.
Ông đã khôn ngoan chiêu dụ được dân về với triều đình mà không cần đem
quân đi đánh dẹp. Ông thu phục được những người có tội ra đầu thú, cho
làm lính dưới quyền của mình. Ông lại được vua trao trách nhiệm đào
kinh Vĩnh Tế... Vì vậy ông được vua ban cho “đai ngọc” là một trường
hợp đặc biệt chỉ dành cho tước vương, ngay chính các hoàng tử từ tước
công trở xuống cũng chưa từng được ban cho “đai ngọc”. Minh Mạng đã hết
lời ca tụng ông như sau:
“Trẫm nghĩ khanh khi xưa đi theo vua (Gia Long) đã có công lao, giữ hết
lòng trung, cho nên hoàng khảo ta dặn lại giúp trẫm. Trước nhân đất Gia
Định ở giáp nước Phiên (Miên) nên sai khanh làm tổng trấn. Từ khi khanh
giữ việc đến nay thì dẹp yên giặc Chân Lạp, tiếp đến tra xét dân lậu
thêm lên hơn vạn hộ khẩu. Nay lại tự mình đốc suất việc đào sông để
thành cái chí noi theo việc trước của trẫm. Làm tôi siêng năng duy
khanh hơn cả, cho nên hậu thưởng. Từ trước tới nay các hoàng tử tước
công, chưa từng đeo đai ngọc. Nay nghĩ khanh công trước vốn đã rạng rỡ,
lại dựng được công mới, nên đặc cách ban cho. Khanh càng nên dốc lòng
trung thành, cố gắng hơn nữa”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ II kỷ, tập 6, bản dịch, Viện Sử học Hà Nội, 1963, tr. 178-179).
Không những sử sách của ta mà các tài liệu ngoại quốc để lại, cũng
chứng minh rằng Lê Văn Duyệt là người có nhiều tài năng và công trạng
đối với quốc gia và dân tộc. Chính vì vậy, dân chúng và quân lính mới
đặt tin tưởng vào Lê Văn Duyệt. Nhờ hậu thuẫn của dân và lính mà ông đã
đạt được nhiều thắng lợi tại miền Nam. Năm 1822 một phái đoàn Anh Quốc
do ông Crawfurd dẫn đầu có đến yết kiến Tả Quân Lê Văn Duyệt, Tổng Trấn
Gia Định. Trong dịp này, Crawfurd thú nhận:
“Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé). Và
tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt,
trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn,
giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà
chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý
tưởng”.
(Nguyễn Thanh Liêm: Tìm hiểu văn hóa Đồng Nai-Cửu Long, đăng trên tập san Tìm Hiểu Văn Hóa Đồng Nai-Cửu Long, số 2 trang 31)
Crawfurd cũng đã nhận xét về sinh hoạt của thành phố Sài Gòn dưới thời Lê Văn Duyệt, như sau:
“Thành phố Saigun (Sài Gòn) không xa biển, có lẽ cách độ 50 dặm; thành
phố Pingeh (Bến Nghé) gần đó cách thành phố Saigun (Sài Gòn) độ 3 dặm.
Dinh tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An
Thông Hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được tổng trấn
cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông
nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ
và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không
khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất
nhân từ, tha thứ cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông
lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình. Chưa ở
đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra
đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ,
tổng trấn biết được cũng bị phạt rất nặng.”
“Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các
hàng tơ lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân đi thuyền theo các kênh rạch
lên bán cho chúng tôi. Nhìn dân chúng hân hoan vui vẻ, chúng tôi biết
dân no đủ. Nhiều người rất kính trọng vị tổng trấn của họ.”
“Con người này ít học. Nhưng lạ lùng thay là có được cái nhìn cởi mở
hơn nhiều những đại thần và cả nhà vua học rộng, làu kinh sử của Khổng
Giáo. Ngài sống thanh liêm, muốn mở mang đất Gia Định này trù phú hơn
mọi quốc gia khác ở trong vùng Biển Đông”. (sđd, tr.32)
Phải chăng Lê Văn Duyệt đã dùng “Thượng phương kiếm” với quyền “Tiền trảm hậu tấu” đối với Huỳnh Công Lý?
Lê Văn Duyệt đã làm được những điều tốt đẹp cho dân, cho nước như thế,
nên dân và lính đã đặt niềm tin nơi ông. Họ đã chờ đợi ông trở lại Gia
Định để tố cáo những hành vi tham nhũng của Huỳnh Công Lý, Phó Tổng
Trấn Gia Định, đã làm trong thời gian ông vắng mặt...
“Phó Tổng Trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý làm trái phép, bị quân dân tố
cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn
Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng: “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công
trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ tiên đế cất nhắc, ngôi đến phó
tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột
nhiễu dân, làm con mọt nước. Tuy dùng phép buộc tội nhưng dân đã khốn
khổ rồi”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ II kỷ, quyển V, bản dịch, Viện Sử Học Hà Nội, 1963, tr. 150)
Nhiều nguồn tin không chính thức nói rằng Lê Văn Duyệt, sau khi khám
phá ra Huỳnh Công Lý tham nhũng, đã dùng “Thượng phương kiếm” với quyền
“Tiền trảm hậu tấu” chém Huỳnh Công Lý (Phó Tổng Trấn Gia Định Thành)
rồi gởi đầu về cho vua Minh Mạng. Huỳnh Công Lý vừa là người có công
đánh giặc, có công đào sông (?) và có con gái là một trong những bà phi
sủng ái của vua Minh Mạng. Làm như vậy, Lê Văn Duyệt đã tỏ ra là một
người lạm quyền. Trong tài liệu “Souvenirs historiques sur Saigon et
ses environs” (Ký ức lịch sử về Sài Gòn và vùng phụ cận) của Trương
Vĩnh Ký, xuất bản năm 1885, Nguyễn Đình Đầu lược dịch, nhà xuất bản
Trẻ, TP. HCM, 1997, trang 32) có kể lại rằng trong thời gian Lê Văn
Duyệt ra Huế, Huỳnh Công Lý đã có liên hệ bất chính với những bà vợ của
Lê Văn Duyệt ở Gia Định... nên Lê Văn Duyệt đã chém đầu Huỳnh Công Lý,
không những về tội tham nhũng, lộng quyền mà còn có chuyện liên hệ với
vợ Lê Văn Duyệt nữa... Nhưng đọc lại các tài liệu chính sử của triều
đình, chúng tôi không thấy nói đến chuyện này:
“Sai đình thần hội bàn. Đều nói: “Công Lý bị người kiện, nếu triệu về
kinh để xét, tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra
xét là tiện hơn”. Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngục, sai Thiêm
Sự Bộ Hình là Nguyễn Đình Thinh đến hội với tào thần ở thành mà xét
hỏi. (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển V, bản dịch, sđd,
trang 150, 151)
Đoạn văn trên đây cho chúng ta biết nhiều chi tiết: Sau khi nhận được
báo cáo của Lê Văn Duyệt gởi về, triều đình ra lệnh tống giam Huỳnh
Công Lý vào ngục và cử quan Thiêm Sự Hình Bộ là Nguyễn Đình Thinh vào
Gia Định thu thập dữ kiện và lấy lời khai của các nhân chứng (vì lý do
có nhiều nhân chứng ở Gia Định, nên không thể mời họ ra Huế để lấy lời
khai được). Khi hồ sơ đã được trình lên vua, số tiền tham nhũng của dân
lên đến trên ba vạn quan. Vua Minh Mạng rất buồn, nói: “Trẫm nuôi dân
như con, thực không kể phí tổn. Nhưng, bọn quan lại tham lam giảo
quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không
được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Huỳnh Công Lý làm Phó Tổng Trấn Gia
Định không bao lâu mà bóc lột của dân trên ba vạn. Nếu các viên mục thú
đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc
thương xót cũng không làm thế nào được”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển V, bản dịch, sđd, trang 170, 171)
Vua sai Trương Tấn Bửu vào làm Phó Tổng Trấn Gia Định thay Huỳnh Công Lý (bị tội):
“Lấy Khâm sai chưởng dinh lãnh Trung Quân Phó Tướng Thự Lý Ấn Vụ là
Trương Tấn Bửu lãnh chức Phó Tổng Trấn Thành Gia Định và khiến 200
người các đội thuộc Vệ Tín Trực đi theo. Từ khi Huỳnh Công Lý bị tội,
vua từng hỏi các đại thần rằng: “Chức Phó Tổng Trấn Gia Định có nên đặt
lại không”? Nguyễn Văn Nhân đáp: “Việc ngoài trấn rất nhiều, tổng trấn
nắm đại cương mà thôi, không có chức phó không được”. Vua cho là phải.
Đến nay sai Tấn Bửu đi. Tấn Bửu là người trọng hậu, giản dị và trầm
tĩnh, tuổi hơn 70, khi bệ từ, vua dụ rằng: “Người lão thành từng trải
thì hẳn không đến nỗi như Công Lý. Nhưng nếu một mực rộng rãi thì tôi
tớ làm bậy, tội đến chủ nhà, há chẳng nên tự răn sao?”
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển VIII, bản dịch, sđd, trang 202, 203)
Phát hiện thêm bằng chứng tham nhũng của Huỳnh Công Lý tại Huế
Trong khi quan Thiêm Sự Bộ Hình là Nguyễn Đình Thinh đang tiến hành lấy
lời khai của các nhân chứng ở Gia Định thì phát hiện thêm một bằng
chứng tham nhũng nữa tại Huế liên quan đến Huỳnh Công Lý... Trong thời
gian ông làm Tả Thống Chế Quân Thị Trung, ông đã bắt lính xây dựng nhà
riêng ở bên bờ sông Hương, ngay bên cạnh kinh đô mà nhà vua không biết.
Vua bèn ra lệnh tịch thu nhà ấy, bán lấy tiền giúp cho cấm binh. Sự
việc này đã được các sử quan nhà Nguyễn ghi lại như sau:
“Lý làm Tả Thống Chế Quân Thị Trung, ngày ngày bắt quân sĩ xây dựng nhà
riêng ở trên bờ sông Hương, đến nay việc phát, hạ lệnh trị giá bán nhà
ấy lấy tiền cho cấm binh”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ II kỷ, quyển IX, bản dịch, sđd, trang 223)
Rồi nhân đó, dụ rằng: “Từ nay biền binh trong ngoài nếu gặp kẻ tham
tàn, cậy quyền thế áp bức mà không kêu được, thì cho phép được đón xa
giá mà tâu”. (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, sđd, trang 223) “Vua còn dụ
rõ cho các đại thần nên lấy việc Lý làm răn”. (sđd, trang 132) ẢNH HƯỞNG VỤ ÁN HUỲNH CÔNG LÝ
Cuộc điều tra vụ án Huỳnh Công Lý kết thúc, tang vật trên 2 vạn quan
tiền. Vua ra lệnh cho quan phụ trách ở thành Gia Định đòi lại số tiền
đó cho dân. Khi thành án, vua ra lệnh trao hết hồ sơ cho triều đình bàn
xét. Triều đình kết luận “đáng tội chết”. Án được thi hành tại Gia Định
là nơi xảy ra vụ án. Huỳnh Công Lý bị xử tử, tịch thu tài sản để trả
lại cho quân lính và dân chúng... (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị
kỷ, quyển IX, bản dịch, sđd, trang 223)
Nhân đó, vua ra lời dụ (răn bảo) cho các quan và dân chúng như sau:
“Gia Định là nơi đất rộng dân nhiều. Hoàng khảo ta mưu tính, thành lập
quân lữ, khôi phục dư đồ, cái nền móng xây dựng cơ nghiệp thực là ở
đấy. Từ trước đến nay vẫn thận trọng lựa chọn những trọng thần công lao
danh vọng sai trấn phủ cho muôn dân yên ổn. Không may có Huỳnh Công Lý,
lấy tư cách đê hèn, chứa chất thói tham bạo, vặn trái pháp luật, ăn lót
kể đến muôn vàn, bắt người làm việc (riêng) mỗi lần đến hàng mấy nghìn,
mọt nước hại dân đến thế là cùng. Nghĩ các ngươi vô tội mà gặp nỗi độc
hại này, dù của cải đền được nhưng nỗi khổ lâu ngày khó mà hối được.
Nay tội nhân như thế, pháp luật phải thi hành, để cho nhân dân uất ức
một phương đều rõ cái ý trừ bạo an dân của triều đình”.
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển IX, bản dịch, sđd, trang 223)
Vụ án Huỳnh Công Lý còn ảnh hưởng về lâu về dài, đến nỗi, gặp bất cứ
trường hợp nào có liên quan đến tiền bạc, vật liệu, kho tàng của nhà
nước... Vua đều nhắc nhở các quan phải lấy đó làm răn. Nhân tỉnh Bình
Định mới xây dựng một nhà kho để chứa vật liệu và tiền bạc dùng vào
việc công, nhà nước đã phải chi ra hơn 3,000 quan tiền để trả công thợ
và mua vật liệu xây dựng. Một hôm, Trương Phúc Đặng ở Bình Định vào
chầu, khi từ biệt ra về, vua dụ rằng: “Hạt ngươi dân khổ chưa hồi phục,
việc làm kho thực là bất đắc dĩ. Ngươi làm trọng thần của nước, nên răn
dạy thuộc viên không được bóc lột dân. Chẳng thấy gương Huỳnh Công Lý
đấy sao?” (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển VIII, bản
dịch, sđd, trang 205)
KẾT LUẬN:
Lê Văn Duyệt là người cương trực và trung thành, nhiều lần đã can ngăn
vua, làm trái ý vua... Nhưng vì ông là khai quốc công thần thời Gia
Long và đã được vua trao cho “Thượng phương kiếm”, được gọi là “cố mạng
lương thần” là bề tôi lương thiện được vua tin cậy trao phó trách nhiệm
phò tân quân (Minh Mạng); ngoài ra, công lao dẹp giặc, an dân, mở mang
đất nước giàu có, cường thịnh nhất là vùng Đồng Nai-Cửu Long (tức Gia
Định, Nam Kỳ Lục Tỉnh)... nên dù không vừa lòng, Minh Mạng cũng phải
đối xử với ông cho đúng với công lao của ông khi ông còn sống. Nhưng
sau khi ông qua đời (1832), những người có trách nhiệm tại Gia Định như
Bạch Xuân Nguyên, Nguyễn Chương Đạt... đã đối xử bất công với đàn em
của ông, khiến xảy ra vụ Lê Văn Khôi nổi loạn chiếm thành Gia Định năm
1833. Lúc đó, Lê Văn Duyệt tuy đã chết cũng bị đem ra xét xử và bị buộc
vào tội “phản nghịch” như Lê Văn Khôi. Các quan muốn làm đẹp lòng vua,
hùa nhau buộc tội Lê Văn Duyệt với những lời lẽ có vẻ cường điệu, vu
khống như “Lê Văn Duyệt đã gọi mồ mả cha mẹ mình là “lăng”, khi nói với
người khác thì xưng là “cô”, giải thích chức Tổng Trấn như là một Phó
Vương... là mang tội phạm thượng, phản nghịch, bất trung... phải bị
chém đầu!” (Lăng chỉ mồ mả của bậc đế vương; Mộ chỉ mồ mả của bề tôi;
Cô gia hay Trẫm là tiếng vua tự xưng). Cũng như dư luận đã gán cho Lê
Văn Duyệt là người “lạm dụng quyền thế” đã dùng “Thượng phương kiếm”
chém đầu Huỳnh Công Lý trước, rồi mới làm tờ trình về tội trạng gởi lên
vua sau... Qua những tài liệu trích dẫn trên đây, chúng ta thấy Lê Văn
Duyệt là người thi hành pháp luật rất nghiêm minh, làm đúng nguyên tắc,
thủ tụng tố tụng của tòa án và theo đúng truyền thống xét xử của triều
đình. Lòng trung nghĩa của ông đã cảm động đến thần thánh, đến mọi
người và việc vua Minh Mạng xét xử bất công đối với một anh hùng đã
chết như ông, đã khiến cho chính con của Minh Mạng là Thiệu Trị (1841,
khi mới lên ngôi) đã ra lệnh đại xá cho Lê Văn Duyệt và cháu của Minh
Mạng là Tự Đức (1848, khi mới lên ngôi) đã phục chức cho Lê Văn
Duyệt... Cuối cùng, chính nhân dân trong vùng Sài Gòn-Gia Định đã bỏ
tiền ra trùng tu lăng mộ Tả Quân Lê Văn Duyệt và thường xuyên đến cúng
vái cầu khẩn tại khu lăng mộ của ông cho đến bây giờ. Điều đó, chứng
minh rằng Tả Quân Lê Văn Duyệt thật xứng đáng là một người anh hùng có
công với dân với nước. Những chuyện “bên lề” về vụ án Huỳnh Công Lý cố
ý làm cho dư luận hiểu sai lạc về Tả Quân Lê Văn Duyệt... đều không có
bằng chứng xác đáng, không đúng sự thật.
GS. Nguyễn Lý Tưởng |