Chương 2
GIA ĐỊNH, ĐẤT TRANH CHIẾM QUYẾT LIỆT
__________________________________________________________Tiết 3
ĐẤT GIA ĐỊNH VÀ CHÚA TÔI NHÀ NGUYỄN
*Tình
trạng khai thác và tiềm lực của Gia Định * Trịnh chúa từ bỏ ý định Nam
xâm * Đông Sơn Đỗ Thanh Nhân và Tây Sơn Nguyễn Lữ (1776) * Nguyễn Huệ
tiêu diệt họ Nguyễn (1777) * Nguyễn Phúc Ánh và một giai đoạn mới của
lịch sử họ Nguyễn. Đất Gia Định1
mà chú cháu Nguyễn Phúc Ánh dắt díu nhau vào hồi tháng 2 (Ất Mùi 1775)
là nơi lập thành do công khai thác của hai nhóm người: đám Minh thần
lưu vong nửa cướp, nửa quan và đám nông dân Việt nghèo khổ. Ở miền
Đông, Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên khai phá đất đai và đáng chú ý
hơn, họ mở mang thương cục, làm giàu bằng cách mua bán với đủ các hạng
người: Trung Hoa, Tây phương, Nhật Bản, Chà-và (Mã Lai)2. Về phía cực Tây, Cảng Khẩu3
Hà Tiên của Mạc Cửu cũng thịnh vượng bằng những sòng bạc rút tiền của
đám thương nhân và bọn lưu dân Phú Quốc, Cần Giọt (Kampot), Rạch Giá,
Vũng Thơm (Kompong Som), Trũng Kè, Cà Mâu4. Đám nông dân Việt thì phá rừng, vỡ đất, giành giựt đất ruộng của người Miên bản xứ5.
Tất nhiên với sự khai thác vội vã như vậy, bản đồ xứ Gia Định vào hậu bán thế kỷ XVIII có những nét riêng biệt.
Việc
Nguyễn Ánh tổ chức hành chánh ba năm sau (1778) cho ta thấy một vài đặc
điểm đó. Ông hoạch định bản đồ và chia ranh giới cho các dinh Trấn
Biên, Phiên Trấn, Long Hồ liên lạc nhau. Dinh Trấn Biên lãnh một huyện
(Phước Long) và 4 tổng (Tân Chánh, Bình An, Long Thành, và Phước An).
Dinh Phiên Trấn lãnh một huyện (Tân Bình) và 4 tổng (Bình Dương, Tân
Long, Phước Lộc, và Bình Thuận). Dinh Long Hồ cải làm dinh Hoằng Trấn
lãnh một châu (Định Viễn) và 3 tổng (Bình An, Bình Dương, Tân An). Đạo
Trường Đồn (Định Tường) lãnh một huyện (Kiến An) và 3 tổng (Kiến Đăng,
Kiến Hưng, Kiến Hoà)6.
Rõ ràng là dân chúng (Việt) đã tập trung ở các thị trấn lớn và còn rải
rác ở các nơi xa. Vùng Hà Tiên vì chiến tranh với Xiêm đã bị tàn phá,
dân cư thất tán mãi đến thời trung hưng của Nguyễn Ánh (1788) cũng chưa
gượng dậy được và còn chịu ảnh hưởng binh lực của người Xiêm. Các thị
trấn Việt giăng hàng từ cù lao Đại Phố (Biên Hoà), Gia Định, Mỹ Tho,
Long Hồ, Cần Thơ cắt đứt hẳn một khối đông đúc dân Miên ở khu vực
Bassac, Trà Vinh đoạn tuyệt với chính quốc của họ. Khối dân này được
hưởng sự thịnh vượng thương mãi do các cửa Cổ Chiên, Bassac, Mỹ Thanh
vẫn là một ổ rối loạn, mệt cho những ai nắm quyền xứ Gia Định. Chính uy
quyền của họ Nguyễn làm cho phần đất phức tạp này trở thành Đại Việt
tách ra khỏi con mắt dòm ngó, không phải của đám vua quan Chân Lạp suy
yếu mà là của quốc gia Xiêm đang lớn mạnh.
Đi vào Gia Định,
Duệ Tông không những tránh thoát được gọng kìm Trịnh - Tây Sơn, bỏ rơi
được vào tay địch một kẻ tranh quyền với mình mà còn kỳ vọng nơi đạo
quân Tống Phúc Hợp để mưu đồ khôi phục. Kỳ vọng đó không phải là vô căn
cứ vì đất Đồng Nai “vựa lúa của quốc gia” còn là nơi của đám dân tứ
chiếng, cương cường, với đám hào phú Minh hương sống trong “lầu son gác
tía”, “ngói lợp tường xây”, đủ tiềm lực nuôi dưỡng chiến tranh.
Viên
lão thần Mạc Thiên Tứ tuy không còn thành trì để cai trị nữa, nhưng vẫn
là cánh tay đắc lực của Duệ Tông. Là người Minh hương, làm quan triều,
ông có đủ uy tín cũng như liên lạc hương ấp với đám hào phú Đồng Nai để
kêu gọi họ giúp Nguyễn. Là tướng từng có tham vọng lớn lao (đã gây nên
chiến tranh Xiêm - Việt 1769-1772), ông đủ quảng giao và biết rõ khả
năng kẻ ông có thể lợi dụng được. Ông viết thư cho Bá-đa-lộc kêu ông
này từ Nam Vang xuống vào khoảng giữa 17757 để bàn bạc chính sách cầu viện.
Những
điều kiện thuận lợi đó, chú cháu Nguyễn Phúc Ánh đã không dùng được
trong những năm đầu vào Gia Định, vì một mặt, Duệ Tông chưa giải quyết
được những tranh chấp nội bộ, mặt khác, kẻ thù của họ anh em Tây Sơn
nhân dịp rảnh tay phía bắc, đã theo đuổi họ đến tận cùng.
Gọi
là rảnh tay phía bắc không phải chỉ vì Nguyễn Nhạc có một chính sách
khôn ngoan đối với Trịnh Sâm mà còn vì Trịnh Sâm đã bỏ mộng tưởng chiếm
đất Nguyễn. Thực vậy, đã nói đói kém, dịch tể ở Thuận Hoá, Quảng Nam
ngăn bước tiến quân Trịnh. Trong khi đó ở Thăng Long, việc chiếm Phú
Xuân mang lại cho Trịnh chúa cả một kho tàng to tát8
để giúp cho Sâm phung phí “làm ly cung ở trên Tây Hồ” mỗi tháng ba, bốn
lần dạo chơi. Các nội thần giả làm đàn bà, bày hàng bách hoá chung
quanh bờ hồ để bán cho các quan theo hầu Trịnh Sâm ghé lên mua trong
tiếng nhạc dìu dặt, réo rắt của bọn nhạc công nấp đâu đó. “Triệu bất
tường”9 rõ rệt thêm
trong sự nuông chiều thứ phi Đặng Thị Huệ. Cho đến năm 1777, khi con
người làm “cho Chúa mất nước” này sinh được Trịnh Cán để có kẻ giành
ngôi thế tử với Trịnh Khải, người con trưởng, thì nguy cơ nghiêng đổ
ngai vàng đã không có cơ cứu vãn được.
Cuối năm 1775, Nguyễn
Nhạc dẹp xong cuộc chống đối ở hai phủ Thăng (Bình), Điện (Bàn) (Quảng
Nam) của Tôn Thất Xuân, Tôn Thất Quyền với mưu chủ Trương Phúc Tá và
viên hào phú người Hoa tên Tất. Nhạc để cho Tham tướng Nguyễn Văn Duệ
giữ Quảng Nam10 mà không gặp phản ứng nào của Phú Xuân hết. Thực là một khuyến khích cho Nguyễn Nhạc trong việc đuổi theo họ Nguyễn.
Viên
Tiết chế đi Gia Định vào tháng 2 năm Bính Thân (1776) là Nguyễn Lữ, lần
đầu mà cũng là lần cuối cầm đầu quân tướng. Duệ Tông vội chạy đi Đồng
Chàm ở Trấn Biên tị nạn, kêu Tống Phúc Hợp về cứu. Nhưng ngay ở Gia
Định, Chúa cũng còn có một lực lượng phụ tá dưới quyền Đỗ Thanh Nhân,
viên tướng từ Quảng Nam vào.11
Ông này đã tụ tập được 3.000 người ở Ba Giồng12
với các tướng Huỳnh Đức, Trần Bố, Đỗ Hoành, Võ Nhàn, Đỗ Kỳ, lấy tên
Đông Sơn quân (cái tên mang quan niệm phong thuỷ, ma thuật, ngụ ý chống
đối Tây Sơn, không chỉ một hòn núi nào hết). Binh tướng quay về với
những vũ khí thô sơ, biến chế tại chỗ: dao xà gạc, đoản đao, gậy lao,
gậy vung nhựa sối13. _________________________________________ 1.
Gọi theo sử quan Nguyễn. Sau 1790, Gia Định thành được xây cất làm nơi
tập trung thực lực Nguyễn Ánh rồi với Tổng trấn Lê Văn Duyệt, nó trở
thành tên chỉ chung của cả Nam phần ngày nay. Sự thực đối với dân chúng
miền ngoài thời đó, tên thông dụng là Đồng Nai (Thực lục, q10, 37b). 2. “Thành trì chí” của Trịnh Hoài Đức, Đại học V, 1, tháng 2-1962, trang 141 và chú số 49. Thực lục, q31, 2b, 3a. 3. Can Cao của người Tây phương, gọi từ âm Quảng Đông (Kang K’ao). 4. Liệt truyện tiền biên,
truyện Mạc Thiên Tứ q6, 1ab. Nguyên chữ Hán (Việt) là Cần Bột, Giá Khê,
Hương Úc, Lũng Kỳ, Kha Mao. Chú trong ngoặc là dẫn giải riêng. Cùng
quyển tờ 6a nói Thiên Tứ đổi Kha Mao ra Long Xuyên, do đó, ta hiểu rằng
danh xưng còn chỉ cả vùng “nước đen” phía tây hạ lưu sông Cửu Long. 5. Thực lục, q10, 11b chẳng hạn. 6. Thực lục,
q1, 8a. Muốn hình dung mức độ khai thác cư dân trên vùng đất rộng như
Gia Định quanh các năm 1778, hãy so sánh với phủ Qui Nhơn đồng thời
chẳng hạn nhỏ hơn nhiều mà có tới 3 huyện (Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn). 7.
Thư của Pigneau cho những người cai quản hội Truyền giáo, đề Can Cao,
5-6-1776: “Tôi từ triều đình Cambodge xuống Can Cao gần một năm rồi”. 8. Thư Jumilla đã dẫn. t. 83, Hoàng Lê, sđd, t. 2. 9. Vũ trung tuy bút,
Đông Châu dịch, NP, XXI. t. 236. Chuyện xảy ra vào các năm Giáp Ngọ, Ất
Mùi (1774-1775). Chú ý rằng bản dịch của Bộ Quốc gia Giáo dục (VNCH.
1962, không có chi tiết thời gian kể trên. 10. Thực lục tiền biên, q12, 7ab. Liệt truyện, q30, 8ab. 11. Truyện Đỗ Thanh Nhân, Liệt truyện q27, 21b... Một số sử sự tiếp theo thấy ở đây và Thực lục tiền biên q12, 9a, 11b, 14ab... đến hết sách. 12.
Tam Phụ. Ba Giồng gồm có: Giồng Dứa (thuộc xã Phước Thạnh, Châu Thành,
Định Tường). Giồng Cát hay Giồng Nhị Bình (xã Nhị Bình, quận Sầm
Giang), Giồng Thuộc Nhiêu chạy dài từ xã Dưỡng Điềm, Điềm Hy (quận Sầm
Giang) đến xã Nhị Quí (quận Cai Lậy). Giồng Cát còn có tên Giồng Giữa
(vì nằm giũa 2 giồng kia) và Gò Luỹ (chắc là Gò Lữ, Lữ Phụ nói đến sau
này). (Chỉ dẫn của ông Trương Ngọc Tường ở Cai Lậy. 13. Bđd. BSEI, 1940. t. 84. và bđd, Thành trì chí, Đại học, 2-1962, t. 143.
Sử quan nhà Nguyễn ghi ba trận thắng của quân Đông Sơn và quy công khôi
phục Sài Gòn cho Đỗ Thanh Nhân. Thực ra trong lúc chưa có trận đụng độ
to tát nào để ghi tên chiến trận thì Nguyễn Lữ đã vội vã vơ vét thóc
lúa Gia Định chở trên hai trăm thuyền về Quy Nhơn. Thiếu người cầm đầu
có tài, gan dạ, Tây Sơn đã bỏ mất một cơ hội tiêu diệt họ Nguyễn.
Vừa
lúc ấy, binh tướng Tống Phúc Hợp cũng từ Bình Khang kéo vào với Lý Tài.
Ở địa vị một viên Ngoại hữu do chiến công khắc phục Sài Gòn mà có và là
chủ tướng Đông Sơn, Đỗ Thanh Nhân không dung một viên tướng Tây Sơn,
cho dù là tướng đã quy phục. Xung đột xảy ra. Bị gọi là “đồ chó heo”
ngay tại vùng đất đầy người Trung Hoa, Lý Tài tức giận chiêu mộ hơn
8.000 người, chia làm bốn sắc cờ, lập đội Trung đao quân riêng cho
người Minh hương, lên chiếm núi Châu Thới1 dùng giáo, tầm vông, dao, súng điểu thương, trong tháng 8 thắng quân Đông Sơn ở suối Lồ Ồ2
rồi đe doạ chiếm thành Phiên Trấn. Tình thế trở nên phức tạp hơn khi
Đông cung Dương bỏ chùa Thập Tháp trốn xuống cửa Thi Nại đi vào Nam (5
tháng 10 âl)3. Vốn
có quen Lý Tài từ lúc ở Hội An, Dương cố thuyết phục Duệ Tông chiêu
hàng Lý Tài. Tài giữ sứ giả, đem quân xuống Sài Gòn, chịu để Dương
chiêu an trong lúc quân Đông Sơn chạy về Ba Giồng khiến Duệ Tông phải
chạy theo. Như vậy, Đông cung Dương đã thắng Duệ Tông một lần nữa. Cuộc
đảo chánh thành khi Đông cung sai Trương Phúc Thận “rước” được Duệ Tông
về chùa Kim Chương4 để công nhận nhường ngôi cho. Dương thành Tân Chính vương dưới sự chuyên chính của Bảo giá Đại tướng quân Lý Tài.
Trong
khi xảy ra sự phế lập ở Sài Gòn thì Nguyễn Ánh ở Ba Giồng với Đông Sơn.
Không nên lấy làm lạ điều này. Từ khi vào Gia Định được chức Chưởng sử
cầm Tả dực quân, ở bên Duệ Tông để bàn việc binh, khắn khít với Duệ
Tông lúc chạy trốn Tây Sơn, Nguyễn Ánh luôn luôn hướng về Duệ Tông5
chống Lý Tài “kiêu hoành nan chế”. Gia Định trong chia rẽ, Đông Sơn ở
Ba Giồng chống Hoà Nghĩa quân ở Phiên Trấn, là miếng mồi ngon cho Tây
Sơn.
Họ vào tháng 3 năm Đinh Dậu (1777) như họ đã hứa6 cả thuỷ lẫn bộ, cầm đầu là Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ.
Tân
Chính vương đem quân đi Trấn Biên. Tướng tiền đạo của Vương gặp Tây Sơn
đều bị giết, Vương lui về Sài Gòn. Thuỷ binh Tây Sơn cũng đang dằng co
ở đây. Hoà nghĩa quân giết được Tuần sát Tuyên ở Hốc Môn. Nhưng gặp lúc
Trương Phúc Thận kéo quân từ Cần Giuộc7
về tiếp viện, quân Hoà Nghĩa tưởng là Đông Sơn đánh tập hậu bèn bỏ Hốc
Môn chạy về Bến Nghé. Tây Sơn thừa thế đuổi theo, thuỷ bộ ép đánh. Lý
Tài hoảng hốt chạy về Ba Giồng bị giết, còn Duệ Tông được 4.000 quân
Đông Sơn rước về trú ở Rạch Chanh8 rồi đi Tài Phụ.
Tháng
tư, Tây Sơn tiến đến đuổi Duệ Tông về Long Hưng. Gặp lúc Đỗ Thanh Nhân
từ Rạch Giá đến, cả hai bèn đi Cần Thơ gặp Mạc Thiên Tứ. Sau khi bàn
định, Đỗ Thanh Nhân bèn đi cầu Trần Văn Thức và Châu Văn Tiếp giúp đỡ.
May mắn nhờ chuyến đi này ông tránh được nạn lớn.
Về phần Tân Chính vương ông chạy thua ở Rạch Chanh về Trà Tân9 rồi được Tống Phúc Thiêm rước về Ba Vác10.
Tháng 7, Tây Sơn đánh tan viện binh Bình Thuận của Trần Văn Thức và
tiến đến Ba Vác. Tống Phúc Hoà (em Tống Phúc Hợp) không giữ được lâu,
tự tử. Vương chết cùng 18 người theo (19-9-1777) không có dịp để thực
hiện ý định chạy ra Bình Thuận với Châu Văn Tiếp.
Số phận của
Duệ Tông cũng được định đoạt sau đó. Chúa đã bỏ chạy đi Trấn Giang (Cần
Thơ) tức là nơi Mạc Thiên Tứ và các con Tứ chống giữ. Nhưng Tứ từ trận
Hà Tiên cũng không có thực lực nên bàn với Duệ Tông xin qua Kiên Giang
đón thuyền đi Quảng Đông cầu viện. Chúa chạy về Long Xuyên, nhưng Tây
Sơn đuổi kịp đến nơi. Chúa cùng Nguyễn Phúc Đổng, anh Nguyễn Phúc Ánh,
và cha con Chưởng cơ Trương Phúc Thận, Lưu thủ Lượng, Tham mưu Nguyễn
Danh Khoáng đều bị giết (18-10-1777).
Lúc bấy giờ Nguyễn Ánh ở
đâu mà lại thoát khỏi cái vạ diệt tộc này? Sử quan nhà Nguyễn không lưu
ý nhiều đến việc chạy trốn không lấy gì làm vẻ vang cho chúa của họ nên
không xét đến nơi chốn lưu lạc của ông. Họ thay thế cái nhục lẩn tránh
Tây Sơn bằng câu chuyện cá sấu đưa qua sông, một bằng chứng mạng số đế
vương của ông hoàng này. Tuy nhiên, do đó ta cũng thấy những ngày chạy
trốn thật đầy kinh hoàng. Thế mà, chỉ trong một tháng sau ta thấy ông
có mặt ở Long Xuyên với Đỗ Thanh Nhân11.
Điều đó chứng tỏ ông vẫn theo Duệ Tông từ lúc rời Ba Giồng. Nhờ đó mà
được Pigneau đem giấu trốn và sai Hồ Văn Nghị đem thức ăn nuôi sống12.
Nguyễn Ánh thoát nạn thật là một may mắn, trong khi Duệ Tông và Tân
Chính vương chết đi không hẳn là một bất hạnh cho họ Nguyễn. Hai người
chết đi, chấm dứt một giai đoạn trong lịch sử họ Nguyễn, giai đoạn suy
vong, tranh chấp quyền lợi riêng tư trong cái thế nghiêng ngửa của dòng
họ.
Đối với Tây Sơn, con bài Đông cung Dương đã không dùng đến
nữa từ khi họ phá Tống Phúc Hợp ở Phú Yên. Nhưng thực ra nó vẫn giúp
ích Tây Sơn trong việc cùng với Duệ Tông chống đối làm phân rẽ thế lực
Gia Định cho đến bấy giờ.
Thất mã, đắc mã, cái chết tỉa Duệ
Tông và Tân Chính vương ở vào trường hợp đó. Tin chắc đã xong việc Gia
Định, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ kéo binh về Quy Nhơn để lại Tổng đốc Chu,
Tư khấu Uy, Điều khiển Hoà cùng Cai cơ Chấn chia binh cai trị13. Nhưng khi anh em Tây Sơn xây thành Chà Bàn14,
Nguyễn Nhạc xưng đế, hiệu là Thái Đức, phong Lữ làm Tiết chế, Huệ làm
Long nhương Tướng quân ở đất Quy Nhơn, thì họ cũng thấy ở Gia Định một
trong những người cuối cùng của dòng họ Nguyễn tập hợp tàn binh chống
lại. Thực là khó chịu cho họ. _________________________________________ 1. Chiêu Thái. 2. Tân Bản Kiều. 3.
Việc Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn vương, phong chức cho các em, sai
Nguyễn Lữ vào Nam và đem đày Đông cung Dương vào chùa Thập Tháp đồng
thời trong mùa xuân Bính Thân (1776) chứng tỏ ý muốn hành động độc lập
của Tây Sơn, loại trừ dứt khoát uy thế của cựu Nguyễn. Còn việc chùa
Thập Tháp ở ngay chân thành Chà Bàn, tức là chỗ dễ cho Nhạc trông chừng
Dương nhất mà Dương có thể thoát xuống cửa Thi Nại gần 20 cây số đường
nước lụt lội chính là nhờ ở sơ hở của lính gác trong mùa mưa to gió lớn
ở địa phương hơn là nhờ mưu kế đặt người giả cho ngủ trên giường của
anh mưu sĩ nào đó. 4. Nay đã bị phá đi, trên nền ấy xây cất trại nuôi ngựa trong thành Ô Ma (trụ sở Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia - VNCH). 5. Thực lục, q1 2ab. 6. “La révolte...”, bđd. BSEI, 1948, t. 85. 7. Chỉ dẫn của Trịnh Hoài Đức (Aubaret, t. 201). Thực lục tiền biên lầm với Cần Bột (Kampot). 8.
橙 汀. Có 2 địa danh tương đương: Bến Tranh (như Trúc Giang: Bến Tre) đã
có tên riêng khác, và Rạch Chanh: (Tranh: chanh, tự điển P. Gouin, Đào
Duy Anh), con rạch chảy trong vùng Đồng Tháp ăn thông với Tiền Giang
qua Ba Giồng. Quân tướng Nguyễn hay chạy về phía này để núp trong tỉnh
Romdoul của Chân Lạp hay để qua sông hướng Long Hồ, đi Cần Thơ, Rạch
Giá ra biển: con đường thoát thân thiết yếu đến nỗi Lý Tài biết Đông
Sơn ở Ba Giồng mà cũng chạy về đó để bị giết. 9.
Rạch Trà Tân chảy từ giồng Thuộc Nhiêu qua các làng Long Khánh, Long
Tiên, Long Trung (chợ Ba Dừa) rồi ra Tiền Giang nơi làng Hưng Long (chỉ
dẫn của ông Trương Ngọc Tường, Cai Lậy). 10. Ba Việt của Thực lục, Liệt truyện. Địa điểm Ba Vác ở trên rạch Cái Mơn chảy trong cù lao Mỏ Cày. 11. Thực lục. q1, 3a. 12. Thư ông Faulet cho ông Descourvières ngày 25-4-1780 (A. Launay III. tr. 69. 70). 13. Liệt truyện,
q30, 9b. Thử thách ở chiến trường là mực thước đo tài năng các tướng.
Các tên Chu, Hãn, Uy sau này biến mất trên chính trường. Hoà chắc là
Nguyễn Văn Hoà. Còn Chấn có phải là Đặng Văn Chân (Chấn) không? 14. Ông Nguyễn Phương (Đại học số 5, tháng 10-1762, t. 762) có dựa Tây Sơn sử truyện để
tả thành này. Đáng lưu ý là những danh từ to tát dùng để chỉ những kiến
trúc thường rất khiêm tốn của ta ngày xưa khiến ta cứ tưởng sự xây cất
bên trong tất là hùng vĩ, tráng lệ lắm. Chapman (bđd, t.29) trong
chuyến đi thăm Qui Nhơn đã tả rõ như sau: “Thành chỉ là một bức tường
đá nhiều chỗ hư hại, không ụ súng, không tháp núp bắn, hay tất cả những
gì gọi là một thành trì chiến đấu... Cửa chính và tường không có một
tên lính gác nào và bên trong đất cày thành ruộng”. Chapman đến giữa
năm 1778 tả như trên, nhưng thành có thể xây đắp thêm vào những năm
sau. Tuy nhiên chi tiết đất cày thành ruộng bên trong vẫn đúng nếu ta
nhìn lại di tích ngày nay. Qui mô tương đối thì khá hùng vĩ với dãy bờ
đất đỏ đá ong chiếm ba làng Bả Canh, Nam An, Thuận Chánh của quận An
Nhơn. Tên thành 閻 盤 城 có thể đọc là Đồ Bàn, Chà Bàn, Xà Bàn. Người địa
phương ngày xưa, trên danh thiếp của họ, thường dùng tên thành để chi
tỉnh Bình Định: Nguyễn Văn Mỗ, Xà Bàn Thành, hay Trần Văn Mỗ, Cổ Bàn
Thành. Tên Chà Bàn, gốc Chàm, có ý nghĩa tôn giáo (Çaban = autel -
Aymonier và Cabaton, Dictionnaire Cam-Français, Paris, 1906, t. 461). Hiện
nay thành còn dấu vết là những mô đất đỏ chạy bao quanh với hai thẻ đá
đứng, dựng song song, chắc là cửa thành sót lại sau khi Gia Long (năm
thứ 12) sai phá đi, lấy vật liệu xây thành mới là thành Bình Định bây
giờ, cách phía Nam vài cây số (cũng bị phá nốt năm 1945, 1955). Thành
Chà Bàn nay gọi là Thành Cũ.
___________________________________________________________Tiết 4
NGUYỄN PHÚC ÁNH VÀ QUYỀN UY Ở GIA ĐỊNH
Cuộc
khởi binh ở Long Xuyên * Những nhận xét về Nguyễn Ánh * Vụ Đỗ Thanh
Nhân * Cố gắng tổ chức kinh tế ở vùng Tây Sơn và giới hạn khả năng công
phá Gia Định của họ.
Cả dòng họ Nguyễn sau
biến cố Ba Vác và Long Xuyên gần như là không còn ai hoạt động nửa
ngoài Nguyễn Ánh. Thực vậy, về phía vai chú Nguyễn Ánh có Tôn Thất Chất
chết cùng năm này, Tôn Thất Đãng (1744-1786) không hoạt động, Tôn Thất
Xuân (1759- 1780) chạy sang Xiêm với Mạc Thiên Tứ và mắc nạn ở đấy, Tôn
Thất Thăng nằm lì ở Phú Xuân. Hai người anh thì Tôn Thất Cao chết trận
(không rõ năm nào), Tôn Thất Đổng cùng chết với Duệ Tông. Một người em,
Tôn Thất Điển còn sống tới 1783.
Phải nhận rằng sau biến cố
1777, nếu kẻ sống sót không phải là Ánh thì biến chuyển ở Gia Định còn
gây nhiều phiền phức cho họ Nguyễn. Bởi vì, chúng ta lưu ý rằng ở Gia
Định lúc bấy giờ Lý Tài đã mất, Mạc Thiên Tứ lưu vong, lực lượng còn
lại có người cầm đầu là quân Đông Sơn. Mà như ta đã biết, Nguyễn Ánh đã
nhân danh Duệ Tông điều khiển quân Đông Sơn thì nay Duệ Tông chết đi,
vị chúa không chối cãi của họ là chàng thanh niên 16 tuổi này.
Tháng 10 âm lịch 1777, ông trở về khởi binh ở Long Xuyên. Gặp Thánh Nhân ở Sa Đéc1
và Cai cơ Hồ Văn Lận tiếp với quân Cần vương Tống Phúc Khuông, Nguyễn
Văn Hoằng, Tống Phúc Lương, Dương Văn Trừng, ông đánh thắng ở Long Hồ.
Tháng 12 Đinh Dậu, quân Nguyễn thừa thế trở về Sài Gòn, đuổi Tổng đốc
Chu, Tư khấu Uy về Quy Nhơn2.
Tháng
giêng năm Mậu Tuất (1778), họ Nguyễn lập lại chính quyền dưới bóng cờ
của Đại nguyên suý Nhiếp quốc chính Nguyễn Phúc Ánh.
Như đã
nói, một giai đoạn mới mở đầu, không phải chỉ riêng cho họ Nguyễn mà
còn kéo dài cho lịch sử Việt Nam nữa. Những biến cố mới sẽ tuỳ thuộc
không ít thì nhiều vào con người này mà ta muốn biết.
John
Barrow dựa trên các tài liệu của L. Barizy, của một viên thư ký Trung
Hoa của chính quyền Gia Định (Trịnh Hoài Đức?) và các giáo sĩ mà vẽ rõ
một Nguyễn Ánh lúc đứng tuổi với “dáng người cao trung bình, vẻ mặt đều
đặn, nhẹ nhõm”, “màu da đỏ hồng, rám nắng vì dầu dãi..”.. Sử quan im
lặng về điểm hình dạng này vì không dám mạn thượng, vì không có thói
quen tả thực. Nhưng khi nói đến tính tình thì ta thấy họ không tiếc dịp
đề cao vị hoàng đế của họ. Theo họ, Nguyễn Ánh là người “thông duệ túc
thành”. Ông rất trung thành với Duệ Tông, không bỏ vua khi nguy hiểm.
Với bầy tôi, ông biết chia ngọt xẻ bùi trong ngày nằm gai nếm mật.
Trong đời sống công cũng như tư, ta thấy ông lúc mềm mỏng, lúc cương
quyết, ứng phó khá lẹ làng với tình thế. Ông tổng hợp được nơi mình vai
trò của một chính trị gia, một võ tướng. Chúng ta có thể thấy vai trò
ông đóng phải khó khăn tới chừng nào khi nghĩ rằng trong thời kỳ cầm
quyền, dưới tay ông lố nhố một đám quan binh phức tạp vì tình thế (hôm
qua cướp, nay quan, sớm đầu tối đánh) và lại phức tạp vì cấu tạo nữa
(quân Việt xen lẫn quân Miên, Chàm, Mã Lai, Tây phương, Trung Hoa).
“Người
ta tả ông gan dạ, không thô kệch, dồi dào biến trá trong mọi tình thế.
Ý tưởng đúng đắn; không khi nào khó khăn ngăn chặn được ông và chướng
ngại không làm cho ông lùi bước... Cử chỉ của ông đối với người ngoại
quốc thật dễ thương và hoà nhã. Các sĩ quan dưới quyền ông rất kính
phục ông. Ông đối xử với họ rất nhã nhặn, thân mật và tốt..”3. Sử quan còn cho ta biết ông bắn được súng điểu thương, bơi lội giỏi.
Những
hình ảnh ấy tuy có lúc được vẽ vời cho có vẻ “chơn mạng đế vương” nhưng
không hẳn quá xa sự thật. Cũng nhìn xét nhân vật quan trọng này để đồng
thời tán tụng một bề trên của mình, L.M Lelabousse viết trong bức thư
đề ngày 14-4-1800:
“Ông hoàng này có lẽ là con người nóng nảy,
đoản tính nhất trong xứ, nhưng... những lời rầy la của Giám mục d’Adran
đã làm đằm tính bồng bột đó”. Ông cương quyết nhưng không hung tàn, ông
hay nghiêm trị nhưng theo lệ luật.
“Ông có đủ đức của tâm hồn
cũng như của trí tuệ. Ông có tính biết ơn, bao dung và tế nhị về điểm
danh dự. Lớn lên trong tai ương, ông chịu đựng được nghịch cảnh một
cách can đảm, xứng đáng với nhà thông thái đã huấn luyện cho.
“Lúc
trẻ ông ưa rượu, nhưng từ khi phải cầm đầu công việc, ông đã bỏ đi đến
bây giờ không nếm lấy một giọt... Vì vậy, ông mới ra những lệnh rất
nghiêm khắc chống với những ai say sưa...4
“Các
đức tính trí tuệ không nhường những đức tính tâm hồn. Hăng hái, thông
tuệ, thẳng thắn, ông hiểu ngay từ lúc đầu những việc phức tạp nhất. Ông
nhớ mọi chuyện rất tài và ông bắt chước rất dễ dàng...
“Ông rất cần mẫn. Ban đêm, ông đọc nhiều. Ông rất tò mò tìm hiểu5
“Đó
là vị Hoàng đế vĩ đại nhất từ xưa đến nay cửa xứ Cochinchine. Giám mục
d’Adran và ông hoàng này là hai con người vĩ đại mà những vẻ tráng lệ
của xở này sẽ còn giữ lại hình ảnh oai hùng. Thế kỷ của họ sẽ lưu
danh...”6
Ảnh
hưởng của Bá-đa-lộc ở Nguyễn Ánh không phải là không quan trọng, nhưng
không phải chỉ như thế. Giáo dục mà ông hoàng này hấp thụ là một thứ
giáo dục Khổng môn được khuôn nắn trong thực tế. “Lớn lên trong tai
ương…”, Lelabousse nói có lý. Gia Long là một Nguyễn Ánh được tập thành
trong biến cố. Tuổi trẻ, gặp gia biến quá sớm, trước một kẻ thù gần như
là vô địch, bị rượt đuổi tận hang cùng ngõ hẻm, ông mang nhiều mặc cảm
yếu ớt, hay than thở và bị bắt buộc mong đợi, trông cậy ở người nhiều.
Nhưng tình thế giúp ông tự chủ dần dần. Việc khu trừ Đỗ Thanh Nhân là
một ví dụ điển hình.
Nguyễn Ánh vừa yên vị ở Gia Định thì
tháng hai năm Mậu Tuất (1778), quân Tây Sơn lại kéo vào. Quy Nhơn mắc
bận rộn việc xưng đế của Nguyễn Nhạc nên phái vào Tổng đốc Chu, Tư khấu
Uy và Hộ giá Phạm Ngạn. Tây Sơn chiếm đánh các vùng Trấn Biên, Phiên
Trấn và ven biển. Cựu tướng Hoà Nghĩa đạo Trần Phượng thua trận ở sông
Phước Lộc. Tháng ba năm đó, để Đỗ Thanh Nhân trấn giữ Sài Gòn, Nguyễn
Ánh bỏ đi Bến Lức7
Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Hoằng chận đánh được Tây Sơn ở Bến Lức khiến
họ phải rút ra ngoài sông lớn. Mở cuộc phản công, Đỗ Thanh Nhân chận
được Tư khấu Uy ở sông Bến Nghé8
trong lúc Nguyễn Văn Hoằng tiến đánh Đồng Nai (Biên Hoà) giết Liêm.
Lăng thâu Trấn Biên. Thuỷ quân bị Lê Văn Duyệt phá, Phạm Ngạn theo
đường bộ về Bình Thuận gặp cản trở của Châu Văn Tiếp và Lê Văn Quân
phải thối lui về Quy Nhơn9.
Việc
Đỗ Thanh Nhân ở lại chống giữ cho thành chứng tỏ lần nữa vai trò quan
trọng của ông trong chiến tranh. Địa vị ông sẽ càng vững chắc khi Gia
Định thấy yên ổn, thoát khỏi những chuyến nhiễu lược thường xuyên của
Tây Sơn.
Trong các năm 1778, 1979, 1980, Gia Định lo củng cố
thực lực của mình: Nguyễn Ánh lo tổ chức hành chánh, chia doanh trấn,
đặt người coi giữ, tạo chiến thuyền, trữ lượng phòng bị chiến tranh.
Sức mạnh Gia Định cũng cần phải được chứng minh với phiên thuộc, nhất
là với Chân Lạp đang thừa thế rối ren để tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng
của Đại Việt.
Từ tháng 6 âm lịch (1779), ở Chân Lạp, Nặc Vinh
đã giết Nặc Thâm và bức tử Nặc Tôn để chiếm chính quyền. Đỗ Thanh Nhân
đem quân đánh dẹp, lập Nặc Ấn là con Nặc Tôn lên làm vua, lưu Hồ Văn
Lân ở lại bảo hộ rồi rút quân về.10
Ngay chính trên đất Gia Định cũng không yên vì thiểu số người Miên ở vùng Trà Vinh dưới quyền của tù trưởng Ốc Nha11.
Họ chiếm cứ một vùng mà sử quan phải tả là “rừng sâu, đầm lớn, cỏ dầy,
tăm tối”. Đỗ Thanh Nhân lúc bấy giờ giữ chức Ngoại hữu Phụ chính Thượng
tướng quân, nhân dịp tức vị của Nguyễn Ánh (đầu Xuân 1780) bèn cất quân
phá rừng, mở đường tiến đánh. Dương Văn Trừng lấy móc sắt câu các
thuyền lại với nhau, dựng bè chuối trên thuyền để ngăn tên giặc và theo
nước thuỷ triều, quan binh đã tiến lên phá được sức kháng cự của địch
quân.
Chiến thắng Trà Vinh xong, Đỗ Thanh Nhân trở về sửa soạn
chiến thuyền, huấn luyện thuỷ binh cùng bộ binh. Ông tiếp tục học hỏi
về khoa học, kỹ thuật Tây phương với Bá-đa-lộc.
Việc tổ chức ở
Gia Định chắc có Bá-đa-lộc nhúng tay vào một ít. Ông này đã có mặt ở
đây từ 1775 mà mối liên lạc mật thiết với Nguyễn Ánh được các nhà
truyền giáo rõ từ năm 1777. Tuy nhiên, người quan trọng vẫn là Đỗ Thanh
Nhân.
Kiêu căng trong quyền tước, ỷ thị nơi lực lượng Đông Sơn
trong việc giữ gìn quyền vua, Đỗ Thanh Nhân trở thành chuyên chế. Ông
mộ thêm vây cánh riêng cho ông. Bản tính hung bạo, ông làm cho cả xứ
phải sợ hãi, thù ghét. Quân Đông Sơn cũng có những hành động tàn ác như
Trung đao quân của Lý Tài thuở trước: họ dùng hình phạt rất thảm khốc,
thiêu sống người, giết cả đàn bà có mang. Có tham vọng không cùng, Đỗ
Thanh Nhân còn muốn chiếm lấy chánh quyền. Ông cắt xén các khoản chi
phí trong cung. Nguyễn Ánh tới phủ riêng ông không thèm giữ lễ. Ông cho
tay chân nắm các chức vụ, và để cho những ai thân hậu được mang họ của
ông như một vị chúa tể vương tước.
Nhưng một võ tướng thô bạo như Đỗ Thanh Nhân tự dẫn mình đến chỗ chết mà không hay biết.
Một
người chín chắn, có ý thức về địa vị của mình, có nhiều phụ tá mưu lược
như Nguyễn Ánh, tất không thể nào chịu ép một bề. Vào gần nửa đêm một
ngày nào đó, ông đi tìm Bá-đa-lộc để hỏi ý kiến. Ông này phân vân giữa
Đỗ Thanh Nhân và Nguyễn Ánh, cả hai người ông đều có ý giữ liên lạc để
lợi dụng truyền đạo, nên trả lời thối thác một cách khôn ngoan. Ánh
khóc về, vẫn không bỏ ý định giành lại quyền binh.
Tống Phúc
Thiêm thấy được ý Ánh, tâu xin trừ “giặc bên cạnh vua”. Ánh suy nghĩ
rất lâu và hai người bàn bạc kỹ lưỡng. Cuối cùng mưu kế được đặt ra.
Nguyễn Ánh giả bệnh ở mãi trong cung, các quan văn võ phải vào vấn an.
Nhưng trong mấy ngày đầu, Đỗ Thanh Nhân không tới. Đến cuối ngày thứ
ba, ông tới với một số đông vệ sĩ như thường lệ. Để quân hầu ở ngoài,
Nhân tiến vào trong gặp mẹ, vợ Nguyễn Ánh trong phòng bệnh, cả hai
không hay biết gì hết. Nhân chưa kịp nói một lời thì một nhóm vệ sĩ ở
phòng bên cạnh tiến ra, giết chết ngay.
Nhưng mối lo sợ của
Nguyễn Ánh khi nghĩ tới hậu quả vụ trừ Đỗ Thanh Nhân đã xảy ra. “Tôi
ngại có rối loạn lớn”. Quả vậy, quân Đông Sơn mất chủ tướng bị phân ra
làm 4 đạo. Một số quân trung thành với chủ cũ chạy về Ba Giồng, căn cứ
cũ, làm phản dưới quyền của Đỗ Bảng, Võ Nhàn - anh của Phò mã Chưởng
hậu quân Võ Tánh sau này. _______________________________________ 1. Sa Đích của Thực lục. 2. Thực lục, q1, 3b và Liệt truyện q27, 23b, q30, 9b. 3. Trích lại của G. Taboulet, La geste française, t. 270. 4. Thực lục q6, 19a. Chế độ khắc khổ: q4, 9b, 15a, q8, 28b. 5.
Lòng ham thích học hỏi được truyền đến cho con. Xem lời dặn Hoàng tử
Cảnh lúc cho ra trấn Diên Khánh (Thục lục q6, 35b). Ý kiến của Dayot:
“(Nguyễn Ánh) chú ý thích thú với tất cả những gì thuộc về khoa học
phát minh” (G. Taboulet, La geste française, sđd, t. 250). 6. G. Taboulet, La geste française. sđd. t. 268. 7. Lật Giang 栗 汀 của sử quan. 8.
Trịnh Hoài Đức chỉ rõ sông Bến Nghé là sông Bình Giang, vàm Bến Nghé ở
chỗ rạch Bến Nghé đổ ra sông Sài Gòn (Aubaret. t. 137, 184). Có lẽ là
khúc sông Sài Gòn (Tân Bình giang) ở khoảng Bến Tàu bây giờ. 9. Thực lục. q1, 4b. 5ab. 10. Thực lục. q1, 7b. Liệt truyện q21, 23b. 11. Chức quan Chân Lạp. Các loạn tướng không được may mắn như mấy lần chống đối trước. Trong
tháng 5 nhuận, Nguyễn Đình Toàn, Tống Phúc Lương được lệnh đánh họ ở
sông Lương Phú. Tống Phúc Lương vụng về làm bại binh. Lương bị biếm,
Cai cơ Nguyễn Văn Quý, Phan Văn Tuyên thay. Đỗ Bảng, Võ Nhàn đều bị trừ1.
Như
vậy, Nguyễn Ánh cũng đã trải qua một cơn thử thách. Lần này, kẻ địch
không phải từ ngoài vào mà là nằm trong tâm phúc. Thử thách đó làm vững
chắc thêm kinh nghiệm cầm quyền của ông. Vụ này đã gây nên sóng gió
trong chính quyền Gia Định. Cuộc bạo loạn của các phản tướng Đông Sơn
là một trong những nguyên nhân làm ngưng cuộc tiến quân ra Phú Yên hồi
giữa năm 1781.
Sử quan nhà Nguyễn vẫn cho là vụ này làm đầu mối
cho việc Tây Sơn lại tấn công vào Nam: được tin Đỗ Thanh Nhân bị giết,
Nguyễn Nhạc mừng rỡ “Hữu Phương chết rồi, các tướng khác không đáng lo”
rồi chuẩn bị nam chinh2. Sự thực không giản dị như vậy. Đỗ Thanh Nhân cũng như Châu Văn Tiếp năm sau, không đủ là một cản trở nguy hiểm cho Tây Sơn.
Chúng
ta lưu ý rằng từ 1775, lúc tiến lúc lui, quân Nguyễn vẫn giữ các vùng
Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận trong khi Tây Sơn chuyên chú vào việc
tấn công Gia Định tới ba lần rồi. Tại sao vậy? Không phải tại có Châu
Văn Tiếp cản trở ở vùng ngoài như người ta vẫn tưởng. Chuyến nam chinh
1777, Tây Sơn kéo vào bằng cả đường bộ mà không gặp cản trở quan trọng.
Tổng đốc Chu, Hộ giá Phạm Ngạn những lần rút lui tuy bị chận đánh nhưng
vẫn về được Quy Nhơn. Có thể coi bọn Châu Văn Tiếp như các đội tiền đồn
lẻ tẻ, lẩn tránh trên vùng núi rừng trong khi đại bản doanh đóng ở Gia
Định với họ Nguyễn cầm đầu. Đánh vào nơi phải đánh, đó là lý do Tây Sơn
“nhập khấu” Gia Định.
Tây Sơn còn biết Gia Định ở một điểm
nữa: đó là sự sung túc ở miền này. Họ hẳn không quên việc họ cướp
thuyền lương của Mạc Thiên Tứ viện trợ cho Duệ Tông vào năm 1774, việc
Nguyễn Lữ chở lúa thóc kho Gia Định về Quy Nhơn. Ngoài ra, họ còn cướp
tiền bạc của các phú thương Hoa kiều ở cù lao Đại Phố nữa. Có thể nói
tiền của, thóc lúa đó đã nuôi nấng quân Tây Sơn chật vật đánh giặc.
Tình
trạng nghèo cực ở vùng Tây Sơn không phải là một điểm lạ. Họ nổi dậy
thừa hưởng một xứ cùng khổ sẵn, càng cùng khổ hơn vì tàn phá của chiến
tranh, làm ruộng đất bỏ hoang, công nghệ lụn bại, khiến họ khó khăn khi
muốn phát triển quyền lực quá giới hạn địa phương quê hương họ.
Chiếm
thêm Quảng Nam, họ chỉ thêm được một xứ tan nát của Nguyễn, Trịnh để
lại. Họ phải mua những vật dụng cần thiết nhất của các thuyền buôn
Trung Hoa nhập cảng với giá cắt cổ. Tiền bạc do đó hụt lần và họ phải
phá nhà thờ, nhất là chùa để lấy chuông tượng đúc tiền.
Nguyễn
Nhạc cũng ước lượng được tài nguyên trong xứ rất dồi dào: tiêu, đậu
khấu, quế, gỗ mun, ngà voi, thiếc... mà dân chúng không biết lợi dụng
vì họ “ngu dốt”. Nhưng ông cũng biết rằng các nước khác coi các thứ này
là quý giá và chúng có thể đem lại lợi tức cho quốc gia ông. Cho nên,
gặp Chapman, ông vội vã mời buôn bán, đưa ra một thuế biểu: 10.000 quan
cho một chiếc tàu 3 cột buồm, 7.000 quan cho tàu 2 cột buồm, 4.000 quan
cho những chiếc nhỏ hơn. Bị chê mắc, ông hạ xuống còn 7.000 quan, 4.000
quan và 2.000 quan. Rồi mời mọc Chapman về nhà riêng, ông lại ném ra
một ý kiến tỏ ra hàng đầu: tha thuế. Cuộc thương thuyết thật tức cười
nhưng cũng cho ta thấy được tình cảnh đáng thương của Tây Sơn trong
việc thực hiện mơ ước lớn lao với các phương tiện eo hẹp.
Thực
vậy, chính quyền Quảng Nam cho Chapman một giấy phép buôn bán, bắt mọi
người ai mua đồ của ông phải trả đủ, không được ức hiếp, ngược đãi ông
cũng như khách hàng của ông. Nếu không tuân, họ sẽ phải chịu những hình
phạt nặng nề. Nhưng điều đáng nguy cho cả Tây Sơn là Chapman không tìm
được một người nào trong tỉnh để thảo luận việc bán buôn. Ta hiểu tại
sao có điều đó: chỉ có người Trung Hoa mới làm nghề buôn bán to lớn,
thế mà Faifo vừa bị tàn phá đến tận gốc thì ai đâu mà giao dịch với ông3.
Tóm
lại chiến tranh không phải là không hao tốn cho Tây Sơn. Sau này,
Nguyễn Ánh có lần kéo quân ra cũng vì lương vận tải không kịp mà phải
rút về. Cho nên, những chuyến đánh vào rồi lại quay ra của Tây Sơn phải
được giải thích bằng sự giới hạn của lương tiền cung cấp chiến tranh.
Giới hạn này lại chuyển qua hình thức khác, giới hạn quy định của gió
mùa. Đánh vào khi còn mùa gió bấc, rút về khi nổi gió nam, Tây Sơn phải
liệu định thời gian hành quân thu đến mực tối thiểu: chiến thuật yểm
kích, đánh mạnh rút nhanh mà người ta vẫn khen Nguyễn Huệ, có một phần
nguyên cớ từ các giới hạn này.
Chật vật như vậy nên khi anh em
họ xưng Đế ở Hoàng đế thành (Chà Bàn), khinh địch đưa vào Nam toán quân
yếu kém của Tổng đốc Chu, họ đã để mất một cơ hội diệt Nguyễn Ánh. Phải
chờ tới năm sau khi Nguyễn Ánh đã thu nhận những yếu tố mới (tiết 5) để
cải thiện binh lực4.
Tây Sơn sợ tàu Hoà Lan trở nên e dè. Đỗ Thanh Nhân chết rồi, Nguyễn Ánh
còn tổ chức được một cuộc tiến quân ra Phú Yên. Tây Sơn hẳn không dám
vội xét đoán hậu quả cái chết của Nhân sẽ có lợi cho họ. Thực ra, chỉ
có lúc tin Hữu Phương chết hợp với điều chứng kiến tận mắt về khả năng
của đội quân Tôn Thất Dụ tiến ra, họ mới vững lòng ồ ạt phản công,
“nhập khấu” Gia Định lần nữa để ghi trận Ngã Bảy vào sổ quân công của
họ như ta sẽ thấy. _______________________________________ 1. Tổng hợp Thực lục q1, 11b, 12a, 13b; Liệt truyện
q12, 3a chuyện Nguyễn Đình Toàn, q13, 2ab, chuyện Tống Phúc Thiêm, q27,
2ab, 25a, chuyện Đỗ Thanh Nhân; A. Launay, III, t. 312, 313, tài liệu
của Thư viện Hội Truyền giáo. Quận lỵ Bến Tranh cũ còn có tên là Lương Phú, vậy Lương Phú Giang là sông Bến Tranh. Truyện Đỗ Thanh Nhân nói rõ ông này chết vào khoảng tháng 3 âl 1781, Liệt truyện
q30, 10a cho vào năm Nhâm Dần (1782). Suy xét mối liên quan với cuộc
tấn công Phú Yên, vụ các tàu Bồ (tiết 5) chạy trốn được xác định rõ
tháng 7-1781, ta thấy việc xảy ra quả vào năm Tân Sửu (1781). 2. Liệt truyện q30, 10a. 3. Chapman, bđd, t. 30-32, 36, 37. 4.
Chapman lên thành Chà Bàn vào khoảng giữa tháng 7-1778, được Nguyễn
Nhạc tiếp, ông lưu ý đến một chiếc ghế trống bên cạnh Nhạc “dành cho
người em khác đang ở Đồng Nai”. Ai đây? Như trước đã thấy, chuyến vào
tháng 2 Mậu Tuất (1778) không có người nào trong 3 anh em Tây Sơn theo
chỉ huy. Trận chiến kết thúc vào khoảng tháng 3 âl. Như vậy không thể
nói rằng người em vắng mặt kia ở Đồng Nai được. Phải nghĩ rằng Tây Sơn
lúc này đang chuẩn bị đánh báo thù từ khi họ biết tin thua. Người đi
sửa soạn đó tất là Nguyễn Huệ, chắc lúc bấy giờ ở Phú Yên (ở cửa Thi
Nại thì Chapman đã biết) và vì thế mới có tin đồn ông “ở Đồng Nai” và
Chapman mới thấy thuỷ sư Tây Sơn chỉ có vài chiếc galère và ít thuyền
cướp được của người Trung Hoa thôi. ________________________________________________________Tiết 5
KỸ THUẬT TÂY PHƯƠNG RỤT RÈ BƯỚC VÀO CHIẾN TRANH NAM HÀ
Mới mẻ trong quân lực Nguyễn Ánh * Trận Ngã Bảy * Vụ cầu Tham Lương và hậu quả * Châu Văn Tiếp và Nguyễn Huệ.
Khi
các đối phương mở cuộc chiến tranh thanh toán nhau thì họ thử dùng tất
cả phương tiện để đạt tới mục đích. Trong cuộc tranh chấp Tây Sơn -
Nguyễn ở buổi đầu này, lòng can đảm, gan dạ của chiến sĩ Tây Sơn bị
ngăn cản rất nhiều vì hậu thuẫn kinh tế giới hạn, vì thiếu phương tiện
nối liền với một chiến trường xa nơi xuất phát. Cho nên thấy được kỹ
thuật cao độ của Tây phương Nguyễn Nhạc mới đề nghị với họ xin người
luyện tập sĩ tốt, mướn tàu chở binh lính, mở giao thương. Nhưng ông đã
thất bại như ta đã thấy và sẽ thấy vì xứ sở ông, do ảnh hưởng của chiến
tranh, thiếu mất đám người trung gian quan trọng: thương nhân Trung
Hoa.
May mắn hơn Tây Sơn, Nguyễn Ánh ở Gia Định có những điều
kiện để lôi kéo thương nhân Trung Hoa, lại thêm các giáo sĩ Tây phương,
một trung gian quan trọng khác nữa. Trong khi phân trần về hành động đã
can dự vào chính trị Đại Việt, Giám mục d’Adran chứng minh cho ta thấy
xác nhận trên trong bức thư đề ngày 26-7-1779: “Hai chiếc tàu từ Macao
đến Bassac trong năm nay để buôn bán... Một người Trung Hoa đưa ý kiến
với ông lớn của xứ Cochinchine cho ông ta biết rằng tàu chứa đầy đại
bác, diêm tiêu, lưu hoàng và các thứ khí giới, đạn dược khác. Ông quan
mà tôi rất quen đó đương hết sức cần các thứ hàng hoá này, vội vã bắt
tôi viết thư cho các quan coi tàu yêu cầu họ bán cho ông hết hay một
phần. Hay nếu có thể, họ đem tàu giúp xứ Cochinchine: đổi lại, họ được
hưởng quyền ghé bến và những quyền lợi khác nữa”1.
Tuy
các vị chủ tàu có phàn nàn về thái độ tham dự của Bá-đa-lộc, cách giao
thiệp này cũng đưa tới kết quả là vào khoảng tháng hè 1781 trong cuộc
duyệt binh tháng 5 Tân Sửu với không dưới 3 vạn quân, 80 thuyền đi
biển, 3 đại chiến thuyền, sử quan ghi rõ có hai chiếc tàu Tây (Tây
dương thuyền). Thực ra, Bá-đa-lộc và các L.M giòng Franciscain ghi nhận
tới 3 chiếc tàu Bồ Đào Nha chở đầy binh lính, khí giới súng đạn và
lương thực. Chính Bá-đa-lộc, “bằng cách nói chuyện chơi” cũng đã du
nhập kiến thức, kỹ thuật mới vào Gia Định khi ông dạy Đỗ Thanh Nhân lối
dùng lựu đạn, làm giúp một thước đo góc đạc điền, một rapporteur, một
ống loa, một dụng cụ thiên văn và những dụng cụ toán học khác... Hơn
nữa, ông còn cho người giúp việc của ông, Mãn-noài, Emmanuel..., một
tay lính thuỷ breton, sang phụ tá Nguyễn Ánh, điều khiển một chiếc tàu
Bồ.
Có được lực lượng như vậy, Nguyễn Ánh tuy vừa mới xử xong
Đỗ Thanh Nhân, vẫn tưởng rằng có thể tấn công ngay Tây Sơn. Sau kỳ
duyệt binh, ông sai Tôn Thất Dụ làm Tiết chế bộ binh Bình Thuận cùng
Tống Phúc Thiêm, Nguyễn Hữu Thuỵ, Dương Văn Trừng ra Hòn Khói2
hợp với Châu Văn Tiếp tiến đánh. Hai chiếc tàu Bồ nhân dịp này giương
buồm chạy thẳng. Chiếc thứ ba dưới quyền Mãn-noài không trốn được. Tuy
chỉ có một mình, nó cũng làm cho binh Tây Sơn nghe đồn bọn “Olane” giúp
vua, bây giờ thấy chiếc tàu do tay “Ông Cả” tạo ra, “chạy không cần
nước”, đâm ra sợ hãi bỏ trốn khỏi Bình Thuận, Bình Khang, Phú Yên3.
Nhưng cuộc tiến quân không đạt kết quả vì bộ binh Tây Sơn với nhiều voi
thiện chiến đã đánh đuổi quân Nguyễn Ánh làm Châu Văn Tiếp phải chạy về
Chà Rang. Gặp lúc dư đảng Đông Sơn nổi dậy, quân Nguyễn rút về Gia
Định.
Tốn thực nhiều để trang bị tàu Bồ mà không được ích lợi
gì, triều đình Gia Định lấy làm tức giận. Nếu phải e ngại phản ứng
ngoại quốc thì Mãn-noài có đó để ra tay trả thù ngay, luôn tiện thanh
toán mối hiềm Pháp, Tây Ban Nha trên bình diện đạo cũng như đời ở xứ
này. Mãn-noài đã phục cho viên chủ tàu Antonio Rodiguez say trong một
tiệc rượu, rồi giết chết cùng với 27 lính Bồ khác và L.M Antonio làm
Tuyên uý dưới tàu, chỉ để thoát có 8, 9 kẻ bơi trốn vào bờ (tháng
9-1781).
Tất cả những việc xảy ra làm suy kém binh lực Nguyễn
Ánh, tuy nhiên họ cũng còn mạnh hơn đạo thuỷ binh Tây Sơn kéo vào đầu
tháng 4-1782, như nhận xét của Pigneau. Sử quan Nguyễn ghi đạo quân
Nhạc, Huệ vào cửa Cần Giờ tháng ba Nhâm Dần có độ vài trăm thuyền. Tống
Phúc Thiêm lãnh thuỷ binh từ khi Đỗ Thanh Nhân chết đi, được lệnh dẫn
binh ra sông Ngã Bảy đợi. L.M Ginestar ghi nhận quân Gia Định có hơn
400 thuyền chiến, 70 ghe Tàu (?) và chiếc tàu Bồ của Mãn-noài cướp.
Nguyễn
Ánh đứng ở đầu thuyền, chiến đấu rất hăng. Nhưng Tây Sơn thừa thế gió
lớn thổi thuận, xông thẳng lên, ào ạt tiến đánh. Tống Phúc Thiêm mang
phần lớn binh thuyền bỏ chạy, Nguyễn Ánh phải lui. Tây Sơn đuổi theo
nhưng bị Mãn-noài cản trở. Hai lần họ cố trèo lên tàu mà không được vì
Mãn-noài dùng lựu đạn ném họ tan tành. Lần đầu tiên chiến cụ Tây phương
chứng tỏ trực tiếp hiệu nghiệm của nó. Nhưng quân địch vẫn ào ạt xông
lên lần thứ ba. Lần này họ thành công. Mãn-noài một mình ở lại giữ
thuyền, châm lửa cho thuyền nổ, mình chết. TâySơn đã thắng trận nhờ gan
dạ nhưng phải mất rất nhiều mạng.4 Thực là một mối cám hận cho Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ.
Nguyễn Ánh bỏ chạy về Ba Giồng, có khi lẩn trốn trong khu rừng Romdoul của Chân Lạp.5
Tây Sơn đuổi theo vào cuối tháng tư dương lịch, bắt vua quan Chân Lạp
hàng phục và bắt tất cả những người Việt chạy loạn ở đấy phải về nước.
May mắn cho Nguyễn Ánh, một việc vừa xảy ra ở Phiên Trấn khiến Tây Sơn
bị ngăn trở phần nào trong việc săn đuổi.
Lúc bấy giờ Tiết chế
Bình Thuận Tôn Thất Dụ nghe Tây Sơn vào Gia Định vội xuất binh đem
Nguyễn Văn Đàm, Trần Văn Tự, tướng Hoà nghĩa Trần Công Chương đi vào
cứu giá. Tháng 1 âm lịch, viện binh đến Vườn Trầu6
gặp bộ binh Tây Sơn, họ bèn phục binh đánh. Tham tán Hồ Công Siêu bị
đạn chết. Về phía Tây Sơn, Hộ giá Phạm Ngạn bị Chương giết ở cầu Tham
Lương. Vừa lúc ấy đại binh Tây Sơn kéo đến, họ phải rút lui.
Cái chết của Phạm Ngạn gây ra một cuộc giết chóc Minh dân tàn bạo không từng thấy. Nhạc, Huệ đã mất khôn ngoan rồi sao?
Chúng
ta hãy lưu ý trước tiên đến cá nhân người bị giết. Tài liệu không nói
rõ gì hơn, nhưng ở chỗ khác ta thấy Nguyễn Huệ có một người vợ họ Phạm
đã sinh ra Quang Toàn. Trong xã hội cũ của chúng ta, mối liên lạc tông
tộc, địa phương là một bảo đảm cho sự vững bền của triều đình. Cho nên
họ Trịnh lựa quân Tam phủ cho làm Ưu binh, hưởng đặc quyền. Họ Nguyễn
trọng người Tống Sơn đến nỗi lấy phẩm từ “quý” thay thế cho cái tên
huyện riêng kia để gọi những người cùng xứ đã theo Nguyễn Hoàng vào Nam
là dân Quý Huyện, Quý Hương, cho hưởng rất nhiều ưu đãi đến như Tống
Phúc Phượng theo Tây Sơn tới thế cùng lực kiệt mới hàng vẫn được kể vào
hàng thần từ nhà Nguyễn. Tây Sơn vươn lên trong một xã hội rạn nứt mà
vẫn trong khuôn khổ cũ cũng không thoát khỏi thông lệ đó. Vụ Quang Toàn
phong tước cho anh em, vụ Bùi Đắc Tuyên sẽ là những chứng cớ mạnh mẽ. Ở
đây, Phạm Ngạn có bà con với Nguyễn Huệ không? Ta đã nói tài liệu im
lặng. Nhưng mối thâm tình với hai ông chúa Tây Sơn thì hẳn Phạm Ngạn đã
có. Chức Hộ giá với mấy lần Nam chinh mà không có Nhạc, người cần “hộ
giá”, chứng tỏ vai trò quan trọng, địa vị thân thuộc với Tây Sơn của
ông. Ông cầm quân có nghĩa như chính Nhạc cầm quân vậy.
Đằng
khác, nhìn vào hoạt động của kẻ mà Nhạc trút căm hận lên đầu, ta cũng
thấy nhiều điểm sáng tỏ. Từ những biến loạn 1776, 1777 tàn phá cù lao
Đại Phố ở Biên Hoà thì thương nhân Trung Hoa kéo về quây quần quanh
thành Gia Định. Lý Tài chết đi nhưng đám Hoà Nghĩa quân vẫn còn. Nguyễn
Ánh khôn ngoan đã thu dụng họ, tuy không đồng hoá được quân đội họ.
Ta
thấy trong trận 1779 có tên Hoà Nghĩa quân của Trần Phượng, trận Vườn
Trầu có Trần Công Chương, và năm sau nữa có Hoà Nghĩa đạo của Trần Đình
với các tướng Tổng binh Trần Hưng, Lâm Húc. Như vậy, người Trung Hoa,
buôn bán cũng như binh lính từ dân ngụ cư mà ra đều ở trong một thế hợp
tác chặt chẽ với Nguyễn Ánh. Thực lực Gia Định đã làm cho Tây Sơn phải
thắng mà hao quân ở Gia Định, làm cho họ bại mất viên Hộ giá thân tín ở
cầu Tham Lương, Nhạc và Huệ hẳn không thể không hiểu chính là vì đám
dân Trung Hoa ở đây. Ra lệnh tàn sát, Nhạc đã tuân theo sự xúi giục của
tình cảm, có sự góp sức của lý trí. Hờn oán làm cho lệnh càng ghê gớm.
L.M
Castuera có mặt ở Chợ Quán ghi nhận (thư ngày 7-7-1782có ) gần 4.000
người Trung Hoa bị giết. Sử quan nhà Nguyễn tăng số lên “hơn vạn”.
Trịnh Hoài Đức cũng vậy. André Tôn (thư ngày 1-7-1784) nói có từ 10.000
đến 12.000 người chết. Đáng lưu ý là con số trên vạn là nhận xét của
những người Việt quen ước lượng phóng đại. Tuy nhiên cảnh tượng diễn tả
thật là kinh khiếp và hẳn không xa sự thật bao nhiêu: “Người Trung Hoa,
bất luận binh lính hay dân buôn, mới đến hay ở lâu, đều bị bắt giết,
thây chất ngổn ngang vất đầy sông ngòi, đến nỗi nước ứ không chảy, cả
tháng hơn người ta không ai dám ăn tôm cá, uống nước sông”. Một không
khí khủng bố bao trùm khắp vùng: những ai có hàng Trung Hoa trong nhà
như vải lụa, trà thuốc, hương giấy... đều vất cả ra đường mà không
người dám lượm7. _____________________________________ 1.
A. Launay, III, t. 74, 75. Ông quan lớn này là Đỗ Thanh Nhân (xem
trước: vụ Đỗ Thanh Nhân). Chính chúng tôi nhấn mạnh chữ Trung Hoa.
Chúng ta cũng lưu ý đến ngày tháng bức thư để hiểu rõ những điều nói ở
tiết trước về sự e dè của Tây Sơn đối với thuỷ quân Gia Định. 2.
Yên Cương, Hòn Chông, nhà giòng Hòn Đất của Pigneau đều ở ngay trên đất
liền. Vì lẽ đó, trái với tin tưởng thông thường, “hòn” không phải để
chỉ riêng những đảo nhỏ mà còn để chỉ những gò đất nhô ra gần biển. Cho
nên, Hòn Khói thật là địa danh rất hợp để tìm ra vị trí Yên Cương của
sử quan. 3. Chi tiết kể ra trước và sau đây lấy ở thư Pigneau kể trước, thư của L.M Castuera gởi cho L.M Trưởng tỉnh (BEFEO, 1940, bđd, t. 88), thư Pigneau đề ngày 24-7-1782 (A. Launay, III, t. 71, 76). Thực lục, q1, 13ab có ghi “Thuỷ binh Tây Sơn không dám đánh” phù hợp với lời huênh hoang của Castuera. “Olane”: Hoà Lan; Ông Cả: Bá-đa-lộc. Những chi tiết do các nguồn sử liệu khác nhau so ra hết sức sít sao ở đây. 4. Thư Pigneau 24-7-1782, Langenois ở Sa Đéc, 14-11-1782, L.M Ginestar, 7-7-1782, Liệt truyện q30, 10b, Thực lục q1, 16ab. Về thời gian Tây Sơn vào, Thực lục,
Trịnh Hoài Đức có chỉ rõ tháng 3 âl. Thư Pigneau ở Pondichéry ghi:
“Mars 1782” gần việc xảy ra hơn, phù hợp với xác nhận của Langenois “au
commencement d’ Avril”. Không như ông Nguyễn Phương đoán “có lẽ vào hồi
tháng giêng Nhâm Dần” (Đại học, 10-1762, t. 773, chủ số 1). Cũng không
như ông bảo người mang binh thuyền bỏ trốn là Đỗ Nhàn Trập (bài dẫn
trên. t. 773). Thục lục q1, 12b nói: “Ánh sai Phúc Thiêm lãnh thuỷ
binh”, 16a “Ánh sai Phúc Thiêm dàn binh ở Thất Kỳ giang”. Vậy viên
Général commandant la flotte mà Ginestar nói đến chính là Tống Phúc
Thiêm. 5. Swayrieng bây giờ. 6. Hốc Môn, Gia Định. 7. BSEI, 1940, “La révolle ét la guerre des Tây Sơn”, bđd, t. 87; Thực lục q1, 17a; Liệt truyện q 30, 10b; A. Launay, III, t. 84. Thế là sau vụ Hội An, theo với sự đưa đẩy của chiến tranh, Tây Sơn càng
trở nên cô lập. Như đã thấy, thương nhân Hoa cung cấp vật dụng cho
người Việt, xuất cảng những sản vật trong nước, là một nhân tố quan
trọng cho sự phát triển kinh tế ở đây. Tuy Tây Sơn sẽ còn đủ khôn ngoan
để ve vãn các giáo sĩ, cố tìm cách lôi họ về phía mình với đạo luật tự
do hành giáo (tháng 12-1783), nhưng thương nhân Tây phương thấy gương ở
các bạn Đông Á của họ và của cả chính họ nữa, trở nên dè dặt, lo ngại:
một việc chiếc tàu của Chapman bị quân Trịnh ở Phú Xuân cướp bóc vào
giữa năm 1778 mà mãi đến giữa năm 1793 còn làm cho phái bộ Macartney lo
lắng khi phải ghé vào Tourane1 đủ chứng tỏ. Phải chờ đợi để người ta quên, nhưng thời gian lại không đứng về phía Tây Sơn.
Tuy
nhiên, bận rộn ở vùng Bến Nghé đã làm cho Tây Sơn phải xao lãng nơi
khác. Nguyễn Ánh lại trở về giồng Lữ, có thêm hai người Hoa phụ tá là
Thống binh Hạp và Kính. Đô đốc Tây Sơn, Nguyễn Học, đuổi theo bị Nguyễn
Kim Phẩm đánh giết thâu hơn 80 thuyền. Mừng rỡ tưởng có thể đánh thẳng
về Gia Định, Ánh sai Nguyễn Huỳnh Đức làm tiên phong, Tôn Thất Cốc làm
trung quân, Trần Xuân Đàm, Kim Phẩm hộ giá, tiến quân kéo về Ngã Tư.
Nhưng Nguyễn Huệ, không biết có biết đến Hàn Tín không, đã dàn binh
xoay lưng ra sông, đánh thật dữ. Nguyễn Ánh phải chạy về Bến Lức được
Lưu thủ Vinh Trấn doanh rước về Hậu Giang, qua Rạch Giá, Hà Tiên, theo
thuyền nhỏ trốn ra Phú Quốc.
Tưởng yên được Gia Định, Tây Sơn
rút về Quy Nhơn, lưu lại hàng tướng Đông Sơn Đỗ Nhàn Trập với Hộ bộ Bá
và 3.000 quân để coi sóc (tháng 5 âm lịch). Số quân và tên tướng thật
không đủ giữ. Cho nên, chỉ tháng sau đó là Hồ Văn Lân đã đánh đuổi Đô
đốc Nguyễn Loan, chiếm Long Hồ rồi cùng với Dương Văn Trừng, Nguyễn Văn
Quý đánh Bến Lức, thắng thêm một trận nhỏ. Nhưng đáng e ngại chính là
lực lượng Châu Văn Tiếp với cây cờ thêu “Lương Sơn tá quốc” bày tỏ ý
định trung thành với nhà Nguyễn. Quân Tiếp kéo vào với những viên thuộc
tướng sau này sẽ nổi danh như: Lê Văn Quân, Nguyễn Long. Hộ bộ Bá muốn
rút quân thì Đỗ Nhàn Trập ngăn lại quyết thử sức. Ông bị tiên phong
Phạm Văn Sĩ xông vào đánh trước rồi hậu đội Tiếp cũng công kích nên
phải đại bại. Nhàn Trập và Bá chạy về Quy Nhơn2.
Như
vậy, nhờ Châu Văn Tiếp, Nguyễn Ánh lại làm chủ Gia Định lần nữa. Ông
lại lo tổ chức binh bị. Có một số người từ Phú Xuân trốn vào đầu, nhưng
cũng không phải là kẻ có tài. Lực lượng của ông sau mấy lần tan rã đã
yếu ớt đến nỗi ông phải lo sai sứ thông hiếu với Xiêm để đề phòng Tây
Sơn “nhập khấu”.
Tuy nhiên, những tháng cuối năm, ông cũng lo
tổ chức phòng thủ. Trên bờ nam sông Sài Gòn (sông Tân Bình), Ánh lập
luỹ Vàm Cỏ (Thảo câu) cho Dương Văn Trừng giữ, phía bờ bắc lập luỹ Cá
Trê (Giác ngư) cho Tôn Thất Mân giữ. Có cầu tre nối hai bờ. Giữa sông
bày hơn 100 thuyền có Giám quân Tô giữ bè nứa đợi Tây Sơn đến dùng hoả
công đốt.
Nguyễn Ánh không phải chờ lâu vì chiến tranh vẫn
mang tính cách định kỳ của nó, quy định bởi những trận gió mùa. Lần này
là với Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ.
Từ đầu tháng 3-1783, Bá-đa-lộc
đã phải hội bàn với Nguyễn Ánh về việc tránh Tây Sơn. Người ta không
tính việc chạy qua Chân Lạp vì chiến tranh và đói kém đã tàn phá xứ
này. Phải tính chuyện chạy ra các hải đảo ở vịnh Xiêm. Bá-đa-lộc được
uỷ thác sửa soạn tàu bè, lương thực đề phòng phải đi.
Ngày
19-3 có tin Tây Sơn đến. Cũng bằng cửa Cần Giờ. Tới nơi, Tây Sơn chia
binh làm hai đạo: Tư khấu Nguyễn Văn Kim đánh bắc ngạn và Đô đốc Lê Văn
Kế đánh nam ngạn. Lưu thủ Thăng và Tiên phong Tuý định dụ thuỷ quân Tây
Sơn mắc vào kế hoả công mà không tính đến việc nước triều đưa quân địch
lên theo với đà gió đông thổi ngược lại. Mồi lửa quay lại đốt thuyền
Chúa. Lê Văn Kế chặt đứt cầu nổi làm chết Tôn Thất Mân. Dương Văn Trừng
bị bắt. Châu Văn Tiếp may thoát được, chạy thẳng qua Xiêm cầu viện.
Nguyễn Ánh về Ba Giồng với 5, 6 người tướng và hơn 100 quân. Ở đó cũng
không yên, ông chạy thẳng ra Hà Tiên gặp Bá-đa-lộc rồi hai người trốn
qua Phú Quốc, ở hai nơi khác nhau3.
Nhưng
quân Nguyễn còn chưa chịu thua. Không biết sự việc tiến triển ra làm
sao, hai tháng sau, Nguyễn Ánh lại trở về ông tập trung quân đóng ở
Đồng Tuyên và phân phối nhiệm vụ cho các tướng sĩ: Nguyễn Kim Phẩm được
làm Tiền phong, Nguyễn Huỳnh Đức trông coi đám binh người Miên làm Hậu
ứng; Trung quân có Tôn Thất Dụ, Nguyễn Đình Toàn, Lại bộ Hồ Đồng, Binh
bộ Minh, Tham nghị Trần Đại Thể, Tham mưu Trần Đại Huề (con Thể);
Chưởng cơ Hoằng giữ Tả chi, Nguyễn Văn Quý Hữu chi. Nguyễn Huệ nghe tin
đem binh tới. Trận chiến xảy ra và Toàn, Quý, Minh, Huề bị giết, Huỳnh
Đức, Hồ Đồng bị bắt về làm tay chân Nguyễn Huệ. Mất hết thuyền, đạo
quân trốn chạy trong một xứ đầy sông rạch này phải đem thân làm mồi cho
cá. Nguyễn Ánh bắt đầu từ nay một cuộc đời lưu vong thật sự. __________________________________________ 1. Van Imbert. Le séjour en Indochine de l’ambassade de Lord Macartney (1793). Hanoi, 1942. 2. Thực lục. q1, 18ab, 19ab, 20a. 3. Thực lục
q2, 1ab chỉ nói đến việc Ánh thua, chạy về Ba Giồng trong tháng hai âl
rồi tiếp đến tháng 4 âl với trận Đồng Tuyên như là Ánh vẫn còn lẩn quẩn
trong vùng này. Thực ra, hãy nghe Bá-đa-lộc nói (thư 20-3-1785): “Ngày
thánh Joseph... chúng tôi nhận được tin giặc tới... ngày sau... chúng
tôi ra biển bằng cửa Bassac và ngày thứ hai tới một giáo khu có 400 dân
Cochinchinois... Vua đã chạy trốn ra đây với độ 90 thuyền. Chúng tôi
phải đi tìm một chỗ khác, chắc chắn và xa hơn. Chúng tôi dừng lại ở một
hòn đảo lớn để làm lễ Phục sinh... Người ta đem tin cho chúng tôi biết
là vua ở cách chúng tôi một ngày đường, và giặc vẫn theo” (A. Launay,
III, t. 87, 88). Thư khác (Bangkok, 6-12-1783) bổ túc cho ta biết giáo
khu ông gặp Nguyễn Ánh vào ngày 21-3 là “ở gần Cancao” và nơi Nguyễn
Ánh trốn vào khoảng lễ Phục sinh tuy ở cách Bá-đa-lộc tới “1 ngày 1/2
đường” nhưng “ở cùng một hòn đảo” (A. Launay, III, t. 77-79). Hòn đảo
lớn đó chắc không thể nào khác hơn là hòn Phú Quốc. Sử quan
nhà Nguyễn lặng im ở chỗ Nguyễn Ánh chạy ra Phú Quốc vài ngày sau trận
Bến Nghé có dụng ý gì? Họ quên, hay tránh nói đến việc chạy trốn của
Chúa họ chừng nào hay chừng nấy, hay vì trong khoảng thời gian này có
việc nhờ cậy các Linh mục Franciscain đi xin cứu viện ở Manille mà các
sử quan thì làm sách trong thời kỳ sát tả nên tránh nói đến “công ơn”
của các giáo sĩ được chừng nào hay chừng nấy? ____________________________________________________________Tiết 6
CHIẾN THẮNG TÂY SƠN TRƯỚC VIỆN BINH XIÊM LA
Tây Sơn săn đuổi * Giao thiệp Gia Định và Xiêm La * Viện binh Xiêm và chiến bại * Ảnh hưởng. Sau
trận Đồng Tuyên, Nguyễn Ánh lại thêm một lần khốn đốn. Trong lúc quân
lính chết đuối thì nhờ biết bơi, ông đã thoát nạn. Có những may mắn đưa
đến cho ông Chúa này để sử quan nhà Nguyễn lại có dịp tán tụng phước
mạng đế vương. Qua Rạch Chanh, ông nhờ đến một con trâu nằm trên bờ;
giữa dòng nước triều chiều chảy xiết chìm trâu thì may sao một con cá
sấu (?) lại đưa giúp ông qua bờ bên kia1.
Tây Sơn đã có mặt tại Hậu Giang chận mất con đường chạy trốn quen
thuộc, ông phải chạy xuống trú ở Mỹ Tho, rồi từ đó đưa gia quyến đi Phú
Quốc.
Bị săn đuổi, binh tướng trở lòng. Đó là đám người từ lâu
vẫn khó đồng hoá: quân Hoà Nghĩa đạo. Nguyên để có người điều khiển đám
tân binh, Ánh sai Tôn Thất Cốc trông coi rồi sai tướng Hoà Nghĩa Trần
Đình về cửa Cần Giờ để do thám. Công việc thật khó khăn mà tướng sai
thì không đủ uy tín, Đình không thi hành. Ánh sai Cốc giết đi. Thuộc
tướng của Đình là Trần Hưng và Lâm Húc làm phản chiếm Hà Tiên. Rủi ro
cho Nguyễn Kim Phẩm và công chúa Ngọc Chú, người về Hà Tiên thu binh,
người mua gạo mắm, đều bị bọn này giết chết.
Tuy nhiên việc
quân đội Gia Định có mặt ở các đảo vịnh Xiêm gây nên khó khăn cho các
đám cướp biển ở vùng này. Vinh-ly-ma, một tướng Xiêm từ sau loạn
Phi-nhã Oan-sản (1781) tụ tập một đám người Mã Lai chiếm cứ đảo Cổ Long
trong vịnh Kompong Som, thấy lẽ khôn ngoan là đem thuộc binh ra thần
phục Nguyễn Ánh. Đội quân lưu vong lái thêm 100 chiến thuyền và 200
người nữa.
Thêm người tất thêm miệng ăn cho đám quân thiếu
thốn sẵn. Nguyễn Ánh phải dùng binh Vinh-ly-ma quen cướp giựt hai ba
lần vào Hà Tiên và quanh đó để kiếm khí giới, lương thực. Tin tức nơi
trú ẩn lộ ra ngoài.
Tháng 6 âm lịch, lúc Nguyễn Ánh đang ở mũi
Đá Chồng thì Tổng suất Tây Sơn là Phan Tấn Thuận kéo binh tới vừa thuỷ
vừa bộ. Cai cơ Lê Phước Điển phải đóng vai trò Lê Lai thuở trước, Ánh
mới chạy thoát về đảo Cổ Long.2 Tôn Thất Điển, Tôn Thất Cốc, Hoảng, Vinh-ly-ma đều bị bắt và bị giết.3
Tây Sơn vẫn không tha. Một tháng sau, phò mã Trương Văn Đa lại đem quân
đến Cổ Long vây ba vòng trùng trùng, điệp điệp, quyết không để Ánh
thoát lần nữa. Rủi ro cho Tây Sơn, một trận bão đánh đắm nhiều thuyền
để Ánh nhân đó thoát ra, chạy đi Cổ Cốt.
Tây Sơn rút đi, Ánh
lại mò về Phú Quốc. Tình cảnh đám quân bại thật thảm thương: thuyền Ánh
gãy nát cột buồm, quân lính hết lương phải bứt cỏ mà ăn rồi sống nhờ
một thuyền gạo của một người đàn bà Hà Tiên đem giúp. Để vợ con lại hải
đảo, Ánh táo bạo đem một chiếc thuyền vào cửa Ma Ly4
do thám tình hình. Độ 20 thuyền Tây Sơn thấy được đến vây, ông giương
buồm chạy thẳng ra biển, lênh đênh suốt 7 ngày đêm. Gặp được dòng nước
ngọt, thoát chết khát, ông quay trở về Phú Quốc.
Không ở yên được một chỗ, Ánh phải sai Cai cơ Nguyễn Văn Chính về Long Xuyên chiêu binh, tập mã. Thuyền đến cửa sông Ông Đốc5
thì bắt được tướng Tây Sơn là Quản Nguyệt, Ánh sai chém đầu thị chúng.
Oai vũ chưa thấy đâu mà chỉ làm động đến Tây Sơn. May mắn, đạo quân
tuần đêm bắt được viên Phó chiến Dạng trong đội phục binh ở cửa sông do
Lưu thủ Long Xuyên của Tây Sơn là Nguyễn Hoá điều động. Rõ được cơ mưu,
Ánh giục thuyền chạy mau cho thoát.
Lúc bấy giờ Lữ, Huệ đã về
Quy Nhơn, để lại Trương Văn Đa với Chưởng tiền Bảo. Nguyễn Ánh trôi dạt
Hòn Chông, rồi Thổ Châu, Cổ Long, Cổ Cốt... sống cuộc đời vật vờ phẫn
chí của viên chúa tể trong cơn bại vong. Ông phải thay phiên chèo
chống, chia sớt cùng khổ với bọn tòng thần cùng vài trăm binh trên độ
mươi lăm chiếc thuyền. Tướng sĩ có khi vài ngày không ăn, phải đào rễ
cây nhấm nhá cầm hơi.6
Vắng
Nguyễn Huệ, dư đảng Ánh ở đất liền tưởng có dịp nổi lên thành công. Hồ
Văn tân đánh ở Tân Châu, Tôn Thất Hội chiếm giồng Sao7,
đắp luỹ cự địch trong khi Lê Văn Quân lại giữ sông Tân Hoà. Quân Tây
Sơn tiến đánh giồng Sao rồi phá tan đồn Tân Hoà. Tháng giêng năm Nhâm
Thìn (1784), kiện tướng Ánh không còn ai ở Gia Định vì Hội, Quân đều bỏ
chạy sang Xiêm, chỗ trú cuối cùng.
Châu Văn Tiếp sau trận Cá
Trê đã theo đường thượng chạy một mạch qua Xiêm kêu xin viện binh. Tiếp
thực táo bạo trong lúc Ánh không dám liều lĩnh8.
Sở dĩ có sự dè dặt này vì bang giao Xiêm Việt lúc bấy giờ tuy có dấu
hiệu cải thiện nhưng chưa đủ cho Ánh thấy Xiêm tỏ ra quên những cừu thù
cũ.
Nam Vang và Hà Tiên là hai địa điểm đầu mối gây chiến. Ta
đã biết âm mưu mở rộng Hà Tiên qua phía Xiêm đã gây nên trận chiến
tranh giữa Mạc Thiên Tứ và Trịnh Quốc Anh9.
Khi Duệ Tông bị bắt, Tứ với Tôn Thất Xuân chạy trốn bị thuyền Xiêm bắt
về Vọng Các. Mùa xuân 1778, Ánh sai Cai cơ Lưu Phúc Trưng qua tìm Tứ.
Mùa hạ năm đó sứ bộ của Cai cơ Tham, Tịnh đi Xiêm thì gặp rủi ro: một
thuyền Xiêm đi buôn Quảng Đông về qua Hà Tiên bị Lưu thủ Thăng giết
cướp. Có người Chân Lạp lại nói dèm rằng Gia Định có mật thư cho Tứ,
Xuân làm nội ứng để chiếm Vọng Các. Muốn khỏi lo lắng, Trịnh Quốc Anh
cho giết Tứ, các con lớn Tử Diên, Tử Hoàng, Tử Thượng và Tôn Thất Xuân,
Tham, Tịnh, 50 người tuỳ tùng, chỉ chừa lại con nhỏ và cháu Tứ phải đi
đày thôi 10. Tình hình bang giao không mấy khả quan thì lại tiếp xảy ra việc tranh quyền bảo hộ Chân Lạp. ___________________________________________ 1.
Ta biết là những khúc sông có tên là Rạch Chanh bắt đầu từ Long Định
(Long An) đi vào Vàm Cỏ đông phía hạ lưu Bến Lức, qua Vàm Cỏ tây rồi ra
Tiền Giang bằng kinh Bà Bèo và rạch Ba Rài. Vậy thì Nguyễn Ánh đã thoát
nạn ở các khúc Rạch Chanh nào? Chứng tích hiện tại so với sử
sự thì hình như không hợp. Rạch Chanh khá nhỏ (trừ phi vào thế kỷ XVIII
nó có lớn hơn không) mà sử quan kể chuyện Ánh lội qua sông, leo lên
lưng trâu cỡi, nước triều buổi chiều dâng, trâu chìm, cá sấu đưa đi...
như trên một khúc sông lớn vậy. Địa điểm chính xác chắc là vịnh Đá Hàn
trên sông Vàm Cỏ tây gần chỗ một khúc Rạch Chanh nhập vào (xã Hướng Thọ
Phú, Long An). Đó là một vùng nước xoáy rất dữ (một khuỷu sông). tục
truyền Nguyễn Ánh đi qua đó không ghe thuyền, bỗng nhiên đá dưới sông
trồi lên, hàn lại (vi thế mới có tên là Đá Hàn. Người ta đồn ở khúc
sông này có bầy trâu nước, ai lấy được một sợi lông của nó mang theo
qua sông, thân mình không bao giờ bị chìm. Phảng phất trong truyện
tích, ta thấy có chuyện Nguyễn Ánh cỡi trâu qua sông. Vậy chắc khúc
sông này là chỗ Nguyễn Ánh thoát nạn. ) 2. Sử quan gọi là đảo Côn Lôn. Tìm ra địa điểm Cổ Long là công của Ch. Maybon (Histoire moderne du pays d’Annam,
t. 201, chú số 3). Tuy nhiên, tên Côn Lôn nói ở các quyển Thực lục về
sau không thể lẫn được vì đảo này, từ lúc Nguyễn Ánh chiếm hẳn Gia Định
đã đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp xúc với Tây phương mà Tây
phương thì biết rõ nó hơn Cổ Long. 3. Chi tiết vụ này lấy ở Thực lục q2, 3ab, Liệt truyện
q28, 9b, thư Langenois gởi cho Descourvières từ Sa Đéc 14-11-1783. Sử
quan gọi vị trí xảy ra cuộc vây hãm là “Điệp thạch dự”, hòn Đá Chồng.
Trịnh Hoài Đức (Aubaret, t. 52) kể chuyện Vinh-ly-ma, gọi là vũng Luỹ
Thạch ở Phú Quốc. Hai chữ “luỹ” và “điệp” có thể lẫn với nhau. Thực ra
chữ “dự” ở đây không chỉ một hòn đảo mà chỉ một mõm núi nhô ra sát
biển. Trận chiến hình như không phải chỉ xảy ra ngoài
biển, ở mũi Đá Chồng của đảo Phú Quốc mà còn có trên đất liền ở vùng Hà
Tiên nữa. Tài liệu Tây phương trên ghi: “...(Ánh) trong lúc chờ đợi
viện binh ở Xiêm đã hai ba lần lẻn vào Cancao và quanh đó với bọn Mã Lai Campot
để tìm lương thực, khí giới thì thuỷ quân Tây Sơn và đạo quân Lào,
Bassac bằng đường bộ đổ xô đến cướp của ông nhiều thuyền đi biển, bắt
các tướng, hầu hết đều phản bội. Một vài người bị giết, số còn lại đem
về Sài Gòn”. (A. Launay, III, t. 79, chú số 1). Chúng tôi nhấn mạnh các chữ Mã Lai Campot
vì đó là đầu mối tổng hợp các tài liệu. Sử quan vẫn gọi bọn cướp biển ở
vịnh Xiêm là giặc Chà-và (từ chữ Java). Khi Nguyễn Ánh ở Xiêm đánh
Pégou (Mã Lai) giúp Rama I, sử quan cũng gọi là đánh giặc Chà-và. Vậy
Chà-và ở đây là chỉ dân Malais, và bọn “Malais du Campot” nói trên là
tướng sĩ của Vinh-ly-ma. Thực lục ghi việc Xiêm tướng
Vinh-ly-ma về đầu rồi tiếp theo vụ Điệp Thạch Dự liền, khiến ta có thể
thấy ngay sự liên tục giữa hai sự kiện. Hơn nữa trong thời gian chờ đợi
viện binh Xiêm, chỉ có trận bại chiến này là lớn thôi, trận mà Pigneau
có nói tới: “... (khoảng 17, 18-7) vua đánh với bọn nổi loạn một trận
mất gần hết binh thuyền còn lại” (A. Launay, III. t. 88) rất đúng với
thời điểm tháng 6 âl của Thực lục. 4. Đồng Khánh,
quyển hạ, t. 209 cho biết đó là cửa biển của xã Tam Tân (nay thuộc Bình
Tuy). Sông Ma Ly có tên trên bản đồ của Nha Địa dư là sông Phan. Ta có
thể hoài nghi là địa điểm Ánh tới quá xa Phú Quốc và quá gần Tây Sơn.
Tuy nhiên sự việc lại quá hợp với chi tiết nước ngọt giữa biển kể sau.
Phải ở Ma Ly chạy thẳng ra biển Đông, đi tới 7 ngày đêm người ta mới
vẫn có thể may ra gặp các dòng nước ngọt do sông Cửu Long đổ ra vì khối
lượng lớn quá nên không lẫn với nước mặn được. 5. Đốc Công hải khẩu. Thực lục, q2, 7ab. 6. Thực lục, q2, 8b; thư của Pigneau kể chuyện nửa sau tháng giêng 1784 (A. Launay III, t. 90.) 7. Cù lao Ông Chưởng. 8. Thư ông Descourvières (A. Launay, III, t. 80). 9. Ch. Maitre “Documents sur Pigneau de Béhaine, évêque d’Adran”, RI, 1913. t 176. Liệt truyện tiền biên, q6, 5ab 10. Liệt truyện q32, 3b, 4a.
Vào cuối năm 1781, Trịnh Quốc Anh phái các tướng Chất-tri, Xô-si qua
Chân Lạp hỏi tội Nặc-ấn, trả thù vụ Nặc-vinh bị Đỗ Thanh Nhân giết.
Nặc-ấn thua rút binh về Colompé cầu cứu với Gia Định vào cuối tháng
giêng 1782. Nguyễn Hữu Thuỵ và Hồ Văn Lân tiến quân lên Loveck1. Chiến tranh còn dằng dai thì ở Xiêm xảy ra chính biến. Giặc thành Cổ Lạc (Korat) nổi dậy, Trịnh Quốc Anh sai Phi-nhã Oan-sản2
cầm quân dẹp mà không biết tại sao lại không lưu ý rằng người cầm đầu
cuộc loạn lại là em Sản. Sản quay giáo đem quân về Vọng Các bắt Anh cầm
tù. Ở Chân Lạp, Chất-tri cầu hoà với Thuỵ, bẻ tên thề, nhận cờ, đao,
kiếm của Thuỵ tặng rồi kéo quân về giết Quốc Anh, vu tội cho Sản rồi
giết luôn. Chất-tri, Xô-si, và cháu là Ma-lặc làm đệ nhất, đệ nhị, đệ
tam Phật vương, cùng nhau cai trị truyền dòng Rama3.
Việc
kết giao với Nguyễn Hữu Thuỵ, tiếp theo với việc Rama I kêu Mạc Tử Sanh
về Vọng Các nuôi, có thể coi như những dấu hiệu khuyến khích Nguyễn Ánh
tới gần Xiêm hơn. Cho nên, khi bại binh ở sông Ngã Tư, Ánh sai sứ bộ
trên 100 người theo đường Chân Lạp qua Xiêm cầu viện. Dân Chân Lạp gặp
dịp may trả thù kẻ thất thế, bèn giết gần hết sứ bộ với Nguyễn Hữu
Thuỵ, Trần Xuân Đàm. Chỉ có Nguyễn Văn Nhân, Cao Phước Trí là chạy thoát4.
Tuy bị trở ngại, Nguyễn Ánh khôn ngoan vẫn cố giữ liên lạc thân thiện
để hi vọng nhờ cậy. Mùa thu năm 1782, khi trở lại Gia Định rồi, ông
cũng sai sứ đi Xiêm nữa.
Đến nay, Xiêm vương nghe lời Châu Văn
Tiếp ai cầu, một mặt sai Tiếp theo thượng đạo trở về tìm chủ, một mặt
sai Thát-xỉ-đa đem thuyền đi Hà Tiên tìm rước Ánh ở Long Xuyên vào
tháng 5- 17845.
Nhưng có phải vì lời kêu xin khẩn thiết của Châu Văn Tiếp ngày nay và
vì nhớ mối kết giao với Nguyễn Hữu Thuỵ trước kia mà Xiêm vương cho
rước Nguyễn Ánh để rồi tính việc trợ giúp không? Có những tài liệu
khiến ta phải dè dặt.
Bá-đa-lộc đến Bangkok vào đầu tháng 11-1783 có gặp ở đây một sứ giả của Tây Sơn6.
Tài liệu thật là ít ỏi để cho ta có thể biết thêm về ngày tháng tới
lui, sứ mệnh giao phó, sự tiến hành công việc của viên sứ giả này ở
Bangkok. Tuy nhiên do đó, ta cũng thấy Xiêm phải lựa chọn Nguyễn Ánh và
Tây Sơn mà quyết định nghiêng về bên nào lại tuỳ thuộc vào tình hình
Chân Lạp.
Thực vậy, trong tháng 12-1783, Trương Văn Đa dẫn
quân tấn công Chân Lạp. Trước đó, Nặc Ấn bị Chiêu-thuỳ-biện, một người
Mã Lai, nổi dậy đánh đuổi đến phải trốn qua Xiêm. Đa đến, Biện vốn được
Xiêm công nhận làm phụ chính ở đây từ trước, vội vàng chạy qua cầu
viện. Và rồi Tây Sơn giáp mặt quân Xiêm. Trương Văn Đa nghe tin điệp
viên báo rằng quân Xiêm sẽ tiến theo đường Lào đánh Quy Nhơn, nên quyết
định khai chiến. Xiêm cũng đòi Tây Sơn trả những kẻ thù của Xiêm mà Tây
Sơn giữ (?) không thì chiến tranh. Và chiến tranh xẩy ra. Tây Sơn bị
Xiêm vây, hai bên đánh nhau vài lần.
Cuối cùng Trương Văn Đa
rút khỏi Nam Vang (6-1-1784). Nhưng từ đó “chiến tranh càng ngày càng
nhen nhúm giữa người Xiêm và bọn giặc ở Sài Gòn”.7
Để
phân tán lực lượng Tây Sơn, Xiêm vương nghĩ tới Nguyễn Ánh. Và đó là cớ
quan trọng nhất để giải thích việc Nguyễn Ánh được “rước mời” vào Vọng
Các. Cuộc đón rước nếu thực tình và diễn tiến trong bình đẳng thì sao
lại để xẩy ra những điều mà khi gặp lại Bá-đa-lộc lần thứ hai, Ánh phải
than phiền về “cách thức người ta lôi ông vào Xiêm”?
Tuy vậy,
Ánh cũng ở Vọng Các chờ đợi đưa về. Đây là dịp may mắn cho Xiêm vương
có thể mở rộng cương giới về phía Thuỷ Chân Lạp. Viện binh Xiêm gồm có
hai vạn quân, ba trăm chiến thuyền dưới quyền điều khiển của Chiêu
Tăng, Chiêu Sương, xuất binh ngày Nhâm thìn tháng sáu (25-7-1784).
Chiến tranh dùng Xiêm binh chiếm Gia Định được Nguyễn Ánh tóm thuật trong một bức thư gởi cho J. Liot8:
“Từ Thầy theo Ta mà trở về9 thì Ta cùng Xiêm binh tựu tại Mang Thít10 hạnh công Tây tặc, thủ thắng tàu một chiếc, hải đạo11 5 chiếc. Nhẩn ngày sau trực tấn xứ Lạch12.
Nay thì Xiêm binh đại tứ lỗ lược, dâm nhơn phụ nữ, lược nhơn tài vật,
túng sát bất dung lão thiếu. Vậy nên Tây tặc binh thế nhựt thạnh, Xiêm
binh thế nhựt suy. Cớ ấy qua tháng chạp, mùng tám vừa thất lợi, các
giai hội tản”...
Sử quan ghi cẩn thận hơn: tháng 7 âm lịch,
khi quân Nguyễn Ánh và Xiêm chiếm Kiên Giang rồi đánh Đô đốc Tây Sơn
Nguyễn Hoá ở Trấn Giang (Cần Thơ), quân Xiêm chia nhau đồn trú Ba Vác,
Trà Ôn, Mang Thít, Sa Đéc. Nguyễn Ánh lo kiến tạo lực lượng riêng. Ông
sai Cai cơ Trịnh Ngọc Trí đi đến các làng kêu cựu thần đang lẩn trốn và
hào kiệt nổi lên hưởng ứng quan binh. Kết quả sơ khởi cũng khả quan: ở
Vũng Liêm13, phó Đốc
chiến Lý của Tây Sơn ra hàng. Cai cơ Nguyễn Tấn Văn hàng Tây Sơn ở trận
Cá Trê năm ngoái nay cũng trở về. Sau đó là Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn
Khiêm bị bắt sau trận Đồng Tuyên và dư đảng Đông Sơn do Nguyễn Văn
Thành chiêu dụ.
10 âm lịch, Nguyễn Ánh chịu một cái tang đau
đớn: Châu Văn Tiếp quá hăng hái tiến sâu vào trận địa chết đổi mạng với
Chưởng tiền Bảo ở Mang Thít. Trương Văn Đa vội rút về Long Hồ, sai
người cấp báo Quy Nhơn.
Quân Xiêm hoành hành dữ. Ánh kêu với cận tướng14,
rồi bỏ ra các hải đảo, gặp Bá-đa-lộc ở Thổ Châu vào tháng 12-1784, than
thở với ông này rằng: người Xiêm lừa gạt ông, lấy cớ lập lại quyền binh
cho ông chỉ để dùng danh vị ông mà cướp bóc dân chúng và bắt sống ông
thôi15. Trong khi
đó, các tướng ông còn lại ở lục địa cố gắng tìm chiến thắng. Lê Văn
Quân tiếp tục công việc của Châu Văn Tiếp, làm Khâm sai Tổng nhung, đem
Chưởng cơ Đổng tiến chiếm Ba Lai, Trà Lọt.
Nhưng không lâu,
tháng chạp Giáp Thìn, Nguyễn Huệ kéo quân vào. Chạm với một kẻ địch lạ
tay, Nguyễn Huệ đánh mấy lần không thủ thắng đã có ý rút quân về. Vừa
lúc một hàng tướng của Nguyễn Ánh, Lê Xuân Giác, liền cho Huệ kế phục
binh, đánh mạnh, bất thần, hợp với sở trường viên tướng trẻ mà đầy khả
năng này.
Huệ đem lính thiện chiến mai phục ở Rạch Gầm, rạch Xoài Mút16
rồi dụ quân Xiêm tới. Quen mùi chiến thắng, quân Xiêm tiến sâu vào nội
địa bị đánh úp tan tành, chỉ còn vài nghìn người lẩn trốn theo đường bộ
Cao Miên chạy về nước. Thực là một chiến thắng làm choáng váng địch
quân. Nguyễn Ánh không trông cậy gì ở viện binh Xiên nữa. “Họ sợ Tây
Sơn như sợ cọp”.
Nguyễn Ánh chạy về Trấn Giang sai Cai cơ Châu
Phúc Trung tâu sự tình lên Nhị vương nước Xiêm. Cuộc đời lao đao bị săn
đuổi lại bắt đầu qua Thổ Châu rồi Cổ Cốt. May mắn hơn, lần này đã quen
sẵn, ra Cổ Cốt, Nguyễn Ánh gặp Cai cơ Trung đem binh Xiêm rước. Tháng
ba năm Ất Tỵ (1785), với các tướng tòng vong trên 5 thuyền và 200 binh,
Nguyễn Ánh lủi thủi vào Vọng Các.
Nhưng hi vọng chưa dứt, ông
còn mong chờ. Trong khi đó Tây Sơn lại bắt đầu tính chuyện tuôn đổ sức
mạnh có sẵn của họ ngược lên phía bắc, cưỡng bách đám dân chúng ở đây
nhìn nhận oai quyền, giá trị của kẻ bà con phương xa về đã thu nhặt
được trong chuyến viễn du mấy trăm năm cách biệt. ______________________________________ 1. La-bích, Lô-việt của sử quan. 2. Phi-nhã là chức tước (sử quan cũng biết đến điều này: Liệt truyện q32, 2a). Chất-tri cũng vậy. Tên Rama I là P’hut Yodfa (P. Schweisguth, Un siècle d’histoire dans la péninsule indochinoise (1750-1830), Taupin, Hanoi. 1944. 3. Thực lục q1, 14ab, 15ab. Thư J. Liot cho Ô. Descourvières, 25-7-1782, A. Launay, III, t. 74. 4. Thực lục q1, 18a, Liệt truyện q13 truyện Nguyễn Hữu Thuỵ 6a, truyện Nguyễn Văn Nhân 15b. “La révolte ét la guerre des Tây Sơn”, bđd, t. 87. 5. Thực lục
q2, 9b, 10a ghi tháng hai âm lịch (21/2-20/3/1784). Ghi chú của ông
Descourvières (A. Launay, III, t. 80) tuy không đề rõ ngày viết, nhưng
cho biết J. Liot ở Chantaboun (Chanthaburi), bệnh không theo Pigneau
được, viết thư nói rõ Nguyễn Ánh gặp tướng Xiêm “tháng 5 năm nay” nói
rằng “vua từ Chantaboun đi Bangkok” lúc ông ta viết thư ngày 31-5. “Năm
nay” là năm 1784 vì khi nói chuyện Bá-đa-lộc xin được giấy thông hành
để ra khỏi Xiêm (1784), Descourvières cũng dùng chữ “năm nay”. Về số
quân đem vào Xiêm, Liot nói có tới 4.500 người, Thực lục ghi
chỉ có tướng hơn 30 và quân vài mươi. Ngày về nước được ghi rõ “Nhâm
Thìn tháng 6” (25-7). Vậy Ánh ở Xiêm không lâu, chứng tỏ Xiêm đã chuẩn
bị sẵn sàng từ trước. Về đạo quân đi rước, có thể đây là đạo quân mà
Pigneau gặp ở Chantaboun giữa tháng 12-1783. Đó là đạo thuỷ quân, vì họ
ra lệnh cho ông đợi họ rời bến rồi hãy đi sau. Điều ông nghe thấy là
đạo quân này “gởi chống bọn Cochinchinois” (A. Launay, III, t. 89) phù
hợp lời Thực lục q2. 9b: “Thát-xỉ-đa đem thuỷ quân đi Hà Tiên... tiếng là cứu viện mà để lén mời Nguyễn Ánh” 6. A. Launay, III, t. 80. 7.
Thư của André Tôn cho Ô. Descourvières 1-7-1784, A. Lau nay, III, t.
84. A. Tôn cũng bị dẫn từ Nam Vang về trong dịp này. Thư của L.M
Ginestar, dòng Phăng-xi-cô 1784 (“La révolte... bđd, BSEI, 1940, t. 98). L.M bị đưa lên Nam Vang với thầy giảng Emmanuel trong tháng 12-1783 và về theo Trương Văn Đa. Thực lục q2, 8a. 8. Xem Phụ lục, bản thư Nôm thứ ba. Liot có tên trong Liệt truyện (q28 Bá-đa-lộc) tuy Liệt truyện lẫn với L.M Ginestar (sẽ nói sau) 9. Thư triệu hồi Long Xuyên, thư thứ hai. 10. Một ấp ở làng Mỹ Thạnh Trung, quận Minh Đức, Vĩnh Long. 11. Hải đạo thuyền (thuyền đi biển) thấy ghi trong Thực lục, Liệt truyện. 12. Định Tường còn có tên xứ Tầm Lạch. Nay còn địa danh Chợ Lách, một quận của tỉnh Vĩnh Long, phía bờ tây Tiền Giang. 13. Liêm Úc của Thực lục. 14. Thực lục q2, 14a. 15. Pigneaụ, thư 20-3-1785 ở Pondichéry (A. Launay, III, t. 91). 16. Sầm Giang, Xuy Miệt của Thực lục, Liệt truyện.
Rạch Gầm chảy từ xã Long Tiên (quận Cai Lây, Định Tường) sang các làng
Bàn Long, Vĩnh Kim (q. Sầm Giang) đến Kim Sơn ra Tiền Giang. Rạch Xoài
Mút chảy từ giồng Dứa ấp Thanh Long sang ấp Thạnh Hưng xã Phước Thạnh,
vào rạch Xoài Hột đến Tiền Giang. (Chỉ dẫn của ông Trương Ngọc Tường,
Cai Lậy). Binh Xiêm bại ngày 8-12 Giáp Thìn (18-1-1785) như lời thư
Nguyễn Ánh kể trước.
|