|
PHẦN THỨ NHẤT SỰ TAN RÃ Ở NAM HÀ (1771 - 1785) Chương 1. CÁC LỰC LƯỢNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC ĐẾN KHOẢNG 1775
__________________________________________________________________Tiết 1
BIẾN CHUYỂN TỚI 1775: TÂY SƠN KHỞI NGHĨA
Biến
động Tây Sơn và những bạo động ở Bắc Hà * Sự suy đồi quyền bính ở Nam
Hà với khả năng phản kháng của dân chúng * Chiến tranh Tây Sơn -
Nguyễn. * Quân Trịnh vào Phú Xuân * Chúa Nguyễn vào Đồng Nai.
Sự
kiện quan trọng nhất xảy ra trong lịch sử Đại Việt vào giữa hậu bán thế
kỷ XVIII là “loạn” Tây Sơn. Từ trước không phải không có những người
thường dân lên làm vua, dựng nên một triều đại mới, nhưng họ lập nghiệp
bằng cách đánh đuổi ngoại xâm (Lê Lợi), hoặc bằng cách phụ tá triều đại
trước, mang quan tước của dòng họ này rồi tìm cách soán đoạt (Trần,
Mạc). Chỉ riêng có anh em Tây Sơn truất quyền các triều đại có mặt bằng
mưu mô binh lực, đem vào lịch sử những tên mà bình thường là anh buôn
trầu, chị đàn bà giữ con, ông thầy đồ ở làng và cả những kẻ sống ngoài
vòng pháp luật nữa1.
Biến
động Tây Sơn có tính cách dân chúng làm ta liên tưởng những cuộc chống
đối ở Bắc Hà dưới thời Trịnh Doanh, Trịnh Giang. Những Nguyễn Cừ.
Nguyễn Tuyển, Nguyễn Danh Phương... đều dựa vào đám nông dân cùng khổ,
lập riêng triều đình có khi đến hàng 10 năm trời. Tuy nhiên, họ làm
loạn sát kinh đô, trong một xã hội quá thuần nhất về kỹ thuật, ý thức,
nên phải chịu thất bại, ngậm thở ngùi than:
Hỏi sao sao luỵ cơ trần, Bận tài bay nhảy, xót thân tang bồng? Nào khi vỗ cánh rỉa lông? Hót câu thiên túng trong vòng lao lung? (Nguyễn Hữu Cầu)
Họ
không đủ sức phá vỡ chính quyền Trịnh, nhưng ngược lại họ Trịnh nằm
trong sự đổ nát của chính mình, trong sự rạn nứt của thời đại cũng
không thể nào bóp nghẹt được sức phản kháng của dân chúng vốn lúc nào
cũng hi vọng, chờ đợi:
Mặc bay đông ngữ, tây đàm, Chờ khi phong tiện dứt dàm vân lung. (Nguyễn Hũu Cầu)
Trong
khi ở Bắc Hà chính quyền và dân chúng trông chừng nhau thì ở Nam Hà
nhóm lên loạn Tây Sơn ngang ngửa, tàn bạo dứt đứt những gì tạo lập thế
phân tranh kéo dài 200 năm có hơn. Tất nhiên đã có những điều kiện chủ
quan và khách quan đem đến sự thành công cho họ, giúp họ từ một tiền
đồn di dân hẻo lánh ào xuống xô đổ ngôi vị Nguyễn, trườn ra đất Bắc
chấm dứt Trịnh, Lê, cũng như sau này có những điều kiện mới nảy sinh
đưa đẩy họ tới thất bại, trao công trình thống nhất lần đầu mà họ mở
lối kiến tạo vào tay một ông hoàng còn sót lại của Nam Hà.
Trước
nhất là sự rối loạn ngay trong triều chúa Nguyễn ở Thuận Hoá. Ở đây mọi
tội lỗi đều được bề tôi họ Nguyễn trút vào đầu Trương Phúc loan. Xử sĩ
Hoàng Quang kể tội Loan với giọng hậm hực, có khi ngây ngô: quan Quốc
phó đem tinh binh giữ biệt thự Phấn Dương của mình, để binh lão nhược
ra ngoài chống giặc; quan thu thóc lúa, bạc vàng cho đầy túi bằng những
mưu mô làm suy bại nước: quan thu dụng, mua chuộc triều thần để họ phải
chịu “giọng miệng xôi chùa” …2
Võ
vương Nguyễn Phúc Khoát mất đi (1765), Hoàng trưởng tử Chương đã qua
đời (1763) mà Thái tử Hiệu, con thứ 9, lại còn mất trước đó nữa (1760)3.
Đáng lẽ cha Nguyễn Phúc Ánh là Chương Võ, con thứ 2 Võ vương lên cầm
quyền, nhưng bị Trương Phúc Loan giam vào ngục “ưu uất mà mất”. Việc
này hại lây đến cả 2 đại thần: Trương Văn Hạnh và Lê Cao Kỷ4.
Phúc Thuần con thứ 16 của Võ vương được lên ngôi (12 tuổi), chiếm địa
vị của con Thái tử Hiệu thường được gọi là Hoàng tôn Dương. Rối loạn
trong việc thế tập này còn ảnh hưởng rất lâu, đến mãi khi họ Nguyễn
chạy vào Đồng Nai.
Đã được Duệ Tông phong làm Quốc phó, quản
Tượng cơ, kiêm Tàu vụ, Trương Phúc Loan còn đặt vây cánh bên ngoài, cho
các con lấy công chúa Ngọc Nguyện, Ngọc Chú để làm thế lực bên trong.
Quyền uy có thì tiền cũng theo đó mà dồi dào. Chúa cho ông lấy sản thuế
các nguồn Thu Bồn, Trà Sơn, Trà Vân, Đồng Hương làm bổng riêng, mỗi năm
thu bạc đến 200 lượng có dư với ngà voi, sáp vàng, mật trắng, “đồ quý
chất như núi”5. Gọi
là “Chúa cho”, nhưng chắc gì Chúa đủ trí khôn và đủ quyền để biết và có
thể làm gì? Gia tư của Phúc Loan lại được tăng bội bằng nhiều hình thức
ám muội khác. P. Poivre đã cho ta biết việc ông gạt tiền của người
khách thương này6.
Vai trò của Trương Phúc Loan trong việc xô đẩy triều chúa Nguyễn đi vào chỗ suy sụp thật không thể chối cãi7. Nhưng không phải chỉ mình ông thối nát. ______________________________________________ 1. Không phải chỉ vì thân tình mà Ngọc Hân công chúa (trong Ai tư vãn)
nói về Nguyễn Huệ (Tây Sơn nói rộng ra) là dân “áo vải cờ đào, giúp
dân, dựng nước...” Trong mọi tờ thư biểu đưa sang nhà Thanh. Quang
Trung vẫn xưng là “kẻ bố y”. Người Tây phương (BSEI. XV 1940.
66) Cũng thấy rõ tính chất xã hội của cuộc loạn này. Ngay đến kẻ thù
của Tây Sơn cũng công nhận có dân chúng ủng hộ họ. Quần thần Nguyễn Ánh
khi khuyên Chúa đừng làm mất nhân tâm, đã nói về Tây Sơn: “Kẻ kia, Nhạc
Huệ, anh em từ dân áo vải, không đất cắm dùi, vươn tay hô một tiếng,
người theo có cả vạn chẳng đầy 5, 6 năm có được đất nước. Họ không có
quá tài đức của người thì vì lẽ gì lại hưng thạnh dữ dội như vậy?” (Thực lục q1. 2ab). 2. “Hoài nam khúc”, NP XIII. t. 157 - 180. 3. “R. Orband. Généalogie des Nguyens”, BEFEO,
1914: Võ vương có 30 con (18 trai, 12 gái). Các con trai là: (1) Chương
hay Trà († 1763), (2) Luân, (3) Mão hay Văn (1734-1773), (4) Quới hay
Thành (1735-1775), (5) Duệ hay Bửu (1735-?), (6) Chất (1737-1777), (7)
Kinh (1737-1775), (8 ) Bảng (1739-?), (9) Hiệu (1739-1760), (10) Yến
hay Chiêu (1740-1772), (11) Tuân hay Đa (1742-1764), (12) Yến hay Viêm
(1743-1776), (13) Đãng hay Trường (1744-1786), (14) Tuyền hay Quyền
(1749-?), (15) Diệu (1753-?), (16) Thuần, Duệ Tông (1753-1777), (17)
Xuân (1757-1780), (18) Thăng (1762-1819). 4. Thực lục tiền biên, q11, 1b, 2a, sử sự tiếp theo ở tờ 4ab. 5.
Ta không nên lấy làm lạ về sự giàu có này. Chapman, người đại diện của
W. Hastings trong chuyến đi thăm dò Nam Hà năm 1778 cho biết ở vùng
Huế, tỉnh Chàm (Quảng Nam) có nhiều mỏ vàng. Trà Sơn (ĐNNTC,
tỉnh Quảng Nam, q5 gọi là Trà Tế Sơn) là nơi sản xuất vàng. Hải cảng Đà
Nẵng chuyển phẩm vật nguồn này ra ngoài. Nguồn Trà Vân, theo lời tả của
ĐNNTC, tỉnh Bình Định, q9, nếu chỉ nguồn An Lão, Kim Sơn thì
cũng có vàng, ngoài mật ong sáp vàng... Nguồn Thu Bồn sản xuất quế chắc
dùng cửa Hội An làm nơi chuyển tiếp ra ngoài. Nguồn Đồng Hương ở Bình
Khang (Khánh Hoà, vùng Vạn Ninh) mà ĐNNTC tỉnh Khánh Hoà gọi
Động Hương, là nơi sản xuất sáp ong vàng với các đội Hoàng lạp hoạt
động thường xuyên. Như vậy có thể nói Trương Phúc Loan đã bao thầu hết
các nguồn lợi trên rừng của Nam Hà và còn nắm quyền xuất cảng nữa (ông
coi chức Tàu vụ). Sự việc này còn chứng tỏ sinh hoạt rộn rịp của ngành
buôn nguồn, khai thác lâm, khoáng sản vào thế kỷ XVII, XVIII ở vùng này. 6. L. Cadière, “Quelques figures sous la Cour de Võ vương”, BAVH, 1918, t. 262-264. 7.
L.M Cadière (bđd, t.270, 271) không phủ nhận lầm lỗi của Trương Phúc
Loan, nghĩ rất đúng rằng người chung quanh ông cũng làm bậy như vậy,
nhưng lại cho rằng sở dĩ sử quan nhà Nguyễn ghét ông vì ông đã gạt cha
Gia Long không cho lên ngôi và vì ông một phần nào có cảm tình với
người ngoại quốc. L.M không lưu ý rằng Trương Phúc Loan đón tiếp niềm
nở P. Poivre chẳng hạn là để lợi dụng đổi tiền lấy bạc và khi thấy
Poivre đòi ông thoả mãn việc đổi bạc riết quá, ông bèn tìm cách tống
khứ đi ngay. Thêm nữa có nhiều chứng cớ cho biết mọi người đã kết tội
Loan từ lúc Nguyễn Ánh chưa ló diện trên chính trường (Trịnh đưa hịch
kể tội Loan để làm cớ tiến quân, Tây Sơn tôn phù Hoàng tôn Dương).
Không đợi đến Duệ Tông mới có trò hư hỏng vì Loan dạy cho cách ăn chơi.
Võ vương lúc sanh tiền cũng chỉ nghĩ tới lạc thú riêng, P. Poivre được
một ông Cai bộ cho biết như thế. Người khách thương đại diện cho
Dupleix này được cho biết rằng các quan dưới quyền Võ vương có đủ cách
dối gạt Chúa để cản trở Poivre. Đến nỗi ông phải kêu lên một cách tức
giận: “Phải cho họ hiểu rằng chúng ta từ hơn 6.000 dặm lại đây không
phải chịu mất cơ nghiệp làm giàu cho cả bầy háu đói này”1.
Chúa có nhiều con bèn nghĩ ra cách gây dựng bằng cách bắt các quan nuôi
các hoàng tử và phải chia của cho họ. “Nhưng họ không thiệt thòi vì nhờ
sự che chở của Chúa họ sẽ được những gì họ muốn... Họ cướp bóc mà không
bị trừng phạt và khi có của, họ sẽ đem giấu đút cho các con riêng của
họ, bù ngay lúc bọn này còn sống phần gia tài mất đi kia”2
(phần chia cho các hoàng tử). Binh lính, tướng lãnh bấy giờ thì lão
nhược, nhút nhát, nghe đến phải đi đánh giặc vội vàng đem vàng bạc đút
lót quan Quốc phó để cắt đặt người khác thay3.
Tất nhiên tiền đó trong lúc trên không tuân cương kỷ này thì dưới, người ta không nề hà gì mà không vơ vét của dân đen.
An
ninh không được chính quyền lưu tâm, trộm cướp tha hồ hoành hành. Rồi
đói khổ, mất mùa càng làm cho dân chúng cùng quẫn. Chưa phải những trận
đói kinh hồn của Cương mục, Thục lục tả vắn tắt, của các
giáo sĩ ở Huế, Quảng Nam kể tỉ mỉ vào cuối năm 1774, đầu 1775. Đó là
hậu quả của chiến tranh hơn là nguyên nhân của chiến tranh. Đói kém bắt
đầu từ năm 1768 vì một sự sai lầm về chính sách tiền tệ: tiền kẽm được
tha hồ đúc từ vua chí dân gây nên một tình trạng lạm phát khiến dân
chúng mất tin tưởng, đua nhau với đám đúc tiền lậu mua lúa tích trữ,
trong khi nhà giàu không dám tung gạo ra. Tệ trạng ấy kéo dài từ Phú
Xuân đến Ba Thắc trong cả những năm không mất mùa4.
Lại thêm tham vọng của Mạc Thiên Tứ, vùng Hà Tiên phải lâm vào cảnh
chiến tranh với Xiêm, ảnh hưởng đến tình trạng sản xuất của một vùng
vốn được coi là “vựa lúa của quốc gia”5.
Rốt
cục trong triều Chúa phân rẽ, năm phe ba phía. Chất men lý tưởng trung
trinh không có đối tượng để nối kết lòng người. Dân chúng không nhờ cậy
được ở chính quyền, phải quay về những người nào hứa hẹn và thực hiện
được một phần nào hứa hẹn đem lại ấm no cho họ.
Nhưng
không phải sự rối loạn triều chính, sự oán ghét của dân chúng đủ đem
lại sự sụp đổ cho họ Nguyễn. Quan lại nhũng nhiễu hầu như là một chứng
bệnh kinh niên của xã hội xưa, trước đó và mãi sau này nữa (cả dưới
thời Tây Sơn). Ta đã thấy Nguyễn Hữu Cầu dõng mãnh, Nguyễn Danh Phương
bền dai với dân chúng Bắc Hà phụ hoạ cũng không phá được họ Trịnh. Trái
lại tình thế Nam Hà lúc này thuận tiện cho một cuộc nổi dậy thành công
cho những người chống đối có mộng tưởng, có khả năng làm việc lớn.
Những
điều kiện đó, anh em Tây Sơn đã có đủ, và nếu thiếu, đã biết tạo ra.
Bởi vì đồng thời phản đối Trương Phúc Loan không phải chỉ có họ. Mùa hạ
1770, vùng Quảng Nam có loạn6. Nhưng cuộc loạn không có ngày mai. Chỉ còn anh em Tây Sơn.
Họ
là 3 người: Nguyễn Văn Nhạc, Nguyên Văn Lữ, Nguyễn Văn Huệ. Sử quan nhà
Nguyễn không cho biết rõ hơn. Nhưng trong một bức thư, giáo sĩ
Labartette thêm một ít chi tiết: Nhạc là anh lớn, người thứ hai là “Đức
ông bảy”, người thứ ba là “Đức ông tám”7. Nhiều tài liệu cho ta biết “Đức ông tám” là Nguyễn Huệ8.
Lúc mới khởi nghĩa, Huệ mới 18 tuổi đầu. Cách biệt thứ bực với người em
nhỏ cho ta thấy Nhạc là người chủ xướng cuộc chống đối.
Anh em
Tây Sơn là dòng dõi Hồ Quý Ly. nguyên quán ở đất Hưng Nguyên (Nghệ An).
Ông bà họ bị quân Nguyễn bắt vào Nam nhân lúc Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn
Hữu Dật đem quân ra lấy 7 huyện phía nam sông Cả, thời Thịnh Đức nhà Lê
(1653-1657, nhưng trận chiến kéo dài từ 1655-1661). Một nhân vật chính
trong họ bị bắt có thể là Hồ Phi Phúc. Họ được đưa về làng Tây Sơn
thuộc huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn9 Đến đời cha Nhạc mà Liệt truyện gọi
tên là Phúc, mới dời xuống ấp Kiên Thành sinh ra 3 anh em, lấy mẫu tính
để gọi Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Lữ, Nguyễn Văn Huệ10.
Cứ
theo sử sách thì nguyên nhân khởi loạn của Nhạc rất tầm thường: ông làm
biện lại ở đất Vân Đồn (?) gá bạc, tiêu lạm tiền thuế, bị Đốc trưng
Đằng đòi hỏi gắt gao “mới trốn vào rừng tụ đảng ăn cướp”. Chi tiết đòi
tiền thuế phù hợp với bằng chứng của Chapman cho biết một nguyên nhân
bùng ra rối loạn: Trương Phúc Loan đã đánh thuế vào khoảng một dollar
espagnol cho tất cả mọi người, không phân biệt già trẻ, giàu nghèo gì
hết11. L.M Jumilla
kể chuyện vào khoảng tháng 5-1773, một viên quan đi thâu thuế ở Quy
Nhơn có mang lính hộ tống, bị quân Tây Sơn chặn lại đòi giấy tờ, tiền
bạc, đâm cho một nhát ở vai trái phải cùng lính hầu bỏ chạy12.
Nhạc
thua bạc, quỵt thuế, túng cùng làm loạn hay đứng về phía dân chúng
chống đối chế độ thuế má khắt khe rồi bị chính quyền vu cáo? Chúng ta
đã có đủ tài liệu để trả lời dứt khoát. Việc viên quan thu thuế bị đâm
tháng 5-1773 và việc Đốc trưng Đằng thúc thuế ở Nguyễn Nhạc rõ là một.
Nhưng Tây Sơn đã khởi loạn từ năm 1771 và kéo nhau xuống đồng bằng cả
lúc ban ngày từ tháng 4-1773 thì vụ gọi là quỵt thuế đâu phải là nguyên
nhân của cuộc nổi dậy? Vả lại, địa vị của Nhạc không phải của một anh
cờ bạc tầm thường: một người đứng đầu công cuộc làm ăn buôn bán của cả
một vùng mới được chính quyền trung ương cho coi việc thu thuế rồi lại
nhờ vào chức phận này mà tăng uy tín với dân địa phương13,
thì chống đối với chính quyền - tất nhiên là sống ngoài vòng pháp luật
- đâu có phải đợi đến cái thế cùng mới bạo gan làm việc? _______________________________________ 1. Trích Du ký của P. Poivre nơi Cadière, bđd, trang 273. 2. Bđd t.289. 3. Thực lục tiền biên. Q11, 18a. 4. Thực lục tiền biên, q11 12ab. tờ sớ của Ngô Thế Lân (1170). 5. J.Komer, “Description historique de la Cochinchine”, RI,
XV, Mai-Juin 1911 t.10: Xét thêm thư của giáo sĩ Halbout. tháng 7-1775
(A. Launay. III, t 460): “Mỗi năm từ Đồng Nai, vùng phì nhiêu, có hàng
ngàn chiếc ghe đến vùng này mang lại sự đầy đủ và nỗi vui mừng cho dân
chúng”. 6. Thực lục tiền biên, q11, 11ab. 7. Thư ngày 12-5-1787 (RI, XIV, Juil-Déc. 1910, t. 44) 8. Hoàng Lê, t.53, ghi: “...sinh ra Nhạc và 2 người em là Bình và Lữ”. Bình là Nguyễn Huệ (Liệt truyện, q30, 37b). Cương mục q44, 22a cho biết thứ tự Nhạc. Huệ, Lữ. Sách ta chỉ có Liệt truyện (q30,
1a) là cho biết Huệ là em út, phù hợp với nhiều tài liệu của các giáo
sĩ đương thời để lại. Một ví dụ: thư của Đức ông Veren (Labartette)
ngày 8-6-1788 có câu: “chiến tranh bùng nổ (…) giữa 2 anh em Nhạc và
ông Tám (Đặng Phương Nghi, vài tài liệu mới lạ về những cuộc Bắc tiến
của Nguyễn Huệ”, Sử Địa số 9-10 t. 237). 9. Tây
Sơn là một địa danh chỉ cả vùng núi phía Tây đồng bằng của phủ Qui Nhơn
xưa. Danh từ hàm ý nghĩa phong thuỷ hơn là địa lý. Còn địa điểm Tây
Sơn, nơi phát xuất của triều đại họ Nguyễn mới này là địa phận 2 làng
Cửu An, An Khê ngày nay (khu vực xác định vẫn còn rộng quá), trước 1945
thuộc Kontum, sau 1955 được sáp nhập vào tỉnh Bình Định trong một quận
mới lập: quận An Túc. Tên phủ Qui Nhơn cũng trải qua nhiều thay đổi:
ban đầu là phủ Hoài Nhơn (1470), năm 1602 lần đầu có tên Qui Nhơn, 1651
tên phủ Qui Ninh, 1742 trở về tên cũ, 1831 lại gọi phủ Hoài Nhơn, 1832
thành tỉnh Bình Phú (ĐNNTC, tỉnh Bình Định, q9, Kiến trí duyên
cách). Với người ngoại quốc buôn bán thì Qui Nhơn là vùng Thi Nại mà họ
gọi là Quinion, Chincton, Choya (Chợ Giã, tức là thành phố Qui Nhơn bây
giờ). 10. Hoàng Lê nêu lên tên Hồ Phi Phúc là một ông tổ trong dòng. Hoặc Liệt truyện sai lầm, hoặc hai tên Phúc phải là hai người khác nhau. Không nên nói như ông Văn Tân (Tập san Văn Sử Địa
số 19, “Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và giáo dục” trình
bày do ông Phạm Văn Diêu trong Văn hoá Nguyệt san, tháng 7-8/1962) rằng
đó là một người. Nguyễn Huệ chết năm 1792 thọ 40 tuổi, vậy sinh vào
khoảng 1753. Hồ tôn thế phả cho biết Hồ Phi Phúc đã có mặt ở
Nghệ An năm 1655, dù là còn ẵm ngửa, nếu là cha Nguyễn Huệ tất phải
sinh ông này vào lúc 100 tuổi. Huống nữa, giọng điệu của tác giả Hoàng Lê,
người sống sau câu chuyện tù binh Hưng Nguyên cả hàng 100 năm, rõ ra là
Hồ Phi Phúc lúc còn ở Nghệ An đã là người có danh vọng rồi.
Nếu
nghĩ rằng tục lệ ta hay kỵ huý ông bà để không thể có 2 ông Phúc ở nhà
họ Hồ Tây Sơn thì càng chỉ nên giữ tên Phúc của xứ Nghệ thôi mà bỏ tên
Phúc của Liệt truyện đi. 11. Chapman, “Narative of a voyage to Cochinchina in 1788”, bản dịch Pháp văn của H. Berland. BSEI, XXIII, 1948, t. 22. 12. L.M.
thuộc dòng Phăng-xi-cô, tiết thư ở Tiên Đỏa ngày 15-2-1774 kể chuyện
mắt thấy tai nghe về cuộc khởi nghĩa trong chuyến ông vào Qui Nhơn, tá
túc tại nhà thờ Gia Hữu (phía bắc Bồng Sơn) (BSEI, XV. 1940. t. 74). 13.
Muốn biết chức tước của Nguyễn Nhạc to như thế nào đối với dân chúng,
hãy xem lại một chi tiết trong tiến triển của cuộc khởi nghĩa. Loạn
quân tụ tập từ 1771, kéo xuống chợ tháng 5-1773, tháng 9-1773 cướp tỉnh
thành mà trước đó chỉ có một trận đụng độ để cho sử quan cùng người
ngoại cuộc không hẹn mà cùng ghi như nhau: xung đột với một viên Đốc
trưng, một người trông coi việc thu thuế. Xung đột nhỏ mà đầy ý nghĩa
giá trị chứng cứ xã hội, đối với dân chúng, chính quyền trung ương là
viên quan thu thuế. Nguyễn Nhạc, trước khi làm loạn, là một viên quan thu thuế như vậy.
Cho nên, đánh bạc, Nhạc nào có dễ gì để cho người ta lột! Quan sát vùng đất và cư dân, ta thấy rõ sự thực hơn. Làng Tây Sơn có
thể coi như một tiền đồn di dân Việt ở về phía Tây, sâu vào trong xứ
người Thượng. Là một tiền đồn di dân, thực vậy, vì tuy sử sách không
nói rõ hơn, nhưng việc bắt người Hưng Nguyên đem lên vùng này có thể
coi là họ Nguyễn đã áp dụng chính sách khai phá cổ truyền trên đất mới
với tính cách cưỡng bách mà thôi. Có lẽ đợi đến 2 đời sau, thành người
địa phương, thoát tính cách tù binh cưỡng bách kia, họ Hồ mới dời xuống
Kiên Thành, sửa soạn cho con dựng nghiệp lớn.
Vị tri cư trú
mới lại đắc thế cho công cuộc làm ăn của họ này. Kiên Thành cũng ở trên
bờ sông Côn như các sông nhỏ miền Trung khác, nối liền đồng biển và núi
rừng, đóng vai trò rất quan trọng về nhân văn, kinh tế. Những sông này
tạo nên những vùng đất nhỏ hẹp nhưng rất phì nhiêu. Chúng là con đường
giao thông trao đổi phẩm vật trên rừng, dưới biển. Trên rừng có mật
ong, trầm hương, măng le, vàng... chuyển xuống đồng đổi lấy gạo, chế
phẩm (vải lụa, đồ sắt...). Lâm sản, lúa gạo lại đưa xuống các vùng biển
để chuyên chở ngược về nguồn những loại cá, mắm, muối, đồng sắt1.
Vùng ba huyện có địa điểm Kiên Thành như một giao điểm tụ hội của phẩm
vật các nguồn Kim Sơn Đồng Hươu, An Tượng... chuyển xuống Nước Mặn, Thi
Nại để ra biển và cũng là chỗ phân phối ngược lên các tài nguyên ngoài
biển cả đưa vào.
Trong khung cảnh hàng hoá lưu chuyển như vậy,
tay buôn Nguyễn Nhạc chọn lấy một phẩm vật quan trọng, cần thiết vì là
nhu cầu của phong tục: trầu nguồn. Loại trầu này đắc dụng hơn thứ trầu
trồng ở các vườn dưới đồng lá nhỏ mầu xanh vàng, gân lá nổi nhiều khiến
miếng trầu hay dòn, dễ gãy. Có nhìn thấy từng giỏ trầu nguồn, lá to
bằng bàn tay sè - têm được nhiều miếng - màu xanh lặc lìa, mềm mại xếp
nằm sát lên nhau làm nổi những đầu cuống lá nổi thành hàng dài mầu xanh
non, có nhìn thấy từng giỏ trầu chất vun lên, tươi mát chờ đón bạn hàng
ở các phiên chợ sớm như thế mới thấy sự đắc dụng của một món hàng được
khắp mọi giới ưa chuộng.
Căn cứ vào chút phong tục còn rơi rớt
lại làm dấu vết cho trào lưu cuối mùa của dòng thương mại, căn cứ vào
địa điểm Trường Trầu còn lại, ta có thể vẽ ra khung cảnh hoạt động
trong vùng người hào phú đất Kiên Thành.
Len lỏi vào trong các
nguồn - càng vào sâu lá trầu càng tốt, có những người Thượng hái trầu
chứa trong gùi mang thẳng xuống Trường Trầu, hay qua những trung gian
khác chủng tộc. Ở đây, người ta tỉa lá vàng úa, vứt lá sâu quăn, xén
bớt phần cuống héo mặt - cho tỏ ra trầu còn mới - rửa sạch sắp xếp gọn
ghẽ rồi chất cho các bạn hàng đem về phân phối các chợ miền xuôi.
Nguyễn Nhạc hình như đã đóng vai trò đầu nậu2
của công việc buôn bán này và chính nhờ sự giao thiệp khi gom góp,
chuyển giao hàng hoá, điều khiển việc tính toán lời lỗ, trích thu phần
lời của người mua, kẻ bán mà ông đã tập cho mình thói quen tổ chức, óc
chỉ huy và sự quảng giao rất cần thiết cho về sau vậy.
Nghề
buôn nguồn thịnh hành và nhiều lợi, nên đồng thời với Nhạc cũng có
người nổi danh: Châu Văn Tiếp. Tiếp buôn gì? Không biết, nhưng có thể
nói chính vì tính cách không chuyên riêng một món hàng nào mà Tiếp yếu
thế đối với Nhạc. Ông không nắm được một tổ chức lớn mà chỉ có những
bạn buôn như Nguyễn Long (dân Đồng Xuân, Phú Yên), Phạm Văn Sĩ (dân Phù
Mỹ, Bình Định, đồng xứ với Tiếp), nên lúc đầu khởi loạn phải phục tùng
theo Nhạc, và khi phản kháng thì chỉ tụ tập được đám người Thượng trên
một vùng núi thôi.
Gọi là Nguyễn Nhạc có lực lượng phối hợp
lớn lao là chúng ta căn cứ vào tính chất cư dân trong vùng. Những nhóm
người Thượng chắc trước khi Việt hoá đã sống lan xuống các vùng nguồn
về phía đông hơn bây giờ nhiều. Họ là lực lượng kết hợp quý báu cho
Nhạc lúc ban đầu. (Truyền thuyết ghi rằng Nhạc có một người vợ nhỏ
thuộc bộ lạc Thượng hẳn không quá xa sự thực). Những người Thượng này
còn có mối liên hệ chủng tộc gần với nhóm người Chàm ở Thạch Thành vùng
Phú Yên3. Nữ chúa Thị Hoả của họ đã hưởng ứng Nguyễn Nhạc ngay từ lúc đầu.
Vùng
này còn khối di dân Trung Hoa sinh sống như một tập thể tự trị, nhưng
vẫn chịu dưới quyền nhà Nguyễn. Chính quyền tập họp họ thành từng
“thuộc”: có 6 thuộc như vậy ở Quy Nhơn vào năm 1799 và 3 thuộc trước
đó, hồi đầu thế kỷ XVIII, cuối thế kỷ XVII4.
Họ sống bên lề một ít trong đất nước thu nhận họ. Phần lớn họ là Minh
dân lưu vong, nằm trong các tổ chức hội kín (Thiên Địa hội) ít chịu
dung hợp với chính quyền.
Nhưng ngay cả đám người Việt cũng có
một phần lớn thoát ra ngoài kỷ cương của Triều đình: những người lên
rừng, xuống biển trao đổi phẩm vật, những người làm thuê, gặt hái theo
vụ mùa khác nhau của lúa núi lúa đồng, những kẻ trốn xâu lậu thuế...
Vào những lúc rảnh rỗi, tất cả có thể gặp nhau quanh chiếu bạc, nơi đám
hát. Triều đình không thể nào kiểm soát được đám dân “vong mạng, vô
lại” này.
Cho nên không nên lấy làm lạ rằng dưới quyền Nguyễn
Nhạc có bọn cướp Nhưng Huy, Tứ Linh ở nguồn An Tượng. Không ngạc nhiên
với đám quân của Tập Đình, Lý Tài “người cao lớn, gọt đầu kết tóc, giả
làm người Thanh, khi đánh giặc, uống rượu say, ở trần, đeo giấy vàng
bạc xung trận liều mình”5. Tập thể hỗn tạp, cuồng say bạo động đó thật xứng mang tên “quân ó”, “hàm hồ tương ứng”6.
Những
khối người sẵn sàng bạo động được Nguyễn Nhạc nối kết thành một lực
lượng vững chắc. Nhưng để hướng dẫn vào những mục tiêu to lớn phải nhờ
ở tay một người từ xa đến, đem tầm mắt của ông Biện lại đất Vân Đồn
vượt khỏi sự hạn chế của những dãy núi chập chùng bao quanh vùng đất
ông. Đó là Giáo Hiến, môn khách của Trương Văn Hạnh, viên quan Nội hữu
rủi ro trong cuộc tranh chấp ở Triều đình. Trong trường dạy văn võ của
Giáo Hiến ở An Thái có anh em Lữ, Huệ7.
Hoàn
cảnh đổi mới đã đem thay đổi đến cho con người Giáo Hiến. Nếu ở Phú
Xuân ông phải lo sợ cho tính mạng mình thì ở phần đất cùng tịch này,
ông có đủ thư thả để nuôi chí căm hờn Trương Phúc Loan. Rời bỏ địa vị
bên cạnh quan Nội hữu, ông đã tách rời đám quan lại sang cả để đến gần
với dân chúng hơn. Giá ngày trước kia có động lòng trước cảnh trăm họ
lầm than ông cũng đến làm như Ngô Thế Lân, Nguyễn Cư Trinh dâng lên một
bản “thái bình sách” là cùng. Trở thành một tên trí thức “vô lại”, con
đường giữa ông chọn là lật đổ Trương Phúc Loan và Duệ Tông để tôn phò
Hoàng tôn Dương. Giữa cái không khí thần quyền bàng bạc khắp địa phương8
tạo bởi sự hỗn hợp tạp nhạp của tin tưởng nơi ông Dàng, nơi Bà chúa xứ,
nơi Thần núi..., ông đem cái lý trí của Nho giáo tạo ra phụ hoạ vào
việc giải thích lời sấm “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” để xúi Nhạc làm
loạn9. _______________________________________________ 1.“Tout
le pays est entrecoupé de rivières sinon assez grandes pour recevoir
des vaisseaux de fort tonnage, du moins très disposées pour faciliter
le commerce intérieur... Avant les troubles, les primitifs habitants
des montagnes, apportaient de grandes quantités de poudre d’or qu’ils
troquaient contre le riz, des étoffes et du fer. Ce sont eux également
qui procurent le bois d’aigle et le calambac de même que certaines
quantités de cire, de miel et d’ivoire...” (Chapman, bđd, t. 59).
Ai về nhắn với nậu nguồn, Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên (ca dao).
2.Nghề
đầu nậu cha truyền con nối (vì sự kế tục tài sản và nghề nghiệp), nhưng
ta không biết sáng kiến tổ hợp nghề buôn trầu nguồn là của cha Nhạc hay
chính của Nhạc thực hiện. Chỉ biết chữ “nậu” được sử dụng nhiều ở nơi
khác (hoàng lạp nậu: tổ hợp lấy sáp vàng; đồn điền nậu: tổ hợp làm
ruộng), nhưng không có nơi nào danh từ vượt khỏi lãnh vực chuyên môn.
Chỉ ở Bình Định (nhất là ở miền Nam) chữ “nậu” trở thành một danh từ
phổ thông, dùng chỉ một tập hợp (“nậu nguồn” ở câu ca dao trước) và đã
tổng quát hoá để thành đại danh từ chỉ “họ”, “người ta”, (“nầu”). Có
phải đó là bằng cớ chứng tỏ sinh hoạt tổ hợp nghề nghiệp ở đây được
nâng cao hơn hết trong vùng Nam Hà thời bấy giờ không? Đi xa hơn, có
thể thắc mắc là lề lối sinh hoạt tổ chức tập thể này có ảnh hưởng nào
trong sự thành công của Tây Sơn không? 3.ĐNNTC, tỉnh Phú Yên, chỉ rõ Thạch Thành ở đây chớ không phải Thạch Thành vẽ trong Hồng Đức bản đồ, thuộc về Bình Thuận. 4.Thực lục, q11, 5b có các tên: An Ngãi, Nhơn Ân, Nghĩa Hoà, Sơn Điền, Hà Bạc, Võng Nhi. Hồng Đức bản đồ,
t. 154, ghi 3 thuộc ở 3 huyện. Thì Đôn ở Bồng Sơn, Thì Lượng ở Phù Ly,
Thì Ngạn ở Tuy Viễn. Đáng chú ý là trong suốt tập bản đồ không có nơi
nào ghi tên các thuộc như vậy. Chữ “thuộc” cũng thấy được dùng cho một
tổ hợp tìm kỳ nam (Tầm hương thuộc ở Bình Khang. Thực lục q5. 37a). 5.Thực lục tiền biên, q 11, 18ab: Phủ biên tạp lục q1, 50a 6.Liệt truyện q30, 1b. 7.Giáo
Hiến đến xứ An Thái sớm nhất là vào năm 1765 (năm Võ vương mất). Vậy
chỉ có Lữ, Huệ ở tuổi 13, 14 đi học thôi. Nhạc ở vào khoảng tuổi “nhi
lập”, lại phải trông coi cơ sở làm ăn hẳn không có tương quan thầy trò
với Giáo Hiến. Sự kiện này giải thích tính cách độc lập trong hành động
của Nhạc và vai trò lu mờ của Giáo Hiến về sau trong quân đội Tây Sơn. 8.Đọc Nước non Bình Định của
Quách Tấn, người ta thấy khuynh hướng thần bí đó, tuy sau bao năm đổi
thay vẫn còn lưu truyền trong truyện tích, trong quan niệm phong thuỷ
về núi sông. Tên Tứ Linh, một đám cướp ở An Tượng, có vẻ như không phải
của một người cầm đầu mà như của một tập thể tín ngưỡng, dấu vết một
giáo phái hoạt động căn cứ trên tư tưởng Cổ Trung Hoa chịu một ít biến
đổi trên vùng đất còn đầy tính chất bộ lạc này. 9. Liệt truyện
q30, 1b. Không có chi tiết nào rõ hơn về xuất xứ câu sấm để biết đó là
của Nhạc hay của Hiến bịa ra, hay có từ trước với một ý nghĩa nào khác. Ảnh hưởng chắc không phải chỉ xuyên qua Nguyễn Nhạc mà thôi. Một ông đồ
nơi làng quê là cái đích ngưỡng mộ của dân chúng. Đàng này lại là một
ông quan ở Kinh về. Chính kiến của ông chắc ăn sâu vào tâm trí mọi
người một cách đáng kể. Ông đã đem vào đầu óc mọi người một lý tưởng.
Chính trong lúc những người trong triều Chúa hoang mang, phân tán,
hoang mang đến thành phản bội như sẽ thấy thì đám bần cùng nổi loạn
tưởng đã tìm được một ý nghĩa cao cả cho hành động của họ. “Họ tuyên bố
trong các làng mạc rằng họ không phải là những tên trộm cướp, nhưng họ
gây chiến tranh là để tuân mệnh Trời và tuân lệnh Đức Thượng sư”1.
Họ nói và làm, nên đã được dân chúng gọi là “những tên trộm cướp nhân
đức”. Tất nhiên không tránh được những hành vi vô kỷ luật riêng rẽ.
Nhưng trong phần lớn, đội quân Tây Sơn từng chứng tỏ một tinh thần chịu
đựng kỷ luật rất cao được nâng đỡ bằng một lý tưởng và họ đã giữ được
tinh thần này trong gần suốt thời gian theo chân anh em Nguyễn Nhạc.
Trong
ý nghĩ của Giáo Hiến, chắc ông cũng chỉ mong Nguyễn Nhạc trừ được
Trương Phúc Loan để trả hận cho bạn và mong Nhạc trở thành bề tôi lương
đống của Triều đình. Đi theo đường lối này có Châu Văn Tiếp đóng ở núi
Chà Rang (Phú Yên). Nhưng quyền hành động vào một tay cơ trí có tham
vọng như Nguyễn Nhạc thì sự việc đâu có xảy ra như Giáo Hiến toan liệu
được. Không phải là một sự phản bội, nhưng chính là vì Nguyễn Nhạc đã
không xuất thân như Giáo Hiến, ở vào hoàn cảnh như ông.
Tuy nhiên trong buổi đầu, Nhạc không quên dùng chiêu bài tôn phù Hoàng tôn Dương, khen ông này “nhân hậu thông minh”2.
Ý nghĩa tôn phù đến với Nhạc chỉ còn là một phương tiện không hơn,
không kém. Tung chiêu bài tôn phù, ông đã làm một công đôi việc. Một
mặt nó sẽ làm cho công cuộc chiến đấu của ông có chính nghĩa buổi đầu
để cho cuộc thay đổi khỏi đột ngột, lôi người theo dưới cờ của mình
càng nhiều càng hay: Châu Văn Tiếp đã liên kết với ông suốt mấy năm
trời, cùng theo quân đi Quảng Nam rước Hoàng tôn về Quy Nhơn3.
Như thế hàng ngũ đối phương yếu đi. Lợi thế khác lại về ông: triều Chúa
một khi còn giữ Hoàng tôn trong phe họ thì cứ còn nghi ngờ mà không có
cớ trừ bỏ rồi cứ lục đục mãi.
Triều Chúa thật ở vào thế suy yếu nhất trong khi Tây Sơn càng ngày càng lớn mạnh.
Tháng giêng năm Nhâm Thìn (1772), Vua sai Chưởng cơ Tôn Thất Văn đi tuyển xét ở Quy Nhơn4. Báo cáo về việc Tây Sơn lập 6 đồn trên vùng Thượng đạo từ năm trước (1771)5
có đến tai Triều đình rồi không? Tự ông quan kiểm tra này đã có thấy ở
đây những dấu hiệu gì tỏ rõ một cuộc nổi loạn sẽ khuynh đảo được dòng
họ ông hay không?
Tình hình nghiêm trọng hơn khi vào đầu tháng
4-1773, Tây Sơn đã kéo nhau từng toán xuống các chợ ngay lúc ban ngày,
lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo, đe dọa đốt nhà cửa để bắt người
tuân theo. Họ họp từng nhóm khoảng 300 người, riêng vùng Dou hau (Đồng
Hươu, Đồng Hào?) có đến 600 người và họ quấy nhiễu suốt 7 tháng ròng ở
Phú Yên, Quy Nhơn. Tổ chức của họ cứ theo thắng lợi mà trở thành lớn
lao, có quy củ hơn. Lúc đầu họ võ trang giáo mác, cung tên và cả súng
tay nữa. Họ đi bộ, nhưng sau đó, khoảng tháng 8, họ đi ngựa, cáng và
võng. Để bày tỏ vị trí phương nam và tính cách bạo động của quân khởi
nghĩa, họ mang mỗi đội một lá cờ đỏ dài độ 9 aunes (khoảng 1m)6.
Thanh thế lớn lên, Nguyễn Nhạc dời quân xuống Kiên Thành tự xưng làm đệ
nhất trại chủ coi 2 huyện Phù Ly và Bồng Sơn, cho Nguyễn Thung làm đệ
nhị trại chủ coi Tuy Viễn, Huyền Khê làm đệ tam trại chủ coi quân lương7.
Có thể là đạo quân của Châu Văn Tiếp và quân Nữ chúa Thị Hoả đã chia
nhau khống chế Phú Yên. Quân thế thực phức tạp mà cũng thực nguy hiểm.
Triều
Chúa còn thờ ơ với biến cố quan trọng nơi tỉnh nhỏ này thì quan Tuần vũ
Nguyễn Khắc Tuyên làm gì mà chống cự lại được? Khoảng trung tuần tháng
9-1773, vào một buổi sáng sớm, có 2 đội quân với nội công đến vây biệt
thự quan Trấn thủ, chiếm thành trì khiến ông phải bỏ lại ấn tín, vợ
con, mặc quần áo sơ sài chạy ra Tân Quan. Lời thuật của Jumilla chứng
tỏ phản ứng về phe Chúa ở địa phương hầu như không có. Về việc đánh phủ
Quy Nhơn8, tuy ta
không nhận thuyết Nguyễn Nhạc chui vào cũi giả bị bắt vì địa vị chủ
tướng không cho phép chính ông làm như vậy, nhưng ta không thể bài bác
hẳn câu chuyện9. Có
thể đó là một mưu để làm kế nội công, ngoại kích và kẻ ngồi trong cũi
tuy không là Nhạc vẫn có thể xưng là Nhạc để được lọt vào vòng thành
gần dinh Trấn thủ hơn. Dân bạo động vẫn có nhiều kế hoạch liều lĩnh ta
không thể ngờ được.
Chiếm được hai kho lương ở Càn Dương và
Nước Ngọt xong, đến tháng 10-1773, họ ra Quảng Ngãi thắng thêm một
trận. Nhưng lần này họ gặp phản ứng của triều Chúa. “Chúa sai các Phò
mã Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Cửu Sách, Cai đội Phan Tấn, Nguyễn Vệ, Tổng
nhung Tống Sùng, Tán lý Đỗ Văn Hoảng đánh chẳng lại. Sùng, Hoảng phải
chết trận”10. Linh
mục Jumilla cho biết rõ chi tiết hơn. Quân hai bên gặp nhau ở Bến Đá
sau lễ Các thánh (1-11). “Bọn phản loạn có 3 đạo quân, hai bên là cánh
quân Trung Hoa và người Thượng, giữa là người Việt... Buổi chiều ngày
thứ ba, quân Trung Hoa ở cánh phải giết được viên quan dũng mãnh nhất
của binh triều là Ou doi be”11.
Họ toàn thắng và tiến vào Quảng Ngãi. Linh mục còn cho biết có một đạo
thuỷ binh của quân triều đi đường bể bị bão đắm, chỉ còn thoát có một
thuyền do một quan Công giáo điều khiển.
Trận thất bại này gây
ra một sự rối loạn ở triều Chúa. Các quan đổ tội lẫn cho nhau thông
đồng với Tây Sơn. Cuối cùng, Trương Phúc Loan thắng thế và Chưởng cơ
Tôn Thất Văn phải dìm nước chết ở biển Tam Giang12.
Hạ tuần tháng 12-1773 quân hai bên gặp nhau ở Bến Ván, “gần Tiên Đoả”13. Đội quân hùng mạnh của Chúa từ Hội An14 gồm độ 5.000 người và cầm đầu là một viên quan dũng mãnh nhất trong tỉnh. Có thể đó là Nguyễn Cửu Dật mà Thực lục tiền biênthường
ghi nhận chiến công. Jumilla đã kể một cách tỉ mỉ với ngày tháng xác
thực trận đánh này. Hai bên giáp trận ngày 22-12. Binh triều qua 2 ngày
chiếm hai luỹ. Cánh quân Thượng của Tây Sơn ghi một thắng lợi nhỏ, đuổi
viên tướng triều chạy cùng với voi trận nhưng họ không tiến được hơn.
Quân Tây Sơn cố thủ trong chiến luỹ độc nhất vững nhất còn lại. Mười
tám viên tướng Tây Sơn và quân họ chống với 3 cánh quán triều 3 mặt:
dọc theo chân núi , dọc theo quan lộ và từ các thuyền chiến dưới biển
bắn lên. Thuỷ quân bắn chết được một viên tướng dũng mãnh của Tây Sơn
với 2 tên quân. Sáng 27 quân triều toàn thắng tiến vào luỹ với một lính
chết và hai bị thương.
Lời thuật chuyện cho ta thấy một điều
quan trọng: quân triều uy hiếp được Tây Sơn nhờ có súng lớn. Lúc bấy
giờ không có những cỗ đại bác lưu động trên đất (Nguyễn Ánh sẽ du nhập
kỹ thuật này làm rối Tây Sơn). Các súng lớn gắn trên thuyền chiến và di
động nhờ các thuyền đổi chỗ. Nhờ ưu thế đó, quân triều có thể tấn công
từ xa, lưu động, khiến địch quân hoảng hốt, tan rã mau. _____________________________________________ 1.Thư Linh mục Jumilla kể trước, bđd, t. 74. 2.Liệt truyện. q30, 2b. 3.Liệt truyện, q6. 21ab, truyện Châu Văn Tiếp. 4.Thực lục tiền biên, q11, 15b. 5.Liệt truyện, q30, 2b. 6.Thư
Jumilla đã dẫn. Chú ý đến chữ “cờ đào” trong “Ai tư vãn” của Ngọc Hân.
Ý nghĩa cờ trắng là cờ hàng, cờ đỏ là cờ quyết chiến thấy trong cuộc
bàn cãi đánh hay đầu ở Phú Xuân, năm 1786, dưới quyền Phạm Ngô Cầu. 7.Liệt truyện, q30, 2b, 3a. 8.Không
phải thành Chà Bàn, ĐNNTC, tỉnh Bình Định, q9, 14b chỉ rõ thành Càn
Dương. Chúng tôi không có phương tiện để tìm ra vị trí Càn Dương: nhưng
ông Nguyễn Phương cho biết phủ trị ở làng Châu Thành (Phù Cát). Chứng
tích danh xưng đó có thể là một bằng cớ đích xác, tuy nhiên bản đồ
trang 6 của Đồng Khánh Ngự lãm địa dư chí đồ, quyển thượng, lại viết là 珠 成 chớ không phải là 州 城. 9.Chúng ta lưu ý rằng Nguyễn Nhạc trông coi vùng Phù Ly vẫn bao gồm được làng Châu Thành. 10.Thực lục tiền biên. q11, 18a. 11.Ou
doi be: ông (Cou Chinh: Cống Chỉnh, Dounai: Đồng Nai) Đội Be, Be là tên
riêng, có thể chỉ Cai đội Nguyễn Vệ (bua: vua) tuy không thấy Thực lục nói tử trận. 12.Thực lục tiền biên,
q11, 18b nói rõ tên người và âm mưu lật đổ Trương Phúc Loan bị Loan vu
cáo lại. Đối chiếu với Jumilla, ta thấy ông viết: “Ở triều, các quan
bắt giam hai người tôn thất vì phải chịu trách nhiệm trận bại quân
này”. 13.Liệt truyện, q30,
3b: “Nhạc đến Bản Tân (本 津) bằng luỹ dĩ cự”. So với thư Jumilla, bđd,
t. 77, L.M viết: “Thiên đoạ”, cũng như nơi khác: “Tha đao”. 14.Bản
dịch bức thư viết Faifo. Không biết nguyên văn có như vậy không. J.
Koffler ghi là Phai pho và chú là “marché de vieilleries”. Ông Nguyễn
Phương viết “Hải phố”. Có lẽ phải gọi như tên gọi thường dùng cho địa
điểm hiện tại giống như ở sách Quốc sử quán: Hội An. Ông Nguyễn Bội
Liên cho biết rằng Hải Phố, Chợ Chiều, Hội An là 3 địa điểm riêng biệt (Sử Địa
số 7-8, t.249-252). Chợ Chiều đúng là tên Marché de vieilleries của J.
Koffler. Vậy thì thương cảng nổi tiếng này cũng có lúc dời đổi trọng
tâm nhưng rốt lại địa điểm Hội An có vẻ được sử dụng lâu dài hơn hết vì
trên tấm bản đồ của Thiên nam tứ chí lộ đồ thư q1 (chụp ảnh, phiên âm giảng giải trong Hồng Đức bản đồ,
Viện Khảo cổ, trang 94, 95 mà ông Trương Bửu Lâm cho là thực hiện vào
giữa các năm 1630-1653, có các tên Hội An phố, Hội An kiều, Hội An đàm
và ở Bình nam đồ (sách trên, trang 148, 149. Ông Trương Bửu Lâm
cho rằng đã thực hiện khoảng các năm 1653-1690) cũng vẫn có Hội An phố,
Hội An đàm. Tây Sơn thua phải rút về Quy Nhơn. Nhưng trong chuyến vươn ra Quảng Nam
này họ đã ghi nhận một thắng lợi thu phục nhân tâm nữa. Người ta thuật
cho L.M. Jumilla nghe rằng trong lúc đi đường gặp một người Thiên Chúa
giáo phải mang vòng sắt nơi cổ1, họ rứt ra ném xuống đất. Dù mấy năm sau (1778), J. Liot có gặp một người cô (dì) của chúa Tây Sơn mộ đạo đi nữa2,
ta cũng không thể cho đó là một hành động sùng kính. Cử chỉ của tên
quân rõ ra là của một kẻ chống đối muốn xoá bỏ những quy chế đang lưu
hành, thế thôi. Tuy rằng lần sau ra đóng ở nhà thờ Tiên Đoả, tướng Tây
Sơn (Nguyễn Nhạc ?) đã tỏ thái độ thân thiện với đạo giáo, đó cũng vẫn
không phải là thái độ của một con chiên mà là của một tay chính trị. Họ
lại thăm L.M, xin thuốc men và cho phép giảng đạo công khai, xây nhà
thờ, cho 13 người lính gác bảo vệ. Họ lại đòi L.M tới Dinh nói rõ
nguyên cớ nổi dậy của họ và cho biết mục đích của họ là thay đổi chúa
Nguyễn và chính quyền. Tuy L.M đã dè dặt trả lời rằng ông không muốn
“can dự vào việc chính trị” nhưng há rằng trước đó (thư 15-2-1774), ông
đã không nhận xét rằng chính quyền “xấu xa” và cho rằng “giờ phán xét
của Thượng đế đã điểm đối với chúa Nguyễn và bầy tôi” đó ư? Tất đã có
những phản ứng của giáo dân hùa theo Tây Sơn khiến chúa Nguyễn phải cho
ra một sắc luật ân xá ngày 12 tháng 3 Giáp Ngọ (22-4-1774)3.
Tuy
nhiên sau trận Bến Ván, Tây Sơn phải lúng túng. Tháng giêng Giáp Ngọ
(1774), quân triều mặt bắc đánh thốc vào Quy Nhơn. Ngay trong sào huyệt
của mình, Tây Sơn có thể để phản công dữ dội. Tập Đình, Lý Tài phục
kích quân triều ở núi Bích Kê vào lúc khoảng 9 giờ tối, làm rối loạn 40
voi địch và đến sáng hôm sau thì đuổi kịp Tiết chế Tôn Thất Hương đâm
chết. Cậu bé Tôn Thất Thăng (12 tuổi) trên đường tiếp chiến, hoảng sợ
bỏ quân chạy suốt đêm. Chỉ trong 7 ngày, quân Tây Sơn chiếm lại Quảng
Nam và cả tỉnh thành.
Họ ở đấy trong 2 tháng chống với Tôn
Thất Nghiêm. Nghiêm bị đòi về chống Trịnh để Nguyễn Cửu Dật ở lại làm
Tả quân Đại đô đốc đánh Tây Sơn 10 trận lui về Bến Ván. Họ có đủ thì
giờ vơ vét của cải, mang đi 45 con voi, khí giới trong đó có 82 khẩu
đại bác mà người Anh và người Hoà cho (?) chúa Nguyễn để giữ thành4.
Việc
rút lui này có thể còn do sự hiện diện của 2 chiếc tàu Ma cao vừa đến ở
đấy. Cho nên, với sự trực tiếp can thiệp của chiếc tàu Diligent bênh
chúa Nguyễn, họ đã không ngần ngại phá Hội An, vừa để cướp tiền bạc,
vừa để trả thù. Bốn năm sau, Chapman ghé đến còn trông thấy cảnh điêu
tàn của một nơi mà ngày trước “hàng trăm thuyền bè từ các cửa biển
Trung Hoa và Nhật Bản đến mua đường, quế, hồ tiêu, kỳ nam...”5.
Hành động phá phách trong chiến tranh này tất không sao tránh khỏi
nhưng cũng đủ làm xa lánh các khách thương mà sau này Tây Sơn cố tìm
cách vời đến vì thấy cần thiết, nhưng họ không hoàn toàn đạt được ý
muốn.
Còn đương chống nhau với Nguyễn Của Dật ở Quảng Nam thì
Tây Sơn lại gặp phản ứng của Gia Định: mùa hạ Giáp Ngọ (1774), viên
Điều khiển ở đó là Nguyễn Cửu Đàm sai Lưu thủ Long Hồ là Tống Phúc Hợp
ra đánh Bình Thuận, Diên Khánh, Bình Khang, vượt vịnh Hòn Khói lăm le
chiếm Phú Yên.6. Nhưng Tây Sơn lúng túng thì Duệ Tông cũng bối rối không kém vì quân Trịnh đã kéo vào.
Cái
hận không đánh chiếm được Thuận Hoá vẫn canh cánh bên lòng các chúa
Trịnh. Từ khi Trịnh Doanh chết đi, Trịnh Sâm lên nối ngôi (1767), tiếp
tục đánh dẹp giặc giã còn lại trong nước: năm 1769 phá tan ổ giặc Hoàng
Công Toản (con Hoàng Công Chất) ở Hưng Hoá; cùng năm, cứ điểm Trấn Ninh
của Lê Duy Mật cũng bị phá vỡ. Đám quân binh đang hăng sức thì xảy ra
việc Nam Hà. Chính viên Trấn thủ Nghệ An Bùi Thế Đạt vừa dự vào trận
Trấn Ninh đã phi báo cho chúa Trịnh rõ. Đồng thời nguồn tin loạn Tây
Sơn và việc Trương Phúc Loan chuyên quyền gây rối cũng được chính các
nạn nhân của Loan, con Tôn Thất Duệ, Tôn Thất Văn chạy ra Thăng Long
báo cáo tỏ tường7.
Hết sức dè dặt, Trịnh Sâm cũng phái vào Nam một đạo quân lớn do Quận
Việp Hoàng Ngũ phúc cầm đầu với các danh tướng của Trịnh còn giữ những
vai trò quan trọng sau này: Phó tướng Bùi Thế Đạt, Thuộc tướng Hoàng
Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể, Hoàng Đình Bảo8.
Đến
Hà Trung, Phúc khôn ngoan nghe theo lời dặn của Trịnh Sâm biên thư cho
Nam Hà mượn tiếng dẹp giặc. Đi sâu vào cương giới, ông cũng áp dụng
chính sách chia rẽ đó: một bài hịch dài kể tội Trương Phúc Loan được
ban bố ra9. Thực ra,
Hoàng Ngũ Phúc chỉ xô một bức tường đã hư nát rồi. Nam Hà không còn có
được ý chí đoàn kết của trăm năm về trước nữa. Mầm mống rối loạn bên
trong đã làm cho lòng người phân tán. Cho nên, phản bội cứ tiếp theo
phản bội mà làm chúa Nguyễn thua mất.
Quân mới đến bắc Bố
Chính đã có một Tri phủ tên Trần Giai đầu Trịnh xin làm hướng đạo. Ở
Đăng Xương (Quảng Trị), một thư sinh làm thơ xin yết kiến Hoàng Ngũ
Phúc chỉ vẽ sở trường, sở đoản của quân Nguyễn để Trịnh quân liệu mà
chế ngự. Phản bội khoác hình thức hèn hạ hơn như ở trường hợp hàng
tướng Kiêm Long. Ông này xúi Quận Việp tiến quân bằng một câu nói ý
“Đường không đi không tới, chuông không đánh không kêu”. Lòng người đã
như vậy thì thành luỹ vững chắc mà làm gì? Còn đâu thời Trương Phúc
Phấn chống giữ cho luỹ Trường Dục? Cho nên, ở Trấn Ninh, Hoàng Đình Thể
được các biên tướng giữ thành làm nội ứng mở cửa cho quân Trịnh tràn
vào.
Tinh binh lúc bấy giờ ở Quảng Nam hết đến nỗi Duệ Tông
phải rút Tôn Thất Nghiêm về. Tôn Thất Thiệp, Cai đội Thuộc nội Đặng
phải đem cả quân Cấm vệ ra chống giữ Kinh thành. Quân thế thật là yếu
cho nên trước đó, Trương Phúc Loan đã bị các đại thần họp lại bắt đưa
cho Hoàng Ngũ Phúc, hy vọng quân Trịnh giữ lời tuyên bố trong bài hịch
ở Hồ Xá mà dừng tiến quân10,
nhưng không ngăn họ nại cớ khác là vào giúp đánh Tây Sơn. Thành Phú
Xuân bị vây ngày 28 Tết. Ất Mùi (30-1-1775), Duệ Tông phải dẫn quan
binh, gia quyến với cả cậu bé Nguyễn Phúc Ánh, nương đêm tối ra đi theo
cửa Tư Dung vào Quảng Nam, bỏ lại cả một kho tàng làm cho Trịnh Sâm
thêm kiêu hãnh11.
Mất
Trương Phúc Loan, không phải họ Nguyễn được củng cố lại quân thế. Có
thể Duệ Tông không ưa gì Loan, nhưng suốt 10 năm, ngôi vị của Nguyễn
Phúc Thuần đã gắn liền với quan Quốc phó. Nay mất Loan, những khuynh
hướng chống đối có thể để ép Duệ Tông phải chịu nhượng bộ trên đường
lưu vong. Cho nên, ở Quảng Nam, Hoàng tôn Dương được tôn làm Đông cung
coi giữ tỉnh này.
Nhưng Chúa phong Thế tử cho Dương thì Tây
Sơn cũng đòi Dương. Thêm nữa, họ lại ở vào thế mạnh. Để cụ thể hoá đòi
hỏi, họ tiến quân theo 2 đường đánh ép lại: Tập Đình, Lý Tài lên cửa
biển Hợp Hoà, Nguyễn Nhạc đem bộ binh từ sông Thu Bồn đổ xuống, xua
Nguyễn Cửu Dật về Trà Sơn (bán đảo Sơn Trà)12.
Dương chạy về Câu Đê, Chúa chạy về Liên Chữ. Địa vị Duệ Tông càng bị đe
doạ nặng. Ông phải tìm nơi nương tựa, tránh nguy hiểm, một nơi hy vọng
còn người trung thành với danh hiệu Chúa vì ở xa địch và cách biệt với
những điều tiếng không hay về sự tranh chấp trong Hoàng gia: đất Gia
Định. Ngày 12 tháng 2 Ất Mùi (1775), Chúa xuống thuyền13. Và vẫn có cậu bé Nguyễn Phúc Ánh đi theo.
Bị
Duệ Tông bỏ rơi, Đông cung Dương dễ dàng cho Tây Sơn thuận tiếng chiếm
đoạt hơn. Họ tổ chức hai đạo quân rầm rộ đi “rước” ông về được Hội An
sau khi phá tan một âm mưu phản bội trong hàng ngũ họ14.
Biến chuyển này thực là quan trọng trong tấn tuồng lịch sử đang diễn
ra. Các vai trò sắp phải đối bộ mặt, tuy người ta vẫn thấy nguyên vẹn
các phe phái: Tây Sơn núp bóng sau Đông cung, Duệ Tông đã cao bay xa
chạy, và quân Trịnh lăm le tiến vào. ____________________________________________ 1.Thư
Jumilla, bđd, t.71: theo luật cấm đạo 1750, người Thiên Chúa giáo phải
mang một vòng sắt nơi cổ, lớn bằng ngón tay, có đính miếng sắt khắc hai
chữ “tả đạo” và phải cắt cỏ cho voi ăn. 2.A. Launay , III, t. 16, 17 . Chuyện ở Qui Nhơn. 3.Revue Indochinoise (RI) 1913. t. 535. Bản Pháp ngữ của đạo luật đăng trong tờ Gazette d’ Amsterdams tháng 2-1776. 4.P. Jumilla, bđd, t. 18. Liệt truyện q30, 4ab. Thực lục tiền biên, q11, 19ab, 20a. 5.Chapman, bđd. t. 37. 6.Liệt truyện, q30, 4a. 5b gọi vịnh Hòn Khói là Vân Phong. Tên này được đặt từ năm Minh Mạng thứ 6 (1825 (ĐNNTC, q10, Phú Yên). 7.Thực lục tiền biên. q11, 20b. 8.Cương mục q44, 10b, 11a nói quân có 33 dinh, 3 vạn người, Thực lục tiền biên, q11, 21a: 23 dinh tướng sĩ; Labartette, thư ngày 26-1-1775 (A. Launay III, t. 102) cho biết khoảng 13, 14.000 người. 9.Thực lục tiền biên. q11, 23ab. 10.Thực lục tiền biên. q11, 23b, 24a. 11.Thực lục tiền biên, q11, 25b, 26a, P. Jumilla, t. 83. 12.ĐNNTC.
tỉnh Quảng Nam, mục nói về Trà Sơn úc (vũng Đà Nẵng) chỉ bán đảo Sơn
Trà là Trà Sơn. Nhưng Hồng Đức bản đồ, t.148, 149, chỉ rõ Sơn Trà dưới
biển và Trà Sơn tận trên nguồn trong núi. Chắc Nguyễn Cửu Dật chạy về
Sơn Trà thì phải hơn vì ở đây ông mới tiện đường theo Duệ Tông được. 13.Thực lục tiền biên, q12, 2a. 14.Thực lục tiền biên, q12, 4a. Bây giờ Trịnh đối đầu với Tây Sơn. Cũng như lần mới gặp quân
Nguyễn, Nhạc thua to một trận ở Cẩm Sa, phải rút về Bến Ván và đem Đông
cung về giấu ở Hà Riêu, An Thái rồi ở Bông Giang. Đối với quân Tống
Phúc Hợp chực tiến ra, Nhạc dùng Đông cung diễn tấn tuồng tôn phò1
để đánh lừa Hợp không phòng bị cho Nguyễn Huệ đánh trận thắng chớp
nhoáng bất ngờ đầu tiên trong đời viên tướng tài ba chuyên yểm kích này
(tháng 7 Ất Mùi 1775)2.
Nhưng
có Đông cung để lợi dụng, Tây Sơn cũng gặp phải trở ngại trong nội bộ
họ. Đã nói trong buổi đầu dấy loạn, với chiêu bài tôn phò Dương, họ tập
trung thêm dưới trướng những người chỉ có mục đích tôn phò, điển hình
là Châu Văn Tiếp. Nhưng đâu phải Nhạc ngây ngốc dọn cỗ sẵn cho người ăn
như vậy. Cho nên ý mượn cớ tôn phò để xây dựng sự nghiệp riêng phải tỏ
rõ ra một khi Tây Sơn có Dương trong tay, nếu Nhạc không muốn đổ vỡ bao
nhiêu dự tính của mình. Trong số những người hợp tác nhân dịp này biết
rõ điều đó để chống đối lại với ông, quan trọng hơn cả tất là Châu Văn
Tiếp3. Người thứ hai
cũng quan trọng là Lý Tài. Nguyên nhân phản bội tuy không cùng là một
với Tiếp, nhưng cũng do ảnh hưởng gián tiếp của việc bắt Đông cung
Dương: ở Hội An, Tập Đình muốn giết Dương, Lý Tài phải can gián mãi mới
thôi. Cảm tình giữa hai người nảy sinh từ đó, và một khi chống đối với
Nguyễn Nhạc, Lý Tài sẽ gắn bó với Dương.
Các hành vi chống
đối, bội phản này rất quan trọng trong việc làm yếu sức Tây Sơn và tiếp
sức cho nhà Nguyễn hấp hối dài hơi hơn. Ta biết đám quan binh nhà
Nguyễn, trừ một vài người, không có đủ gan dạ, cơ trí để đánh giặc: đã
có nhiều chứng dẫn trước rồi, hãy kể thêm một Tống Phúc Hợp già cỗi, do
dự, chẵn một năm trời mà không thống lĩnh Ngũ dinh qua được Phú Yên.
Gan dạ, liều lĩnh dứt khoát để lấp đầy thiếu sót về số đông, về kỹ
thuật, những cái đó trong buổi đầu này phải được huấn luyện từ trong lò
lửa Tây Sơn. Cho nên, những hàng tướng Tây Sơn thực là của quý cho nhà
Nguyễn. Hậu quả gián tiếp cho việc Lý Tài về với Gia Định là sự hợp tác
của những người Trung Hoa ở đấy và cùng với việc Nguyễn Nhạc đuổi Tập
Đình sau trận Cẩm Sa, có lẽ đám di dân Trung Hoa ở Quy Nhơn đã mất sáng
kiến mà trở thành thụ động. Ảnh hưởng trực tiếp là việc suy yếu nhà Tây
Sơn trong khoảnh khắc: Tây Sơn mất một nửa số lượng chiến thuyền trong
khi lực lượng thuỷ quân là lực lượng làm cho họ tự tin nhất4 vì lực lượng cốt cán đó giúp họ đổ bộ được vào Gia Định.
Nhưng
dù sao thì vượt qua được những chống đối gây nên vì chuyện Dương, Tây
Sơn cũng chính thức bước vào lúc hành động như một lực lượng độc lập
với chính quyền cũ, không nhờ vả gì hết, cho dù chỉ là một chút tiếng
tăm. Họ đem Đông cung an trí ở Thập Tháp để tự lập chúa mới (tháng 3
Bính Thân 1776). Với Trịnh, họ khôn khéo xin đầu hàng. Có những khó
khăn trong tình hình quân chính ở Thuận Hoá (đói kém, dịch tể, sức
chống đối của cựu thần Nguyễn), có những cản trở về mặt tâm lý (Trịnh
vẫn coi đất mới khai phá của chúa Nguyễn như không phải của họ, họ chỉ
bận tâm trong toan tính “đồng hoá”5
vùng Thuận Quảng cũ vừa chiếm lại được thôi), khiến Hoàng Ngũ Phúc phải
chấp nhận cuộc hàng đầu. Tây Sơn đóng vai trò “tướng Trịnh” khôn ngoan
như họ đã tôn phò Dương: mỗi một công trận họ đều báo cáo với Hoàng Ngũ
Phúc. Cho nên sau trận Phú Yên, Phúc bấy giờ ở Châu Ổ (Quảng Ngãi) bèn
phong cho Nguyễn Huệ chức Tây Sơn Hiệu Tiền phong Tướng quân6.
Thế
quân bình Tây Sơn - Trịnh cũng tạm thời vững nhờ tình hình kinh tế hai
vùng được nhà cầm quyền Tây Sơn khai thác mối tương quan có lợi cho phe
họ.
Trong chiến tranh, phần lớn vùng của họ chỉ chịu một vài
trận rồi tránh khỏi sự giày xéo qua lại trong các cuộc tiến quân. Cho
nên không lấy làm lạ rằng hai năm sau, Chapman đến vùng Quy Nhơn thấy
“bờ biển nhiều chỗ trồng trọt kỹ lưỡng... các vùng thấp trồng lúa và
những cây tiêu trùm lên các đồi đến tận đỉnh”. Trên đường đi cáng lên
thành Chà Bàn, ông cũng thấy vào trong một thung lũng trồng trọt kỹ
lưỡng và ruộng lúa được cấy ngay trong thành7.
Tiềm lực Tây Sơn được vững vàng còn nhờ số vàng bạc, khí giới họ cướp
được ở các cuộc công phá tỉnh thành, hoặc nơi họ Nguyễn, hoặc nơi dân
chúng, nhất là của cải thuyền bè của đám thương nhân Trung Hoa8.
Chính sách chia của thô sơ buổi đầu khiến dân chúng nghèo khổ không lâm
vào tình trạng đói khát. Lại quá khứ “dân đen” của những người cầm đầu
còn gần quá nên họ sống rất giản dị, ít hao tốn. Chapman nhận xét rằng
triều đình Tây Sơn thiếu cái huy hoàng, tráng lệ như của các ông Hoàng
Đông phương, nhưng có tính cách sắp đặt, cẩn thận làm người ta có cảm
giác đứng trước một vị chúa tể dũng mãnh. Đám quân hầu của một vị phò
mã Tây Sơn có dáng kỷ luật, mạnh bạo. Đám quân lính dưới quyền gặp gì
mặc nấy. Hiệu suất khả năng kinh tế do dó tăng lên. Cộng với khả năng
của đám người cầm đầu, lòng hăng hái của binh sĩ, Tây Sơn quả có đủ
điều kiện chủ quan làm e dè Hoàng Ngũ Phúc ở chính sào huyệt của họ. Quân
Trịnh ở Thuận Hoá, Nam, Ngãi có cả sự ủng hộ của Bắc Hà. Nhưng họ cũng
vấp phải những khó khăn như tổ tiên họ đã gặp. Trịnh Sâm đã cẩn thận
lập ra cả một tổ chức chuyển vận quân hướng từ Sơn Nam tới Đồng Hới9. Nhưng ngay từ đầu năm đó (tháng 2 Giáp Ngọ) Nghệ An đã gặp đói, dân chết10.
Rồi khi tiến sâu vào Nam Hà thì quân Trịnh gặp thêm khó khăn, lần này
cực kỳ nghiêm trọng: chiến tranh lôi kéo toán quân qua lại tàn phá,
Quảng Nam, Thuận Hoá đã gặp một trận đói kinh khủng trong lịch sử.
Đói từ tháng 10 Giáp Ngọ (1774)11.
Ở cửa Hàn (Tourane) không còn một con heo, con gà, con vịt. Đường cát
trước kia sản xuất thật nhiều, nay biến mất. Tiền sụt giá: một quan còn
giá trị độ một đồng tiền. Đó là tình trạng giữa năm 177512. Đã có người đàn bà ở giáo khu Bau nghe (?) ăn. thịt con13. Tình trạng nguy hại hơn là thêm vào với việt mất nhân công, người ta không còn hạt giống để gieo mùa sau14.
Cho nên đói khổ không chừa đến cả đám quan quyền, tôn thất: các phu
nhân phải đi ăn xin. Giáo sĩ Labartette vào một chủ nhật, ngạc nhiên
thấy một người cháu vua dắt con trai, cả hai đều rách rưới, đến ăn mày
ông15. Cả bản Hoài nam khúc
thảm thương là tiếng kêu than của đám quan quyền họ Nguyễn mất tước
lộc, chịu đựng kiếp sống của kẻ chờ tiếng “ta lai” (lại đây: tiếng gọi
người ăn mày), van vỉ miếng ăn, rên siết đói lạnh.
Có thể nào
mà quân Trịnh còn tinh thần chiến đấu vững chắt lúc ban đầu ở một nơi
xa lạ đầy chết chóc, gớm ghiếc như vậy? Thêm nữa, chết chóc vì đói khổ
dẫn đến chết vì bệnh tật. Đến điều này thì quân Trịnh không còn hy vọng
gì tránh khỏi. Họ chết quá nửa. Và chính Hoàng Ngũ Phúc trong chuyến
kéo quân về Phú Xuân cũng phải bỏ mạng dọc đường (tháng 10 Ất Mùi, 1775)16.
Thiên
tai loại dùm cho Tây Sơn một kẻ địch. Họ Nguyễn ở phương Nam, trên một
vùng phì nhiêu, tiếp xúc gần hơn với trào lưu giao thương quốc tế qua
sự trung gian của đám Hoa kiều Minh dân lưu vong hay thương nhân, có
tìm cách gì loại trừ được những mâu thuẫn nội bộ đem từ Phú Xuân vào,
có biết cách khai thác những điều kiện có lợi cho mình để chống đối với
Tây Sơn không? __________________________________________ 1. Liệt truyện,
q30, 7b kể rõ ràng chi tiết. Việc Tống Phúc Hợp chịu cử sứ giả ra Qui
Nhơn xem xét tình hình trong lúc hai bên còn đánh nhau chứng tỏ tình
hình phe phái lúc này còn mù mờ khiến cho Nhạc dùng được Đông cung
Dương để gây chia rẽ phía triều Chúa cả năm trời mãi đến khi ông thấy
đủ lực lượng để không cần Dương nữa. 2. Thực lục tiền biên, q12. 6ab. 3.
Sự kiện làm cho Tiếp dứt khoát với Nhạc hẳn là trận đánh đuổi Tống Phúc
Hợp. Việc Lý Tài, Châu Văn Tiếp tách rời từ cuối năm 1775 khiến cho
Nguyễn Nhạc thấy quân thế mình thuần nhất hơn, ảnh hưởng đến quyết định
sau này của ông. 4. Chapman, bđd,
t. 30, viết: “Vì vậy ông (Nhạc) phải chịu một vố nặng khi tôi ở đây,
lúc 1/2 thuỷ quân tách ra sau một chuyến kình cãi giữa người em ông và
một trong những viên tướng chính dưới quyền”. Chapman muốn nói ai đây?
Thời gian được xác định “khi tôi ở đây”, nghĩa là vào khoảng tháng 7-
1778. Khoảng này không có sự tan rã nào quan trọng. Có thể Chapman nghe
chuyện trước đó (nhưng đối với thời đại vẫn còn là chuyện thời sự).
Cuối năm 1775 có 3 người phản Tây Sơn: một người không quan trọng nên
bị Tống Phúc Hợp giết, còn lại Châu Văn Tiếp và Lý Tài. Châu Văn Tiếp
tụ chúng trên núi, quân bản bộ toàn là người Thượng. Chỉ có Lý Tài đã
từng điều khiển thuỷ quân ở Quảng Nam và chịu dưới quyền sai phái của
Nguyễn Huệ khi ông này tập kích Phú Yên rồi giao cho Tài giữ (để Tài
trả lại cho Tống Phúc Hợp). Cho nên. Chapman muốn nói đến việc Tài vậy. 5. Thực lục tiền biên, q12, 12a. 6. Thực lục tiền biên, q12, 6b. 7. Chapman, bđd, t. 26, 27. Chapman đến cửa Thi Nại ngày 13-7-1778, bắt đầu lên Chà Bàn ngày 22-7. 8. Chapman, t.30. Thực lục tiền biên, q12, 5a. Tây Sơn cướp cả thuyền lương của Mạc Thiên Tứ viện trợ cho Duệ Tông. 9. Cương mục, q44, 11ab. 10. Cương mục, q44, 10a. 11. Thực lục tiền biên, q11, 22a. 12. Thư của Labartette từ Tho duc ngày 21-6-1775 (A. Launay, III, t. l03). 13.
Thư của Labartette từ Tho duc ngày 21-7-1775 dẫn lời của ông Halbout ở
Quảng Nam (A. Launay. III. t. 105). Hoàng Quang: “người ăn thịt người
trời đất thấu chăng”. 14. Thư của ông Halbout tháng 7-1775 (A. Launay III. t. 106). 15. Thư của Labartette ở Tho duc 21-7-1775 (A. Launay, III, t. 104). 16. Thục lục tiền biên,
q12, 7a. Vấn đề đặt ra là dịch tễ có lan tràn đến vùng Tây Sơn hay
không. Có lẽ tính chất tách biệt của 2 đạo quân, 2 chủ quyền, ngăn cản
sự liên lạc giữa hai vùng khiến vô tình có một hàng rào y tế được lập
nên có lợi cho Tây Sơn.
__________________________________________________________________Tiết 2
LỰC LƯỢNG NGOẠI QUỐC
Lưu
ý đến lực lượng Tây phương vì tiến bộ kỹ thuật của họ * Các đế quốc thứ
hạng * Các đế quốc hàng đầu: cuộc cạnh tranh Anh, Pháp * Những kẻ phiêu
lưu. Thật là một chuyện không cần phải bàn cãi khi ta
nhận xét rằng những biến động trong một nước tất có những tương quan
ảnh hưởng với các lân bang. Những phong trào độc lập thời Bắc thuộc
phần lớn được thành công nhằm vào những giai đoạn Trung Hoa gặp rối
loạn, qua phân. Trái lại, những khi trong nước Việt có tranh giành ngôi
báu, rối loạn thì quân Trung Hoa lại có cớ để đem đại binh sang. Cả một
vùng Thuỷ Chân Lạp về tay chúa Nguyễn nhân dịp họ này nhìn về phương
nam là do những tranh giành thế tập của các triều vua Cao Miên làm suy
yếu thực lực trong nước họ. Từ cuối thế kỷ XV, với những phát kiến về
hàng hải, người Tây phương đem thuyền bè sang Á đông, mở rộng sự giao
tiếp Đông - Tây thì các nước ở Á châu một khi có biến động lại thấy
ngay sự can thiệp của người da trắng. Quần đảo Nam Dương là một thí dụ
cụ thể. Nước Đại Việt trong những thế kỷ phân tranh Nam, Bắc, có ngăn
chặn được sự quấy rối của các thương nhân Tây phương cũng nhờ nơi tổ
chức chính trị chặt chẽ ở hai miền. Cuộc thử sức giữa thuỷ quân và Thế
tử Nam Hà Nguyễn Phúc Tần với hạm đội Hoà Lan vào cuối năm Quý Mùi
(1643) mà kết quả là chiến thắng về tay quân Nguyễn đã làm cho Công ty
Đông Ấn Độ Hoà Lan (VOC) - nói rộng ra, các thương nhân Tây phương -
chịu bằng lòng đến buôn bán dưới sự kiểm soát của các chính quyền hiện
hữu.
Tình thế đã đổi khác khi thời gian trôi qua. Biến động
Tây Sơn làm đảo lộn các trật tự cũ. Duệ Tông dắt Nguyễn Ánh và tiếp
theo sau đó, Đông cung Dương chạy vào Đồng Nai. Họ Trịnh ở phương bắc
bề ngoài có vẻ hùng mạnh nhưng bên trong cũng bị mục nát vì sự nhu
nhược của đám sĩ phu cầm quyền trước thái độ khinh lờn của đám Kiêu
binh Thanh Nghệ. Từ 1674, họ đã giết quan Tham tụng Nguyễn Quốc Trinh,
phá nhà Phạm Công Trứ. Một lần nữa vào năm 1741 họ lại phá nhà và chực
giết Tham tụng Nguyễn Quý Cảnh. Chỉ còn đợi Trịnh Sâm chết đi (1782)
với rối loạn bỏ trưởng lập thứ là Kiêu binh có thể can thiệp vào việc
vua chúa để rồi huênh hoang tuyên bố rằng “ngày nay, được có triều
đình, khiến vua tôn ngồi yên mà hưởng phú quý đều là sức của chúng
mình”. Họ đã đi đến tột đỉnh của quyền hành nhưng vì thiếu một lý
tưởng, thiếu một người cầm đầu sắc sảo, chúng ta không gặp được ở Bắc
Hà một chế độ quân chính mà chỉ một tình trạng ô hợp, hỗn loạn của Kiêu
binh thôi.
Nhìn về phương bắc, bực thầy của Đại Việt, cùng
thời gian cũng đang ở trong tình trạng ruỗng nát bên trong cái vỏ hào
nhoáng của triều đại Càn Long (1736-1796) rực rỡ. Chiến thắng của quân
Thanh ở Tân Cương (1755) mở rộng biên giới phía tây ngăn chận tham vọng
bá chủ của Nga hoàng đồng loã với đế quốc Anh, nhưng tạo gánh nặng
chiến phí gìn giữ quân đội thống trị. Ở nội địa, dân số vùn vụt tăng
vượt xa số lượng đất đai khai khẩn không đủ cung ứng cho nhu cầu, tạo
nên vấn đề cấp thiết và quan trọng nhất cho Trung Hoa mãi đến bây giờ.
Giai cấp địa chủ bản xứ vốn đã hợp tác với quân Thanh, bây giờ lại
hưởng thụ thêm mối lợi đất đai tăng giá nên cố sức giữ cái đà tích luỹ
bằng cách ngăn chận công thương nghiệp không cho phát triển mạnh. Mâu
thuẫn xã hội gặp dịp bùng dậy đồng loạt với mâu thuẫn mang hình thức
quốc gia chủ nghĩa. Loạn nổi lên ở Sơn Đông năm 1774, năm sau Bạch Liên
giáo phất cờ phản Thanh phục Minh ở Hà Nam, rồi An Huy. Đàn áp của
chính quyền thật tàn nhẫn trên 6 tỉnh có nhiều tín đồ và cuộc loạn hao
của tốn người dữ dội nhất từ 1793 đến 1802 mới chấm dứt.
Tình
hình đáng chú ý hơn là trong khi Nam Bắc Hà, Trung Hoa ở các tình trạng
rối ren, ngưng trệ kinh tế, kỹ thuật thì Tây phương bắt đà những tiến
bộ kỹ thuật từ thế kỷ XV, càng ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Xét
lịch sử Âu châu, sử gia Tây phương nhận thấy từ năm 1640, trái với tình
trạng ngưng trệ trước đó, là bắt đầu cho một giai đoạn thịnh vượng về
kinh tế. Sự tiến triển của hạ tầng cơ sở cứ biến đổi dần, ngấm ngầm mà
chắc chắn suốt tiền bán thế kỷ XVIII.
Đầu tiên là sự phát
triển dân số. Thuyết Malthus(1766-1834) là ý thức của Âu châu hoảng hốt
lên vì sự gia tăng đó. Các tay lãnh đạo, trí thức ưu tú là những người
trẻ tuổi. Thế kỷ XVIII là “thế kỷ của tuổi trẻ Âu châu”. Gia tăng dân
số gây nên sự nghèo đói cho đám bần cùng khiến họ phải ra tỉnh, đi ra
nước ngoài. Dòng xuất cư phiêu lưu tìm sang giàu khích động ở các thế
kỷ trước vì vàng bạc của Mỹ châu, vì các chuyện kỳ lạ của Marco Polo
đưa về, đến bây giờ vì biến đổi đã kể vẫn tồn tại với những người bỏ xứ
mà đi.
Đáng kể là những người Âu châu ra ngoài nước - buôn
bán, truyền đạo, phiêu lưu - hưởng được cả những thành quả về tiến
triển kỹ thuật xảy ra trên đất nước họ. Thế kỷ XVIII ở Âu châu thấy
xuất hiện những khoa học thuần tuý đồng loạt và có tương quan với những
phát triển kỹ thuật trong các ngành dệt, máy hơi nước, chế tạo kim khí,
nhất là ở Anh.
Tất nhiên, những tiến bộ này giúp ích cho sự
phát triển lực lượng quân sự mà Âu châu tăng tiến từ khi biết dùng
thuốc súng của người Trung Hoa qua dân Ả Rập. Nếu trước kia Alexandre
de Rhodes ngắm chiếc thuyền Nam chinh của chúa Trịnh mà không thấy
chiếc thuyền Hoà Lan nào dài bằng, thì đến thế kỷ này tình thế đã đảo
ngược. Chưa nói đến dự trù can thiệp của Pigneau de Béhaine dựa trên sự
kiêu hãnh về ưu thế quân sự của Tây phương, Chapman trong chuyến đi dò
xét Nam Hà năm 1778 theo lệnh của Toàn quyền Anh ở Ấn Độ cũng có cảm
tưởng tương tự.
Nhận xét về thực lực Tây Sơn, ông ghi: “Các
đạo quân của Nhạc ít đáng kể, giá trị quân sự kém lắm và tôi có thể nói
chắc chắn rằng độ 100 người có kỷ luật sẽ đánh lui toàn bộ quân đội của
ông ta. Thuỷ quân của ông gồm có vài chiếc thuyền chiến và 3 hay 4 ghe
chài lấy của người Trung Hoa...” Có thể là còn một số quân rải rác các
nơi, đi theo Nguyễn Huệ, nhưng riêng chính Nguyễn Nhạc cũng nhận thấy
được ưu thế kỹ thuật Tây phương. Chính ông đã hỏi Chapman xem thử ông
này có thể dùng các tàu dưới quyền để giúp ông được không? Với các điều
kiện nào? Nhạc muốn có các cố vấn Anh, muốn có các tàu chiến Anh phụ
giúp để thực hiện mộng khuất phục nước Cao Miên, toàn thể bán đảo đến
tận Xiêm và các tỉnh Nam Hà phía bắc còn ở trong tay quân Bắc Hà. Đánh
đổi lấy sự trợ giúp đó, Tây Sơn có thể nhường đất cho Anh quốc lập
thương điếm. Rồi không phải chỉ ở lãnh địa Tây Sơn Chapman mới gặp
sự nài ép giúp đỡ quân sự đó. Ông đến Phú Xuân vùng chiếm đóng của
Trịnh, một viên quan Bắc Hà đón tiếp ông cũng ló bộ mặt phản đối chính
quyền và mong ông giúp một tay1.
Tất cả minh chứng rằng mọi người thời bấy giờ đều biết đến sự hùng mạnh
của Tây phương, cho dù chỉ mới biết qua các đội thương thuyền lẻ tẻ.
Nhưng tương quan lực lượng của các quốc gia Tây phương có mặt ở Á châu
vào hậu bán thế kỷ XVIII không giống như ở các thế kỷ trước. Những biến
chuyển ở Âu châu đã gây nên sự thay đổi đó.
Người Bồ Đào Nha
từ thế kỷ XIV đã tranh chiếm được nền độc lập trong tay dân Hồi giáo
rồi dùng đám quân binh phong kiến thất nghiệp vào trong công việc tìm
kiếm đất mới. Họ dùng võ lực giành giựt độc quyền bán hương liệu Á đông
trong tay người Ả Rập. Đế quốc của họ là một chuỗi những thương điếm
gần bờ biển, có võ trang. Kinh đô của đế quốc đó là Goa trên bờ biển
phía tây Ấn Độ.
Nhưng từ 1580 nước họ sáp nhập vào Tây Ban Nha
dưới quyền của Philippe II. Đế quốc họ tan rã dần vì sự tranh chiếm của
người Hoà Lan. Đến thế kỷ XVII, khi họ giành được tự trị thì Ấn Độ đã
mất. Chút quyền bảo trợ Gia tô giáo mà họ đã hưởng được của các Giáo
hoàng về các vùng Đông của đường ranh giới ấn định bởi các hiệp ước
Tordesillas 1499 rồi cũng sẽ bị sự cạnh tranh của các nước, nhất là
nước Pháp với hội Truyền giáo, mà yếu dần đi và mất hẳn.
Tuy
vậy khi xảy ra rối loạn ở Đại Việt, họ cũng muốn can thiệp vào. Có hai
chiếc tàu Bồ ở Đà Nẵng vào dịp Tây Sơn ra Quảng Nam. Họ từ Macao tới.
Macao là một nhượng địa mà người Bồ đã đem tiền lo lót đám quan lại
Trung Hoa để lập nên thương điếm. Vào cuối thế kỷ XVIII, chính quyền ở
đây dưới tay một viên quan cai trị do Lisbonne đề cử, đại diện cho vị
Phó vương thành Goa với một Biện lý, một uỷ viên, hai thẩm phán và
nhiều vị cố vấn2.
Nhưng lực lượng quân sự của Bồ ở một nơi rất gần Đại Việt này thực
không đáng kể. Pigneau nói một cách mỉa mai về việc có ý định cầu viện
một nơi như Macao, không có lấy một tên quân3.
Viên biện của Phái đoàn Truyền giáo ở Macao thời đó là Letondal thì ghi
rõ hơn: “Có độ 4 - 50 tên Cipaye hay mọi da đen không được huấn luyện
kỹ càng và ăn mặc lôi thôi”4.
Đế
quốc Tây Ban Nha, vì hiệp ước Tordesillas, dồn toàn lực ở Mỹ châu thu
nhặt bạc vàng và truyền giáo. Nhờ chuyến viễn du của Magellan
(1519-21), họ chiếm được Phi luật tân, biến đất này thành đất của Chúa,
sung túc nhờ việc giao thương Á - Mỹ châu (qua Mễ tây cơ) bằng các
thuyền galion. Họ cũng có quyền lợi tôn giáo ở Đại Việt. Các nhà tu
hành khất (Franciscains) ở đây thường liên lạc với Manille. Họ có mặt
trong vụ giúp đỡ Duệ Tông rồi Nguyễn Phúc Ánh. Quyền lợi tôn giáo lẫn
lộn với quyền lợi quốc gia thường gây nên sự xung đột giữa người Tây
Ban Nha và người Pháp5.
Trong
khi đó, người Hoà Lan mà tiếng tăm của họ ngày trước làm cho người Việt
gán danh từ Hoà Lan đạo cho Gia tô giáo lại không có hành động nào đáng
kể ở bán đảo này. Công ty Đông Ấn Độ của họ (VOC) thất bại ở Nam Hà,
Đài Loan bèn dồn trở về quần đảo Nam Dương lo khai thác nhân vật tài
lực ở đây. Vào hậu bán thế kỷ XVIII, họ bị người Anh cạnh tranh ráo
riết: hiệp ước Breda 1763 cho họ toàn quyền ở Nam Dương, nhưng hiệp ước
1784 mở rộng vùng biển này cho các tàu Anh vào giao thương.
Biến
chuyển xảy ra bất lợi cho các đế quốc già cỗi như vậy vì trong thế kỷ
XVII, XVIII nước Anh đã phát triển mạnh về kinh tế để nắm quyền trên
biển cả. Cạnh tranh với người Anh nhờ sự hùng mạnh của thời đại Louis
XIV, người Pháp cũng phát triển ở Ấn Độ. Một tay phiêu lưu, François
Martin, xây dựng nên thành phố Pondichéry. Dupleix (1697-1763) có tham
vọng muốn thành lập một đế quốc Pháp ở Ấn Độ nên mở rộng đất chiếm được
về phía nội địa rồi gặp phải tham vọng của người Anh ngăn cản lại. Từ
trận Chiến tranh Kế vị ở nước Áo (1740-1748) đến trận Chiến tranh Bảy
năm (1756-1763), Anh - Pháp xung đột nhau ở Âu châu rồi mở rộng chiến
tuyến đến tận các thuộc địa. Karikal bị chiếm 4-1760, Pondichéry đầu
1761 rồi tiếp theo, Mahé, Nelisseram trên bờ biển Malabar lần lượt lọt
vào tay quân Anh vì lỗi lầm nghiêm trọng của Lally Tollendal. Kết quả
Trận chiến Bảy năm là người Pháp còn có 5 thành phố: Karikal,
Pondichéry, Chandernagor, Mahé, Yanaon. Rồi vì Chiến tranh giành độc
lập Hoa Kỳ, xung đột Anh - Pháp tái phát. Chandernagor (7-1778),
Karikal (8-1778), Pondichéry (10-1778), Mahé (3-1779) phải bị quân Anh
chiếm đóng lần nữa và chỉ giao hoàn người Pháp sau hoà ước Versailles
1783. ___________________________________________ 1. Chapman, bđd, t. 30-32, 39. 2. "Macao à la fin du 18e S.”, R. Jolez, tổng lãnh sự Pháp ở Hong hong, BSEI, 1950, t. 41-49. 3. Thư của Pigneau cho ông Descouvrières, 12-3-1786 (A. Launay, III, sđd, t. 161 4. Nhật ký của ông Letondal (A. Launay, III, sđd. t. 157). 5. Vụ Manuel giúp Nguyễn Ánh, BSEI, 1940, t. 32, 33 (xem sau).
Cuộc xung đột ở thuộc địa thực ra có tính cách vì quyền lợi các thương
nhân, “chiến tranh các tay buôn”, như Voltaire đã nhận định. Kết quả là
ở thuộc địa, nói riêng ở Ấn Độ, người Pháp bị thua thiệt, mất đất, hết
tiền. Sau 1763, người Anh làm chủ nền thương mại nội địa, nắm trong tay
các thợ dệt Ấn, điều khiển các ông Hoàng Ấn (nabab), xúi họ cản trở
người Pháp. Ở Bengale, các giấy thông hành Pháp không có giá trị gì,
tàu họ bị đóng thuế 2 lần, bị lục lọi, soát xét, ngăn cấm chở vàng bạc
xuôi sông Gange (chỉ thị của W. Hastings 1769). Trước tình trạng đó, Bộ
trưởng Necker phải giải tán Công ty Đông Ấn Độ và để cho các thương
nhân được tự do buôn bán riêng rẽ (nghị định 13-8-1770).
Xung
đột Anh - Pháp nghiêng thất lợi về phía người Pháp đã khiến cho họ phải
tìm cách hướng về nơi khác Ấn Độ để vừa trả thù, vừa tìm lại thế làm
quân bình lực lượng ở hải ngoại.
Ngày trước kia, P. Poivre đã
chú ý tới vị trí địa lý thuận tiện của đất Nam Hà đối với việc buôn bán
của người Pháp. Chiến tranh càng làm tỏ rõ giá trị ý kiến ấy ra. Trong
những văn kiện bí mật, người Pháp đã nhận xét: “Hình như chỉ có xứ Nam
Hà là đã tránh khỏi sự chú ý của người Anh, nhưng làm sao người ta có
thể tin rằng họ sẽ không dòm ngó tới? Nếu họ quyết định ở đó trước ta
thì mãi mãi ta sẽ bị loại trừ ở đấy, ta sẽ mất một điểm tựa quan trọng
trong phần đất này của Á châu, phần đất làm cho chúng ta nắm quyền ngăn
chặn người Anh buôn bán với người Trung Hoa khi có chiến tranh xảy ra,
che chở việc thương mãi của ta ở khắp nơi trên Ấn Độ và làm cho họ luôn
luôn lo ngại”1.
Tin
tức về loạn Tây Sơn ở Nam Hà được truyền đi đến các thuộc địa Anh -
Pháp ở Ấn Độ nhờ những chuyến tàu buôn Tây phương ghé Đà Nẵng. Ta đã
nói đến hai chiếc tàu Macao. Vào khoảng tháng 9-1777, chiếc tàu
Diligent ghé Đà Nẵng chở về Ấn Độ L.M Jean de Loureiro, y sĩ của chúa
Nguyễn, với hai vị quan đại thần xin đi nhờ vào Gia Định. Loureiro có
vận động cầu cứu Tây phương giùm cho chúa Nguyễn. Thế là Anh - Pháp lại
có đề tài để xung đột nữa. Warren Hastings, toàn quyền Anh, phái
Chapman đi dò xét khoảng tháng 7-1778. Trước đó và cùng năm, viên tư
lệnh thành Chandernagor, Chevalier, cũng đã thúc đẩy viên toàn quyền
Pháp ở Pondichéry, De Bellecombe, nên nhân dịp này mà “hưng khởi uy thế
và tăng tiến nền thương mại quốc gia”. Ông nhấn mạnh thêm rằng nếu
không chịu làm trước người Anh, họ sẽ can thiệp vào và người Pháp “năm
sau, sẽ đau đớn được tin rằng người Anh vừa có một thuộc địa mới nữa”2.
Nhưng
xung đột về Nam Hà không xảy ra giữa hai đế quốc. Chiến tranh Độc lập
Hoa Kỳ (1775-1783) giải toả vấn đề Nam Hà. Hai chính quyền không lưu ý
tới thì vấn đề bỏ lừng cho các sáng kiến cá nhân.
Từ trào lưu
xuất cư vào cuối thế kỷ XV, các thương nhân Tây phương đã chứng tỏ tinh
thần mạo hiểm phiêu lưu của họ. Chúng ta hãy nhận định ưu điểm của đám
thương nhân nói chung về tinh thần mạo hiểm, sáng kiến un đúc thêm
trong khi di chuyển so với đám người ở lì một chỗ, bảo thủ, kiến thức
hẹp hòi, thiếu gan dạ. Hãy xét hành tung một Châu Văn Tiếp sau khi
chống Tây Sơn, được triệu hồi về Gia Định đã lại ra Phú Yên chống đánh
sát bên nách địch. Rồi khi Chúa chạy, quân tan, lần mò theo đường
thượng đạo đi cầu viện, nhận được lời hứa, Tiếp lại theo đường rừng về
tìm Chúa. Con người trung kiên đó đã từng đi buôn nguồn với chúa Tây
Sơn là một ví dụ về tinh thần mạo hiểm của đám thương nhân.
Nhưng
thương nhân Tây phương nhờ vào một phong trào rộng lớn hơn, đã có những
hành động quyến rũ hơn. Chúng ta lưu ý đến một tác giả của hậu bán thế
kỷ XIX, cũng là một tay phiêu lưu, ca tụng đám người tiền phong: “Vì
một bao hạt tiêu, họ không ngần ngại cắt cổ nhau, từ chối sự cứu rỗi
linh hồn, điều mà ở vào những lúc khác, họ đã tỏ ra rất bận tâm. Cái
lối cứng đầu cứng cổ kỳ lạ trong khi theo đuổi ý muốn làm cho họ thách
đố với chết chóc ở hàng ngàn hình thức: những rủi ro của biển cả xa lạ,
các bệnh kỳ dị và ghê tởm, thương tích, bắt bớ, đói rét, dịch tể, tuyệt
vọng. Điều đó làm cho họ trở nên to lớn, anh hùng, bi thống ngay cả
trong những ham muốn buôn bán không thoả mãn của họ, trong khi cái chết
lạnh lùng đến đem họ đi không chừa già trẻ. Hình như khó có thể tin
rằng nội một lòng tham lam lại thúc đẩy những người ấy theo đuổi ý
tưởng một cách liên tục, cố gắng và hy sinh một cách kiên trì như
vậy... Với chúng ta, những người kế tục mà những thử thách như thế đã
tránh khỏi, họ có vẻ sáng rực lên không phải vì những thành quả họ đã
đạt được mà là vì chúng ta thấy ở họ những công cụ của định mệnh đã xô
đẩy họ đi vào nơi vô định, tuân theo một tiếng nói bên trong, một khích
động toàn thể để đi tìm một giấc mộng xa vời...”3
Riêng
Đông Nam Á, điển hình cho đám người phiêu lưu này ở cuối thế kỷ XVII là
Constantin Phaulkon đã làm cho Louis XIV tưởng thực hiện được tham vọng
làm chủ một quốc gia: Xiêm La dưới triều Phra narai. Thế kỷ sau, thành
công ở Ấn Độ của Dupleix (Pháp), Clive (Anh) về tiền bạc, danh vọng,
gây nên sự thèm khát, ganh ghét ở các chính quốc. Vẻ huy hoàng rực rỡ
của các triều đình Đông phương vẫn còn làm ngợp những tay phiêu lưu.
Công ty Đông Ấn Độ Pháp suy sụp, Đế chính Pháp tan rã, các chức việc,
võ quan thất nghiệp đua nhau đem kiến thức phục vụ các ông hoàng Ấn
chống với người Anh. Trình độ kỹ thuật thu nhận ở quốc gia xuất phát,
tinh thần gan dạ kèm với óc tổ chức khiến họ nổi bật lên giữa đám người
họ phục vụ. Cho nên, không lấy làm lạ rằng những viên lính thuỷ đào ngũ
của Pháp lại giữ những vai trò điều khiển quan trọng trong thuỷ quân
Nguyễn Ánh sau này.
Hành động song song với đám người phiêu
lưu vì tư lợi này còn có những kẻ được gọi là Lớp người Phiêu lưu của
Chúa và của Lòng Bác ái, tức là các tu sĩ Thiên Chúa giáo. Họ đi truyền
giáo với mục đích đem những người “ngoại đạo” trở về nước Chúa. Ta cũng
thấy ở họ tinh thần mạo hiểm không sợ gian nguy. L.M. Laneau can dự vào
vụ Phaulkon bị bắt giam ở Ayuthia đến tháng 4-1691 mới được thả. Trong
tù, ông viết thư (6-1690) cho Louis XIV: “Chúng tôi sẽ làm lại như cũ
nếu phải bắt đầu làm lại...”4
Nhưng
đồng thời, các tu sĩ này cũng không thể nào tách rời quyền lợi đạo giáo
với quyền lợi tổ quốc của họ. Viên Tư lệnh thành Chandernagor đã nói rõ
ràng trong một bức thư gởi cho Toàn quyền Pondichéry (12-2-1778): “Tôi
luôn luôn lấy làm lạ rằng tại sao ông Bộ trưởng không ra lệnh cho các
tu sĩ ở các nơi liên lạc thư từ với các người cầm quyền để báo cáo cho
họ biết về tình hình chánh trị những nơi họ ở, với các chi tiết về buôn
bán mà ta có thể gây được ở nơi đó. Điều đó chắc chắn có ích cho quyền
lợi chung hơn là vài tên tín đồ mà họ phải chăm sóc. Với lại làm cả hai
việc không có gì là mâu thuẫn hết. Trong khi một người là L.M, họ không
nên quên rằng tình trạng tiên khởi của họ là người của vua họ và phải
chú trọng đến việc phục vụ cho vua trong mọi việc cần đến họ”.5
Không
phải là chính quyền ép buộc, các tu sĩ cũng công nhận việc phục vụ cho
vua họ như một bổn phận thiêng liêng. Laneau trong thư nói trên, không
ân hận đã bị bắt, vì “điều đó có liên quan quá nhiều đến thanh danh của
Hoàng thượng.”
Chính trong cái ý thức tâm lý chung đó của thời
đại mà chúng ta thấy các giáo sĩ đều đồng loạt hành động như nhau.
Không phục vụ cho vua họ ở chính quốc thì họ phục vụ cho vương quyền
nơi họ trú ngụ, nhất là khi đường lối phục vụ này có hy vọng dẫn đến
kết quả tốt đẹp cho sự phát triển Đạo. L.M Jumilla có lần chê trách vua
tôi nhà Nguyễn mà cũng phải theo phản ứng tự nhiên cho Duệ Tông chui
xuống gầm giường, thoát tay Tây Sơn Nguyễn Lữ6.
Các L.M ở Đồng Nai cũng như ở Thuận Hoá đều gọi Tây Sơn là “bọn phản
loạn” (les révoltés), gọi Nhạc, Huệ là “kẻ bạo chúa”, “kẻ thoán đoạt”
(le tyran, l’ursurpateur), bày tỏ trong các thư gởi đi tấm lòng hướng
về cựu Nguyễn của họ. Chót hết là Bá-đa-lộc đã gạt bỏ bao lời mời gọi,
dẫn dụ của Tây Sơn để hành động cương quyết trợ giúp Nguyễn Phúc Ánh.
Cho nên, chính trong khung cảnh dó, có những tham vọng để phục vụ cá
nhân, quốc gia hay tôn giáo từ bên ngoài sẵn sàng nhảy vào can thiệp mà
chiến tranh chấm dứt phân chia ở Đại Việt thấy thêm một yếu tố quyết
định vậy. ______________________________________ 1. G. Taboulet, La geste française en Indochine, tome I t. 154, 155. 2. Thư đề ngày 12-2-1778 ở Chandernagor (G. Taboulet, sđd, t.159). 3. Hutchinson và Berland. “Aventuriers au Siam au 17e siècle”: BSEI. XXII. 1947, t. 13. 4. Aventuriers au Siam...”. bđd, 1.148. 5. M. Gaudart. “Les archives de Pondichéry et les entreprises de la Compagnie française des Indes en Indochine au 18e siècle”, BAVH, Oct- Déc 1937, t. 367. 6. BSEI, XV. 1940. bđd, t. 84. |