Chương 4
HỌ NGUYỄN TRUNG HƯNG
________________________________________________________Tiết 10
NGUYỄN PHÚC ÁNH CẦU VIỆN TÂY PHƯƠNG
Nguyễn Ánh, Tây Sơn và giáo sĩ * Nguyễn Ánh và Bồ Đào Nha * Cuộc vận động của Bá-đa-lộc.
“Tháng
7... nghe Bá-đa-lộc ở Chân Bôn, vua sai người đi triệu về, bàn bạc việc
cầu cứu nước Pháp…”. Sử quan nhà Nguyễn chăm chú ghi chép việc xảy ra
(năm 1783) theo ngày tháng, hẳn không lưu ý lắm rằng họ vừa đề cập đến
một trong những sự kiện sẽ quyết định vận mạng chiến tranh.
Thực
vậy, lúc bấy giờ trong ba phe đang chia nhau phần đông bán đảo Đông
Dương, trừ Trịnh đang nghiêng đổ tuy vẫn còn chút bề ngoài huy hoàng, 2
phe còn lại, Nguyễn và Tây Sơn đều biết rằng nếu lôi kéo được về phía
mình đám người mắt xanh da trắng đi trên những chiếc tàu đồng vững vàng
ngoài đại dương kia, thì họ có cơ hội kết thúc chiến tranh mau chóng
hơn. Nếu chiến tranh có làm các tay buôn xa lánh, không chịu chở tới
đồng, sắt, lưu hoàng hay súng đạn, tàu bè thì Nguyễn, Tây Sơn cũng biết
phải tìm nơi đâu: nhóm giáo sĩ Tây phương lẩn lút hay công khai dạy đạo
Hoà Lan trong vùng họ cai trị.
Tây Sơn đã từng ve vãn giáo sĩ
ở Quảng Nam (1774), ở Gia Định (1783), nhưng vì sự cần thiết của chiến
tranh, chiến tranh nổi loạn từ chỗ không có gì khiến họ không những
phải lấy nhà thờ làm nơi đóng quân, bắt tín đồ đi lính, còn phá chuông,
tượng chùa để đúc binh khí tiền bạc, lôi sư sãi đi tòng quân. Cho nên
từ chỗ nghĩ rằng Tây Sơn nổi loạn để khỏi bị bắt giẫm lên thập ác, eắt
cỏ cho voi ăn, vì chúa Tây Sơn là một người đi đạo - ý nghĩ thật là
ngây thơ giản dị - một người dân đã đi đến chỗ tưởng rằng “hắn ta mất
đức tin, là kẻ thù của đạo Thiên Chúa lẫn đạo Thần tượng”1.
Thực
ra Tây Sơn cũng đã thu dụng được giáo sĩ: có 2 linh mục thuộc dòng
Phăng-xi-cô, một người làm thầy thuốc, một người chỉ dẫn về toán học
cho Nguyễn Nhạc đến gần giữa năm 17862.
Nhưng Manille không phải là nơi đúng chiều hướng phát triển buôn bán,
họ không thể có ích hơn 2 viên sứ giả của Nguyễn Ánh ở Gia Định năm
1783.
Trong trận chiến giành giựt giáo sĩ này, các L.M được
thổi phồng khả năng và hoạt động thái quá đến có khi đem lại tai hại
cho họ. Trường hợp của L.M Ferdinand là nhột chứng cớ. Nguyên L.M
d’Arcet ở Quy Nhơn được Nhạc cấp một giấy phép cho tự do truyền giáo ở
xứ này và để đổi lại ông đã hứa cuội với Nhạc là sẽ vận động giúp chiến
cụ. Thế rồi L.M Ferdinand bị bắt ở Gia Định đưa về Quy Nhơn, không hiểu
sao Nhạc lại nhận diện là d’Arcet - chắc là da trắng mắt xanh, râu ria
xồm xoàm như nhau! Nhạc quát mắng rầm rĩ: “Kìa tên L.M phản bội... sau
khi hứa đem đồng lại cho Ta, lại đi về nước rồi mang cho ông Chung đồng
và các chiến cụ để phá xứ Ta. Hãy đóng gông nó lại cho Ta!”3.
Thực
là oan cho viên L.M này đã gánh chịu tức giận của Nhạc thấy binh sĩ
mình chết vì lựu đạn, súng điểu thương gây ra, vì các giáo sĩ khác đã
giúp Gia Định tích cực hơn. Sử quan ghi vắn tắt hai người: Gia-cô-vi và
Ma-nộ-ê là dân Hi-ba-nho được lệnh sai đi Lữ tống xin binh giúp vào năm
Quý Mùi (1783)4. Chỉ
sai có một chi tiết: Gia-cô-vi (tên thường dùng chỉ Jacques Liot) không
có can dự vào vụ này. Hai người sứ của Nguyễn Ánh là L.M Ginestar và
thầy giảng Emmanuel thuộc dòng Phăng-xi-cô.
Việc xảy ra ở Phú
Quốc vào khoảng đầu tháng 7-1783. Nguyễn Ánh đến hỏi Bá-đa-lộc tìm cách
giúp đỡ lấy lại nước. Giám mục quay lại hỏi các L.M Phăng-xi-cô ở đó
xem thử Manille có thể giúp được gì không. Họ đều trả lời “không” vì
Manille không có quân lính. Nhưng Ánh nói mãi, G.M mới quyết định gởi
một người trong bọn đi Manille với một viên sứ giả để cầu viện hay ít
ra cũng tìm được chỗ trú cho vua. Vừa lúc ấy L.M Ginestar và Thầy giảng
Emmanuel muốn thừa dịp trở về Dòng nên nhận lời. Sứ bộ đi trên một
chiếc ghe bầu chở đầy Calaim (cá lầm?) định để bán hay đổi lấy gạo.
Nhưng
họ không thoát lưới Tây Sơn giăng. Họ bị bắt dẫn tới Phạm Công Trị
(12-7-1783). Câu chuyện của P. Ginestar thuật lại cuộc gặp gỡ tra xét
làm chúng ta chứng kiến được một cuộc đấu trí giữa những viên sứ giả sa
cơ mà vẫn còn đủ khôn ngoan đối đáp vừa để tránh thoát tội mình, vừa
trấn an kẻ địch khỏi hư việc vua và một bên những viên loạn tướng cũng
đủ tư cách tướng soái để nhẹ nhàng khéo léo cật vấn kẻ thù cho biết
tình hình đối phương.
Sau khi biết được mục đích đi sứ bại lộ
nhờ tìm ra thư của Bá-đa-lộc giấu trong thuyền mà không bắt tội các L.M
đã nói dối “chỉ trông thấy mặt vua đàng xa”, Phạm Công Trị đem họ về
Sài Gòn dùng làm đầu đề khuyến dụ giáo dân: “Ta không đòi hỏi các người
đổi lại bằng tiền bạc gì hết mà chỉ để các người biết ơn Ta và giúp Ta
lập lại bình yên trong xứ. Các người đã biết tại ai mà xứ sở lộn xộn
rồi, nếu trong các làng các người có ai làm loạn, hãy chạy báo cho Ta
biết...”5.
Tuy
nhiên như Phạm Công Trị đã tiếc, vụ bắt này làm thoát mất hai người
quan trọng: ông Chủng và ông Cả. Ông Chủng thì đang do dự hết tính
chuyện theo sứ bộ đi Manille lại toan chạy trở ra Phú Xuân nhưng sợ
Trịnh không dung6.
Ông Cả thì đang tìm chỗ đặt để đám tuỳ thuộc trong cơn biến loạn, nhưng
Chantaboun rồi Bangkok vẫn không được lại phải lênh đênh trên các hải
đảo.
Nhân vật này thực khá đặc biệt. Đức ông Pigneau (x),
Pierre-Joseph-Georges Pigneau de Béhaine trong hiệp ước 1787, trong
giấy chứng nhận là đại diện toàn quyền cho vua Pháp ở Cochinchine, Giám
mục d’Adran, Bá-đa-lộc, Bi-nhu Quận công, đó là những tên được người ta
gọi một giáo sĩ của hội Truyền giáo Ba-lê ở cái xứ xa xôi này, vị giáo
sĩ muốn đóng vai một “Giám mục trong triều” của Nguyễn Ánh, người đã cố
lẩn tránh khi người ta gán cho danh hiệu ấy và thực ra cũng không bao
giờ có thể trở thành một Richelieu Đại Việt.
Cứ theo lời ông
thì khoảng giữa tháng 12-1784, ông gặp Nguyễn Ánh trên hòn Thổ Châu và
Ánh đã quyết định theo tàu Hoà Lan đi Batavia nếu không có ông cản kịp.
Và trong khi trận Rạch Gầm chưa xảy ra thì ông đã ôm Hoàng từ Cảnh để
cùng Phó Vệ uý Phạm Văn Nhân, Cai cơ Nguyễn Văn Liêm, Trần Văn Học với
đám tuỳ tùng lênh đênh trên Ấn Độ Dương hướng về Pondichéry7.
Đến
bây giờ ông mới tỏ bày lập trường của ông. Ông muốn việc cứu viện Nam
Hà phải về tay một cường quốc Công giáo, gạt ra ngoài bọn Thệ phản Hoà
Lan, Anh. Ông muốn huấn luyện đứa bé ba tuổi trở thành một giáo dân
kiểu mẫu để cho thần dân nó sau này sẽ bắt chước noi theo8.
Tuy
nhiên dù trước kia cố tình chối cãi, người ta đã đồn ầm lên từ cuối
1778 là Nguyễn Ánh sẽ đi Tây cầu viện với L.M Hồ Văn Nghị, một người
thân tín của Giám mục9,
và khi qua Pháp vận động, Bá-đa-lộc đã đưa ra một tờ giấy uỷ nhiệm của
Nội các Gia Định cho ông quyền hành vô hạn, lãnh ấn, hộ vệ Cảnh để xin
viện binh Pháp; tờ giấy này làm ngày 10-7 Cảnh Hưng thứ 4310
(18-8-1782) tức là khi Châu Văn Tiếp chưa lấy lại Gia Định trong tay Đỗ
Nhàn Trập, Hộ bộ Bá. Ý định cầu viện Pháp quả đã định từ lâu.
Mất
công trông coi một đứa bé lên ba, Bá-đa-lộc được giữ trong tay một món
hàng quý giá mà các nước Tây phương đều thèm muốn. Anh quốc sai người
đến tận Pondichéry năn nỉ ông nhường lại Hoàng tử cho họ. Tiếng tăm về
việc cầu viện cũng lan tận Goa. Sự thật từ tháng 4-1780, viên Toàn
quyền Bồ ở Macao, O Fran Savier de Castro, đã gởi thư xin Bá-đa-lộc bảo
Nguyễn Ánh gởi thư cho thành Goa chịu thông thương với điều kiện thuận
lợi. Đổi lại Macao sẽ đảm đương lấy việc cung cấp cho Nguyễn Ánh những
sự trợ giúp cần thiết11.
Việc không đi tới đâu nhưng khi Bá-đa-lộc ở Pondichéry cũng thấy rõ Goa
thèm muốn Hoàng từ Cảnh nên vội viết bức thư ngày 8-7-1785 cho Nghị
viện Macao để “dân Bồ khỏi làm rối các Phái đoàn”. ___________________________________________ 1. Thư Pigneau. Pondichéry. 20-3-1785 (A. Launay III: t. 85. 2. Thư Longer gởi cho Dufresne, 1-5-1786 (A. Launay III, t. 121). 3. Thư P.Ginestar. 1784, BSEI.
XV. t. 90, 91. Thư Pigneau, Bangkok. 5-12-1783 bổ túc tên Ferdinand
bằng Olmédilla. Theo ông, P. Ferdinand chết vì một vụ mê tín đàm tàu.
Người giết ông là “Ông Doc lanh”(?) vốn tàn ác, đã từng cướp bóc các
người Trung Hoa nên bị “Ông Long nhuong” kêu về Gia Định chém đầu.
Chúng tôi phối hợp theo tin của Ginestar, tuy viết thư sau nhưng ở Sài
Gòn vùng Tây Sơn, tất rõ chuyện hơn Pigneau ở Bangkok. Ông Chung: Ông
Chủng. Nguyễn Ánh. 4. Liệt truyện q28, 8b, 9a. chuyện Bá-đa-lộc. 5. Thư Pigneau 20-3-1785 dẫn trước; thư L.M Ginestar 1784. L.M Castuera gởi cho L.M Trưởng tỉnh 11-7-1784 (BSEI,
XV, t. 92-96). Lưu ý rằng theo Pigneau thì việc đi sứ là do 2 L.M chứ
không phải ông đề xướng. Thái độ thật là dễ hiểu: Pigneau vẫn còn muốn
tránh tiếng mình đã can thiệp vào chính trị. Chúng ta theo tài liệu của
người trong cuộc để thấy phần do dự, phần chủ xướng của Pigneau. Hai
người sứ còn sống chứ không phải bị giết như tin của Liệt truyện. 6. Thư Langenois gởi cho Descourvières 14-11-1783: Pigneau gởi cho Descourvières. Bangkok, 5-12-1783, thư Castuera nói trên. 7. .Thư Pigneau ở Pondichéry 30-3-1785 (A. Launay, III, t. 92). Thực lục q2, 4b. Liệt truyện q15, 17a . 8. Thư Pigneau kể trên và thư ở Pondichéry 6-7-1785 (A. Launay, III, t. 154). Liệt truyện q15, 17b. 9. Thư Mgr Le Bon cho hội Truyền giáo 21-12-1778 (A. Launay, III. t. 94). 10. A. Launay. III, t. 158, 159, 160. 11. A. Launay, III. t. 154.
Trong lúc Bá-đa-lộc ở Pondichéry thì một viên cai tàu Macao, Albert de
Souza, đi Manille đòi tiền vua Xiêm trở lại Bangkok và gặp Nguyễn Ánh ở
đấy. Ánh trao cho người này thư gởi cho Toàn quyền Goa. Không biết nội
dung thư nói gì nhưng Bá-đa-lộc cũng gượng nói rằng nếu người Bồ giúp
binh thì công việc truyền giáo của ông vẫn thuận lợi như thường1 (vì ông tin rằng đã nắm được Hoàng tử Cảnh).
Việc cầu Bồ không phải chỉ vắn tắt giữa chừng như Thực lục
đã ghi. Antonio Vicenti Rossa ngày 2 tháng 9 Bính Ngọ (23-10-1786) đến
Vọng Các dâng thư của Toàn quyền Goa báo cho Ánh biết đã có sẵn 56 tàu
chiến (?!) chờ ở đấy. Biết Ánh trong tay Rama I, Antonio đút lót cho
vua Xiêm 28 khẩu súng điểu thương, 100 thước vải Tây để xin rước Ánh đi
Goa2. Tuy rằng Ánh
có nói rõ với Bá-đa-lộc, cũng như với De Richery rằng ông không “nỡ
lòng nào theo đó bỏ đây nên phải uyển ngôn từ tạ”, nhưng tại sao ta lại
thấy Antonio đi về mang theo hai viên quan, trong đó có một người tôn
thất với 15 lính hầu?3
Nguyễn Ánh không theo Antonio được không phải vì không nỡ lòng bỏ
Bá-đa-lộc, nhưng vì “Xiêm vương hằng ngày cho người do thám” khiến ông
“khó nỗi liệu toan” vậy. Vậy tất Ánh không đi được đã sai người đi
thay.
Ở Macao, người ta cũng hay biết nhưng điều kiện của một
thoả ước giữa đại diện Ánh và Toàn quyền Goa. Bồ Đào Nha sẽ giúp Ánh
khôi phục ngôi báu. Mỗi năm Ánh sẽ trả lại “vua xứ Goa” 10.000 đồng bạc
và cũng chừng ấy cho “Hoàng thượng” (Bồ). Thiên Chúa giáo được tự do
truyền bá và được nhà cầm quyền giúp cất nhà thờ bất cứ ở đâu cần tới.
Tàu thuyền, tiền bạc ở Cochinchine một mặt in phù hiệu Nam Hà, một mặt
in phù hiệu Bồ. Ánh sẽ nhường các cửa biển, cho đặt đại sứ... Chi tiết
về điều khoản “cho người Bồ lấy người Việt” và về việc phân biệt “vua
xứ Goa” và Hoàng đế Bồ làm cho thoả ước có vẻ như thực, nhưng những đòi
hỏi đền bù quá quắt như “trả lại mãi mãi”, “cất nhà thờ bất cứ ở đâu”
làm ta thấy tiếng đồn đã quá sự thực. Việc không đi đến đâu vì như
Pigneau đã nói một cách khinh bỉ: “Tôi biết Macao không có một tên
quân” và các sứ giả Nguyễn Ánh hẳn thấy tận mắt thực lực của Macao.
Ở
Pondichéry, Bá-đa-lộc không nghe lời Phạm Văn Nhân vì cho rằng
“Hồng-mao nhỏ nhen, không như Bút-tu-kê nhu thuận, chẳng nên cầu”4.
Quả thực ông là người Pháp! Nhưng nước Pháp với ảnh hưởng của Voltaire,
của nhóm Bách khoa, “quốc gia lạc đường”, nước Pháp đó không làm ông
tin cậy bao nhiêu5. Cuối cùng, tuy vậy ông vẫn chọn nước Pháp, nước Pháp còn vua, và trước nhất ông vận động ở Pondichéry.
Toàn quyền Charpentier de Cossigny thế Coutenceau des Algrains tỏ ra muốn giúp hơn6,
nên gởi chiếc tàu Marquys de Castries do Riehery điều khiển đi Poulo
Panjang (hòn Thổ Châu) để tìm thư Nguyễn Ánh, nhân tiện thả ở đây 34
người đi theo Bá-đa-lộc trước kia, trong đó các Hồ Văn Nghị và Trần Văn
Học. Nghị báo tin cho Nguyễn Ánh hay và tàu hứa chở Nguyễn Ánh đi
Pondichéry vào tháng 12-1786. Ánh rối rít viết thư cảm ơn De Richery,
De Cossigny, từ tạ không đi được vì Xiêm vương canh gác gắt gao. Nhưng
chẳng may cho Ánh, tàu De Castries có nhiệm vụ khác là dò xét bờ biển
Nam Hà từ vĩ tuyến 11-18, coi dân tình có theo Nguyễn Ánh hay không,
tìm cách hoạ đồ bờ bể, vũng tàu, xem xét Ánh có khả năng gì, tướng tá
theo có đông không; nếu Ánh vô tài yếu ớt, thuộc hạ ít, thờ ơ thì về
báo cáo mà không hứa gì hết7.
Sức mạnh Tây Sơn lúc này đang nổi lên như sóng cồn ở miền Bắc trách gì
khi De Richery trở lại Thổ Châu trong tháng 2-1787 khăng khăng không
chịu chở Nguyễn Ánh!
Tàu De Castries qua Đông thì Bá-đa-lộc
cũng đáp tàu Malabar qua Pháp để vận động trực tiếp với Triều đình
(7-1786). Theo ông vẫn là Hoàng tử Cảnh, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Liêm
với 40 người hầu khác.
Thực là một dịp để cho đám thượng lưu
Versailles có đề tài ăn chơi: họ tung ra một kiểu tóc, bài thơ phổ nhạc
tặng ông hoàng Đông phương bé tí xíu mà phải sớm lao đao8.
Rốt
lại ngày 28-11-1787, thoả ước Versailles ký kết, một bên là hầu tước
Montmorin đại diện Louis XVI và một bên là Pigneau de Béhaine thay mặt
Nguyễn Ánh. Các điều khoản phần lớn đã được vạch rõ trong tờ tuyên bố
uỷ quyền của Nội các Gia Định ngày 18-8-1782, đại lược có những khoản
như sau: Pháp hứa giúp Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu, 1.200 bộ binh, 200 pháo
binh, 250 mọi Cafres (điều 2). Đổi lại, Nguyễn Ánh nhường luôn hòn đảo
Hoi-nan đứng trấn đường vào cửa Touron (cù lao Chàm?), nhường cửa
Touron để cho Pháp vương tuỳ ý xây dựng và cuối cùng thêm hòn Poulo
Condore (điều 3, 4, 5). Pháp được quyền tự do thương mại và hơn nữa,
độc quyền thương mại ở Nam Hà. Những chiếc tàu buôn ngoại quốc nào vào
Nam Hà phải có giấy thông hành của Pháp và mang cờ Pháp (điều 6).
Đính theo thoả ước, Bá-đa-lộc còn được Louis XVI uỷ nhiệm làm đại diện toàn quyền bên cạnh Nguyễn Ánh9.
Mọi việc liệu định xuất quân, viên Tổng trưởng Bộ Hải quân, tướng De
Castries, trao toàn quyền cho De Conway ở Pondichéry lúc bấy giờ đang
trông coi quân lực ở Ấn Độ10.
Mọi
việc thu xếp xong, Pigneau xuống tàu Dryade về nước, rời Lorient ngày
27-12-1787. Viên chỉ huy tàu De Kersaint được lời dặn bảo Louis XVI
“gởi gấm Giám mục và cậu bé Hoàng tử”, cho họ “những phương tiện thuận
lợi và thoải mái trong quyền hạn chủ tàu”, cho những người hầu Hoàng tử
ăn cùng mâm với sĩ quan11.
Cách đãi khách thật là lịch sự và chu đáo như trong hơn thế kỷ ăn chơi
vừa qua của giới thượng lưu Versailles, nhưng Bá-đa-lộc có bớt tin
tưởng không khi cố nhìn vào tình hình Pháp lúc bấy giờ, khi nhớ rằng
quyền điều động đang trong tay một người bướng bỉnh, ương ngạnh như
truyền thống Ái Nhĩ Lan của ông ấy đã chứng tỏ?
Tuy nhiên tình
hình Nam Hà được thông báo cho Pigneau biết thực đáng khuyến khích: anh
em Tây Sơn bất hoà. Nhưng Pigneau tin tưởng chừng nào thì De Conway dè
dặt chừng nấy. Ông bảo đợi chiếc tàu của De Richery về báo lại. Ông gởi
thêm hai chiếc tàu La Dryade và Le Pandour để dò xét tình hình, tìm
hiểu các cửa biển, các đảo nhượng địa...12
Thế
rồi từ việc quốc gia đại sự, người ta đi đến những công kích riêng tư.
Bá-đa-lộc nóng nảy, ngọt ngạo khuyên nhủ De Conway “phải biết coi
thường những lời bàn tán giấu dưới cái gọi là thận trọng, kỳ thực chỉ
che đậy yếu hèn” để De Conway nổi cáu trả miếng rằng ông “lấy làm kinh
ngạc thấy một giáo sĩ đáng kính lại chê là yếu hèn những người mà ông
không bổ nhiệm và ông cần phải tìm hiểu nữa”. Bá-đa-lộc lại viết thư
cho De Montmorin báo cáo về thái độ của De Conway “yếu kém sức lực và
tinh thần, không phải chỉ không sửa soạn gì hết mà còn tìm đủ cách cho
cuộc xuất quân thêm khó khăn”13. Mới có một tháng sau ngày Bá-đa-lộc đến Pondichéry mà xảy từng ấy chuyện, tình trạng đổ vỡ thấy rõ ràng.
Việc
Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định, sai Hồ Văn Nghị đem tin báo xin viện
binh cấp tốc tới cũng không làm cho De Conway thay đổi ý kiến: thoả ước
Versailles chỉ là nhột trò đùa.
Việc không thi hành thoả ước
làm cho các sử gia Pháp yêu nước sau này thấy mất một cơ hội chiếm
thuộc địa Đông Dương sớm hơn gần một thế kỷ, nên nổi nóng gọi nhà cầm
quyền lúc bấy giờ là “phản bội, lừa dối, phỉnh gạt”14.
John Barrow vài năm sau cũng tìm cách giải thích sự thất bại này của
Pigneau và tìm ra nguyên nhân ở câu chuyện một người đàn bà. Viên tu sĩ
Pigneau nhận quả có ghét một người đàn bà vợ viên phụ tá của De Conway
đã lang chạ với chủ tướng, nhưng bà ta cũng mang tinh thần chống đối
1789 để nhạo báng De Conway phải chịu quyền chỉ huy của một Giám mục
trong “đạo quân của Giáo hoàng”15.
Nhưng
duyên cớ chính phải tìm trong tình hình lụn bại của Pháp lúc bấy giờ.
Thời gian Pigneau qua Pháp là lúc nội tình Pháp rối ren16.
Một mặt chính quyền thấy cần phải cải cách, một mặt phải chịu đựng phản
ứng của những kẻ vẫn được hưởng đặc quyền nay bị truất đi: cuộc nổi
loạn của đám quý tộc dòng dõi nổ tung ngày 20-8-1786, cuộc hội họp của
Hội nghị quý tộc (tháng 3, 4-1787). Tài chính kiệt quệ tới nỗi mười
ngày trước khi ký thoả ước Versailles Triều đình trù liệu vay 420 triệu
đồng livres. Thêm nữa, trước đó hơn một tháng (tháng 9, 10-1787) một
đạo quân Phổ đã tràn vào chiếm đóng Cộng hoà Batave đánh đổ đảng thân
Pháp làm cho Pháp mất đồng minh trên mặt biển là yếu tố cần để giữ
thuộc địa.
Cho nên, để Bá-đa-lộc đi rồi, viên Trưởng văn phòng
bộ Thuộc địa mới bảo “do lệnh Vua”, cho De Conway hay rằng “không tính
tới chuyện viễn chinh Đông Dương”17. Việc đó đến báo chí đồng thời ở Pondichéry cũng biết18.
Bá-đa-lộc có biết không? Không rõ điều đó, chỉ thấy lúc về ông nói lại
với Nguyễn Ánh là “Quốc vương Đại Tây có tình thực giúp đỡ trong khi
trấn quan hồ nghi chẳng quyết”19.
Nhưng như nhận xét của tờ Gazette nationale
“không bao giờ tình hình dễ dàng cho việc lập lại quyền bính cho ông
vua mất ngôi đã trở về chiếm năm tỉnh phía nam như bây giờ”. Thực vậy,
tuy Nguyễn Ánh còn phập phồng lo sợ, nhưng cũng đã có thể để lấy danh
nghĩa “An Nam Quốc vương” nói với Đại Tây quốc bằng một chút kiêu hãnh
ngầm về cái ý tưởng thăng trầm quen thuộc của Đông phương: “Nghe rằng
đạo trời bỉ rồi lại thái, vận nước tán rồi lại hưng, lý đã có thực vậy,
thời nào lại không...!” _____________________________________ 1. Thư từ Ariancoupam, 12-3-1786 (A. Launaỵ. III, t. 161, 162) 2. Thư Ánh viết cho Bá-đa-lộc, cho Toàn quyền Pondichéry, cho De Richery (xem Phụ lục). Thực lục
q3, 1ab, ghi việc vào tháng giêng Đinh Mùi (1787) so với tài liệu trên
rõ là sai với ngày tháng của các tài liệu đích xác khác kể trên. Hoặc
có thể sử quan ghi ngày Antonio lui tàu chăng? 3.
Nhật ký của ông Letondal ở Macao 1786 (A. Launay, III, t. 156). Thoả
ước ở Macao kế tiếp sau cũng ở sách này, các trang 157, 158. Bức thư
chữ Nôm thứ 8 có câu: “Vả việc Cô-á Quốc sai tàu sang cùng việc Ta sai phục sứ thì đã sai Khiêm Hoà hầu, Thiệm Mẫn hầu dụ tường để sự” (chúng tôi nhấn mạnh) 4. Liệt truyện q15, 17ab. 5. Thư Pigneau từ Pondichéry 6-7-1785 đã dẫn. 6. Correspondance générale, vol VII, t. 571 dẫn bởi Maybon (Histoire moderne. sđd, t. 213). 7. Correspondance générale. vol VII. t. 567, dẫn bởi Maybon, sđd, 1. 216. 8. A. Launay III, t. 174. 175. 9. A. Launay, III: t. 168. 169, 170... 10. A. Launay, III. t. 197. 198, thư của bộ Hải quân gởi cho De Conway - 12-1787. 11. A. Launay. III. t. 177-. Sự thực Nguyễn Văn Liêm, Phạm Văn Nhân. hoàng tộc và võ tướng đâu phải là tôi tớ thông thường! 12. A. Launay, III, t. 183. 13. A. Launay, III. t. 184, 185, 187. 14. Trích dẫn bởi bài bình luận sách Mgr D’ Adran của L.C. Louvet trong BEFEO, 1901, t.261. Ví dụ như tiếc rẻ của Luro de Cultru trong Histoire de la Cochinchine française des origines à nos jours, 1910, t.22. 15. G. Taboulet, “Le traité de Versailles et les causes de sa non-exécution”, BSEI, XIII. t. 105. 16. Histoire de France, II, Larousse. 1954, t. 72. 17. A Launay, III, t. 198. 18. Tờ Gazette nationale ở Pondichéry, ngày 14-6-1789 (A. Launay, III, t. 1999). 19.
Bản chụp ảnh bức thư chữ Hán của Nguyễn Ánh gởi Louis XVI chữ được chữ
mất (A. Launay, III, t. 204). Nguyên bản dịch do G. Taboulet đăng trong
La geste française, I , sđd, t. 214, 215. __________________________________________________________Tiết 11
NGUYỄN ÁNH VÀ TÂY SƠN CỦA GIA ĐỊNH
Tổ
chức giữ Gia Định của Tây Sơn * Nguyễn Ánh và Phạm Văn Sâm * Tiếp viện
của Nguyễn Huệ * Gia Định thoát khỏi tay Tây Sơn * Tổ chức cai trị,
phát triển buổi đầu ở Gia Định.
Phê bình
cuộc tranh chiếm ở Quy Nhơn của Nhạc và Huệ, sử quan nhà Nguyễn rút ra
một kết luận chỉ rõ sự quan trọng của sự việc này như là nguyên nhân mở
đầu cho thời trung hưng của Chúa họ: “Từ đấy giặc lo gườm nhau, thế
giặc tan rã không rảnh để dòm ngó phương Nam nữa”1.
Chúng ta đã phân tích tình thế đó rồi. Tuy nhiên chúng ta phải xét xem
Tây Sơn trong hai năm rưỡi chiếm đóng Gia Định đã làm gì để củng cố thế
lực họ ở đây, để xoá nhoà dấu vết ông chúa cũ, để lôi kéo dân chúng về
phía họ.
Dấu vết công việc còn lại thật là ít ỏi, nhưng cũng
cho thấy tình trạng lúng túng, thụ động của họ. Chúng ta đã biết người
giữ Gia Định sau trận Mang Thít là Đặng Văn Chân. Ông lo đề phòng biến
cố có thể xảy ra do bọn di thần nhà Nguyễn lẩn lút trong dân gian, nên
dời dinh trại lên trên vùng đất cao ở Cầu Sơn2
cách phía bắc trấn 7 dặm để dễ bề chống giữ. Trong năm 1786, ông đắp
dinh trại trên gò cao, còn dưới thấp thì xây cất phố xá, lùa các nhà
buôn Sài Gòn vào ở đó. Nhưng công việc cưỡng ép này không đi đến kết
quả nào như ta đoán biết, một phần vì nơi mới xa chỗ buôn bán quen
thuộc cũ, một phần vì đầu năm sau (1787), Đặng Văn Chân đã phải ra cứu
Nguyễn Nhạc, bỏ dở công việc3.
Ở
Gia Định bấy giờ còn lại Tham đốc Trần Tú coi sóc công việc. Oai võ đã
hạ, binh thế đã yếu thì loạn lạc nổi lên: Lê Công Trấn, Phạm Điền mưu
đánh úp Bến Nghé bị lộ phải chết, trong khi xa hơn, ở Biên Hoà quân
khởi nghĩa của Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Nghĩa kéo dài tới ngày
Nguyễn Ánh về4. Ngoài ra còn phải kể tới Võ Tánh ở Gò Công mà lực lượng lan đến tận Kiến Hoà nhưng không hẳn với danh nghĩa phò Nguyễn.
Xung
quanh trấn mà Tây Sơn không giữ được nói gì ở những nơi xa trong một xứ
còn đầy rừng rậm, hoang vu với kênh rạch bùn lầy. Đám người Miên trong
thời kỳ này tất được hưởng sự tự trị rộng rãi để sau này, trước sự đe
doạ của quân Nguyễn Ánh, họ sẽ quay lại giúp Phạm Văn Sâm, người phụ tá
cho Đông Định vương Nguyễn Lữ khi anh em chia đất. Nguy hơn cho Tây Sơn
chính là sự trở lòng của binh tướng dưới quyền.
Tình hình đó
được Giám quân Tống Phúc Đạm, Thị giảng Nguyễn Đô, Cai cơ Tống Phúc
Ngọc, Cai bạ Nguyễn Thiệm tới Long Khâu (Vọng Các, địa điểm của làng
Gia Long) trình bày cho Nguyễn Ánh rõ và xin Ánh trở về. Việc ra đi
không dễ dàng gì vì như ta biết, Xiêm vương sai canh gác gắt gao. Ánh ở
Xiêm, thuộc hạ có một số quân tướng theo hồi đầu 1785 và 600 người của
Lê Văn Quân sau đó chia nhau lập đồn điền để tự cung cấp, đóng thuyền
bè ở Giang Khảm để chờ cơ hội. Tất cả kéo nhau đi không thể làm lặng lẽ
được.
Cho nên, lén về nửa đêm, để lại một số lớn quân sĩ ở Xiêm5
Nguyễn Ánh tất đã nhìn vào tình hình chín muồi ở Gia Định, được khuyến
khích bằng sự bội phản của Nguyễn Đăng Vân. Người này biết đâu không
làm môi giới cho Nguyễn Văn Trương quay về hợp tác? Nếu không có thông
đồng sẵn thì sao Trương lại sai bộ tướng Hoàng Văn Điểm đi đón từ ngoài
biển rồi tự mình dem hơn 300 binh và hơn 15 chiến thuyền ra hàng? Như
vậy là với 300 khẩu súng điểu thương do Mạc Tử Sanh đưa về đến Hòn Tre,
tiếp thu bọn cướp biển Hà Hỉ Văn cùng bộ tướng Thiên Địa hội của ông ta6,
Nguyễn Ánh tiếp thu được vùng Hậu Giang chỉ tốn có trận đánh luỹ Trà Ôn
do viên Tiên phong Chưởng cơ mới là Nguyễn Văn Trương điều khiển thôi.
Được
chiến thắng dễ dàng khuyến khích, Ánh đưa binh vào cửa Cần Giờ trong
tháng 9 âm lịch (1787) gây khích động dân tâm. Nguyễn Lữ lật đật bỏ
chạy về gò Mụ Lượng (hay gò Vãi Lượng)7
xây thành đất trú ẩn để Phạm Văn Sâm chống giữ Sài Gòn. Viên Thái bảo
này kháng cự mạnh tới nỗi Nguyễn Ánh phải dụng mưu phản gián.
Nguyên
quân Nguyễn có bắt được một chiến thuyền Tây Sơn chở viên Hộ đốc tên Lý
và người thiếp tên Thị Lộc. Ánh không giết lại hậu đãi rồi giả mật thư
của Nguyễn Nhạc nói Sâm kiêu hoành, sai Lữ dùng mưu giết đi. Thị Lộc
được lệnh cầm thư đưa Sâm. Sâm tưởng thật vội kéo cờ trắng lên gò Lượng
định phân trần. Không ngờ Lữ lại tưởng Sâm đã hàng Nguyễn Ánh bèn vội
vã bỏ đồn chạy về Quy Nhơn chết ở đấy, chấm dứt cuộc đời đáng thương,
lạc loài, bất đắc dĩ của con người dung thường giữa đám anh em vượt
chúng, quấy đảo thời thế.
Phạm Văn Sâm từ nay đơn độc ở Sài
Gòn lo việc chống cự. Quân Nguyễn tưởng có thể lấn bước không ngờ bị
đánh mạnh phải mở vây. Sử quan nhà Nguyễn ghi trận thua này như là tự ý
phe họ rút đi nhưng rõ ràng là Phạm Văn Sâm đã thắng thế.
Trên đường rút về phía cồn Hổ8
quân Nguyễn đã thanh toán những chướng ngại dọc đường. Ở sông Ba Vác,
Điều phát Nguyễn Kế Nhuận của Tây Sơn phải ra hàng. Ở Ba Lai, Ngự uý
Tây Sơn là Nguyễn Văn Đồn dàn thuyền trên mặt sông cản lại, Lê Văn Quân
lẻn vào bên trong đốt lửa làm hiệu cho Hồ Văn Lân, Nguyễn Văn Trị,
Trương Phúc Giáo, Nguyễn Văn Tồn phục bên ngoài biết mà ập vào hai mặt
giáp công đánh phá9.
Tưởng có thể chuyển bại thành thắng, quân Ánh lại tiến đánh Mỹ Tho, gặp
phải Phạm Văn Sâm đuổi vừa đến. Hai bên đánh nhau thật dữ dội vì đối
thủ của Sâm là một kiện tướng cũ của Tây Sơn: Nguyễn Đăng Vân, con nuôi
Nguyễn Huệ. Vân bị bắt, không hàng, mắng chửi rồi chịu chết. Nguyễn Ánh
phải bỏ chạy ra cù lao Hổ, còn có 300 người và hơn 20 thuyền, còn Hà Hỉ
Văn và bộ tướng thì lanh chân chạy tuốt ra Côn Lôn ở lì đó.
Tuy
nhiên mặt trận mở rộng, Phạm Văn Sâm phải đương đầu với một tình thế
nguy nan. Thuộc tướng Nguyễn bây giờ có mặt khắp nơi. Tháng 10, Hồ Văn
Lân đánh ở sông Lương Phú đuổi Đô đốc Nguyễn Văn Mân về giữ Thang Trông
10 bỏ lại Chưởng cơ
Chân, Tả hiệu Huấn trở thành Tiền phong cho quân Nguyễn. Nguyễn Văn
Trương, Đỗ Văn Hựu ghi thêm một chiến công bằng cách đánh tập hậu ở
sông Mỹ Lung đuổi Chưởng cơ Từ, thu thêm bộ tốt của Từ cùng vài mươi
thuyền. Phạm Văn Sâm, Nguyễn Ánh bây giờ lại đối đầu, kẻ ở Ba Lai,
người ở Mỹ Lung. _____________________________________ 1. Thực lục q2, 22a, Liệt truyện q30, 14b. 2. Vùng Cầu Sơn còn tên ở Thị Nghè phía đường Hàng Xanh xa lộ bây giờ. Lưu … Sài Gòn thời bấy giờ ở quanh vùng Chợ Quán. 3. Trịnh Hoài Đức, “Thành trì chí”, Trần Kinh Hoà dịch, Đại học số 6 tháng 12-1961, t. 52. 4. Thực lục
q2, 22ab cho việc Tây Sơn bất hoà xảy ra vào tháng 7 âl (1786) và việc
loạn ở Gia Định vào tháng 9 nhuận năm đó (sao không là nhuận tháng 7?).
Chiến tranh bất hoà thực sự xảy ra vào mùa xuân 1787 (xem chương
trước). Trịnh Hoài Đức cũng đồng ý như vậy. Biến loạn ở Gia Định có thể
âm thầm nhen nhúm từ năm trước. 5. H. Cordier, Correspondance générale de la Cochinchine, t. 209. 6. Liệt truyện q6, 12b. 7. Lượng Phụ của Thực lục, Liệt truyện. 8. Hổ Châu của Thực lục,
ở cửa sông Hàm Luông. Xét theo đường lui quân, có lẽ không phải là địa
điểm ở Sa Đéc như tin tưởng thông thường. Địa điểm Hổ Châu của Phạm Văn
Sâm sau này cũng chứng tỏ như vậy: không lẽ Sâm ở Ba Thắc muốn về Bắc
lại ngược dòng Tiền Giang? 9. Ngoài Thực lục, xem truyện Lê Văn Quân, Liệt truyện q27, 2b, 3a. 10. Thán Lung của Thực lục.
Đó là tên đất Nôm theo âm đọc miền Nam: Than(g) Trông, địa điểm ở làng
Phú Kiết, Bến Tranh, Định Tường. Gọi như thế là vì ở đó, theo truyền
thuyết, quân Nguyễn có làm một vọng gác dò chừng Tây Sơn. Cũng vì xuất
xứ địa danh như vậy nên ở Hậu Giang cũng có Thang Trông, Vọng Thê (quận
Huệ Đức, An Giang). Ta dò theo tình hình chiến sự ở đây mà nhận địa
điểm ở Định Tường, loại bỏ địa điểm An Giang. Quân Nguyễn phát triển lần lần. Sâm về sông Mỹ Tho rồi lại về Sài Gòn
trong khi Tôn Thất Hội chiếm Ba Giồng, Hoàng Văn Khánh, Trương Phú
Ngan, Nguyễn Văn Trương, Tô Văn Đoái đắp luỹ ở Nước Xoáy1
dùng trái cau khô làm đạn bắn qua luỹ Tây Sơn bắt họ phải lui. Cho đến
đầu năm Mậu Thân (1788), trừ việc Cai cơ Hà Văn Lục giữ giồng Sao bị
Tây Sơn giết ở giồng Gầm, quân Nguyễn chia nhau chiếm giữ vùng Trà Lọt,
giồng Triệu2, giồng
Sao, thu hẹp phạm vi hoạt động của Tây Sơn trong vùng Sài Gòn, Mỹ Tho.
Dinh Trấn Biên cũng lọt vào tay Lưu thủ Khoa khiến cho Phạm Văn Sâm chỉ
còn dựa vào thuỷ quân3
bảo vệ cho một số địa điểm bám víu trong đồng. Nguyễn Ánh có thể tự phụ
để viết thư khoe với J. Liot rằng: “Từ Ta đề binh phá Tây đồ, thì bộ
binh thâu phục Gia Định phủ các xứ, còn thuỷ binh nó thì trụ tại Mỹ Tho
cùng Bến Nghé, thắng phụ vị phân, thuỷ binh Ta thì ắt còn trụ tại Trà
Lọt...”4.
Tình
cảnh nguy ngập cho Sâm như vậy mà tin tức Quy Nhơn vẫn im lìm. Nguyễn
Nhạc không có phản ứng gì hết từ khi Nguyễn Lữ bỏ chạy về. Các giáo sĩ
đương thời giải thích thái độ ấy, cho rằng: “Nhạc không dám đến đánh
Nguyễn Ánh là vì sợ lúc vắng mặt, em ông có thể đến chiếm lấy kho tàng
mà ông giấu ở ngôi thành độc nhất này”5.
Sự thực cả hai Nhạc và Huệ đều gườm nhau, giữ thế từng tí một, Huệ muốn
đánh Nguyễn Hữu Chỉnh cũng không dám rời Phú Xuân, lại trao quyền cho
Vũ Văn Nhậm mà bụng cứ phập phồng sợ viên Tiết chế này làm phản.
Tuy
nhiên cả vùng Thuận, Quảng, Bố Chính, dân chúng đã lao xao về việc
Nguyễn Ánh quay về Gia Định. Nguyễn Huệ tất phải lo ngại. Theo lời
Nguyễn Ánh thì khoảng đầu năm Mậu Thân (1788), Tây Sơn - ta biết là
Nguyễn Huệ đã gởi “Thằng Hưng” đem đại binh vào cứu “Thằng Sâm” ở Sài
Gòn khoảng tháng 3 âm lịch trước khi họ ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm. Số
lượng quân đội này, Thực lục ghi 30 thuyền, Letondal tăng đến
3-400 thuyền và cho rằng mục đích chỉ đi lấy lương Gia Định cho mau rồi
về thôi. Nguyễn Ánh cũng đề quyết với quân sĩ của mình như vậy và cho
rằng Phạm Văn Hưng chỉ vào vận lương, cứ cố thủ đi vài tháng hắn ta sẽ
lui về.
Nhưng lẽ nào quân Hưng vượt biển vào chỉ độc có việc
lấy lương ở một nơi nguy nan như vậy khi Nguyễn Lữ đã chạy về từ tháng
9 năm ngoái? Có thể Ánh chỉ nói để trấn an quân sĩ. Việc Nguyễn Huệ
giết Nhậm rồi vội vã về Thuận Hoá đợi tin Hưng chứng tỏ nhiệm vụ dò
xét, giúp đỡ nếu có thể - của toán thuỷ binh này ở Gia Định.
Dù
thế nào đi nữa, quân Thái uý Phạm Văn Hưng cũng đã hợp với Phạm Văn Sâm
đánh nhau kịch liệt với quân Nguyễn dằng dai hàng nhiều tháng để ở Phú
Xuân Nguyễn Huệ phải bồn chồn lo ngại6.
Nguyễn Ánh lúc đó cũng vừa thâu phục một tướng tài: Võ Tánh từ Gò Công,
làm tăng quân số Nguyễn lên hàng vạn người. Điều đó cho Ánh tin tưởng
để nói với J. Liot rằng: “Nội tháng sáu Ta cũng đánh được Sài Gòn mà
chớ!”
Thực vậy, trong tháng tư, Nguyễn Ánh từ Sa Đéc sai Tôn Thất Huy, Lê Văn Quân đánh luỹ Trấn Định7,
dụ Cai cơ Tây Sơn là Viên mở cửa đầu hàng, bắt được Chưởng cơ Diệu.
Thừa thắng họ tiến đến Thang Trông đánh bắt Đô đốc Nguyễn Văn Mân. Như
vậy Tây Sơn đã mất căn cứ Mỹ Tho. Quân sĩ của họ chạy tán loạn vào
trong dân gian gây ra một mối đe doạ an ninh cho thôn xóm, cho tất cả
đất Gia Định một khi Nguyễn Ánh lấy được. Cho nên một mặt ông lấy lòng
dân chúng bằng cách ra quân lệnh cấm binh sĩ sách nhiễu tiền bạc, vợ
con dân gian, để từ đó dùng lợi lộc dụ họ đối đãi tốt với quân sĩ Tây
Sơn, lôi kéo đám binh này về phe mình: ai mà nuôi một binh lính Tây Sơn
bỏ chạy về làng thì được miễn binh dịch một nửa, hai người thì được
miễn hết, ba người trở lên thì được thưởng. Mặt khác, ông dụ binh Thuận
Hoá bằng cách kêu gọi tinh thần địa phương của họ, nhắc nhở đến mối
liên lạc xứ sở của họ với dòng cựu Nguyễn xưa kia để họ an tâm phò tá,
gợi lòng nhớ quê, xa xứ của họ để họ ra hàng tòng quân theo về đất cũ.
Tây
Sơn càng bị siết chặt: ở Đồng Nai, họ bị Nguyễn Văn Nghĩa phá tan. Ở
luỹ Ngũ Kiều, Đốc chiến Tây Sơn Lê Văn Minh bị Tôn Thất Hội vây chặt
rồi lại phải thua trận hoả công do thuỷ binh Nguyễn Ánh từ Ba Giồng
tiến lên. Thế là trận vây Sài Gòn bắt đầu.
Nguyễn Ánh đóng binh ở rạch Thị Nghè8
trong khi Phạm Văn Sâm dàn binh từ chợ Điều Khiển đến chợ Khung Dung
chống cự. Ánh sai Võ Tánh đi vòng phía nam đồng Tập Trận thẳng tới Bến
Nghé để chận đường lui quân. Hai bên giáp công, Sâm không địch nổi phải
bỏ chạy. Quân Ánh ca khúc khải hoàn vào Sài Gòn ngày Đinh Dậu tháng 8
Mậu Thân (7-9-1788).
Phạm Văn Sâm ra cửa Cần Giờ không được vì
Lê Văn Quân đã chận ở đó rồi bèn về Hàm Luông rồi về Ba Thắc binh hai
bên bờ sông đắp luỹ cự chiến. Ông còn dựa vào đám binh Miên nổi loạn ở
Trà Vinh, Mang Thít để làm thế nương tựa chống đánh. Nhưng Nguyễn Ánh
đến, Miên binh hàng phục. Việc binh ở đây giao cho Tôn Thất Hội quản
lãnh Vĩnh Trấn trông chừng Sâm không cho thoát ra các cửa biển về được
Quy Nhơn. Sâm ở đây cố thủ từ tháng 9 đến tháng giêng năm sau (Kỷ Dậu
1789) không hi vọng gì ở cứu binh cả vì Nguyễn Nhạc thì lặng yên còn
Nguyễn Huệ thì bận chiến tranh với quân Thanh. Ẩn hết mùa gió bấc, đầu
năm Kỷ Hợi, Sâm muốn đem quân ra biển chạy thì bị phá ở cù lao Hổ. Đến
lúc này Ánh cũng muốn thanh toán xong Ba Thắc, “Nhứt chiến cho tuyệt
hậu ưu”9. Các danh
tướng của Ánh đều có mặt nơi đây: Lê Văn Quân, Võ Tánh, Tôn Thất Hội,
Nguyễn Văn Trương. Ở cù lao Hổ họ giết được Đô đốc Nguyễn Hùng, nhưng
đổi lại Cai cơ Nguyễn Văn Mai và Đỗ Văn Hựu bị súng bắn chết. Ở Ba Thắc
Nguyễn Ánh nhờ một viên tướng cũ tên Thanh Hàm hàng Tây Sơn nay phản
lại nên đuổi được Sâm chạy về sông Cổ Cò10.
Còn một toán binh cuối cùng ở cửa Mỹ Thanh lên tiếp cứu dưới quyền Tham
đốc Trần Hiếu Liêm, Chỉ huy Nguyễn Chuẩn thì bị phá tan. Chuẩn chết,
Liêm hàng, Sâm thế cùng lực kiệt cùng với bộ tướng đem thuyền bè khí
giới mang gông ra phủ phục hàng kẻ chiến thắng11. _______________________________________ 1. Hồi Oa của Thực lục. Đó là địa điểm Vàm Nao ở Tân Châu. 2. Giồng Phú Triệu ở Cái Bè? 3. Thư chữ Nôm đánh số 9, đề ngày 6-1 Cảnh Hưng 49 (1788). 4. Thư số 10 đề ngày 15-1 Cảnh Hưng 49 (1788). 5. Thư Lavoué gởi cho Boiret. Descourvières ở Paris từ Tân Triệu 13-5-1795 (BEFEO, 1912, t. 32). 6. Thư số 11, 20-5 Cảnh Hưng thứ 49 (1788). Thực lục
q3, 7b đặt chuyện vào tháng 10 âm lịch Đinh Mùi (1787), thật quá sớm.
Ông Letondal (RI, XIV, 1910, t. 53) viết thư ngày 7-11-1788 bắt đầu
chuyện này bằng câu: “Vào tháng 7-1788 viên bạo chúa ấy rất lo lắng về
3 hay 400 ghe mà ông gởi vào Đồng Nai”. Ông viết theo thư Labartette
cho biết, như vậy việc Nguyễn Huệ gởi quân đi vào Nam xảy ra trước
tháng 7 dương lịch nhiều tháng đúng như xác nhận của Nguyễn Ánh trong
thư gởi cho J. Liot kể trên. Thực lục cho rằng quân
cứu từ Qui Nhơn vào, nhưng Hưng là tướng của Huệ vì ta thấy sau này
(1793), ông cầm quân Phú Xuân vào cứu Qui Nhơn. Nguyễn Ánh chỉ viết
“Tây Sơn là thằng Hưng”, Letondal không biết tên Hưng, nhưng Olivier
viết cho Letondal (thư ngày 15-7-1789, BAVH, Oct- Déc 1926. t.
362) có nói Nguyễn Ánh bắt một tướng “do loạn tướng Huệ gởi đến, tha
tội rồi nghi ngờ gì đó, ông dem chặt đầu”. Olivier lầm Hưng với Phạm
Văn Sâm, nhưng lời đó thêm chứng cớ rằng Hưng đã được Huệ gởi đến. Có
lẽ thấy cứu không được, Hưng đã bỏ về trước khi Sài Gòn bị vây (tháng 6
âl) nên mới thoát được. 7. Vùng Tân Hiệp bây giờ. 8. Nghi Giang của Thực lụcTên các chợ thấy ở ĐNNTC, Lục tỉnh Nam kỳ cũng như ở Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức. 9. Thư Nôm số 12. 10. Cảnh Lộ giang của Thực lục. 11. Thư Castuera từ Chợ Quán 11-6-1789 (BSEI, XV, La révolte, bđd. t. 100, 101). Thế là sau hơn một năm trời lao khổ, Nguyễn Ánh đã quét sạch Tây
Sơn để làm chủ Gia Định. Trong khi hiệp ước Versailles chỉ còn có giá
trị của một tờ giấy lộn thì Nguyễn Ánh vẫn nghĩ rằng viện binh sắp về
để tăng tiến thực lực của ông. Kinh nghiệm những ngày chiến bại cũ làm
ông quá lo lắng. Nhưng bọn tuỳ tướng của ông như Nguyễn Văn Thành thấy
cái hại của việc cầu viện người ngoại quốc nên từ độ còn ở Xiêm đã
khuyên ông không nên trông chờ gì ở ngoài.
Việc Nguyễn Ánh về Gia Định thắng ở đây trong khi nước Pháp không đủ sức gởi viện binh đã là một sự kiện quan trọng.
Như
nhận xét của L.M Castuera “dù là người Pháp không tới nữa thì cũng gần
như chắc chắn là trên bộ hay dưới nước gì người Tây Sơn cũng không
thắng được Vua, vì hai anh em họ bất hoà nhau và vì cuộc chiến mà một
người em phải chống với Tàu”. Quyền đã về tay Nguyễn Ánh ông phải tổ
chức Gia Định như một người chủ, biến đám đánh mướn dưới quyền
Bá-đa-lộc thành bộ hạ tay chân, đưa kỹ thuật mới vào trong nước cần
thiết cho chiến thắng mà không có địa vị uy danh gì để làm đảo lộn trật
tự trong nước. Ý thức hệ cũ vẫn làm nền tảng cho tổ chức xã hội đương
thời. Dù Nguyễn Huệ, dù Nguyễn Ánh không ai có thể làm khác hơn được.
Từ
khi về, mỗi lần lấy một nơi chắc chắn là Nguyễn Ánh lo tổ chức cai trị.
Đất Hà Tiên bị tàn phá vì vốn là một đầu mối gây bất hoà với Xiêm nên
Nguyễn Ánh phó cho Mạc Tử Sanh, người vẫn tỏ lòng trung thành với vị
chúa của cha mình nhưng lại được Phật vương nuôi dưỡng, kẻ trung gian
rất tốt trong tình giao hảo Xiêm - Việt. Sanh chết, Ánh dùng một người
Xiêm là Ngô-ma cho làm Cai cơ trông coi trấn đó (hay là chấp nhận trấn
thủ của vua Xiêm đề cử?) Vĩnh Trấn dinh yên ổn hơn nên được đặt công
đường cho Phạm Văn Thận làm Ký lục giữ.
Nhưng chiến tranh tiếp
diễn thì ta thấy các tướng quân lãnh trông coi luôn việc hành chính.
Cho nên vừa đánh được Mỹ Tho lập công đường dinh Trấn Định thì giữ việc
dân, binh là các tướng Tôn Thất Huy, Tống Phúc Đạm, Phạm Văn Sĩ. Việc
đó chỉ là tạm bợ. Ở Sài Gòn, Nguyễn Ánh lựa các viên Tham mưu quân đội
chuyển qua các bộ Lại, Hộ, Hình để lập một triều đình. Việc khá quan
trọng là ông đã thu phục đám nhân sĩ do Võ Trường Toàn đào tạo hay ảnh
hưởng gồm cả người Việt, người Minh Hương, để giúp việc từ lệnh buổi
đầu: Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Tòng Chu, Hoàng Minh Khánh...
Noi theo tiết tháo của thầy, hành đạo ẩn dật trong thời loạn, nay ra
giúp việc, giúp đời, họ sẽ có đủ khả năng và cứng rắn, tự tin để bênh
vực đạo Thánh. Họ sẽ họp thành một khối vững vàng để bảo vệ ý thức hệ
Khổng giáo chống mọi xâm nhập khác.
Về việc cai trị ở đây,
Nguyễn Ánh cũng gặp khó khăn gây ra vì nhóm người Miên. Thực ra Miên
binh dưới quyềncủa Nguyễn Văn Tồn ở Trà Vinh1
cũng giúp Nguyễn Ánh rất nhiều trong việc đánh Phạm Văn Sâm. Nhưng họ
bất thường nay đầu mai đánh thật khó mà liệu định. Tướng Ốc nha Ốc theo
Phạm Văn Sâm bị đánh đuổi chạy về Cần Thơ gặp Nguyễn Văn Phong bắt
giết. Lê Văn Quân và Võ Tánh giữ Ba Thắc cũng không yên. Nguyễn Ánh
đành phải đặt kế hoạch cho tự trị: ông đòi hai tướng về rồi cho viên
quan Miên về đầu là Gia-tri-giáp trông coi xứ ấy, phủ Trà Vinh thì giao
cho Ốc-nha Chích cai trị.
Tính cách phức tạp về chủng tộc, về
quê quán làm cho việc kiểm tra dân số cũng thêm phần phiền nhiễu. Việc
kiểm tra lại cần có để giữ an ninh, để định binh số mà bắt lính, thu
thuế. Trước nhứt người ta kiểm điểm lập danh tính những người tòng
quân: quan quân các chi, hiệu, đội, thuyền cứ bằng vào tên tuổi, chức
sắc mà đưa về quê quán làm sổ sách. Về phía các tổng xã thôn phường đều
phải ghi vào sổ những người ở ngụ, ẩn lậu cùng với lính Tây Sơn trốn
về. Đám người không tư sản thì được ghép vào hạng cùng cố, miễn nạp các
thức cần cho binh vụ nhưng vẫn phải làm xâu như mọi người. Để đẩy mạnh
việc kiểm tra dân lậu, từ tháng 5 nhuần Kỷ Dậu (1789), Nguyễn Ánh lại
cho phép thưởng người tố cáo: dân tố cáo thì được miễn một năm xâu,
lính thì được thâu nơi ấp trưởng, người chứa chấp 40 quan tiền. Về mặt
xã hội, các loại phù thuỷ, đổ bác, đồng bóng, hát xướng đều bị cấm chỉ.
Tất cả những biện pháp khắc khổ đó đều để nhằm vào việc tổ chức
một quân đội mạnh đủ để giữ vững Gia Định. Việc tuyển binh cho ta thấy
rõ sự cần kíp đó. Từ tháng 10 Mậu Thân (1788), sau khi vào Sài Gòn,
Nguyễn Ánh buộc dinh Phiên Trấn tiên khởi trong việc bắt tráng đinh, cứ
hai người lấy một lập thành phủ binh, chia đội ngũ ra chỉnh bị đánh
giữ. Quân được hưởng ưu đãi nhất là quân bảo vệ Nguyễn Ánh. Theo lệ mỗi
tháng họ được cấp một vuông gạo, 1 quan tiền, áo quần hai thứ, lại được
cấp riêng cho một người dân có tên trong sổ bộ để sử dụng. Nhưng rõ
ràng là không phải ai cũng được hưởng ưu đãi đó nên lính trốn thật
nhiều đến nỗi quan phải ra lệnh cho dân, quân ai bắt được thì thưởng
tiền, miễn xâu.
Những hoạt động binh vụ phải tựa trên một nền
kinh tế dồi dào mới có cơ trường cửu được. Ánh lại có kinh nghiệm cũ về
những chuyến thương thuyền Trung Hoa đem lái thịnh vượng cho đất này
nên mở mang ngay một chính sách mời mọc và kiểm soát các thuyền buôn.
Theo bảng thuế lệ liệt kê ra, ta thấy đến cập bến có các tàu Hải Nam
(chịu thuế nhẹ nhất: 600 quan, ngoài lễ lạc khá nhiều), Triều Châu,
Phúc Kiến, Quảng Đông, Thượng Hải (cả hai chịu thuế nặng nhất: 3.300
quan). Quan quân chú ý những vật có liên quan đến binh dụng như đồ
đồng, chì, diêm tiêu, lưu hoàng, không cho buôn bán riêng tư các loại
này. Các sản vật trong nước cũng không được trộm chở đi. Ai thông đồng
mua bán riêng tư với nhau thì bị đánh 100 roi cấp làm dịch phu 3 năm,
tịch thu tài sản. Nói tóm lại đó là một chính sách kiểm soát khắt khe
làm sao quân đội được sử dụng tài lực trong nước đến mức tối đa.
Không ngồi đó để trông chờ tàu buôn đến bán binh khí, Nguyễn Ánh sai các người trong nội viện đi Châu Thái2
mua súng lớn, đạn dược, lưu hoàng, diêm tiêu... Ông viết thư cho J.
Liot bảo ông này mời gọi tàu Tây tới bán binh khí khỏi chịu thuế3.
Việc
phòng thủ cũng được tổ chức chu đáo, nhất là về phía biển, nơi đột nhập
của địch quân: các phong hoả đài được dựng lên ở Cần Giờ, Đồng Tranh,
Vũng Tàu. Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành lo đi tuần tiễu các cửa
biển. Thành Cá Trê, Vàm Cỏ được xây lại. Lê Văn Quân được phái đi đóng
giữ Bà Rịa. Cuộc tổ chức mới ở năm đầu mà cũng có vẻ vững chắc lắm4. ______________________________________ 1. Truyện Nguyễn Văn Tồn, Liệt truyện q28, 3a-4b. 2.
Không biết ở đâu. Theo nghĩa duy danh của chữ Châu Thái 珠 揉 có phải là
một nơi khai mỏ ngọc, châu báu ở bờ biển Xiêm, Mã Lai, Miến Điện? 3. Thư số 11 ở Phụ lục. 4. Những sử sự kể trong tiết, trừ các xuất xứ khác có ghi, đều lấy từ Thực lục q2, 18b đến hết, q3, q4, 1a-15a.
_____________________________________________________________Tiết 12
TIẾP VIỆN CỦA BÁ-ĐA-LỘC
“Je ferai seul la révolution” * Các tay phiêu lưu Tây phương ở Việt Nam: vai trò, địa vị và ảnh hưởng của họ.
Phút đâu tàu đã chạy lên, Buồm trương gió du [?] hai bên kéo lèo. Tới nơi Bến Nghé gieo neo, Dưới trên buồm cuốn xả lèo răng răng. Đùng đùng súng bắn liên thanh Chiêng cồng mừng rỡ vang râng dầy dầy. Hai bên tứ diện đông tây, Dưới trên thiên hạ dầy dầy đều coi. Mừng tàu rày đã tới nơi, Mừng Thầy lại với Con người đã sang1.
Đó
là những lời thuật chuyện đón rước Bá-đa-lộc và Hoàng tử Cảnh của một
tác giả vô danh nào đó. Cả hai cùng đoàn tuỳ tùng và 4 giáo sĩ bước lên
chiếc tàu La Méduse quá giang về. Ngày 28-7-1789 họ cập bến Vũng Tàu, ở
đó đã có Tôn Thất Hội đón rước2.
viên thuyền trưởng, Hầu tước De Rosily Meros cho bắn 15 phát súng, cho
De Béhin và vài sĩ quan đưa lên. Luôn thể ông cũng tỏ một cử chỉ bặt
thiệp: “Tôi tưởng có bổn phận phải thêrn vào cho sứ bộ nhỏ bé này 2.000
cân thuốc súng để cho cậu Hoàng tử không có dáng trở về với hai bàn tay
không và để làm vui lòng Giám mục đã tỏ vẻ ước muốn chúng lắm”3.
Hai
chứng nhân ở hai địa vị có hai lối nhìn riêng về cuộc đón rước. Nhưng
tất cả đều là sự thực bởi vì chúng lộ cho ta thấy nhưng khía cạnh khác
nhau của sự thực. Sự thực là một bên ở phía Gia Định, ngoài tấm lòng
của một người cha “quan sơn vạn lý hoài niệm”, nay hân hoan thấy mặt
con, còn có những người dân lính, quan vua mừng rỡ được thấy bạn bè
tiếp sức, đem từ phương xa lại sự tin tưởng thắng lợi ở ngày mai. Sự
thực là đám người trở về đó có lúc cũng đã tin tưởng như đám người đón
rước họ bây giờ, mà rốt lại lúc này chỉ là “một sứ bộ nhỏ bé”, đi không
lại trở về không.
Nhưng sự việc đã ném tung ra rồi thì nó sẽ
mắc nối để lôi cuốn các sự việc khác xảy ra tiếp. Cảnh đi cầu viện, các
nước Tây phương đều biết. Duy họ không can thiệp được vì chính họ đang
phải lo gỡ rối cho họ, gỡ mối bòng bong mà chính nền văn minh họ đã tạo
ra.
Chính phủ đã không giúp ích gì được thì các tư nhân phân
tích tình hình theo lối nhìn riêng của họ đã bày tỏ sự tán đồng can
thiệp. “Người Pháp không can thiệp vào Nanh Hà thì thiếu dịp khác để
thành lập một cơ sở vững chắc và quý giá trên một xứ sở sẽ đem lại cho
quốc gia một nền thương mại độc quyền hơn 20 triệu đồng và đặc biệt là
việc giao thương với Trung Hoa mà khỏi cần qua Quảng Châu”4.
Chính khi những dư luận đó trở thành những đề nghị cụ thể thì Bá-đa-lộc
mới có thể giận dỗi De Conway để nói thẳng vào mặt ông này là “Một mình
tôi cũng đủ làm nên việc đảo lộn”.
Trong chuyến từ Pháp về,
Bá-đa-lộc ghé Ile de France viết thư cho De Montmorin: “Ở đảo này, tôi
đã thấy các nhà cầm quyền sẵn sàng nhận lãnh quan điểm của Triều đình.
Tất cả những gì có liên quan đến cuộc viễn chinh ở Cochinchine đều phải
tiên liệu từ chỗ này và đã xong rồi”5.
Thực vậy, Bá-đa-lộc tiếp tục đường về thì trong cuộc hội nghị ở Port
Louis ngày 3-9-1788, các nhà cầm quyền ở các đảo Ile de France, Bourbon
đã ra tuyên ngôn xin tự do giao thương với Cochinchine. Thế rồi trong
một tờ trình gởi cho Quốc hội Pháp ngày 2-12-1790, dân chúng (?) các
đảo đã nói: “Ở đây có những tay tình nguyện, những bọn Cafres, tàu bè
khí giới cho cuộc viễn chinh đó. Nhiều nhà buôn yêu nước của thuộc địa
này đã dâng cho Giám mục d’Adran tài nguyên của họ để giúp ông thi hành
một dự tính thật có lợi cho quốc gia Pháp”6.
Quần
đảo Côn Lôn nằm ngoài biển là nơi thuận tiện nhất để đón chào các tàu
thuyền Tây phương. Từ năm 1779, Nguyễn Ánh đã đặt ở đây những viên quan
mang chứng minh thư của “P.J.G. Giám mục d’Adran” giới thiệu với các
thuyền trưởng Tây phương, mời họ vào bến, cho tin tức. Chủ đích của
Pigneau là đón tàu Pháp nhưng Gia Định không cần phân biệt điều đó mà
chỉ cần tàu Tây để giao thương thôi7.
Chính ở Côn Lôn là nơi vào tháng 9-1788 chiếc tàu La Dryade trong sứ
mệnh dò tình hình Nam Hà đã thả lại Hồ Văn Nghị và 1.000 khẩu súng mua
cho Nguyễn Ánh8. Lính thuỷ tàu Tây trốn xuống ở đây. Cũng ở đây vào cuối năm 1790 Nguyễn Ánh dùng làm nơi nuôi ngựa cho quân đội dùng9.
Nhưng
khi Gia Định đã bình yên thì Vũng Tàu hay chính Bến Nghé sẽ là nơi đón
các tàu, thuyền tiếp viện. Bá-đa-lộc gom góp tiền bạc, khí giới lương
thực chất lên các tàu ông thuê ở Ile de France và cả ở Pondichéry nữa
nhờ sự giúp đỡ của các nhà buôn như đã biết. Nguyễn Ánh làm chủ Gia
Định rồi sẽ có đủ tiền bạc mà đeo đuổi chiến tranh. Qua lời thư của De
Guignes, Viên Lãnh sự Pháp ở Macao, ta thấy ông đã làm trung gian mua
cho Nguyễn Ánh nhiều chiếc tàu. Và cũng từ Macao trong những tháng cuối
năm 1789, 8, 9 chiếc tàu đi buôn ở Cochinchine đã mang theo nhiều thứ
khí giới quân dụng. Một trong những chiếc tàu đó là chiếc la Garonne đã
bán cho sứ giả Nguyễn ở Xiêm hai khẩu đại bác10.
Tất cả những chuyến mua bán đó làm cho Nguyễn Ánh có dưới quyền một số
tàu chiến Tây Phương quan trọng. L.M Jean de Jesus Maria viết thư từ
Chợ Quán ngày 4-3-1790 ghi nhận Ánh có “khoảng 10 chiếc tàu Bồ và 1
chiếc tàu Pháp tất cả đều là tàu buôn nhưng võ trang với đầy đủ khí
giới quân dụng”11.
Nhưng quan trọng hơn cả là việc có đám người Tây phương giúp. Ở Gia
Định có đến 140 sĩ quan và 80 lính Pháp. Một bức thư của Bá-đa-lộc ngày
18-7-1794 nói đến 40 người Âu trong bộ binh, thêm vào chừng ấy nữa trên
các tàu đồng12. Và không phải chỉ có người Pháp mà thôi. Crawfurd vào Huế tháng 10-1822 thấy ở đó một bài vị người Irlandais13. M. Đức Chaigneau ghi nhận có cả người Anh, Irlandais14. _________________________________________ 1. Trích lại của Thanh Lãng. Biểu nhất lãm Văn học Cận đại, Tự Do xb, 1958, bài văn “Nhựt trình Đông cung ký vãng Tây bang, tái hồi bổn quốc”, trang 51. 2. Thực lục, q4, 15b. 3. Trích lại của G. Taboulet, “Le traité de Versailles”, BSEI. XIII. hđd, t. 103. 4. Tờ Gazette nationale đã dẫn. 5. Thư ngày 14-4-1788 (A. Launay, III, t. 178). 6. Văn khố Ngoại giao Á châu, trích bởi Ch. Maybon, Histoire moderne, sđd, t. 268. 7. L. Gaide. “Notes historiques sur Poulo Condore”, BAVH, Avr. 1925 t. 88. Chứng minh thư ghi Sài Gòn ngày 10-8-1779. 8. V. Imbert. Le séjour en Indochine de l’ambassade de L. Macarney. sđd, t. 2. 9. Thực lục q5, 7b. 10. Thư ngày 16-12-1789 (A. Launay, III, t. 158, chú số l) Ch. Maybon, Histoire moderne, sđd, t. 270. H. Cordier, Correspondance générale, sđd, t. 209. 11. “La révolte...” bđd, BSEI, 1940, t. 101, 102. 12. Dẫn bởi G. Taboulet. La geste française... sđd, t. 204. 13. Chuyện. J. Crawfurd do Ch. Maybon dẫn. 14. Souvenirs de Huế, t. 18. Binh lính Pháp phần nhiều là thuộc các đội thuỷ quân tình nguyện, thu
nhặt ở những gia đình trung lưu đã được hưởng một nền giáo dục tự do
nên chịu sự quyến rũ của khung cảnh xa xứ lạ để lăn mình vào những
chiếc tàu đi đây đi đó1.
Số đông này kẻ trước người sau, có khi kẻ tới chán bỏ đi, người mới lại
lăn vào, tựu trung có một số hoạt động hơn cả mà sử quan Nguyễn còn ghi
lại là Đa-đột (Jean Marie Dayot), Ô-li-vi hay ông Tín (Alexis Olivier
de Puynamel), Ba-nê-ô hay Nguyễn Văn Thắng (J.B.Chaigneau), Lê Văn Lăng
(De Forçan), Ba-la-di (Laurent Barizy), Nguyễn Văn Chấn (Philippe
Vannier), tất cả đều được chức Cai đội2.
Dayot
được phong làm Trí Lược hầu tháng 6-1790. trông coi chiếc tàu “Đồng
Nai” và có dự trận thuỷ chiến Thi Nại 1792, là “linh hồn và chủ tướng
của thuỷ quân Nguyễn” như Giáo sĩ La Bissachère đã nói. Có thể tin được
điều này vì chính ông đã từng là chủ tàu Adélaid năm 1786. Nhân dịp
theo thuỷ quân Gia Định đánh Tây Sơn, ông đã đi dò xét các hải cảng xem
nông sâu, trong khi Olivier cũng làm việc tương tự định vị trí trên đất
liền3.
Với
chức Vệ uý Thần sách Vệ ban và sau đó, Thuộc nội Vệ uý, làm Cai đội
trong quân Thần sách, một thứ chủ lực quân, Olivier đã có mặt nhiều
nhất trong sử sách nhà Nguyễn4.
Chỉ là một binh nhì trên tàu La Dryade, ông trốn ở Poulo Condore ngày
19-9-1788 rồi theo Hồ Văn Nghị phục vụ Nguyễn Ánh khi mới 20 tuổi dư
hơn tháng. Ông dùng hoạ đồ của Le Brun - Khâm sai Cai đội Thạch Oai hầu
- và cùng ông này xây thành Gia Định theo kiểu Vauban. Ông tổ chức quân
đội - có lẽ trước hết là quân dưới quyền ông - theo lối Tây phương.
Chaigneau,
Thắng Toàn hầu, đến chậm nhất (1794) và lại ở Việt Nam sau rốt, đã thay
J.M. Dayot vào cuối năm 1796 trông coi tàu Phi Long, có dự vào trận Thi
Nại 1801, hoạt động ở Quảng Nam, Huế sau đó và trông coi việc tiếp tế
cho quân đội ở Phú Xuân (sắc ngày 16-3-1802)5.
De Forçan coi chiếc Phi Bằng trong chuyến tấn công Quảng Nam, Huế
(1801). Barizy, con người sôi nổi, càu nhàu bất mãn nhất trong đám, đến
Gia Định năm 1793. Ông đã từng được phong Thành Trí hầu, giữ việc tiếp
tế cho quân đội bằng cách liên lạc mua bán với Ấn Độ Manille, Malacca.
Ông sẽ giữ chiếc Thoại Phụng trong chuyến chiếm cửa Thuận An (1801).
Vannier tới năm 1789 cùng với Felix Dayot - em J.M. Dayot, chỉ coi việc
tiếp tế - ông coi chiếc tàu Phi Phụng với chức Cai cơ (1801) cho đến
cuối năm 1802 thì được phong Chưởng cơ Chấn Võ hầu.
Những
người khác ít được biết hơn là J.M. Despiau, thầy thuốc trong quân đội
(sắc ngày 21-4-1799), người đã săn sóc cho Pigneau lúc cuối cùng, và
Desperles, viên thầy thuốc giải phẫu của tàu Le Pandour.
Tất
nhiên ta không quên vai trò của Bá-đa-lộc và những vị linh mục khác.
Đám quan binh Tây phương hoạt động cho đến khoảng 1793-1794 thì rút đi
gần hết. Có nhiều lý do, trong đó có lý do tin Cách mạng Pháp chuyển
sang giai đoạn phản đế gây xáo trộn tư tưởng của họ và gây nghi ngờ cho
Nguyễn Ánh. Nhưng chính yếu là lý do họ thất vọng khi phục vụ ở Gia
Định.
Chúng ta đã phân tích tâm lý đám người phiêu lưu Tây
phương mong mỏi nối bước Dupleix, Clive tới địa vị sang giàu của Đông
phương thần tiên. Họ cũng có thể thoả mãn chút ít nếu họ chịu phục vụ
tới sau khi thắng trận như Chaigneau, Vannier, De Forçan được thăng
chức, cấp lính tráng hầu hạ... Nhưng họ đến trong thời chiến tranh và
phải phục vụ trong một xứ nghèo nàn, ở đó, chưa kể tới đâu, người lính
vừa đem thân đánh giặc vừa phải nộp thuế, rút lương riêng để cung cấp
quân nhu. Họ thất vọng là phải như Olivier đã nói năm 1793: “Chúng tôi
đã phục vụ vô ích cho Chúa xứ Nam Hà”. Ông than phiền rằng làm việc cần
mẫn, chiến thắng nhiều trận mà không giàu có được chút nào6.
Đằng khác, chúng ta cũng nên lưu ý đến tư cách của bọn này. Thực lục
kể đến trận đánh Quy Nhơn 1793, khi binh ra tới Bình Khang, có nói đến
đám Tây-dương-nhân chung với lính Miên, lính Tàu đều tính “dữ tợn, hay
rượu, khó cầm”7. Các
L.M đương thời chỉ khen có Chaigneau còn thì chỉ trích lối sống sa đoạ
của Olivier và của những người khác, sống “vô đạo như đồ đệ của
Voltaire”. Không nên lấy làm lạ, đó là đặc điểm của lính đánh giặc
mướn.
Tuy nhiên, Nguyễn Ánh còn cần tới họ nên đã cho phép họ
được buôn bán riêng lấy lợi khỏi thuế má. Olivier được buôn bán dọc bờ
biển vùng Nguyễn; năm 1799 ông đi Malacca bán một thuyền cau được 3000
đồng. Despiau năm 1800 đã mua được của ông Chưởng dinh Hữu quân (?) một
chiếc ghe chiến và xin phép Nguyễn Ánh mua muối, các vật dụng khác và
30 vuông gạo để đi Ấn buôn mang cờ hiệu Gia Định8.
Chính đó là một quyết định khôn ngoan của Ánh: làm việc cho họ mà đám
phiêu lưu này vẫn có ích cho Ánh vì chính họ đã đóng vai trung gian
cung cấp vũ khí cho Ánh, tuyên dương uy thế của Ánh ở nước ngoài, nhất
là các nước lân cận9.
Cũng ở nhiệm vụ giao dịch đó, chúng ta thấy họ cùng các linh mục là
những kẻ dò la tin tức Tây Sơn rất đắc lực vì họ có mặt khắp nơi trong,
ngoài nước, hiểu rõ tình hình vì ở lâu, biết đích xác sự việc, nhờ thói
quen chuyên tâm chú ý quan sát của người Tây phương. Hãy nghe Olivier
trong một bức thư, nhờ Letondal ở Macao dò la tin tức xung đột giữa
quân Thanh và Tây Sơn (15-7-1789): “Chính vì muốn biết trong chi tiết
mới nhất về trận đánh ấy mà Hoàng thượng hôm qua đã bảo tôi viết thư
cho Cha, nhờ viên thuyền trưởng Antonio Vincenti. Ý định của Hoàng
thượng là muốn biết có gì đã xảy ra trong trận đánh ấy, ý định người
Tàu ra sao, lực lượng của họ thế nào. Ngài cho rằng nhờ nơi hiểu biết
về người Trung Hoa của Cha mà Cha có thể cho biết những tin tức chắc
chắn hơn từ nơi nào khác...”10.
Cũng vậy, tin từ vùng Tây Sơn có thể vô tình tới Gia Định bằng những
cánh thư của các giáo sĩ Labartette, Longer, Doussain ở Bố Chính, Thuận
Hoá gởi cho Letondal ở Macao, Le Blandin ở Paris chẳng hạn.
Nhưng
quan trọng hơn nữa là việc quân nhân, giáo sĩ Tây phương có mặt ở Gia
Định cũng tức là đã mở cửa cho văn minh Tây phương tràn vào. Những điều
nói trên đã dẫn chứng một ít rồi. Chúng ta có thể nói thêm. Giáo sĩ De
Labissachère cho biết Pigneau đã dịch từ chữ Pháp ra nhiều quyển sách
nói về chiến thuật và cách phòng thủ cho Nguyễn Ánh đọc. Năm 1819,
Chaigneau và Vannier cho một du khách Anh tới Huế biết là Bá-đa-lộc đã
dịch ra tiếng Việt nhiều đoạn có ích nhất của tập Bách khoa và nhiều
quyển sách khác dùng cho việc cai trị quốc gia. Chưa hết, Giáo sĩ
Cadière còn tìm thấy một tấm bản đồ ở Nội các ghi tất cả những phần
chính của một vị trí phòng thủ với một loại súng pháo binh, vẽ từ một
quyển sách nói về Vauban, xuất bản năm 1773.
Ảnh hưởng sự du
nhập kỹ thuật, tư tưởng này thật là quan trọng trong những ngày sắp
tới, khi Nguyễn Huệ còn bận bịu củng cố phía bắc, bỏ lơ cho Nguyễn Ánh
có thì giờ khai thác Gia Định để lớn mạnh lên. ______________________________________ 1. L. Malleret trích lại của A. Faure. BSEI. X. chú số 1. t. 37. 2. Liệt truyện q28, 8b, 9ab. Thực lục q6, 35a. Liệt truyện đã lầm gọi Dayot là Nguyễn Văn Chấn. Thực lục
có ghi Chấn coi tàu Phi Phụng mà theo Barizy người coi đó là Vannier.
Vậy Vannier là Nguyễn Văn Chấn. Dayot có tước là Trí Lược hầu có tên
Việt thì phải là Nguyễn Văn Trí. Thực lục q9, 3a có 2 tên Ba-lang-hi, Ba-la-di, Cai đội. người Hồng mao (?), chắc cũng chỉ là Barizy. 3. G. Taboulet. La geste française..., sđd. t. 250. 4. Thực lục q6, 35a, q7, 26a, q10, 18a. 5. BAVH, Avr-Juin, 1922, t. 139 trở đi; Janv-Mars 1923, t. 43 trở đi. 6. G. Taboulet. Le geste française... Sđd, t. 248. 7. Thực lục q6, 19a. 8. G. Taboulet, sđd. A. Cadière, “Les Français au service de Gia long: Despiau”. BAVH, Juil-Sept 1925, t. 185. 9. Thực lục
có nói đến việc cổng của các xứ Tà-nê ngoài các xứ Xiêm, Miên, Vạn
Tượng. Thư Olivier 10-4-1798: “Vua phải liệu có vài người Âu bên cạnh
để cho các nước tin cậy”. (BAVH Janv-Mars 1923, về Chaigneau). 10. L. Cadière, “Les Français au service de Gia Long: leur correspondance”, BAVH, Oct-Déc 1926, t. 363, 364. |