|
PHẦN THỨ HAI SỰ TAN RÃ Ở BẮC HÀ VÀ PHẢN ỨNG DỘI NGƯỢC KHI TÂY SƠN BÀNH TRƯỚNG (1786 – 1789)
Chương 3
CHIẾN TRANH BẮC HÀ 1
_______________________________________________________Tiết 7
CHIẾN TRANH TIÊU DIỆT HỌ TRỊNH
Vai
trò Nguyễn Hữu Chỉnh trong chiến tranh phá vỡ phân tranh cũ * Cùng đích
mơ ước của Nguyễn Nhạc ở Phú Xuân * Chiêu bài “Phò Lê diệt Trịnh” cũ kỹ
khi năng lực mới đem ra sử dụng.
Trong thời
gian tiến mạnh về nam, khi dân Đại Việt chậm chạp nhưng chắc chắn biến
đổi người và tự để mình biến đổi, thì cả vùng Á châu cũng thấy được thế
giới mở rộng với các thuyền buôn Âu châu mang xa lạ đến. Riêng ở Việt
Nam, người Bồ đến Hội An (Nam Hà), người Hoà đến phố Hiến (Bắc Hà) rồi
sau đó là người Anh, người Pháp. Theo với họ cũng có nhưng người Á châu
(Trung Hoa, Nhật, Mã Lai, Xiêm La...) đã hành nghề từ trước nhưng lại
tăng tiến theo trào lưu giao thương khích động.
Người ta ghi
nhận rằng hoạt động thương mại hồi này ở ta không lấy gì làm khởi sắc
cho lắm vì tình trạng nghèo đói của dân chúng. Mọi cung cấp ra cũng như
vào phần lớn do đám lái buôn Trung Hoa. Nhưng trên bình diện quốc gia
và địa phương, sự giao thương đem lại hàng hoá, con người, tư tưởng
khác cũng gây những xáo trộn quan trọng.
Ngoại thương làm
khích động nội thương: trầm hương, kỳ nam, tiêu, cau, ớt... đi từ núi,
từ đồng xuống biển, cá mắm, đồng sắt từ biển lên núi, đồng. Người đi
buôn vượt khỏi ràng buộc của hương ước, của “lệ làng”, tiếp xúc với
người khác xứ, khác nước trở nên tiến bộ, có sáng kiến và dám liều hơn.
Chúng ta đã thấy nhân dịp chúa Nguyễn phát triển thế lực về phía nam,
phía tây, nảy sinh ra một dòng trao đổi sản vật giữa miền núi và đồng
bằng dọc biển qua các nguồn để hợp với những nguyên nhân khác gây ra và
nuôi dưỡng biến động Tây Sơn.
Nhưng trong lúc nhóm Nam Hà ly
khai yếu ớt phải sẵn sàng chờ đón thu nhận, thích ứng với hoàn cảnh và
một chừng mực phương tiện mới, thì Bắc Hà vẫn dựa trên cơ cấu trường
cửu có sẵn ở trung châu Nhĩ Hà để cố gang tồn tại. Điều đó giải rõ tại
sao biến loạn Tây Sơn xảy ra ở Nam Hà, nhưng cũng cho ta thấy trước
thời kỳ nghiêng đổ của Bắc Hà. Sớm hay muộn Tây Sơn cũng là một thế lực
đe doạ họ Trịnh như Hoàng Ngũ Phúc đã thấy. Đúng vậy, ảnh hưởng giao
thương làm đa tạp hoá xã hội cũng có ở Bắc Hà đồng thời với sự tan rã
triều chính.
Lịch sử chính thống không ghi rõ có một “thương
ban” bên cạnh văn, võ và giám ban của họ Trịnh, chịu chức tước củng cố
hay quấy đảo triều Chúa. Nhưng những nhân chứng thời đại đã cho ta thấy
họ Trịnh và võ quan ủng hộ đám dân Thanh, Nghệ đi buôn bán trở nên giàu
có hơn, cũng như họ đã ban đặc quyền cho ưu binh Tam phủ để bảo vệ cơ
nghiệp nhà Chúa vậy.
Lúc thái bình người ta không chú ý để ghi
nhận sự có mặt của lái buôn vì họ ở dưới bậc chót của giai tầng xã hội.
Nhưng họ vẫn kiên nhẫn làm giàu không kể câu “vi phú bất nhân” vì người
ta lúc nào cũng cần tiền và chứng tỏ, lúc bình thời, người ta mua chuộc
họ bằng quan tước, khi hoạn lạc, người ta tha hồ cướp bóc họ. Đám
thương nhân “các lái” của Trịnh đã trải qua như vậy chuyến loạn ở Thăng
Long, lúc Tây Sơn ra Bắc:
“Đám các lái rất phè phỡn
trong thời đói kém, vì lợi dụng được lúc thiếu gạo để bán mắc... và để
cho những người nghèo khổ chết đói dọc đường. Đám các lái mất hết, thuyền, thóc, tiền sạch cả. Ở đây, chúng tôi thấy họ đi qua, trần truồng để trở về xứ Thanh”.
Đám
các lái đó không phải buôn bán loanh quanh xóm chợ làng quê mà thôi. Vị
trí tập trung và số lượng của họ cho biết tầm hoạt động rộng lớn của
họ: họ ở “gần cửa Bạng, nơi hòn Biện Sơn, nhân số lên tới gần 3.000
người”2.
Nguồn
lợi tức của họ không tuỳ thuộc vào đất ruộng nên họ có gia tư, sản
nghiệp lớn, trong lúc đám nông dân đói kém sạt nghiệp và trong lúc đám
sĩ phu xuất thân từ đồng quê cũng hoảng hốt trước tình cảnh thảm thương
xảy ra chung quanh nên đâm ra chán đời, bi quan3. Họ sống sung túc rồi muốn danh vọng. Nguyễn Hữu Chỉnh cũng ở trong số đó4.
Ông
người làng Đông Hải, huyện Nghi Lộc, trấn Nghệ An. Không phải tình cờ
mà cha ông lái buôn, gia tư kể hàng vạn, có con đỗ Hương cống mà vẫn cứ
nương tựa Quận Việp Hoàng Ngũ Phúc. Đó là vì võ quan cần tiền của lái
buôn và lái buôn cần thế lực của nhà quan để làm giàu cho dễ.
Cuộc
sống sung túc tạo cho Chỉnh hơn người. Học khắp các kinh sử, đỗ Hương
cống năm 16 tuổi, hay Nôm (nghĩa là không chịu nho hoá), hào hiệp, giao
du rộng rãi, ứng biến lanh lẹ, giỏi thuỷ chiến đến có danh hiệu “con
cắt nước”, Chỉnh là một bộ mặt đặc biệt, nổi bật của Bắc Hà thời ấy.
Chỉnh ý thức được tài mình, cho nên không phải là quá huênh hoang khi
ông nói với Nguyễn Huệ: “Nhân tài Bắc Hà có một mình Chỉnh, Chỉnh đi
rồi ấy là cái nước trống không”.
Mơ ước làm chim bằng tung
cánh đến xưng tước là Bằng lĩnh hầu, Bằng quận công, Chỉnh có tầm mắt
rộng rãi hơn bọn sĩ phu, võ quan đương thời. “Thiên hạ vạn nước, lo gì
không chỗ đi”, đó là lời Chỉnh trả lời thái độ rụt rè của Trấn thủ Nghệ
An, em rể Quận Việp, khi phải trốn cái vạ Quận Huy bị quân Tam phủ giết
chết. Nguyễn Nhạc, Châu Văn Tiếp rồi bây giờ Nguyễn Hữu Chỉnh, những
người khác xứ, lúc bạn lúc thù nhưng đều giống nhau ở chỗ xuất thân, đó
là những bộ mặt nổi loạn làm khuấy đảo thêm dữ dội xã hội Đại Việt của
thế kỷ XVIII vậy.
Tháng 11 Nhâm Dần (1782), Chỉnh đi theo Tây
Sơn, “ngày đêm vì giặc bày mưu thiết kế”. Sử quan nhà Nguyễn thấy rõ
rằng Chỉnh “rốt lại thành mối lo cho Bắc Hà”5.
Nhưng vượt trên sự lo lắng cho cơ nghiệp một dòng họ, ta cũng thấy việc
Chỉnh vào Quy Nhơn là quan trọng: đó là sự tập trung, hợp tác của những
năng lực làm gẫy đổ cơ cấu chính trị đương thời, đó là sự tiếp sức làm
đổ vỡ nốt cái thế phân tranh cũ kéo dài hơn hai trăm năm rồi.
Tây
Sơn mạnh, điều đó không ai là không nhận thấy. Lê Quý Đôn đem chuyện
sấm ký, nói Tây Sơn có đất thiên tử chẳng qua cũng chỉ thay người đương
thời ý thức được cái sức mạnh đó mà thôi. Từ khi đuổi đánh quân Xiêm
vào đầu năm 1785, quân Tây Sơn bắt đầu dòm ngó phía bắc, nơi kinh đô cũ
của Chúa Nam Hà. Chiếm được Thuận Hoá mới là đạt đến cùng đích mơ ước
của Nguyễn Nhạc như khi ông thổ lộ với Chapman từ 1778.
Trong
khi con hổ non Tây Sơn gầm gừ nhìn ra thì con sư tử già Trịnh đã tàn tạ
đến mức không thể cử động được. Những Linh mục thời bấy giờ ở Bắc Hà đã
ghi lại những thiên tai, thuỷ loạn mà dân chúng phải gánh chịu. Đó là
những trận hạn hán ghê gớm “làm dân xứ Nghệ không gặt được hột nào”.
Trận dịch trâu bò tiếp theo vào năm 1784 làm chết 2/3 súc vật khiến cho
người phải cày bừa thay. Nghề chài, nghề đã làm giàu cho cha Nguyễn Hữu
Chỉnh ở xứ Thanh Nghệ cũng tàn tạ vì bão tố năm 1785. Trước khi Tây Sơn
tới Bắc Hà phải chịu nạn đói vì lụt to, hạn lớn, sâu bọ nhiều, vì dịch
đi tướt6. ________________________________________ 1. Những chi tiết cho chương này, trừ xuất xứ khác có ghi, đều lấy ở Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch của Ngô Tất Tố. 2. Thư của Le Roy gởi cho Blandin ở Paris từ Kẻ Vĩnh (Ninh Bình), 6-12-1786 (BEFEO, 1912, t. 7-8). Chữ nghiêng ở trích văn trên là của nguyên văn chữ Việt trong bức thư. 3. Hãy đọc Chinh phụ ngâm khúc chẳng hạn thì thấy rõ. 4.
Quá khứ thương nhân của Chỉnh và gia đình khác biệt với đám vua quan
còn bằng chứng trong câu chuyện một giáo sĩ kể về lúc Chỉnh nắm quyền ở
Thăng Long (1787): “...một hôm nọ, một số người có cửa hàng tại Hoàng
thành đến tố cáo với tướng Chỉnh rằng một vài vị hoàng thân, chú bác và
cậu vua đến bức hiếp không cho họ buôn bán. Coũ Chỉnh bất bình bắt vua
phải trừng phạt những người này. Chiêu Thoũ lập tức phải cho bắt mấy
người đó nạp cho Coũ Chỉnh. Sau khi quở trách các vị này, ông bắt họ
phải bồi thường do họ gây ra, còn cấm họ từ rầy không được la cà trong
phạm vi thành phố nữa. Nếu không tuân lệnh thì sẽ bị trừng phạt”. (Sử Địa, số 9-10, 1969, t. 201).
Hãy nghĩ, nếu không sở cậy nơi quá khứ buôn bán của gia đình
quan Tướng quốc, thương nhân Thăng Long làm gì dám khiếu nại những hành
vi nhũng nhiễu của quan quyền, hoàng thân quốc thích? 5. Thực lục q1, 22a. 6. Thư ông Breton, gởi ngày 10-7-1787, thư G.M Ceram ở Kẻ Vĩnh (Ninh Bình) (RI. XII, 1910, t. 526, 536, 538). Những tai hoạ do nhà cầm quyền gây ra càng làm cho dân chúng điêu đứng hơn nữa. Những chương đầu của quyển Hoàng Lê nhất thống chí cực tả được tình trạng rối loạn chính quyền ở Bắc Hà vào những năm này.
Chúng
ta thấy được đám quần thần văn võ chuyên nịnh bợ đưa đón lời Trịnh Sâm,
chúc mừng Trịnh Cán. Có kẻ chuyên tố cáo người để làm quan như Đốc đồng
Nguyễn Huy Bá ở trấn Thái Nguyên, có kẻ như Đặng Mậu Lân cậy quyền Thứ
phi, làm nhục quan quân, bắt hiếp vợ con dân gian, thậm chí đến giết sứ
giả Trịnh Sâm sau khi hỏi một câu rất hách: “Chúa là cái gì?”
Chúa
là cái gì? Thực vậy, Chúa bị khinh khi vì gia đạo không yên. Trịnh Sâm
yêu quý Thứ phi Đặng Thị Huệ, muốn cho con Huệ là Trịnh Cán lên nối
nghiệp. Con trưởng Sâm là Trịnh Tông tưởng có thể nhân lúc Sâm nổi
chứng đau bụng kinh niên nguy kịch mà mưu đồ giành quyền binh, nhưng
thất bại gây ra vụ án Canh Tý (1780) mà lời than van uất ức của một nạn
nhân là lời kết án chế độ: “Trời không có mắt, trào không có quan để
cho Quốc Chấn chết oan”.
Đám ưu binh Tam phủ mà số lượng độ chừng 25 - 30.000 người1
dùng để bảo vệ Chúa, thường ngày không có việc gì làm ngoài việc phá
phách dân chúng, đe doạ các quan, bây giờ mới chen vào việc nhà Chúa.
Trịnh Sâm mất sau hàng năm sống tránh ánh sáng mặt trời2
để Trịnh Cán lên ngôi gây nên cái hoạ tương tranh. Kiêu binh phế Cán
sau khi giết Huy Quận công Hoàng Đình Bảo, người che chở Nguyễn Hữu
Chỉnh, rồi lập Trịnh Tông lên ngôi Chúa trong một cảnh mà Ngô Thì Chí
tả một cách mỉa mai.
Quyền binh từ nay ở trong tay Kiêu binh.
Chúa lập được thì vua cũng do họ lập được nốt. Họ hoành hành tàn phá
phố phường dữ dội nhất vào những tháng đầu năm Giáp Thân (1781)3.
Tình
hình Bắc Hà như vậy, Chỉnh hay biết cặn kẽ nhờ căn vặn một thuyết khách
của Chúa Trịnh. Cuối mùa xuân Bính Ngọ (1786), Trịnh Phu Như từ Thuận
Hoá vâng mệnh trấn tướng Phạm Ngô Cầu vào Tây Sơn điều đình việc biên
giới nhưng lại thóc mách nói cho Chỉnh rõ về tình hình đói kém ở Bắc
Hà, dân với lính không ưa gì nhau. Với một viên trấn tướng đần độn,
chậm chạp như Phạm Ngô Cầu thì ba vạn quân dưới quyền điều khiển của
các viên Đại tướng, Phó tướng, Đốc thị, Phó Đốc thị cũng không thành
một lực lượng gì hết, huống hồ là cách cai trị gay gắt, cướp bóc trong
một xứ vừa qua nạn đói lại khiến cho người dân càng thù ghét lính
tráng.
Cho nên, cuối tháng tư âm lịch Bính Ngọ, quân Tây Sơn
trực phát Thuận Hoá dưới quyền Nguyễn Huệ có Vũ Văn Nhậm làm Tả Đô đốc,
Nguyễn Hữu Chỉnh làm Hữu Đô đốc với Tiết chế Nguyễn Lữ đi tiếp ứng4.
Đánh trúng vào tâm lý mê tín của Phạm Ngô Cầu, Tây Sơn mưu khiến Cầu
lập đàn chạy suốt 7 ngày đêm, mệt mỏi tướng sĩ, để hoảng hốt thấy giặc
ầm ầm kéo đến không đường chống cự5. Đại diện cho nhóm “treo cờ điều” quyết chiến6
ba cha con Hoàng Đình Thể và tướng Vũ Tá Kiên chết ở ngoài thành Phú
Xuân vì Cầu muốn hàng đã không tiếp tế thuốc đạn. Số mệnh của ông quan
Đại muốn “treo cờ bạc” này cũng không hơn gì: ông bị tống về Quy Nhơn
rồi bị giết. Tây Sơn ca khúc khải hoàn vào Huế ngày 14-6-1786.
Trong
trận này, quân lính Bắc Hà ở Phú Xuân rất ít người chạy trốn được về,
lớp bị Tây Sơn giết, lớp bị dân chúng Thuận Hoá trừ.
Chiến
tranh tàn sát vẫn được coi là vết nhơ cho Tây Sơn, nhưng không phải họ
không có lý do để bào chữa. Lý do đó nằm trong nguyên tắc hành quân của
họ. Đánh mau, đánh mạnh, đánh bất thần thì tất luật lệ giết chóc của
chiến tranh được thi hành triệt để.
Người ta cũng có thể coi
việc Tây Sơn trong trận đánh Thuận Hoá phá huỷ một chiếc tàu Bồ từ
Macao tới, dìm nước anh em viên chủ tàu, giết hai người thuỷ thủ7 như là một chứng cứ về lòng hiếu sát của họ. Thực ra, chúng ta lưu ý rằng thuỷ quân của họ chỉ là một đoàn thuyền8
tuy tới hơn 400 chiếc, nhưng vẫn ọp ẹp so với chiếc tàu đồng Tây phương
ở vùng tiến quân. Họ đã có kinh nghiệm của trận chiến mùa xuân 1782 ở
sông Ngã Bảy. Phải đánh ồ ạt để lấp liếm cái yếu kém kỹ thuật của họ.
Cho nên, phải tàn sát. Chứ bình thường họ cũng biết cố tìm cách lôi kéo
các nước Tây phương theo họ.
Cuối năm 1785, một chiếc tàu
Macao bị gió bạt vào Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc tịch thu chiếc tàu đó, cho
người lái nhưng vụng về để chìm mất. Chủ tàu và thuỷ thủ được trả về
Macao có lẽ vào lúc xuất quân đánh phú Xuân (5-1786). Tây Sơn cho người
theo mang thư cho toàn quyền Manille xin giao thương và mua đại bác để
đánh giặc, mua đồng để đúc tiền và luôn thể dò xét xem Nguyễn Ánh có đi
Manille với Bá-đa-lộc không9.
Nhưng dù sao chiến tranh cũng đưa họ tới chỗ cô lập với bên ngoài cũng
như sẽ cô lập với dân chúng vì tính cách tận dụng nhân lực của họ.
Sau
khi chiếm được Đồng Hới, đuổi tướng Ninh Tốn chạy về Bắc, Tây Sơn dừng
lại. Thực vậy, vì như đã nói, đó là cùng tột ước muốn của Nhạc: chiếm
để làm chủ cả giang sơn “họ ngoại” của mình. Ý định đó thể hiện trong
việc xây lại luỹ Thầy cao 19 bộ, dày 1 sào. Không ai được ở nhà, cả đàn
bà, con gái, người goá - trừ người còn cho con bú, đều phải đi đắp luỹ
hoặc vào rừng đốn cây. Dịch vụ đó lại làm hao tốn thêm một xứ sở đã ít
người sẵn vì chiến tranh, dịch tể, đói kém.10
Nhưng
nếu Tây Sơn của Nguyễn Nhạc bắt đầu phải dè dặt thì Tây Sơn của Nguyễn
Huệ với viên tướng chưa hề thua 33 tuổi tất không thể dừng lại bên dưới
sông Gianh mà phải làm cái gì để “phô trương lòng gan dạ của họ”. Lại
thêm vào đó là viễn tượng chiếm lại số vàng trong kho Phú Xuân mà Trịnh
đã lấy về 12 năm trước, chưa kể kho vàng của chính họ Trịnh11.
Nếu
Nguyễn Huệ còn ngần ngừ thì có Nguyễn Hữu Chỉnh để đốc xúi thêm vào.
Đem binh pháp ra để khuyến dụ Huệ, vạch rõ đất Bắc chỉ còn cái vỏ rỗng
không “tướng trễ, binh kiêu, triều đình không kỷ cương”, dùng chiêu bài
Phù Lê, diệt Trịnh để tiến quân, dùng viễn tượng thành công lớn trong
lời sấm để ngăn cái sợ trái lệnh Vua Anh, Chỉnh thực đã hết lòng tìm
cách để trở về quê cũ với uy danh sấm sét vậy.
Nhưng đi đánh
một xứ xa cũng phải cần tổ chức thêm lực lượng. Quân của họ lúc từ Quy
Nhơn cũng lẫn lộn đủ thứ hạng và giống người. Ngoài người Việt Nam Hà,
tất nhiên, họ còn có “những người Mường, Man di và các bọn mọi khác như
Cao Miên, Cambien (?), Xiêm..”.12,
nghĩa là có thể nói đám người thiểu số miền núi, đồng bằng Nam Hà, đám
tù binh ở chiếc tàu Bồ, trong các trận chiến thắng trước ở Gia Định.
Bây giờ họ phải lấy thêm quân Thuận Hoá, Bố Chính. Tù binh Bắc Hà thì
không còn nữa. Dân số ở đây lại sụt xuống nhiều vì đói, dịch tể đến nỗi
người ta phải lôi đàn bà đi đắp luỹ sửa đường. Chỉ còn những người của
các tôn giáo lẩn lút đứng ngoài chiến tranh là còn đông đúc. Cho nên,
từ Phú Xuân cho tới sông Gianh, chỉ trong 5 ngày, tất cả đều bị bắt đi.
Tây Sơn phá các chùa chiền và ép các nhà sư phải mang khí giới đi đánh
giặc13. Những tín đồ Công giáo cũng không được chừa, hầu hết đều phải gia nhập vào đoàn quân viễn chinh ra Bắc14.
Ngoài ra, Tây Sơn cũng cần kim khí. Họ phá nhà thờ, chùa chiền, một
phần để bắt người, một phần để tìm các tượng và các chuông về đúc súng
đại bác15. Đáng lưu
ý là đám tân binh bị bắt buộc vác súng này, một khi bị lôi cuốn vào
trận địa, vẫn trở nên những người lính can đảm, có kỷ luật.
Trước
khí thế ào ạt như vậy, Thăng Long lại không nghĩ gì đến chống đánh. Họ
cho đất Thuận Hoá là đất Nam Hà, mất đi cũng là “điều may”, chỉ cần giữ
Nghệ An là được. Quân tướng sai đi trấn Nghệ An dưới quyền Trịnh Tự
Quyền thì trùng trình đến 10 ngày chưa xong việc chỉnh bị.
Trong lúc đó thì Tây Sơn đã ra. Nguyễn Hữu Chỉnh lãnh 150 thuyền16.
đi trước vào cửa Đại An nhắm vào kho lương Vị Hoàng (Nam Định) tấn
phát. Trên đường đi, trấn thủ Nghệ An Bùi Thế Toại, Thanh Hoá - Tạ Danh
Thuỳ nghe gió bỏ thành chạy. Tướng giữ Vị Hoàng cũng không hơn gì.
Chỉnh thu được ở đây hàng trăm vạn hộc lương, giải quyết chắc việc tiếp
tế cho quân đội rồi đốt lửa làm hiệu cho Nguyễn Huệ hay biết chiến
thắng mà đến (16-7-1786).
Trịnh phải vội vã tổ chức quân chống
cự. Trịnh Tự Quyền xuống giữ Sơn Nam đóng ở Kim Động. Bùi Thế Dận đem
bộ binh yểm hộ cho Đinh Tích Nhưỡng dẫn thuỷ binh đến cửa Luộc. Nhưng
quân Tây Sơn cũng vừa đến đánh tan quân Nhưỡng, xua Dận, Quyền chạy rồi
chiếm giữ phố Hiến ngày 19-7. Hôm sau đoàn thuyền trực chỉ Thăng Long 17. __________________________________________ 1. Thư G.M Ceram, 29-5-1784 (RI, XII, 1910, t. 522, 523). 2. Thư ông Breton kể trước. 3. Thư G.M Ceram kể trên. 4. Chi tiết Nguyễn Lữ làm Tiết chế là của Liệt truyện, q30, 12ab. 5. Ngoài Hoàng Lê, Liệt truyện, còn có thư ông Le Breton đã dẫn, thư Labartette gởi cho Le Blandin 23-6-1786 (BEFEO, 1912. t. 12, 13). 6. Thư ông Doussain gởi ông Blandin 6-6-1787 (Sử Địa, số 9-10, t. 232-233). 7. Thư 10-7-1786, 1-8-1786 của Labartette gởi cho Descourvières, của Longer gởi cho Le Blandin (BEFEO, 1912, t. 14, 15, 17), thư của Labartette gởi cho Letondal ở Macao, 10-8-1786 (A. Launay, III, t. 124). 8. Thư Longer gởi cho Le Blandin (BEFEO, 1912, t. 15 có một lối nói đáng chú ý: “chiều ngày 13 tháng này (6). Thuỷ quân, hay nói rõ ràng hơn, các ghe thuvền Tây Sơn tiến vào cửa Huế”. (Chúng tôi nhấn mạnh). 9. Trích từ nhật ký của ông Letondal (A. Launay, III, t. 154, chú số l). 10. Thư Labartette, G.M Veren, cho Boiret, 15-7-1786 (RI, XIV, 1910, t. 43); thư của Doussain, tạp chí trên, t. 47. Cả hai đều ở Bố Chính trong chiến tranh. 11. Thư Labartette cho Le Blandin. 23-6-1786 (BEFEO, 1912, t. 13, 14). 12. Thư Le Roy cho Le Blandin 6-12-1786 kể trước. 13. Thư Labartette, 23-6-1786 kể trước. Cũng thấy ở A. Launay, III, t. 122. 14. Thư Longer gởi cho Juilhard (A. Launay, III, t. 122). 15. Thư Labartette gởi cho Boiret. 15-7-1786 (A. Launay, III, t. 123). 16. Thư La Mothe, 3-12-1786 (RI, XII, 1910, t. 532. 17. BEFEO, 1912. t. 7. Tướng tá Kinh đô lo chạy vợ con, cất giấu của cải, không một người nào
dám đánh giặc. Tham tụng Bùi Huy Bích bị công kích rồi bị Tông bãi
chức, bắt ra trận đốc chiến. Trần Công Xán hiến mưu Chúa, gọi Hoàng
Phùng Cơ, bộ tướng Hoàng Ngũ Phúc trước kia, từ Sơn Tây về góp 300 bản
bộ binh với 1.000 người vội vã chiêu mộ bằng 5.000 lạng bạc quân phí,
tất cả đem ra đóng ở hồ Vạn Xuân. Thuỷ quân của Kinh kỳ cũng đến đóng ở
bến Thuý Ái chờ giặc.
Nếp sống thái bình, lừ đừ đã quen thói,
quân Trịnh không lường được sức đánh hoả tốc của Tây Sơn. Giặc đến mà
lính tráng không kịp lên thuyền để viên Thiên tướng Ngô Cảnh Hoàn một
mình đầu thuyền cự chiến, bị súng lớn bắn chết lôi theo cái chết thảm
thương hơn của người vợ bé Phan Thị Thuấn. Quân Tây Sơn đã ùa lên bộ mà
quân Phùng Cơ còn ăn cơm thì cái thế thua thật đã rõ rệt nghiêng về
phía nào rồi.
Tây Sơn chém giết cho chán rồi tiến quân lên bến
Tây Long. Đám lính hộ vệ kinh thành bây giờ mới cho người ta thấy xấu
hổ với danh vị ưu binh. Nghe súng hoả mai của giặc họ “sợ mất vía, bỏ
cả khí giới, chạy thục mạng”. Cây cờ “Diệt Trịnh phù Lê” phất phới trên
thành Thăng Long khiến cho “chỉ có Chúa Trịnh, bộ hạ cùng binh lính
chạy trốn thôi” (21-7-1786)1.
“Giặc
Quảng” tiến vào Trịnh phủ lấy vàng bạc, súng lớn, súng tay, đồ đạc, voi
ngựa, chỉ để lại cái xác vôi gạch. Quân tướng Tây Sơn chui rúc ở các
chùa, vứt chôn các pho tượng, không một mặc cảm nào hết2.
Binh lính cũng mang tinh thần cương cường của chủ tướng. L.M Le Roy ở
Kẻ Vĩnh thấy họ đi lính “không lương, không tiền”, mà “không lấy cái gì
của người Bắc hết, hoặc ăn cơm không muối, uống nước lạnh và ngủ ngoài
trời”3. Ở cửa Bạng, La Mothe thấy họ cướp bóc, đốt phá, nhưng giết người rất ít, vì có lệnh cấm của “bạo chúa”4.
Họ trị tội bọn trộm cướp một cách giản dị đến thành thô kệch, tàn nhẫn:
có ai cáo là không cần phải dông dài, họ chặt đầu tức khắc 5. Hình phạt cũng không miễn trừ cho binh lính họ.
Nhưng
chiến thắng không đủ, người ta còn phải hợp pháp hoá việc tiến quân đối
với dân chúng. Thực ra, ở cửa miệng người mạnh việc gì không phải. Ở
đây, như đã thấy, người ta có sẵn để lợi dụng một chiêu bài cũ kỹ: “Phò
Lê diệt Trịnh” và một lời sấm truyền tụng từ lâu trong dân gian rằng
Trịnh sẽ mất nghiệp Chúa. Lẽ Trời như vậy, Tây Sơn chỉ là kẻ đại Thiên
hành đạo thôi. Cho nên, Lý Trần Quán dù có tự phụ “đạo hiếu 3 năm đã
trọn” có nhắc đến nghĩa vua tôi, tình thầy trò cũng không ngăn được tên
học trò Tuần huyện Trang bắt Đoan Nam vương Trịnh Tông đem nạp cho Tây
Sơn với cái lẽ giản dị “sợ thầy không bằng sợ giặc, quý Chúa không bằng
quý thân”.
Điều đó cho ta thấy sức phân ly của xã hội Bắc Hà
đương thời. Những biến loạn trước xưng là diệt Trịnh phò Lê nhưng không
có được những lực lượng kết tập to lớn. Đám nông dân trung châu đi theo
Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương... chẳng
hạn, vì nghèo đói, bất mãn quan lại mà vác bừa vác gậy làm giặc, mỗi
nơi mỗi nhóm chứ thương gì Lê! Đám sĩ phu, võ tướng thấy ngồi ở phủ
Chúa cũng không khác gì Điện Vua, làm Bồi tụng cũng giữ ngôi Tể tướng
thì có gì mà thắc mắc đổi thay? Còn Nguyễn chúa ở phương Nam muốn nói
đến nghĩa tôn phù - để giữ độc quyền tôn phù, thì cũng không đủ sức đem
binh qua 7 huyện Nghệ An. Những lực lượng phân tán của xã hội Đại Việt
chỉ vừa đủ để giữ ngôi vua Lê chứ không đủ để trao lại thực quyền cho
dòng họ này.
Rồi theo dần với thời gian, các vua Lê không dự
vào chính sự trở nên vô tài, dung thường. Điển hình nhất là ông vua
già, bệnh Lê Hiển Tông. Làm vua mà “khoanh tay rũ áo, tìm trò mua vui”,
bị Trịnh Sâm đè nén mọi cách vẫn cười cợt mới có thể làm vua lâu dài.
Nhưng lâu dần tính cầu an thành trầm trệ đến nỗi không muốn Trịnh chúa
mất nghiệp, sợ “mất kẻ gánh cái lo”, đến nỗi Kiêu binh xin tôn phò,
chính ông doạ tố cáo với Đoan Nam vương, đến nỗi được Nguyễn Huệ trao
quyền thì không mấy vui, coi đó là “một gánh nặng”, gả Ngọc Hân cho
người để họ chia sớt “lo lắng”.
Nhưng ông mai giảo hoạt Nguyễn
Hữu Chỉnh chắc không ngờ mình vừa làm một việc thay đổi lớn lao con
người của viên tân Nguyên suý Uy quốc công của triều Lê tàn tạ. Viên
tướng thường thắng Nguyễn Huệ tuy cầm quân nhiều lần, tuy làm em vua
một cõi, có lúc hãnh diện là “kẻ bố y”, nhưng không thoát khỏi mặc cảm
làm kẻ mường mán trong hang hốc xa xôi. Làm rể một giòng vua có quá khứ
400 năm, có người vợ kinh sử làu thông, Nguyễn Huệ lớn lên trước chính
mình sau mười mấy năm hiên ngang trước binh tướng. Can dự vào việc lập
Tự Hoàng, lo lắng cho việc chôn cất Hiển Tông, ông đã không là khách
trong nước An Nam này nữa. Mối dè dặt, e ngại can thiệp vào đất Lê cứ
dần dà xoá tan trong đầu óc ông cho đến khi có những cuộc tiến quân
sau. Nhưng hiện tại ông chưa dám bỏ ý tôn Lê. Tây Sơn còn lo đề phòng
loạn ở các trấn của các tướng mất chức biến thành cướp như Đinh Tích
Nhưỡng chiếm Cẩm Giang ở Hải Dương, của viên văn quan trở thành tướng
bất đắc dĩ, Dương Trọng Tế, chiếm huyện Gia Lâm ngay bên thành Thăng
Long. Nguyễn Huệ lo tìm cách cải thiện, tăng cường chiến cụ bằng cách
tìm thợ rèn, và chỉ chăm chú rút về. Việc Nguyễn Nhạc hối hả ra Thăng
Long làm cho ý định thêm chắc chắn.
Họ hàng Tây Sơn bàn mật
ngày rút quân về mà không cho Chỉnh dự vào. Ngô Thì Chí cho là Vũ Văn
Nhậm ghét Chỉnh, xúi Huệ bỏ rơi cho người Bắc Hà giết, tiện cho việc
chiếm đất sau này. Nguyên cớ hiềm khích nhỏ mọn, lễ vật dân chúng đưa
cho Chỉnh nhiều hơn cho Nhậm - cho ta thấy một lý do là sự cô lập của
Tây Sơn giữa dân Bắc Hà. Tây Sơn chưa hẳn thù ghét Chỉnh, nhưng trước
sự đắc thế, quen thuộc, cá trong nước của Hữu quân họ, một người vốn tự
nhận có tài, dễ muốn làm việc độc lập, họ phải nghi kỵ.
Thế
rồi nửa đêm 31-8-1786 Tây Sơn lén lút đi, thình lình như khi họ tới,
duy không có Chỉnh cùng về. Biết được tình hình Bắc Hà yếu ớt, họ không
nề hà gì mà không chiếm lấy một ít đất. Đóng quân ở dinh Vĩnh mươi
ngày, họ cho Nguyễn Văn Duệ giữ Nghệ An, Vũ Văn Dũng6
ở Hà Trung (Thanh Hoá) lui về châu Bố Chính, để Vũ Văn Nhậm giữ Đồng
Hới ứng tiếp nhau. Nhân dịp đó, họ vơ vét kho tàng phủ Yên Trường chứa
bảo vật của họ Trịnh ở xứ Thanh. Quân lính cũng thừa cơ trên đường về
mà “cướp đoạt hai bên sông, bắt cóc đàn bà, con nít, làm nhiều điều nhơ
uế”7.
Nguyễn
Hữu Chỉnh ở Kinh đô vội vã cướp thuyền chạy theo kịp. Nguyễn Huệ khôn
khéo lấy cớ ngoài Bắc còn có Hoàng Phùng Cơ, Đinh Tích Nhưỡng chưa trừ
được nên cho vàng bạc, lưu Chỉnh lại Nghệ An rồi rút binh về thành Phú
Xuân trong khoảng tháng 9-17868.
Trong
một chuyến phiêu lưu dài 3 tháng, quân Tây Sơn đã đem lại tan rã cho
đất Trịnh từ Thuận Hoá ra Thăng Long. Bắc Hà như một ngôi nhà ọp ẹp, bị
xô đổ không gượng dậy được, một cái “nước không” như lời Chiêu Thống
nói, chỉ còn chờ Tây Sơn ra cướp lần nữa là xong. Nhưng chuyến phiêu
lưu dài này không phải là không có kết quả dội lại trong nội bộ Tây
Sơn. Phản ứng dội ngược lại tai hại đến mực không ngờ có ảnh hưởng to
lớn đến vận mệnh của họ9. _________________________________________ 1. Thư Le Roy 6-10-1786 kể trước. 2. Thư Le Roy 6-12-1786 kể trước. 3. Thư Le Roy 26-7-1787 (RI. XII, 1910. t. 535 4. Thư La Mothe 3-12-1786 kể trước. 5. Thư Le Roy, 6-12-1786 kể trước. 6. Hoàng Lê ghi là Đô đốc Chiêu Viễn hầu. Thư Quang Trung gởi cho ông này khi sai đi sứ Trung Hoa năm 1792 (Hoa Bằng, Quang Trung Nguyễn Huệ, sđd,
t. 329) có câu: “sắc sai Hải Dương Chiêu Viễn Đại đô đốc”. So với Qui
Nhơn, đất Hải Dương quả là xa để có một viên tướng (Vũ Văn Dũng) về
giúp Tây Sơn được phong hàm Chiêu Viễn hầu như vậy. 7. Thư Le Roy 6-10-1786, 6-12-1786 đã kể. 8. .Thư Doussain đã kể. 9. Việc Tây Sơn ra Bắc, các chi tiết còn ở quyển 30, Liệt truyện, chuyện Nguyễn Huệ, tờ 18a trở đi, ở Cương mục quyển 46, 22a trở đi. ____________________________________________________________Tiết 8
NỒI DA XÁO THỊT
Nguyên nhân * Chiến tranh * Kết quả: “ngư ông” Nguyễn Ánh.
Vào
đầu năm 1787, trong khi người ta tưởng những lực lượng thống nhất có cơ
tập thành thì một biến chuyển lớn lao làm tan vỡ viễn tượng đó: anh em
Tây Sơn, hay nói đúng hơn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đánh nhau. Tại sao
có thể xảy ra như vậy?
Sách Hoàng Lê cho chúng ta biết
sự rạn nứt có từ lúc Nguyễn Huệ nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh “tự chuyên”
kéo quân ra Bắc. Chúa Tây Sơn vốn biết Huệ “khôn ngoan”, “giảo quyệt”
sợ Huệ lấy Bắc Hà trở về hợm hĩnh, khó mà kìm chế. Khi tiếp được thư
báo Bắc Hà lấy được rồi, Nhạc lại sợ Huệ cầm đại quân ở xa, có tướng
tài trong tay sinh biến, nên lật đật ngày đêm dẫn bộ binh ra lôi về.
Mối rắc rối quyền bính này tưởng có thể dẹp yên được khi Huệ ra tận
ngoài cửa ô Thăng Long đón tiếp Nhạc, dâng binh phù, tạ tội, dẫn về nhà
giới thiệu vợ mới cưới, anh em đối đáp “y như anh em các nhà thường
dân”.
Nhưng chúng ta thấy mối nứt rạn vẫn còn: Nguyễn Nhạc nắm
quyền thấy rằng cơ ngũ đã được đổi mới dưới quyền Huệ mà vẫn phải để
nguyên. Xung đột nổ bùng khi quân Tây Sơn về đến Huế. Sách Hoàng Lê mượn lời Nguyễn Hữu Chỉnh tâu với Chiêu Thống mà nói rõ mối biến loạn này:
“Vua
Tây từ khi về Nam thì kéo về luôn quốc thành, còn Thượng công thì ở Phú
Xuân, nghỉ quân mua vui, hoặc là ban bố mệnh lệnh, sửa sang thành lũy.
Bao nhiêu quân tướng, khí giới, các vật quý báu lấy được ở Bắc đem về,
Thượng công đều chứa vào một chỗ, vua Tây cho người ra vời, Thượng công
cũng không chịu vào chầu. Rồi thì phong quan ban chức, Thượng công đều
tự quyết định, không hỏi gì đến vua Tây. Vua Tây cho người đem ấn ra
phong Thượng công là Bắc Bình vương và hỏi những thứ của báu bắt được ở
phủ Chúa Trịnh, Thượng công cũng không chịu trả lời. Vua Tây giận lắm,
vì thế anh em mới gây ra cuộc binh đao”.
Sử quan nhà Nguyễn
khi bàn về chỗ này quy tội thực nhiều cho Nguyễn Nhạc. Họ cho rằng từ
lúc đánh Bắc Hà thắng, Nhạc đắc chí, ngày càng buông thả dâm loạn, giết
Nguyễn Thung, người cộng sự lúc đầu, lại hiếp vợ Huệ, “người người đều
ghê tởm”. Trong chuyến Bắc xâm, vàng bạc quý giá của Trịnh phủ Nguyễn
Huệ lấy, Nhạc đòi không cho Huệ và ông lại còn tranh chiếm đất Quảng
Nam nữa1. Do đó, chiến tranh mới nổ bùng.
Một
nhân chứng đương thời tại chỗ viết thư nói về việc xảy ra sau ngày Tây
Sơn ở Bắc về, kể nhiều điểm tương tự với các người Việt: Nguyễn Huệ “để
Nhạc đi về Quy phủ và ngay sau đó bắt dân chúng tôn lên làm Đức Chúa;
Nhạc biết tin không bằng lòng nên nhiều lần đe doạ em...”2.
Như
vậy việc Huệ tự chuyên ở Huế, không muốn thuộc dưới quyền Nhạc nữa được
xác nhận ngay cả trong lặng yên (lạ kỳ, có vẻ thiên vị đối với Huệ) của
sử quan bởi vì Nhạc đã lôi em từ Bắc Hà về mà phải chịu để Huệ ở lại
Phú Xuân với vàng bạc cướp được chứ không kéo được về ngay Hoàng Đế
thành như những lần Nam chinh. Sở dĩ Nhạc chịu về Quy Nhơn một mình vì
mối lo của Nhạc đã thành sự thực: binh lính quen chịu sự điều khiển của
Huệ phần lớn đã theo ông này. Hoàng Lê cho ta thấy lúc Nhạc thu
lại binh phù ở Bắc thấy có nhiều sự đổi thay, sắp đặt quân ngũ khác đi
nhưng giả vờ không hay biết gì hết. Ông không thể làm khác hơn ở đất
địch, nhưng về tới Phú Xuân ông cũng không lấy lại được thực quyền: một
phần rất lớn thuỷ quân đã theo Nguyễn Huệ3.
Do đó, ta thấy hành động “dâm, sát” ở Quy Nhơn của Nhạc có thể coi là
vì phẫn chí, vì mối bận tâm thanh toán nội bộ hơn là vì đắc chí như lời
sử quan.
Nhưng tại sao bỗng dưng lần này Huệ trở chứng với ông
anh khi đã không có gì xảy ra hết trong những chuyến viễn chinh Gia
Định? Đó chính là vì Tây Sơn đã tiến đến một giai đoạn khác trong sự
phát triển của họ. Một biến cố có căn cớ sâu xa bắt nguồn từ những
chuyển biến lịch sử bên trong cũng như bên ngoài nước như biến cố Tây
Sơn, tất có những giai đoạn phát triển khác nhau, kế tiếp nhau mà từng
cá nhân đang đóng vai tuồng lịch sử đó không thể thấy được vì phải chịu
giới hạn của cá tính, giáo dục, thành kiến thu nhận và khoảng thời gian
sống nữa. Hãy trở về Nguyễn Nhạc. Như ta đã nói, ước vọng của Nhạc thổ
lộ với Chapman là chiếm cả giang sơn Nam Hà, và chỉ chừng ấy đủ rồi.
Ông vẫn tự nhận mình là vua Tây Sơn, “vua Trời” của binh dân đất Nam
Hà. Đối với đất Bắc, ông trở lại thời kỳ thường dân xa xưa, mặc cảm
tương tự xuất hiện như khi mới gặp Chapman ông đã vội vã thanh minh
việc nổi loạn khiến người khách buôn này không khỏi ngạc nhiên. Trên
đường lật đật ra Bắc, Nguyễn Nhạc gặp ở Nghệ An một đám dân quê khúm
núm dâng lễ vật, gọi “quan lớn”, ông gạt đi:
“Tôi không phải
là quan lớn. Tôi là họ ngoại của Chúa Nam Hà vẫn quen gọi là Biện Nhạc
đấy... Các người hậu tình thấy tôi đi xa, lương khô ăn nhạt mà đem
những món ăn ngon lành biếu tôi, cám ơn, cám ơn...”
Vì vậy khi
Nguyễn Hữu Chỉnh mang mầm mống phá hoại Bắc Hà vào miền Nam ươm giống
phát triển, ông đã không biết sử dụng để lật đổ chúa Trịnh. Ông đã lớn
tuổi rồi, từ một tên Biện lại làm loạn (cho dù có ý thức) lên được vua
Trời, thế là đủ lắm rồi.
Nguyễn Nhạc dừng lại, nhưng những
động lực vô ý thức của lịch sử vẫn thúc đẩy con người tiến tới. Ta thấy
Nguyễn Hữu Chỉnh xui được Tây Sơn ra Bắc xô nốt dấu vết của nền phân
tranh cũ. Rồi trong chuyến đi đó, ta đã thấy Nguyễn Huệ lớn lên như thế
nào. Tuổi còn trẻ, ước vọng còn lớn, chuyến ra Bắc với đất Bắc tan rã
hé cho ông thấy có cả một xứ sở dưới dấu vết đổ nát vẫn chứng tỏ tràn
trề sinh lực, của cải phong phú, xứ sở đó sớm muộn gì cũng vào tay anh
em ông. Thế mà ông cứ cản lại, “sợ khó kìm chế” ông. Lời hịch lúc đánh
nhau có chữ chê Nhạc “khinh suất, can không nghe”4.
Khinh suất, can không chịu nghe chính vì Nhạc tự mãn trở nên coi thường
những khuyến cáo đổi thay, trong lúc Huệ còn muốn tiến nữa5.
Thế
là anh em chia lìa. Quân đi Bắc đã có cơ ngũ đổi thay, khác với lúc
xuất phát, đã luyện thành nếp mới. Một phần nữa họ là dân Thuận Hoá, Bố
Chính, có thể có lính Bắc Hà, họ thích ở lại Huế hơn. Cho nên Nhạc về
Nam mà Huệ còn giữ được quân.
Khi ra Bắc, Tây Sơn chiếm được
kho tàng của Trịnh như các chứng nhân đã nói. Vàng bạc vốn không phải
chỉ cần thiết cho bề ngoài một triều đình mà còn thiết yếu cho việc
binh nhung nữa. Huệ phải giữ lại, và giữ được vì Nhạc cô thế ở Phú
Xuân.
Nhưng Nhạc tất nhiên cũng cần vàng bạc. Ta đã thấy Tây
Sơn cần tiền như thế nào. Chỉ cần thêm một chứng cớ nữa. Trước khi
chiếm Thuận Hoá, vùng Tây Sơn có xẩy ra một vụ rối loạn phong tục do
giáo điều Thiên Chúa gây ra, nên nảy sinh một vụ cấm đạo. Ấy thế mà
những kẻ nào, nếu nghèo, nộp 10 cân đồng, nếu giàu, nộp từ 100-200 cân
đồng thì khỏi phải chối đạo: Đến nỗi L.M Longer phải đưa ra nhận xét:
“Có thể là bạo chúa chỉ làm như vậy vì keo cú bòn mót hơn là vì có ác
cảm với đạo Thánh”6. Số chi của quốc gia vì phải trao đổi với bên ngoài trong một tình trạng kém thế nên lại càng gia tăng gấp bội.
Tây
Sơn, cả Nhạc lẫn Huệ, đều cần rất nhiều tiền. Nhạc đòi vàng đất Bắc,
Huệ cố giữ và nhân đã có mâu thuẫn cũng muốn chiếm luôn kho vàng ở Quy
Nhơn. Chiến tranh xảy ra.
Một bức thư viết ngày 12-5-1787 cho biết chiến tranh xẩy ra đã 3 tháng rồi7. Kẻ nào mạnh thì ra tay trước lấn lướt cho nên Nguyễn Huệ mới kéo quân vào Quy Nhơn trong tuần lễ Tro (21-2-1787)8. Số lượng quân đi, kẻ ước lượng 60.000 người9, người tính đến 100.00010.
chỉ biết rằng với lối hành quân của Nguyễn Huệ số quân không nhỏ được.
“Ông bắt tất cả mọi người phải ra trận”, tất cả nghĩa là mọi người “từ
15 đến 60 tuổi”. Cho nên vùng Thuận Hoá, nhà thờ biến thành trại lính,
tượng thần phật bị lấy ra đúc súng đại bác, đúc nồi11. Khi quân đi rồi không còn đàn ông, ở nhà chỉ có đàn bà, kẻ mất cha, người mất con, kẻ lại mất chồng.
Họ,
những lực lượng quyết định tình thế trên giải đất này họ đánh nhau rất
dữ. Lại bộ Hồ Đồng bị bắt ở trận Đồng Tuyên trước làm cho Nguyễn Huệ
một bài hịch, chửi bằng “sài lang, chó heo” để kể tội Nhạc “làm nhơ uế
cả một triều”, “khinh suất, can không nghe” và cả quyết rằng “ngôi báu
tất phải đổi dời”. _______________________________________ 1. Liệt truyện, q30, 13b, 14a. 2. Thư ông Doussain cho Le Blandin ngày 6-6-1787 (BEFEO, 1912, t. 19). 3. Thư ông Longer cho Boiret, 3-5-1787 (A. Launay, III, t. 143). 4. Liệt truyện, q30, 14a. 5.
Trường hợp Vũ Văn Nhậm theo phe Huệ cũng đáng chú ý. Nhậm không phải ở
vào thế bất đắc dĩ vì ông có thể làm như Nguyễn Văn Duệ. Mọi hành động
về sau: đuổi Duệ. bắt Chỉnh, tung hoành nơi đất Bắc khiến Huệ lo sợ
chứng tỏ ông thuộc lớp người có chí riêng, không đồng ý với sự tự mãn
của cha vợ. 6. Thư gởi cho Dufresne. 1-5-1787 (A. Launay III. t. 126). 7. Thư Longer gởi cho Boiret 3-5-1787 (RI. XIV, 1910, t. 46). 8. Thư Labartette kể trước, tiết 1. Cũng thư của ông, một năm sau 30-6-1788 (Sử Địa, số 9-10, t. 237) cho biết đánh nhau từ tháng 1 âl (18/2-18/3/1787) và chấm dứt tháng 5 âl (15/6-14/7/1787). 9. Thư Doussain, 6-6-1787 (BEFEO, 1912. t.19) 10. Thư Labartette gởi cho Letondal, 21-5-1787 (A. Launay, III, t. 129). 11. Thư Doussain gởi cho Descourvières 8-6-1787 (BEFEO, 1912, t. 19).
Quân Nguyễn Huệ vào vây thành Quy Nhơn, đắp núi đất đặt đại bác bắn đổ
vào. Nhạc kêu khóc ở đền thờ cha mẹ rồi kêu Đặng Văn Chân ở Gia Định về
tiếp cứu. Chân đem binh về đến Tiên Châu (Phú Yên) thì bị đánh tan,
chính mình phải đầu Huệ làm tỳ tướng1. Hai ba lần giáp công, Huệ cũng bị mất đến nửa số quân và phải lấy thêm lính Thuận Hoá, bắt những kẻ vừa đủ 15 tuổi2.
Nhạc
phải lên mặt thành, khóc kêu gọi tình anh em ruột thịt cho Huệ giải
vây. Tinh thần ăn đều chia đủ của anh em họ thật cũng đáng khen, nhưng
đã đem lại tai hại không nhỏ cho triều đại. Trần Văn Kỷ của Nguyễn Huệ
bèn lấy Bến Ván làm địa giới ngăn cách đất của Bắc Bình vương và Thái
Đức Hoàng đế. Còn “chú Bảy” thì được đất Gia Định với tước Đông Định
vương3.
Cuộc chiến này thực là một kinh ngạc lớn cho dân chúng thời bấy giờ4.
Uy danh của gia đình Tây Sơn bị hạ xuống, người ta trông ngóng về một
ông Chủng nào đó mà người ta chỉ biết là kẻ còn sót lại của triều đại
vừa trị vì. Theo lời đồn thì người Hồng Mao sẽ đem Nguyễn Ánh trở về
ngôi vị cũ. Chứng cớ rõ ràng là từ năm vừa qua có mấy chiếc tàu ngoại
quốc đi dọc theo bờ biển Nam Hà, lăng xăng dò đường nước nông sâu, ghé
vào cửa Thi Nại, rồi khi gặp thuyền buồm Tây Sơn cản lại thì nổ súng.
Rõ ràng lắm là tiếng đại bác vọng lại từ bờ biển. Thế lực ông Chủng
mạnh như vậy nên, cũng vẫn theo lời đồn, vua Trời bị ông em quý thúc
đánh thái quá đã phái người xin với ông trả lại ngôi báu mà tên bà con
họ ngoại này đã chiếm đoạt. Tiếng đồn chỉ dựa trên một sự thực là các
tàu De Castries, La Dryade, Le Pandour lảng vảng ngoài bờ biển Nam Hà
để dò xét tình hình xem có tiện cho một cuộc can thiệp không, thế mà
gặp dịp lại được dân chúng thổi phồng lên tạo ra một dư luận mong ngóng
về một vị cứu tinh nơi xa, trong lúc vị này đang bị giam lỏng và chăm
chắm thoát khỏi thành phố Vọng Các.
Trong đám binh tướng Tây
Sơn có kẻ ngả theo phe này hay phe khác, nên ngoài chiến tranh giáp
công chính thức, Nhạc và Huệ còn lo thanh toán nội bộ. Có hai trường
hợp điển hình: Nguyễn Văn Duệ, tướng Nhạc ở vùng Huệ và Nguyễn Đăng
Vân, con nuôi Huệ ở vùng Nhạc.
Nguyễn Văn Duệ vốn được Huệ cho
giữ Nghệ An để kìm chế Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh ra Bắc đuổi Trịnh Bồng,
được thư Duệ hẹn cùng đánh vào, bèn sắp 10 lượng 10 tấm đoạn xúi Duệ
mưu chiếm Nghệ An. Việc Duệ làm loạn này cũng là do mưu kế của Nguyễn
Huỳnh Đức, người bị Huệ bắt sau trận Đồng Tuyên (1783) được cho làm
tướng cùng giữ Nghệ An với Duệ mà lòng cứ đồ mưu về chúa cũ5.
Việc bị Vũ Văn Nhậm phát giác. Đức xúi Duệ đem quân theo ngả Thượng Lào
về Quy Nhơn và lãnh quân đi trước. Nửa đường Đức bày tỏ ý thật và dụ
Duệ theo mình đi tìm Nguyễn Ánh. Nghe Duệ tức giận “thằng này định bán
ta đây”, Đức tính chuyện không êm trốn thẳng qua Xiêm. Còn Duệ xuống
Quy Nhơn.
Được Duệ về giúp, Nguyễn Nhạc lên tinh thần, tưởng
có thể phục thù mối nhục kêu khóc năm ngoái. Tháng 3-1788, Duệ kéo quân
ra Quảng Nam, nơi “biên giới Chăm”. Không được may mắn như năm 1775,
Duệ bị quân Phú Xuân đánh tan, thân phải bị bắt cho voi giầy, đầu bêu ở
thành Hội An6. Nhạc hoàn toàn tuyệt vọng không còn sức gượng dậy nữa.
Câu
chuyện thanh toán nội bộ cũng xảy ra ở Quy Nhơn: Nguyễn Thung hẳn là
một nạn nhân của cuộc xung đột ruột thịt bất ngờ đó. Một nạn nhân khác
may mắn hơn vì ở mãi tận Gia Định. Vẫn biết Gia Định của Nguyễn Lữ
nhưng vụ Đặng Văn Chân cho ta thấy Lữ theo phe Nhạc. Sử quan nhà Nguyễn
chép rằng Nguyễn Đăng Vân là con nuôi của Huệ vượt bể qua hàng ở Vọng
Các mùa thu 1787 vì thấy rõ Tây Sơn là “bạn nghịch”7.
Nguyên cớ viện ra để được nhận hàng không đáng kể cũng như câu chuyện
về hết mệnh đế vương do Nguyễn Văn Trương bịa ra để hàng vậy. Chúng ta
phải lưu ý rằng Nguyễn Đăng Vân là con nuôi yêu quý của Huệ đang ở
trong vùng Nhạc và thời gian vượt bể sang hàng là ngay sau khi chiến
tranh nồi da xáo thịt xẩy ra ở Quy Nhơn. Đăng Vân tất đã trải qua những
dao động mà Nguyễn Văn Duệ đã gặp. Duệ không nghe lời Huỳnh Đức, nhưng
Nguyễn Đăng Vân ở một vùng đầy vết tích của Nguyễn Ánh trong lúc con
đường về Bắc mịt mù tất phải hướng về Vọng Các. Gió mùa không những chỉ
chở quân đi chinh phục mà còn trỏ đường cho tướng trốn chạy nữa vậy.
Nhưng
không phải chỉ có vài chuyện đó xảy ra là thanh toán xong mối hiềm nghi
của tướng và các phụ tá giữa hai miền. Chúng ta thấy người nắm giữ Tả
quân của Huệ ở Đồng Hới là Vũ Văn Nhậm lại là con rể của Thái Đức. Mọi
người đương thời rõ ràng thấy Nhậm ở vào thế khó xử, dù muốn tỏ lòng
trung thành với Huệ cũng vẫn bị gán cho ý nghĩ “trông về bên trong”
(Quy Nhơn). Nguyễn Huệ cũng nghĩ vậy. Tuy nhiên, vốn là một tay có thủ
đoạn, Huệ vẫn dùng, dùng mà nghi ngờ. Đến khi trao quyền lớn cho Nhậm
đem quân hỏi “tội” Nguyễn Hữu Chỉnh, Huệ mới cần phải lo đề phòng biến
loạn, khỏi như ông anh ông trước kia đã không lo đề phòng ông. Cho nên,
ông dặn nhỏ Ngô Văn Sở “Điều lo của ta không phải tại Bắc Hà mà là tại
Nhậm vậy”8. Cái thế
quân tướng hoài nghi như vậy làm cho Nguyễn Ánh sẽ có một viên tướng
tài giỏi chờ đón ở Long Xuyên và cũng để có dịp cho một kẻ chăn trâu
leo lên chức Đại tướng quân: Nguyễn Văn Trương.
May mắn cho
Nguyễn Ánh hơn nữa là việc chia ba đất nước đã giúp Ánh ngăn cách với
kẻ thù nguy hiểm nhất của ông, Nguyễn Huệ, bằng một giải đất của ông
vua già Nguyễn Nhạc “ham dật lạc, cầu tạm bợ yên ổn, không tính lo về
sau”9. Thực vậy,
Nguyễn Nhạc bị em vây đánh phải khóc mới được hoà, tinh thần suy đốn,
không có một phản ứng nào khi Nguyễn Ánh về chiếm Gia Định, bỏ mặc cho
Phạm Văn Sâm là một viên tướng tài, trung thành, lo toan đến thế cùng
lực kiệt, hàng rồi mà vẫn tính chuyện mưu với Nguyễn Huệ phản Nguyễn
Ánh. Nguyễn Huệ cũng không thể làm gì hơn. Như người đồng thời nhận
xét: “Ông tập họp quân lính, hoặc để đánh anh, hoặc để đánh ông vua
chính thức và có lẽ cả hai mục đích (vì ông không thể đánh ông vua mà
không bước qua đất của anh ông”10.
Nhưng như ta đã nói, hoặc tình anh em ruột thịt đã không cho phép ông
làm như vậy. Phải đợi đến con ông, tình thân đã cách xa hơn một ít và
tình thế cũng bức ngặt đến nơi, họ mới chiếm Quy Nhơn để trực tiếp đối
diện với Nguyễn Ánh. Nhưng bây giờ thì chậm mất rồi. Trở lại thời phân
làm ba của Tây Sơn, “Gia Định đơn nhược yếu ớt”11 dưới quyền Nguyễn Lữ là một cơ hội tốt cho Nguyễn Ánh và bọn bầy tôi lưu vong. Họ lục tục trở về. _____________________________________________ 1.
Ta gặp lại tên Chân ở Bắc Hà, sớm nhất sau vụ này là lúc Tôn Sĩ Nghị
sang, Ngô Văn Sở rút đi sai Đặng Văn Chân đem thuỷ quân về trước. Các
trận sau này Chân cũng chỉ huy thuỷ quân. 2. BEFEO, 1912, t. 17. 3. Cương mục q47, 3a, Liệt truyện q30, t. 136. 4. RI, XIV, 1910. t. 46. 5. Truyện Nguyễn Huỳnh Đức trong Liệt truyện q7, 10a-17b, Thực lục q4, 3b-5a. 6. Thư Labartette ngày 30-6-1788 kể trước. Tài liệu của Đặng Phương Nghi (Sử Địa số 9-10, t. 204), lời chú trang 239 cho biết viên quan chỉ huy Tiền vệ bị bắt tên là Trần Đức. Ông Nguyễn Phương (Việt Nam thời bành trướng: Tây Sơn, t. 211) dựa Tây Sơn sử truyện
chỉ rõ viên tướng cầm quân cho Nhạc là Nguyễn Văn Duệ. Chúng ta nghĩ
rằng chính Duệ với quân rút về tăng cường mới gây tự tin cho Nhạc. Còn
tên Trần Đức nêu ra chắc vì ông Labartette ở Quảng Bình lộn với Huỳnh
Đức, người theo Duệ về rồi nửa đường trốn theo Nguyễn Ánh được ban cho
họ Nguyễn vậy. 7. Truyện Nguyễn Đăng Vân. Liệt truyện q13, 20b-21b, Thực lục
q3, 5b, 6a. Sau này Vân hăng hái chống quân Phạm Văn Sâm tới chết hẳn
không Phải vì quá trung thành với chủ mới mà vì mối thù cũ vậy. 8. Liệt truyện q30, 27b. Cương mục q47, 28b. 9. Liệt truyện q30, 42a. 10. Thư Letondal dựa vào thư Labartette ở Bố Chính 7-11-1788 (RI, XIV, 1910, t. 53). 11. Thực lục q3, 1b. _____________________________________________________________Tiết 9
ĐỐNG ĐA: TỘT ĐỈNH CỦA TÂY SƠN
Bắc Hà hay chế độ cũ dưới mắt Tây Sơn * Trận Đống Đa và tác động tâm lý của nó.
“Sáng ngày khi biết Tây Sơn kéo quân về Nam đêm trước, Lê Chiêu Thống đòi các quan vào triều và hỏi: - Anh em hắn cướp hết nước ta mà đi, để cái “nước không” lại đây cho ta, nếu như có việc nguy cấp thì lấy gì mà chống chế?
Các quan ngơ ngác nhìn nhau, không biết nên nói thế nào. Tả hữu chợt có người tâu: - Hôm qua vâng có chỉ truyền sớm nay đặt triều. Bây giờ ngự giá đã tới, dám xin nhắc lại.
Hoàng thượng lại hỏi các quan: - Triều hãy thôi chăng?
Các quan đều nói: - Hoàng thượng ra triều để giáng chỉ đổi niên hiệu, đó là việc lớn sao lại thôi?”
Một đoạn thuật chuyện trong sách Hoàng Lê
vắn tắt cho ta thấy sự tan rã của cái thế thống-nhất-về-Lê. Cái “nước
không” mà Lê Chiêu Thống đã nói đây không phải chỉ là không bảo vật,
không kho tàng. Nỗi kinh hoàng của Chiêu Thống chính do ở cái không khí
trống trơn quyền bính mà Tây Sơn để lại ở Bắc Hà.
Đoan Nam
vương chết, Tây Sơn đi người ta cứ tưởng quyền bính từ đây tập trung về
tay Lê, nhưng tình thế trái ngược lại vì thói quen lâu đời đã không dễ
gì một sớm một chiều xoá nhoà được. Trước hết là về phía nhà vua.
Vị thiên tử 21 tuổi đó có mối thù Trịnh giết cha, có kinh nghiệm tù
ngục nhưng chỉ để nuôi dưỡng oán hờn chứ không được chuẩn bị cầm quyền
nối ngôi ông nội. Ông chỉ mới muốn tự chủ trong việc chôn cất Tiên đế
thì đã bị ông dượng rể giành lấy làm đến phải tạ tội mới được yên thân.
Triều thần nhà vua thì qua 200 năm ở nể cũng không biết việc gì
làm hết. Hãy nhìn bộ mặt ngơ ngác của họ khi Chiêu Thống hỏi mưu lược
giũ nước. Có kẻ lanh trí nghĩ ra thì chỉ được có mỗi một việc là đặt
triều đã nói hôm qua. Thế rồi các quan mừng rỡ nhờ tìm được lối thoát,
đốc xúi vua ra triều để được tung hô mừng thời mới. Ừ, việc lớn quá sao
lại thôi?
Trong khi đó thì phải thấy rằng thói quen làm việc
quanh Trịnh phủ dưới quyền họ Trịnh đã tập thành, để một khi xảy ra
biến cố “đám cố gia di thần nhà Chúa” vẫn còn luyến nhớ họ. Hãy nghe Đỗ
Thế Long biện hộ cho nhà Chúa mà đàn hặc Nguyễn Hữu Chỉnh:
-
“Khi ông mới xuất thân, nào cầm quân, nào phong hầu, cái gì không phải
là ơn nhà Chúa. Nay ông lấy tiếng phù Lê diệt Trịnh để kéo quân ra,
thật là quá tệ. Nếu bảo nhà Chúa hiếp chế nhà Vua là việc có lỗi thì
sao khôngnghĩ cái công tôn phù hai trăm năm trời? Theo người mới mà
phản người cũ tức là bất nghĩa, bới cái lỗi để lấp cái công tức là bất
nhân...”
Cho nên khi văn thần của Lê bất lực thì võ tướng làm
việc ở các trấn một khi kéo quân về chỉ là để phù Trịnh. Khuôn mặt
Trịnh nổi bật nhất là một người đã từng âm mưu giành ngôi anh, tính dựa
vào Kiêu binh đoạt ngôi cháu: đó là Trịnh Lệ, em ruột Trịnh Sâm. Được
Thì Trung hầu tìm đón về Thăng Long, Lệ nhận cho Dương Trọng Tế phản
Chiêu Thống thần phục mình để lập nên triều chúa mới. Một khuôn mặt
khác của Trịnh nhu hoà hơn, nhưng nhờ kích thích của thời thế cũng chứa
nhiều tham vọng: đó là Trịnh Bồng, “ông quận Quế”. Tấn tuồng xoay
chiều, đổi chủ lại diễn ra chớp nhoáng. Nguyễn Mậu Nễ, bộ tướng của
Dương Trọng Tế, noi gương chủ đi đón Trịnh Bồng về đuổi Trịnh Lệ chạy
khỏi phủ Chúa (4-11-1786).
Trong họ Trịnh không còn ai giành
quyền nữa để Chiêu Thống làm áp lực có hiệu quả với Trịnh Bồng nên đành
chịu Đinh Tích Nhưỡng mang quân về ép ông phong chức cho Chúa. Ông cũng
còn hy vọng ở Hoàng Phùng Cơ, nhưng viên tướng này cũng liệu gió phất
cờ mà sắp hàng bên phủ Liêu.
Nhưng tình trạng đó không có
nghĩa là quyền binh đã được tập trung quanh chiếc ngai “đố an” - Án Đô
vương. Những người lăng xăng chạy từ cung Vua tới phủ Chúa tranh các
danh vị Tham tụng, Bình chương:.. “khư khư những thứ cũ rích” không
phải là một lực lượng đáng kể. Bên văn hãy xem một Ninh Tốn, tướng bại
trận Đồng Hới ngày trước, đem cái khôn quyệt “nhanh trí” của mình ra để
dò ý Hoàng Phùng Cơ xem thế mà đổi chiều phò tá. Đám người “sợ hãi xám
mặt” trước Bắc Bình vương, đã bị Nguyễn Hữu Chỉnh mỉa mai tài thuyết
khách từng đem một tên trấn nước để khỏi làm “mê hoặc thiên hạ”, đám
người ấy quả không đủ sức nghĩ xa hơn cách tiến thân bằng mồm mép. Còn
võ tướng Đinh Tích Nhưỡng chẳng hạn, một ông trấn thủ biến thành cướp,
không dằn mặt nổi ông nghè Nguyễn Hãn, còn nói gì đến việc đánh ai?
Tình trạng phân ly từ trên đem đến một sự kết tập binh lính, dân chúng
lỏng lẻo, nay là của phe này, mai bị vào phe khác không có dáng gì hơn
bọn trước.
Nguyễn Hữu Chỉnh thừa hưởng được lề lối kết tập của Tây Sơn có thắng được Trịnh Bồng vào cuối tháng giêng 17871 cũng là lẽ tự nhiên.
Từ
khi bị Nguyễn Huệ bỏ rơi ở Nghệ An, Chỉnh phải lo kiến tạo lực lượng
riêng để bảo vệ bản thân và chờ cơ hội phát triển. Không có Tây Sơn thì
ông làm Tây Sơn vậy. Ông truyền hịch chiêu binh. Ai ngần ngừ, ngỏ ý
chống báng, ông đem tay chân đến giết ngay. Chỉ 10 ngày ông đã có hơn
1.000 quân. Tất nhiên không phải chỉ có sự đe doạ làm nên tinh thần
binh sĩ. Khả năng tổ chức quân binh của ông từ những kinh nghiệm qua
được đem ra thử thách lần nữa. Quân có thiếu chính nghĩa thì phải tạo
nó ra. Một chuyến liên lạc ngầm với Chiêu Thống được tuyên bố khoa
trương khiến dân chúng Nghệ An bỏ phe chống đối mà theo ông.
Về
phần Chiêu Thống từ khi thất vọng với Hoàng Phùng Cơ, quả vua thấy
không còn ai có thể để kêu gọi về giúp ngoài Nguyễn Hữu Chỉnh. Quân
Nghệ An rầm rộ tiến ra. Một trận nhỏ phá tan quân Trịnh Bồng gởi vào
hỏi tội, bắt sống Phan Huy Ích, giết Lê Trung Nghĩa khiến uy thanh
Chỉnh nổi dậy. Một lần nữa, quân tướng quanh phủ Chúa lại lảng xa.
Trịnh Bồng có mếu máo chạy trốn cũng chỉ là thêm chút kinh nghiệm đắng
cay cho con người thời loạn. Chỉ có họ Trịnh là không hy vọng trỗi dậy
nữa: Chiêu Thống tức giận sai đốt tan phủ Chúa để tuyệt diệt dấu vết
của một uy quyền đã áp bức dòng họ mình trên hai trăm năm dài.
Phát
huy chiến thắng, Nguyễn Hữu Chỉnh cho quân đánh bắt Dương Trọng Tế ở
Gia Lâm, bắt Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây đem về giết, đuổi tan quân Đinh
Tích Nhưỡng ở Hải Dương. Uy quyền của Chỉnh lớn dần ngang với thực lực.
Chỗ ở của Chỉnh tấp nập quan chức ra vào.
Tuy nhiên muốn lập
riêng một triều Chúa mà hành động của Chỉnh vẫn có dấu vết của viên Hữu
quân Tây Sơn. Thực vậy, muốn có lực lượng bình Bắc Hà, muốn tìm cách
tập trung một quyền hành từ lâu vẫn phân tán nên bị khinh khi, Chỉnh đã
áp dụng những phương pháp như của Tây Sơn đã làm. Sách Hoàng Lê với những nhận xét chủ quan, thiển cận vẫn cho ta thấy rõ điều đó:
“Bây
giờ tiền bạc trong nước phần nhiều bị nhà giàu giấu cất, nhân dân đói
khổ vì nạn khan tiền, vật giá đắt lên vùn vụt. Chỉnh bèn xin với Triều
đình ra lệnh thu hết tượng đồng các chùa đem về Kinh sư mở lò đúc tiền.
Rồi Chỉnh thả cho thủ hạ đi khắp tứ phía cướp bóc chuông, tượng của các
làng xóm. Người nào mà dám giấu diềm, tức thì bị chúng bắt đem về khảo
đả nghiêm trị. Duy có pho tượng đồng đen ở Quán Trấn Vũ phía bắc Kinh
thành chúng không dám lấy mà thôi. Thấy Chỉnh làm việc như vậy dân
chúng ai cũng ta thán. Một hôm có người dán ở cửa Đại Hưng hai câu
(...), dịch ra quốc văn thời là:
Thiên hạ mất chuông chùa, chuông mất, vạc ở đâu được? Hoàng thượng đốt phủ Chúa, phủ đốt, điện cũng trơ thôi.
Tất
nhiên phương pháp đưa ra không ngăn được kẻ thừa hành nhũng nhiễu.
Chỉnh lại không có đủ tay chân có tài để khống chế người và kìm chế
mình. Chỉnh “mới” quá đối với Trịnh - Lê thần. Cho nên, đến như việc
đánh dẹp Trịnh Bồng, Quận Thạc, Quận Liễn, những kẻ mà bọn thần tử cựu
trào có hồi cũng mỉa mai, thế mà vẫn bị Ngô Thì Chí gọi là “mượn Hoàng
thượng để sai cả nước (.:.), dùng quân trừ bỏ kẻ hại mình”; Đinh Nhạ
Hành cũng tố cáo Chỉnh “lúc cầm quyền ra tay tàn sát; những huân thần,
túc tướng, lệnh tộc và thế gia bị giết hại rất nhiều”2. ________________________________________ 1. Tài liệu của Nhật ký Hội Truyền giáo Bắc Kỳ (Sử Địa số 9-10, t. 195). Hoàng Lê,
t. 132 ghi ngày đốt phủ Chúa là 8-10 năm Bính Ngọ (28-11-1786) so với
ngày Trịnh Bồng vào Thăng Long (4-11-1786) thật quá gần, không kịp cho
quá nhiều sự việc xẩy ra trong thời kỳ Bồng cầm quyền. Chúng ta vẫn
không có tài liệu nào khác để đối chiếu nên tạm dùng các kết quả trên
vậy 2. Trích lại của Hoa Bằng, Quang Trung Nguyễn Huệ, sđd, t. 135
Sự tồn tại của vua Lê cũng là một chứng cớ thất bại của Nguyễn Hữu
Chỉnh. Lê đế vẫn còn đó là nền nếp cũ vẫn còn, dù dở đến đâu cũng còn
có cớ tồn tại. Chỉnh sẽ bị luỵ vào cái không khí ươn hèn đó để đổi mình
đi, như lời nhận xét của Ngô Nho nói với Trần Công Xán:
“Ông
Bằng từ khi đắc thế đến giờ, vàng ngọc chật đai, không giống hồi nhai
rễ rau làm việc được như ngày xưa. Tôi e ông ấy run rẩy ra chốn trận
mạc ắt bị Văn Nhậm bắt được”.
Đó không phải là lời tiên tri. Việc ra Bắc đã được Bắc Bình vương định từ trước, nhưng phải đình lại vì chiến trận Quy Nhơn1.
Nguyễn Hữu Chỉnh ở yên lại tưởng nhân Nhạc - Huệ xung đột mà có thể thu
được mối lợi ngư ông. Ông xúi Nguyễn Văn Duệ chống Huệ không thành. Ông
sai Trần Công Xán vào Phú Xuân đòi đất Nghệ để giải toả áp lực của Lê
thần. Nhưng không phải chỉ số phận sứ bộ mà cả số phận Nguyễn Hữu Chỉnh
cũng đã được định rồi, ở Phú Xuân. Nơi dinh trấn Nghệ, Vũ Văn Nhậm nói
thẳng vào mặt Trần Công Xán:
“Tôi nay đã lãnh binh phù, sớm
tối sẽ kéo thẳng ra Thăng Long, trước hãy chém đầu thằng giặc Chỉnh,
rồi sau mới hỏi vua Lê tại sao bội ơn dong đứa làm phản?... Vua Lê đã
không giữ được nước thì các trấn từ Thanh Hoá trở ra, tôi không lấy
người khác cũng lấy...”
“Vua Lê đã không giữ được nước”, ý
kiến này không phải chỉ của Nhậm. Đó là nhận xét gây nên ước vọng của
Nguyễn Huệ, đó là đầu mối gây nên chiến tranh nồi da xáo thịt.
Việc chuẩn bị đánh Thăng Long được Vũ Văn Nhậm sửa soạn ở Nghệ An vào hạ tuần tháng 10-17872.
Quân đội của Nhậm vét ở Bố Chính, Thanh Nghệ được “hơn 30.000 người”,
bắt đầu tiến ra Bắc khoảng trung tuần tháng chạp. Đụng độ với Lê Duật,
trấn thủ Thanh Hoá của Nguyễn Hữu Chỉnh, từ 26-12, Nhậm đánh trận tập
kích thắng lớn, giết Duật rồi tiến ra Sơn Nam. Hoàng Viết Tuyển ở đấy
lại xung đột với Chỉnh và có ý hàng Tây Sơn nên quân Nhậm tránh được
một mũi nhọn. Quân Nguyễn Như Thái bị thua trên đường đi chiếm Tam
Điệp. Quân tan, Thái bị bắt3,
Nguyễn Hữu Chỉnh phải tự cầm quân. Con Chỉnh, Hữu Du, cũng không may
mắn hơn các tướng khác. Đêm 6 rạng 7 tháng 1 (1788), Chỉnh lẻn về Kinh
thành khóc với Chiêu Thống “Bloi oi la bloi, nhà Lê đã mất rồi!” rồi cùng vượt sông trốn sang Kinh Bắc.
Vũ
Văn Nhậm vào thành Thăng Long (9-1-1788), cho quân đuổi theo Chỉnh,
giết Hữu Du, bắt Chỉnh (12-1) đem về xử tử (15-1), bêu đầu cho công
chúng xem.
Việc thanh toán quyền bính Bắc Hà, cũng như trước
kia đối với Nam Hà, rõ ràng là không khó với thực lực của Tây Sơn.
Nhưng theo với sự mở rộng quyền hành, họ còn phải tìm cách biện chính
hành động, thuyết phục Lê thần, Nguyễn thần công nhận sự đổi thay rồi
thu dụng những người này làm tay chân. Nguyễn Nhạc lúc ra Bắc đã định
“xin” mấy ông nghè đem về nước. Nguyễn Huệ bắt Nguyễn Đăng Trường, thả
đi rồi bắt lại ở Gia Định mới giết đi. Lúc đánh Phú Xuân, ông thu nhận
được Trần Văn Kỷ rồi nhờ người này làm trung gian mời Ngô Thì Nhậm,
Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, hỏi dò Nguyễn Nghiễm (cha Nguyễn Du) để tìm
đến ông già ở ẩn Nguyễn Thiếp trấn Nghệ An4.
Tất
cả những việc đó chứng tỏ Tây Sơn phải mất thì giờ và hao tốn công phu
để khuôn nắn trong dòng ý thức hệ thời đại. Ta không lấy làm lạ, Nguyễn
Huệ vẫn phải giải quyết vấn đề theo những dữ kiện có sẵn. Chính ông vẫn
coi việc thu dụng Nho thần như một tiến bộ cho chính quyền ông. Tây Sơn
thiếu Nho thần, không có một chính sách ở Gia Định, chỉ mang quân tới
chiếm rồi đi, không thay đổi nổi lòng người. Ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ
phải ai cầu Nguyễn Thiếp chính là để quân bình lại cái không khí sùng
chuộng võ uy trong triều ông do ở nơi “những kẻ giúp việc trong nhất
thời đều là những kẻ mạnh bạo”5.
Nhưng
hiện tại sức mạnh Tây Sơn vẫn là ở quân lực của họ, cụ thể ở Bắc Bình
vương Nguyễn Huệ. Tình thế chưa đến để họ gạt triều Lê ra ngoài triều
chính để thuyết phục ông già Nguyễn Thiếp, tuy rằng trong chuyến trôi
dạt theo nguyễn Hữu Chỉnh, Lê Chiêu Thống đã qua kinh Bắc rồi lênh đênh
ở Hải Dương với thổ hào Trần Quang Châu, ở Sơn Nam với trang Hoàng Viết
Tuyển, ở Thanh Hoá, về lại Kinh Bắc, trải qua đủ mùi lưu lạc của ông
vua một triều đại tàn kiếp. Ấy thế mà Lê còn làm cho Tây Sơn mất một
dũng tướng nữa.
Nguyên cớ sâu xa như đã nói là mối bất hoà nội
bộ tận xứ Quy Nhơn. Nhưng nguyên nhân gần cận là thái độ khác nhau của
những kẻ chiến thắng đối với cái “nước không” của Chiêu Thống bỏ lại.
Vũ Văn Nhậm cầm đầu quân tướng Bắc phạt nên hơn ai hết, ông thấy rõ
tình hình nghiêm trọng do các tướng và thổ hào của Lê được dịp mượn
tiếng Cần vương để thoả mãn khát vọng quyền uy trong một xã hội phân
rã. Về phía đồng bọn, nói theo các giáo sĩ đương thời, “Ông còn lo sợ
sự phẫn nộ của Bắc vương vì ông khăng khăng từ chối nhiều lần không
chịu tuân theo lệnh gọi ông về Phú Xuân sau khi đã giết được Hữu Chỉnh.
Ông lại còn bị tình nghi là đã có tham vọng chiếm ngai vàng Bắc kỳ đáng
lẽ là của chủ ông nhân lúc người này đang đánh nhau với Tiếm vương
Nhạc...”6. Cho nên
theo thói quen làm việc có sẵn cộng thêm ý tưởng đề phòng trước biến
loạn, thụ hưởng chiến thắng, ông đã tận lực khai thác đất Bắc. “Người
ta chỉ nghe đến mộ lính, quyên gạo, quyên tiền”. Quân Nhậm bắt các chức
sắc trong làng kê khai đinh điền để tính thuế, bắt xâu, bắt cung nữ. Họ
triệt hạ các mô đất trong làng sợ có thể biến thành chiến luỹ chống họ.
Loạn khắp nơi nên Nhậm phải sai đắp lại thành Đại La. Ngô Thì Chí kể:
“Dân phu đói khát mệt nhọc, có kẻ đương đội thúng đất mà ngã sấp xuống.
Bởi vậy ai cũng ta oán”.
Tình hình nghiêm trọng như vậy nên
Nhậm mới nghe lời một Lê thần mà đem Sùng Nhượng công Lê Duy Cẩn lên
làm Giám quốc để giải toả bớt áp lực tôn Lê. Ngô Văn Sở người được Bắc
Bình vương sai kìm cặp dò xét Nhậm, lại thấy trong hành động đó thêm
một ý nghĩa muốn làm Nguyễn Hữu Chỉnh của viên Tiết chế, nên mật báo về
Phú Xuân.
Cuối tháng 3 (1788), vừa dẹp xong Nguyễn Văn Duệ,
Bắc Bình vương nghĩ tới chuyện ra Bắc. Quân ở đàng xa mà uy danh vương
đã khiến Hoàng Viết Tuyển phải bỏ dinh sở trốn đi. Đại binh với một
đoàn hộ giá gồm 150 con voi, 100 người nằm võng, nhiều kiệu thếp vàng,
Ngọc Hân, Bắc Bình vương tiến vào thành Thăng Long với uy thế khiến Vũ
Văn Nhậm không dám chống cự. Ông bị bắt tức khắc. Hôm sau (5-5-1788),
ông bị trói phơi nắng ngoài pháp trường một ngày cho công chúng coi rồi
bị xử trảm7.
Tuy Ngô Văn Sở nghĩ rất đúng rằng:
“Từ
khi có nước Nam tới giờ triều đại thay đổi không biết mấy lần, thiên hạ
không phải của riêng ai, liệu có thể lấy thì lấy đi, rồi thì đặt quan
chia chức để dựng phên tường cho sự trông nghe của mọi người đều đổi
mới một lượt”.
Nhưng tình thế chưa tới đó, Nguyễn Huệ cũng không
thể làm hơn Vũ Văn Nhậm được. Để hạ bệ Chiêu Thống, Bắc Bình vương ra
một bá cáo công kích ông này vô ơn bạc nghĩa, mất tư cách và vô tài bất
tướng. Đồng thời với bá cáo này có một bản văn khác khôn khéo nhắc công
phù Lê diệt Trịnh của “Đức lệnh”, biện hộ cho việc xử trảm Vũ Văn Nhậm
để đưa ra một cuộc trưng cầu dân ý cho dân chúng “không phân biệt giai
cấp, phẩm tước và địa vị” bày tỏ ý kiến theo Lê hay theo Tây Sơn
(15-5-1788). Chắc là dân chúng muốn theo Lê cũng không thể bày tỏ ở
Thăng Long được. Chiến thắng của Nguyễn Phúc Ánh ở phương Nam và áp lực
vọng Lê ở đây khiến ngôi vị Giám quốc “lại mục” của Sùng Nhượng Công
chưa đổ. Quyền xứ Bắc về tay Đại tư mã Ngô Văn Sở, phụ tá là các tướng:
Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn
Tuyết và các hàng thần Lê: Ngô Thì Nhậm với chức mới Lễ bộ Tả thị lang,
tước Tình Phái hầu, Hình bộ Tả thị lang Phan Huy Ích, tước Thuỵ Nham
hầu, cùng Ninh Tốn, Nguyễn Bá Lân. Các trấn do tướng Tây Sơn chia nhau
nắm giữ.
Nhưng việc chống đói chứng tỏ tiềm lực đất Bắc còn
nhiều. Bắc Bình vương một khi không đếm xỉa gì đến nhà Lê nữa tất phải
biết khai thác tiềm lực ấy, không thể để cho các lực lượng phản động
lợi dụng được. Các văn võ thần đều bị kêu ra trình diện và bị giữ lại ở
kinh thành. Có lệnh bắt nộp ngay lập tức và cùng một lúc các thứ thuế
trước kia vốn phải trả trong 2 kỳ tháng ba và tháng mười (hai vụ mùa),
luôn cả việc truy thu các thứ thuế trước kia chưa được thanh toán. Một
đạo quân 240.000 người, nghĩa là đông gấp đôi số quân thường nhật của
nhà Lê trước kia, được tuyển mộ với hạn định 5 ngày cho xong. Không
đóng đô được ở Thăng Long, Bắc Bình vương cho phá tất cả cung điện của
nhà Trịnh để chuyên chở vật liệu cùng lúa gạo về thành Rum xây Phượng
hoàng Trung đô. Mỗi phường ít nhất phải cung cấp 15 người thợ chuyên
môn cho công cuộc kiến tạo.
Vội vã sắp xếp xong công việc,
ngày 24-6-1788, Bắc Bình vương rời Thăng Long, ngóng tin Phạm Văn Hưng
ở miền Nam, trong lúc Lê Quýnh, Nguyễn Huy Túc, Nguyễn Quốc Đống phò
gia quyến Chiêu Thống vào đất Thanh (12-6-1788), rồi được dẫn tới Long
Châu, Nam Ninh để vận động với Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị ra
quân. Tháng 9 âm lịch (29/9-28/10/1788), sứ bộ “nón rách, áo tơi tàn”
Lê Duy Đản, Trần Danh Án, được Lê Quýnh về đưa đường, mang chiếu thư
cầu viện qua cửa ải để chính thức hoá việc tiến quân của Tôn đã chuẩn
bị sẵn từ tháng 6 Mậu Thân (4/7/1788-1/8/1788).
Ngày 28-11
(1788), quân Tôn Sĩ Nghị và Đề đốc Hứa Thế Hanh tràn qua Lạng Sơn. Cánh
Quảng Tây do Tổng binh Thượng Duy Thanh, Phó tướng Khánh Thành điều
động, cánh Quảng Đông do Trương Triều Long và Lý Hoá Long nắm giữ. Viên
Đề đốc Vân Nam là Ô Đại Kinh thì vượt đường Cao Bằng nhắm Tuyên Quang
tiến quân. Quân số chính quy khoảng độ 2 vạn người nhưng đám phụ lực
nghĩa dũng được dịp đi theo rất đông, gây nên thanh thế lớn, trong đó
có 2.000 quân Nùng thiện chiến của Sầm Nghi Đống. Cho nên, sử gia Nguỵ
Nguyên mới nói “tiếng đại binh có vài chục vạn” và các giáo sĩ đương
thời cho rằng không dưới 30 vạn. Quân số ước tính hơn số 20 vạn của sử
Việt8. ___________________________________ 1. Thư ông Daussain ngày 6-6-1787 kể trước. 2. Chi tiết về ngày tháng, sự việc có chỗ nào không giống với Hoàng Lê, Liệt truyện, Cương mục là lấy ở tài liệu giáo sĩ (Sử Địa
số 9-10, t. 195 trở đi). Tướng tiên phong của Nhậm mà tài liệu này gọi
“Vach Quinh” là Quýnh Ngọc hầu, người thắng Nguyễn Như Thái ở Điềm Xá.
Tài liệu cũng không nói tới “ong Doc chiên” xung đột với Nguyễn Hữu
Chỉnh là ai, nhưng so với các nơi khác ta biết đó là Hoàng Viết Tuyển.
Chính Tuyển coi thuỷ quân, ở Sơn Nam, nguyên cùng với Chỉnh là bộ tướng
Tây Sơn, và kết cục cũng như Doc chiến bị tan quân vì một trận cuồng
phong làm chìm hạm đội. Nhắc lời Chỉnh ở Hoàng Lê “Tuyển ở Sơn
Nam không về (cứu Thăng Long) kịp” là vô lý vì Sơn Nam sau khi Duật bại
đã trở thành tuyến đầu mà sao quân Tuyển lại bất động không giao chiến?
Phải nói như tài liệu giáo sĩ là Chỉnh còn hi vọng xoa dịu sự thù ghét
của Tuyển, hi vọng thành hình khi Tuyển được bạn bè ở Tây Sơn bảo đừng
có về mà nguy hiểm. Tuyển viết thư cho Chỉnh xin tha tội, bị Tây Sơn
bắt được nên phải chống Tây Sơn tới cùng và Chiêu Thống trong lúc cần
người cũng không kẻ vạch chuyện bỏ rơi Chỉnh nữa. 3.
Theo các tài liệu ta thì Nguyễn Như Thái bị giết tại trận. Các giáo sĩ
cho ta biết Thái (mà họ gọi Lê Thai) bị bắt giữ và mãi tới khi Nguyễn
Huệ ra Bắc giết Nhậm mới đem xử tử (10-5-1788), Hoàng Viết Tuyển bị
giết ngày 1-6-1788. 4. Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, sđd, t. 98, 102, 103, 109. 5. La Sơn phu tử, sđd, thư của Nguyễn Huệ gởi Nguyễn Thiếp, t. 105, 106. 6.
Tài liệu “Nhật ký Giáo hội Bắc kỳ”... đã dẫn có nhiều chi tiết giống
với sử ta như chuyện Chỉnh xuất quân dùng dằng vì thấy điềm xấu, Chỉnh
lẻn trốn về Thăng Long lúc nửa đêm, Nhậm xây thành phòng thủ... Duy ở
đây lại nói Ngô Văn Sở đến tháng 12-1788 mới ra Bắc với 2.000 quân. Tôi
theo tài liệu ta vì có nhiều sự kiện về lúc đánh Chỉnh, Ngô Văn Sở được
sử ta nói đến nhiều quá chắc không lầm lẫn được. Còn
về việc thụ hình của Chỉnh thì hẳn tài liệu giáo sĩ cải chính lời
truyền Chỉnh bị “tứ mã phân thây” như người ta vẫn tin Chỉnh đã tiên
cảm trong bài thơ “Cái pháo”. 7. Cương mục q47, 28ab, 29ab; Thực lục
q3, 10b. Sử ta nói Nhậm bị bắt giết trong lúc đang ngủ. Có lẽ vì khiếp
tài hành quân thần tốc của Huệ mà người ta đã hạ giá Nhậm quá đáng.
Quân trẩy ra rầm rộ sao Nhậm không hay biết, nhất là khi Nhậm vẫn có
tâm lo đối phó phương Nam? Tài liệu giáo sĩ có nhiều sự kiện có công
chúng dự khán (Nhậm bị trói dẫn ra pháp trường phơi nắng một ngày) và
lại có chi tiết ngày tháng đích xác nên được chúng tôi theo ở đây. 8.
Ta cố lựa lấy chứng cứ đích xác nhất từ các nguồn tài liệu khác nhau.
Về danh tính quan binh Trung Hoa, ta theo sử Thanh vì chắc họ biết rõ
về người của họ hơn (tuy nhiên có lúc họ viết Hứa Thế Hanh rồi Hứa Việt
Hanh chẳng hạn). Về quân số chắc sử Thanh đã rút bớt số quân chính qui
đi hoặc vì Tôn Sĩ Nghị sợ tội đã báo cáo ít, hoặc mặc cảm thua trận
khiến người ta phải giấu bớt quân. Còn về số ước tính của giáo sĩ, ta
nghĩ rằng họ thấy thanh thế quân Thanh to quá so với cá nhân con người
thời loạn trốn chui trốn nhủi như họ và người đương thời, nên đã phóng
đại ra. Tạm thời ta dùng con số 20 vạn của sử Việt kể luôn quân chính
qui và phụ lực của Thanh, quân nghĩa dũng của nhà Lê, chắc không sai
bao nhiêu. Lực lượng đó đủ làm rung động Bắc Hà. Ở Lạng Sơn, thấy quân lính dưới
quyền trốn mất, Phan Khải Đức ra hàng còn Nguyễn Văn Diễm rút vội về
Kinh Bắc hợp với Trấn thủ Nguyễn Văn Hoà chống giữ và đưa thư cáo cấp
về Thăng Long. Một cuộc hội nghị cao cấp giữa những người giữ thành
được tổ chức. Ngô Thì Nhậm trình bày lợi hại, tính chuyện vét quân
lương khỏi thành Thăng Long để tránh mũi nhọn công kích của địch, bảo
toàn thực lực mà còn nuôi lòng kiêu căng của đối phương nữa. Kế hoạch
thực là sáng suốt nhưng tự ái nhà tướng còn khiến Tây Sơn thử một lần
cho biết sức địch. Phan Văn Lân hăm hở tấn công bị hai toán quân của
Thượng Duy Thanh, Trương Triều Long đánh tan ở 2 sông Nhật Đức, Nguyệt
Đức phải bỏ lính chạy thoát thân.
Đường lối rút quân không còn
ai phản kháng nữa. Thuỷ quân do Thống lĩnh Đặng Văn Chân mang đi trước
đóng ở đảo Biện Sơn. Bộ binh do Ngô Văn Sở lui về giữ chặt núi Ba Dội
chờ tiếp ứng ở phương Nam. Ngày 21 tháng 11 Mậu Thân (18-12-1788)1, Tôn Sĩ Nghị chiếm thành Thăng Long một cách dễ dàng.
Tôn
Sĩ Nghị đóng quân hai bên bờ sông, cất phù kiều để dễ qua lại. Hứa Thế
Hanh chia quân đóng ở Hạ Hồi và Ngọc Hồi để làm thế che chở phía nam.
Phụ giúp vào đám quân này có các đạo nghĩa quân của cựu thần nhà Lê.
Nguyễn Đạo Lĩnh trấn Hải Dương, Hoàng Đạo Nghĩa giữ Sơn Nam hợp với
toán du binh Thanh trông chừng phương Nam. Nhưng đó không phải là những
lực lượng đáng kể. Quân Thanh vào xứ không trông cậy mấy vào bọn thân
binh bản xứ nhưng tựa vào đám kiều dân để làm tai mắt. Trước khi vào xứ
họ đã được những người Trung Hoa đào mỏ, đúc quặng ở Thái Nguyên xin
phụ giúp làm tiên phong. Những người này ở đây đã lâu, tụ tập hơn vạn
người, nhân có loạn trong nước phải võ trang để tự vệ, đã từng có lần
xung đột chiến thắng toán du binh Tây Sơn. Đám Hoa kiều thứ hai gồm
những thương nhân ngụ ở phường Hà Khẩu trong Kinh thành (phố Hàng
Buồm), phố Cơ Xá ở Kinh Bắc, phố Hiến ở Sơn Nam. Họ được thế Tôn Sĩ
Nghị tụ tập hơn vạn người thành trại, tha hồ vu hãm người lành, ức chế
nhà giàu có, cướp giật tiền bạc, bắt hiếp đàn bà con gái ngay giữa chợ,
hoành hành không kiêng sợ gì cả.
Thực ra việc bức bách này,
lúc đầu ra quân Nghị cũng có bố cáo quân lệnh ngăn cấm, nhưng một mặt
thắng lợi quá dễ dàng làm quân sinh kiêu, một mặt binh lính quá phức
tạp nên không ngăn cấm được. Cũng qua 8 điều quân lệnh ta thấy được
Nghị tiên liệu lề lối hành quân chống giữ kể cũng chu đáo lắm. Mỗi tên
lính của Nghị được cấp cho một tên phu đeo thẻ riêng để sai bảo. Quân
đến xứ lạ, Nghị cũng lo đề phòng bị phục kích nên bảo phát đường cho
quang đãng mà đi, đề phòng cạm bẫy trên đường, cho tuần hành nghiêm
ngặt lúc đêm hôm. Để chống voi Tây Sơn, Nghị bảo quân dùng súng bắn lúc
ở xa, dùng cung và đao lúc ở gần, đuổi chúng quay lại xéo quân địch. Về
phần súng hoả hổ của Tây Sơn, Nghị sắp sẵn vài trăm tấm khiên bằng da
trâu sống để chắn lửa mà tiến lên chém giết.
Nhưng dự tính
trong kiêu căng khiến cho Nghị không nhìn thấy thực lực của địch, không
nghe được lời nhận xét của Trần Công Xán. “Họ đi lại chỉ vù một cái...
đánh không thể được, đuổi không thể kịp, xưa nay chưa từng có toán giặc
nào như toán giặc ấy”. Đám quân Tây Sơn còn có kinh nghiệm chiến trận
trên 15 năm qua ở khắp chiến trường, giao tranh với đủ kẻ địch các xứ
từ Trịnh, Nguyễn trong nước tới Hoà Nghĩa quân, Xiêm binh, tàu Tây.
Cho nên, ngày 24 tháng 11 (21-12-1788) tin về đến Phú Xuân, ngày hôm sau Nguyễn Huệ tức tốc lên ngôi tôn2,
kéo quân đến Nghệ An. Ở đây ngày 29, ông đòi Nguyễn Thiếp đến hành tại
hỏi mưu rồi sai Hô Hổ hầu tuyển binh Nghệ An, cứ 3 người lấy 1. Chỉ
trong chốc lát được hơn một vạn. “Sự tra xét gay gắt đến nỗi người ta
không biết trốn vào đâu để tránh quân dịch. Các kẻ sai nha đem chó theo
để tìm người trong khu rừng bên cạnh như người ta tìm thú: người ta lấy
dao xỉa vào các đống rơm dùng để đun nấu”3. Đám người mới này được dùng làm Trung quân theo với cựu quân Thuận Quảng chia xẻ chiến trận.
Trước khi đi ba quân còn được nghe chính chủ tướng họ ban lời huấn dụ để kích thích tinh thần chiến đấu:
“Quân
Thanh sang lấn nước ta, hiện chúng đã đóng ở thành Thăng Long các người
có biết hay không? Trong khoảng trời đất phận sao đã được định rõ
phương Nam phương Bắc, nước nào cai trị nước ấy. Người Trung Hoa không
phải nòi giống nước ta, bụng họ ắt là khác hẳn. Từ đời nhà Hán đến nay
họ đã mấy phen chiếm cướp đất cát, giết hại nhân dân, vơ vét của cải.
Người nước ta không thể chịu nổi , ai cũng muốn đuổi chúng đi (...) .
Ngày nay quân Thanh lại sang, định lấy nước ta đặt làm đất quận huyện
của chúng, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa.
Vì vậy ta phải kéo quân ra đuổi. Các người đều đủ lương tri, lương năng
nên phải dốc lòng hết sức với ta để dựng công lớn, chớ quen thói cũ
mang lòng nhị tâm. Nếu như phát giác, ta sẽ tức khắc giết chết, không
tha một người nào. Đừng trách ta không bảo trước”.
Giá trị lời
dụ bảo đảm giá trị chủ tướng. Để xoá nhoà tâm lý vọng Lê, chống Tây Sơn
của binh lính, Quang Trung chuyển đối tượng thù hận vào người Hán, khêu
gợi lòng ái quốc, nhắc nhở dĩ vãng oai hùng của dân tộc để lấy chính
nghĩa về mình. Thế rồi không lẩn tránh, ông vạch rõ để rửa sạch tâm lý
hai lòng trong quân ngũ, đem uy chen vào ân để chấm dứt bằng một câu
đanh thép: “Đừng trách ta không bảo trước”. Với tướng quen thuộc, ông
làm ngược lại. Khi Phan Văn Lân và Ngô Văn Sở vác gươm ra chịu tội ở Ba
Dội, ông đòi “chém chết một vạn lần” rồi nói rõ cớ tha tội, bàn phương
lược tiến quân, tính đường lui tới khi thái bình trở lại. Chiến tranh
nhiều lúc cũng là sự rủi may nhưng ở đây, quân có lý tưởng, tướng có
quyền hành, phương lược, tất cả chăm chú vào viễn ảnh “năm mới vào
thành Thăng Long ăn mừng”, sự thắng trận thật kề bên như ngày Tết vậy.
Công
cuộc chuẩn bị kéo dài đến một tháng trời. Màng lưới an ninh của Tây Sơn
kéo dài từ Ba Dội đến Biện Sơn đã ngăn cách với Bắc Hà những biến
chuyển bên trong khiến cho một viên cung nữ lọt lưới trốn về Thăng Long
bày tỏ mối lo lắng về hoạ Tây Sơn càng làm cho Tôn Sĩ Nghị dè dặt hơn
không dám cất quân đi.
Ngày 30 tháng chạp (25-1-1789), hơn 10 vạn quân4
chia nhau tấn phát: Đại Tư mã Sở và Nội hầu Lân đem Tiền quân đi trước,
Hô Hổ hầu xuất Hậu quân đốc chiến, Đại Đô đốc Lộc và Đô đốc Nguyễn Văn
Tuyết cầm Tả quân và Thuỷ sư vào cửa sông Lục Đầu, để Tuyết ở lại kinh
lược vùng Hải Dương còn Lộc lên Lạng Sơn, Phượng Nhỡn, Yên Thế chặn
đường về của quân Thanh, Đô đốc Long đem Hữu quân và Tượng mã quân theo
huyện Chương Đức (Hà Đông) ra làng Nhân Mục (huyện Thanh Trì, Hà Đông)
đánh vào quân Điền Châu, Thái sư Bảo5 lại lấy quân tượng mã theo đường Sơn Minh ra làng Đại Áng (Thanh Trì) tiếp ứng cánh hữu.
Nghe
tin Tây Sơn, quân Thanh dán cáo thị thách chiến nhưng Tôn Sĩ Nghị không
ngờ Quang Trung đã nhanh hơn ông tưởng. Chiến trận xảy ra dồn dập như
người ta lo Tết. Chưa hết ngày cuối năm Mậu Thân, quân Lê ở Sơn Nam đã
tan vỡ, du binh Thanh ở sông Thanh Quyết, sông Giản chạy tán loạn đến
huyện Phú Xuyên thì bị bắt trọn không ai về báo. Nửa đêm mùng 3 Tết
quân Thanh ở làng Hạ Hồi nghe tiếng loa gọi quân dạ như vỡ trời, hoảng
hốt ra hàng. Mờ mờ sáng mùng 5 (30-1-1789) trận đánh quyết định xảy ra
ở làng Ngọc Hồi. Cũng đồng thời Đô đốc Long đánh quân Điền Châu ở
Khương Thượng bức viên Thái thú Sầm Nghi Đống chết ở gò Đống Đa mà oan
hồn hẳn còn hận nghe lời mai mỉa của phụ nhân: “Sự nghiệp anh hùng há
bấy nhiêu!”
Nghe bại binh, Tôn Sĩ Nghị “ngựa không kịp đóng
yên, người không kịp mặc giáp” cắm đầu chạy qua cầu phao về Bắc, bỏ lại
quân sĩ bộ tướng chen chúc gãy phù kiều, “hàng vạn người lăn cả xuống
nước, sông không chảy được”. Chiêu Thống ở Kinh Bắc từ trước lật đật
chạy theo để không bao giờ thấy quê cha đất tổ nữa6.
Trận
chiến thắng trọn vẹn một cách bất ngờ khủng khiếp này gieo một ảnh
hưởng rất lớn, thuận lợi cho Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị ném cả ấn tín, mật
chỉ, chạy cốt thoát lấy thân thôi. Toán quân chận đường đã làm cho cả
một vùng biên giới, dân Trung Hoa dắt nhau chạy loạn đến vắng ngắt7. Tình trạng đó tạo một không khí thuận lợi cho việc giảng hoà giữa Thanh và Tây Sơn gây sự nể vì Quang Trung của Càn Long8.
Nhưng
quan trọng hơn chính là sự đảo lộn tâm lý dân chúng trong nước. Đám di
thần nhà Lê ươn ngạnh thấy tận mắt chiến bại thảm thương phải lo lẩn
tránh, nín hơi lặng tiếng. Những kẻ chần chờ, lưỡng lự trước tín điều
trung trinh (với Lê) và tuỳ thời, thấy thay đổi rõ rệt như mệnh Trời
ném xuống, quả quyết bước vào con đường mới. Nguyễn Thiếp là một9.
Trước đó, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra bắt Vũ Văn Nhậm, Thiếp ra chầu ở
hành tại đã nói rõ là vì trung với Lê nên không thể theo triều mới
được. Thế mà năm sau (1789) ông đã sẵn sàng để làm đề điệu coi thi ở
trường Nghệ, biên thư cho “Thượng Đức” bày tỏ tình hình dân chúng, lề
lối cai trị, đề nghị sủa đổi chính trị, học vấn, tuyển chọn nhân tài...
Theo với ông, ta thấy có đám danh sĩ Nghệ An cũng ra phò tá Tây Sơn:
Nguyễn Huy Tự của làng Trường Lưu, Nguyễn Công (con trai Nguyễn Khản),
Nguyễn Thiện (con Nguyễn Điều) của làng Tiên Điền, hai họ danh gia vọng
tộc của Hà Tĩnh. Kế tới Hoàng giáp Bùi Dương Lịch, Tiến sĩ Phan Tố
Định. Quan hệ hơn một bực nữa là sự đổi thay tâm lý của dân chúng vốn
cũng chia xẻ những lý luận của nho sĩ, tuy là phán đoán giản dị, thêm
tình cảm nhiều hơn: “Ách Tây Sơn còn được thích hơn ách quân Trung Hoa
hay nói cho đúng thì sự thống trị của họ dễ chịu hơn dưới các triều vua
trước... thành thử nếu họ bớt bắt tàn nhẫn trong vài trường hợp có lẽ
chúng tôi không mong đổi họ với vị vua nào khác...”10.
Nhưng chiến tranh còn tiếp diễn thì thuế mà khó ngừng thu, binh dịch
khó ngừng bắt. Cho nên, “thuế má quá đáng đến nỗi nhiều làng xiêu đi” và “nhà nào có mấy người thì bắt đi lính cả, nhà có 5 người thì đi cả 5 (không kỳ già nua trẻ yếu)”11.
Oai
danh Tây Sơn, trong cũng như ngoài, làm khiếp đảrn một vùng Bắc Hà. Duy
trong cái không khí say sưa chiến thắng đó có lẽ có một người là thấy
một sự kiện xảy ra ở vùng lầy lội xa tít tận Gia Định có thể đe doạ cơ
nghiệp anh em mình đã tạo nên bằng mồ hôi nước mắt. Phạm Văn Sâm ở Ba
Thắc đã tự đeo gông cùm ra hàng Nguyễn Ánh, chấm dứt quyền cai trị Tây
Sơn nơi này, báo hiệu sự thịnh vượng ở đây sẽ từ từ nhưng chắc chắn
tràn ngập phía Bắc không giải quyết được nghèo đói, mâu thuẫn. _________________________________________ 1. Về ngày tháng, chứng cớ của Lê Quýnh (Bắc hành tùng ký)
chắc đáng tin hơn miễn là với một vài xác định nhỏ thêm. Các giáo sĩ
cho ta biết ngày quân Thanh vào Thăng Long là 17-11 thật quá cách biệt
với ngày do Lê Quýnh đưa ra (18-12-1788). Ta đoán chừng họ ghi lộ ngày
âm lịch vì các giáo sĩ cũng có dùng ngày âm lịch (sau này, ta thấy L.
Barizy cũng có một lần lầm như vậy). Ngoài ra, các ngày đánh nhau Tết
Kỷ Dậu so ra đều sít sao, không có sai biệt nào giữa các tài liệu hết. Lê Quýnh cho quân Thanh chiếm Kinh thành ngày 22 tháng 11 âl (19-12-1788). Nguỵ Nguyên (Sử Địa,
số 9-10, t. 251) ghi tụt lại 2 ngày. Khác biệt có lẽ vì sự lựa chọn sự
kiện khác nhau: Lê Quýnh đợi vua về vào đền Kính Thiên trong thành mới
coi là đã chiếm được Thăng Long; Nguỵ Nguyên phía quân Thanh tính từ
lúc quân Nghị thấy Thăng Long bỏ trống. Như sự khác biệt ngày tháng đó
cũng chứng tỏ cuộc hành quân tiến triển rất chậm.
Ta thấy sách Hoàng Lê,
t. 245, 246 thuật chuyện trước đó đến bờ bắc sông Nhị, chuyện sửa đền
Kính Thiên rước Nghị, và ghi thêm: “Hôm ấy ngày 11 tháng 11 năm Mậu
Thân”. Hôm sau có lễ thụ phong cho Chiêu Thống ở điện Kính Thiên. Nếu
nghĩ rằng thời điểm quân Thanh vào thành Thăng Long là quan trọng không
nhân chứng đương thời nào có thể quên được, thì ta đoán rằng ngày của Hoàng Lê ghi chắc là ngày “21 tháng 11” Mậu Thân mà vì sao qua chép lại đã lọt mất một chữ thôi.
2.
Các giáo sĩ còn cho ta biết Quang Trung lên ngôi từ tháng 10 âl tức là
ngày 8-11-1788 chớ không phải ngày 22-12-1788 như sử ta chép. Chắc ý
định lên ngôi vốn có sẵn mà ngày làm lễ thì phải dời lại vì tin tức can
thiệp của quân Thanh đưa về khiến Huệ phải dời tới ngày xuất quân mới
làm cho long trọng một thể. 3. Thư giáo sĩ Longer gởi cho Julliard (A. Launay, III. t. 238. 4. Liệt truyện q30, 32b. 5. Bản Hoàng Lê của Ngô Tất Tố. Ông Hoa Bằng (Quang Trung, t. 189, chú số 4) cho là Đại Đô đốc Bảo, Đô đốc Long làm tướng Hữu quân, ghi của An Nam nhất thống chí (tên khác của Hoàng Lê), cho biết Long là tên khác của Liệt truyện (q30, 33b) gọi Đô đốc Mưu. Không biết bản An Nam của ông Hoa Bằng gọi Bảo với chức gì. 6. Tài liệu giáo sĩ cho ta biết quân địch chết 50.000 người, tù binh độ 3.000, 3.400 người. Hoàng Lê
nói bắt đến hơn một vạn. Nguỵ Nguyên: hơn vạn người chết đuối, với Hứa
Thế Hanh, Trương Triều Long, quân ngựa của Tôn Sĩ Nghị trở về không đầy
một nửa. Thanh sử cho biết thêm người chết là Tổng binh Lý Hoá Long,
Thượng Duy Thanh và 13 tướng khác. Tù binh theo lời Nguyễn Huệ nói với
Thanh là hơn 700 người.
Về phía thiệt hại Tây Sơn, sử ta im
lặng. Các giáo sĩ cho biết nội trong trận Ngọc Hồi có đến 8.000 người
bị giết trong đó có một sĩ quan cao cấp. Trong khi đuổi theo quân địch
ở sông Thương, Ngô Văn Sở cũng bị thiệt. 7. Liệt truyện q30, 35a. Cả chuyện đánh Thanh là từ 32b-35b. 8.
Ngay đến Hoàng đế Trung Hoa cũng có vẻ nể vì tân Attila này vì ngài mới
phong ông làm vua Bắc kỳ qua trung gian một vị Đại sứ, quên cả việc 50
000 binh lính Trung Hoa đã chết vì tay Tiếm vương năm ngoái chỉ trong
một cuộc giao chiến... Tiếm vương không thèm rời Nam kỳ để nhận sắc
phong tại thủ đô chúng tôi và chỉ chịu phái một vị quan thường nhân
danh ông. Ông này mặc áo Chúa ông làm vị đại sứ Trung Hoa phải kính
nể”. (Thư ông La Mothe gởi ông Blandin, 20-1-1790, Sử Địa, số 9-10, t. 227. 9. Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, sđd. t. 109-147. 10. Thư ông La Mothe gởi ông Blandin đã dẫn. 11. Thư ông Eyot gởi ông Blandin, 5-7-1789 (Sử Địa, số 13, t. 146, 148). In nghiêng là nguyên văn chữ quốc ngữ. |