PHẦN THỨ BA GIAI ĐOẠN THANH TOÁN NGUYỄN - TÂY SƠN (1789-1802)
Chương 5.
SỰ CỦNG CỐ ĐÔI BÊN Ở THẾ GIẰNG CO
_________________________________________________________Tiết 13
NHỮNG LỰC LƯỢNG CHIẾN ĐẤU
Tính
cách chung của đôi bên * Tổ chức quân chính của Tây Sơn * Vai trò bổ
khuyết của những chiếc thuyền cướp biển Tề Ngôi * Tổ chức khai thác Gia
Định * Ưu thế vũ khí, công sự phòng thủ và thuỷ quân Nguyễn Ánh.
Trong
10 năm sau cùng của thế kỷ XVIII, ta thấy tình thế cát cứ có vẻ đơn
giản dần. Tuy vào năm 1789 chẳng hạn, nước còn chia ba với Nguyễn Huệ ở
Phú Xuân, Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn, Nguyễn Ánh ở Gia Định, nhưng thực ra
chỉ có Tây Sơn và Nguyễn đối đầu thôi. Những lực lượng gài nên thế phân
tranh cũ tàn lụi dần: Cựu Nguyễn biến mất với cái chết của Duệ Tông,
Tân Chính vương, Di thần Trịnh Lê thì tan rã sau trận Đống Đa, tản nát
sống nhờ sự cô lập địa phương hay chạy vào Gia Định đầu quân1.
Quy Nhơn sống lây lất, chỉ còn Phú Xuân và Gia Định có động lực biến
thành hai đầu nam châm thu hút các tay muốn tận dụng khả năng mình
trong chiều hướng thực tế.
Các đối phương đều tìm hết thế cách
để lật nhau và trong tiến trình đó càng đi đến gần nhau về lề lối tổ
chức chính trị, quân đội, nội dung kỹ thuật tranh chiến. Điều kiện
chung của ý thức hướng dẫn tổ chức xã hội đương thời bắt buộc như vậy,
nhưng ban đầu họ cũng phải theo những quy định của hoàn cảnh địa
phương, của tình thế mà phát triển khả năng, vun bồi thực lực riêng.
Phía
Tây Sơn chẳng hạn. Họ đi từ vùng núi phía tây, lấy sức mạnh cường bạo
nơi đám người Thượng, Trung Hoa khách thương liều lĩnh, nông dân Việt
đi khai phá đất hoang tâm tính trở thành hung dữ rồi truyền tấm lòng
hăng hái, nhiệt thành, tính chất vong mạng đó cho dân đồng bằng hiền
lành chân chất2 gây
nên một cuộc đảo lộn dữ dội nhất trong nước. Nguyễn Huệ phải thú nhận
tính cách quân phiệt đó với Nguyễn Thiếp. Ngô Văn Sở ở Thăng Long nghe
Tôn Sĩ Nghị sang, lấy đó làm một dịp để diễu cợt quan Thị lang Ngô Thì
Nhậm:
“Phải phiền ông làm một bài thơ để đuổi quân giặc. Nếu không thì túi đao bao kiếm vẫn là phận sự của kẻ võ thần”3.
Không
phải chỉ với đám nho thần của triều đại cũ mà thôi, võ tướng còn coi
thường một số tin tưởng cũ nửa. Nghe ở kinh Đôi Ma có hai con ma hiện
về, họ đốt quan tài, đem súng đại bác bắn nát lùm bụi bên sông4. Ở miền Bắc, viên trấn tướng Nghệ An ngạo mạn trong lễ tế thần: “Chó còn có ích hơn thần Xã tắc”5.
Họ
tự phụ cũng phải vì sự nghiệp này do công lao hãn mã của họ tạo nên.
Nhưng khi trút cái lớp cường đạo để trở thành kẻ điều khiển quốc gia
thì người ta phải thấy vấn đề phức tạp hơn nhiều để chịu đựng dung hợp
với truyền thống cũ. Mặt khác việc Tây Sơn bị đưa đẩy di chuyển trọng
tâm tập họp tinh hoa từ Quy Nhơn ra Phú Xuân rồi mong ngóng ngày về
Phượng Hoàng Trung đô, đi ngược con đường ly khai về nam cũ, chứng tỏ
cái thế bắt buộc và ý muốn tự khuôn nắn của họ.
Vị trí Nghệ An
với hình ảnh công cuộc hợp tác giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp nói lên
tất cả những đặc sắc của triều đại Tây Sơn trong thời gian xây dựng,
phát triển tột cùng của họ. Quy Nhơn mới Việt hoá chỉ mang lại sức mạnh
cường bạo, Phú Xuân, Thăng Long thì đầy dấu vết các cựu triều, lại tàn
tạ với đám nông dân mệt mỏi trong loạn lạc hàng mấy trăm năm, với đám
sĩ phu điều khiển quốc gia ngắc ngoải trong cái học từ chương thiếu
sinh khí. Nghệ An, ngoài ý nghĩa là quê hương của chúa Tây Sơn, còn là
vị trí ở giữa những ảnh hưởng đối kháng, muốn giữ vai trò dung hoà mà
không muốn bị lệ thuộc.
Cho nên khi Tây Sơn thấy cần thiết
phải thuần hoá triều đại, thì đến với họ không phải là Nguyễn Đăng
Trường, Lý Trần Quán, Trần Công Xán... mê đắm với triều đại cũ mà là
Ngô Thì Nhậm lẩn trốn Trịnh chúa sau vụ án Canh Tý 1780, Phan Huy Ích
nhục nhã vì cái tiếng “nhà nho nói khoác” của Nguyễn Hữu Chỉnh gán cho.
Nguyễn Huệ “tái tạo” Nhậm6, đem “cơ duyên”7
độc nhất đến cho Ích, gây dựng cho những sĩ phu ít hay nhiều đã không
gặp may mắn dưới triều trước. Cũng nên kể vào hàng bất mãn với thời đại
- bất mãn mới đi ở ẩn - đó là xử sĩ Nguyễn Thiếp, ông già “vai cày, tay
câu”.
Tất cả được khuôn nắn thâm hậu trong Nho giáo rồi tuỳ
phản ứng cá nhân mà lục tục phụng sự Tây Sơn. Đặc biệt là họ đã từng
đứng ngoài triều chính cũ, có dịp để phán xét, ít nhiều cũng không bằng
lòng, nên làm quan với Tây Sơn, họ đưa ra những ý niệm tổ chức xã hội,
tuy vẫn là của Nho giáo, nhưng dưới những khía cạnh lãng quên hay không
biết đến ở các triều trước. Nguyễn Thiếp, trong một bài biểu gởi Quang
Trung8 công kích
mạnh mẽ lối học từ chương, xa rời thực tế, thấy lối thoát là trở về với
tinh tuý Kinh Sách: “Ban đầu giảng Đại học, rồi Luận ngữ, đến Mạnh tử,
đến Trung dung, sau lại đến Ngũ kinh, Chư sử, tuần tự mà tiến, đọc cho
kỹ mà ngẫm nghĩ cho tinh”. Đi vào thực hành, ông chịu vâng mệnh Quang
Trung giúp việc dịch Kinh Sách ra chữ Nôm trong Sùng Chính thư viện ở
Vĩnh Kinh để phổ biến đạo học sâu rộng trong dân gian.
Cùng
một chiều hướng hồi cố để thích hợp đó, Ngô Thì Nhậm dâng sớ (1788) cho
Quang Trung định cách cai trị, phủ nhận thể chế tập trung của Trịnh Lê
mà tuyên dương cái thế phân phong cho con em đồng tính cai trị các nơi
theo lối giữ nước của nhà Hán, nhà Chu9. Con đường giáo huấn mà Nguyễn Thiếp đề cao “theo Chu tử” rồi Nguyễn Huệ cũng thuận “nhất định theo phép học Chu tử”10
và lề lối tổ chức xã hội phong kiến của Ngô Thì Nhậm thể hiện giao điểm
ý thức của đám sĩ phu cũ tự cải tạo, thức tỉnh trước tiếng dội từ miền
Nam ra và đám quân tướng Quy Nhơn bơ vơ đi tìm ý thức hệ.
Triều
chính Tây Sơn là cả một tính cách dung hoà đó mà yếu tố quân sự lúc nào
cũng giữ ưu thế. Thực là dễ hiểu khi nhớ lại quá khứ của họ và tình
hình sôi sục lúc bấy giờ.
Phải bắt đầu chấn chỉnh lại thì họ
nhìn vào đám nông dân điêu linh trong loạn lạc để sắp xếp việc làm ăn,
kiểm soát dân số. Tờ chiếu “khuyến nông” mà Ngô Thì Nhậm cho biết chính
sách lúc bấy giờ, ra lệnh bắt về bản quán những người ngụ cư chưa được
ba đời, nhắm vào đám lưu dân vì loạn lạc, vì trốn tránh giao dịch, để
làng cũ có đủ tay sản xuất. Các sắc mục, xã trưởng, thôn trưởng phải
làm việc kiểm tra số ruộng cày cấy, số ruộng bỏ hoang, số đinh thực
tại, làm sổ bộ dâng lên triều đình11,
“nếu gian lận: coi người ở nhà như đi vắng, coi người còn sống như
chết, làm sót sổ dân, làm thiếu thuế đều phải chịu trọng tội”12. ______________________________________ 1.
Thực lục q5, 2a, q7, 13a, 14b, q9, 16b... Đó là trường hợp của Vũ Bá
Diên, Đặng Trần Thường, Nguyễn Bá Xuyến và những người do Nguyễn Đinh
Đắc chiêu mộ ở Bắc Hà. 2. V. Imbert. Le séjour..., sđd, t. 26. 3. Hoàng Lê, t. 240. 4. Do Trịnh Hoài Đức kể (Aubaret, t. 189). Kinh Đôi Ma chảy từ chợ Rạch Kiếng (Long An) vào sông Vàm Cỏ Đông. 5. Việt điện u linh tập, Lê Hữu Mục sao, dịch, Khai Trí, truyện Thiên cổ Địa chủ Xã tắc Đế quân, t. 218; bản dịch trang 57. 6. Hoàng Lê, t. 208. 7. Chữ trong thơ cảm hoài của Phan Huy Ích, trích nơi Hoa Bằng, Quang Trung, sđd, t. 275. 8. La Sơn phu tử, sđd, t. 144-146. 9. Sớ bằng chữ Nho, lược dẫn bởi Hoa Bằng, sđd, t. 277. 10. Chiếu theo Sùng Chính Thư viện, La Sơn phu tử,
t. 147. Chu tử là Chu Hy, một Tống Nho có danh trong phong trào Tân
Khổng giáo. Thuyết cách vật trí tri của ông lấy trong sách Đại học,
không phải hiểu theo nghĩa thực nghiệm mà là nghĩa trong kinh sách xưa,
nhưng cũng tỏ rõ được ý thức phục cổ, ý thức đẩy mạnh sự xuất hiện của
Vương học, vừa là phản ứng vừa là tiếp nối của Chu học. 11. Dẫn lại của Hoa Bằng (Quang Trung,
sđd, t. 283-285) lấy ở “Hàn các anh hoa” của Ngô Thì Nhậm. Người ta
cũng tìm được tờ chiếu khuyến nông của Quang Trung và Cảnh Thịnh sức
dân trung châu Bắc Hà canh tác (Tự Do, 1-11-62). 12.
Lời nhắc việc làm sổ đinh trong tờ sức về việc thâu thuế làm sản của
dân tổng Hữu Đạo, huyện Thượng Du, Nghệ An. Quang Trung thứ ba, 25-3
(9-4-1790). Cũng tìm được ở Nghệ An sổ khai ruộng đất công tư của xã Võ
Liệt (Thái Đức tháng 7 năm thứ 11 (1788) và sổ nhân số của xã Võ Liệt
(1792). (Tin đặc biệt miền Bắc của nhật báo Tự do, 19-1-1963). Có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử dân ta mới gặp một chính quyền cố
thi hành hiệu nghiệm chính sách đến mức tối đa bằng cách bắt dân mang
thẻ “tín bài”. Đó là một tấm thẻ giữa in 4 chữ triện “Thiên hạ đại tín”
chung quanh viết tên họ quê quán của người có thẻ và có đánh dấu một
ngón tay bên trái làm bằng. Thẻ phải đeo luôn trong mình phòng khi xét
hỏi. Không có là dân lậu phải sung quân và xã trưởng, tổng trưởng của
họ phải phạt tội1.
Để coi sóc công việc, bộ máy hành chánh trong nước phần lớn nằm trong
tay các võ tướng. Tự trên triều đình, những chức Tam không, Tam thiếu,
Đại chủng tể, Đại tư đồ, Đại tư mã, Đại tư không, Đại tư cối...2
mang vết tích của tổ chức Trung Hoa thời xưa đầy hùng khí rất thích hợp
cho tính cách quân chính triều Tây Sơn. Ở các trấn, trấn thủ là quan võ
và quan văn chỉ là “hiệp” trấn. Mỗi huyện có Võ phân suất và Văn phân
tri hợp với Tả Hữu quản lý coi sóc. Cách tổ chức cho ưu thế về võ quan
này có thể coi như lấy ý của Nguyễn Thiếp, nhưng chính Thiếp cũng căn
cứ trên thực tế để khuyên Quang Trung “chọn trong các bầy tôi lấy một
viên thanh, cần, nhân, dũng để làm chánh trấn, một viên sẵn có văn học
để làm hiệp tá”3.
Đặc điểm này được phái đoàn Macartney (1793) ghi nhận đúng: “Giai cấp
quân sự đứng đầu hết trong xứ rồi sau đó là các quan toà”4.
Vì
lẽ đó ta không lấy làm lạ khi thấy chánh sách chung là nhằm vào việc
thành lập một đạo quân hùng mạnh. Tuy không nhận Lưỡng Quảng thuộc vào
địa bàn cũ của người Việt trung châu Nhị Hà, ta cũng không thể phủ nhận
ý định chiếm đất này của Quang Trung5, ý định mở mang bằng việc dâng sớ đòi lại 6 châu ở Hưng Hoá và 3 động ở Tuyên Quang6,
xúi giục các thuyền Tề Ngôi cướp phá ven biển Trung Hoa, rồi tiếp đến
việc sứ bộ cầu hôn, xin đất do Vũ Văn Dũng lãnh đạo (1792).
Xét nguyên nhân hiếu chiến, có người7
đã thấy tính chất Napoléon của chế độ Quang Trung: dùng chiến thắng
quân sự bên ngoài để đánh bạt sức phản động của cựu chế, để bịt miệng
những phản kháng bên trong do sự thoả hiệp của chính quyền với một phần
các lực lượng cũ khiến quần chúng cách mạng không bằng lòng. Sự so sánh
đó quá thô sơ đã quên mất những thực tế sống động, dồi dào, riêng biệt
của một trường hợp cụ thể. Chúng ta có thể tìm ra những nguyên nhân
chính yếu, xác đáng hơn, tương hợp hơn với hoàn cảnh đương thời.
Chiến thắng tương đối dễ dàng với quân Thanh sau những chiến thắng liên tiếp ở các chiến trường khác là nguyên nhân tâm lý8
khiến Tây Sơn hướng về Lưỡng Quảng. Trận Đống Đa làm e dè bọn biên thần
nhà Thanh, mở đường cho những văn thư ngoại giao trao đổi, đưa đến việc
Thanh đế nhận Quang Trung làm An Nam Quốc vương, quên mất tham vọng
thừa nước đục thả câu chiếm lĩnh phương Nam. Một bên là Phúc Khang An
và Hoà Khôn, một bên là Ngô Thì Nhậm có Nguyễn Quang Hiển, cháu Quang
Trung, đến “gõ cửa thành”, việc hoà hiếu được mau lẹ tiến hành đầy vinh
quang cho Tây Sơn. Tiếp theo việc phong vương và việc ban nhân sâm cho
mẹ Quang Trung là việc sứ bộ Giả vương9
sang chầu lễ thọ bát tuần của Càn Long (tháng 8 Canh Tuất 1790). Sứ bộ
gồm Nguyễn Quang Thuỳ, Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phạm Công Trị và các
văn quan Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn... với hai thớt voi tiến cống tượng
trưng “cái đinh” của quân lực Tây Sơn. Cuối năm 1790 sứ bộ về nước sau
khi hưởng được những ưu đãi đặc biệt hơn những sứ bộ trước10.
Thái độ đó làm khoái trá, khiếp phục được các văn quan như Phan Huy
Ích, nhưng tất đã làm tăng uy thế của Tây Sơn và thêm phần kiêu hãnh
cho đám võ tướng.
Trong nước lại bất an do các di thần cố Lê
gây ra: Lê Duy Chỉ ở Cao Bằng, Trần Quang Châu ở Bắc Ninh, Trần Phương
Bỉnh ở Nghệ An... Nguyễn Ánh lại là mối lo lớn nhất của Quang Trung cho
đến khi nhắm mắt11,
tuy rằng ông chưa phải thử sức trực tiếp với Gia Định trung hưng. Tất
cả buộc Tây Sơn phải lo củng cố quân lực và theo biến chuyển tự nhiên,
họ bành trướng thế lực để bảo vệ thế lực sẵn có.
Lực lượng họ
như thế nào? Sử quan ghi vào khoảng tháng 3 Nhâm Tý (1792), Quang Trung
tính đem 2-30 vạn quân đánh Gia Định (nghĩa là quân số còn có thể hơn
thế nữa)12. Theo lối
kiểm soát dân số đã nói và việc lấy 3 suất đinh một lính, một khách
ngoại quốc thấy là “số người trong quân ngũ rất đông”. Riêng ở Huế đã
có 30.000 người luyện tập hàng ngày. Họ võ trang bằng dao găm, giáo
mác, súng điểu thương, rất nhiều súng ngắn có miệng loe ra kiểu thế kỷ
XVI của Tây phương (có lẽ mua lại) và súng bắn phải mồi lửa do họ tự
chế (hoả hổ?). Người Anh đi lạc trong thành Quảng Nam không thấy có một
khẩu đại bác nào, nhưng chúng ta biết họ cũng có súng lớn - và có nhiều
là khác khi chiếm được của Nguyễn, Trịnh, của quân Thanh - hàng 2-3.000
khẩu13.
Lực
lượng chủ chốt của bộ binh là đám chiến tượng tập luyện hàng ngày mà
các võ tướng rất tin cậy ở khả năng chiến thắng và Tôn Sĩ Nghị phải lo
đề phòng trước. Gia Định cũng e dè số lượng 300 con voi ồ ạt dày xéo
trên đường tấn công14.
Tượng quân quý báu ở tính chất đa hiệu của nó: voi là lực lượng vận tải
không những quân lương, binh sĩ mà còn là vũ khí nặng nữa; voi là lực
lượng tấn công kiến hiệu - như một thứ thiết giáp binh có đại bác hỗ
trợ.
Mọi chi phí gìn giữ quân lực này rõ ra là rất lớn. Thế mà
như ta đã biết, vùng Tây Sơn trong cấp thời lại với lề lối khai thác
nông nghiệp cổ điển trên đất đai đã tận dụng, không thể nào sản xuất đủ
để cung cấp như Nguyễn Thiếp đã trần tình: “Nghệ An đất xấu, dân nghèo.
Về trước chỉ chịu xuất binh chứ không phải chịu tiền gạo, nay thì binh,
lương đều phải xuất. Số lính ngày một tăng bội. Kẻ cày cấy thì ít mà kẻ
đợi ăn thì nhiều...”. Trong ý nghĩa đất đai kiệt lực đó, ta hiểu được
danh từ phong thuỷ ngày xưa chỉ về một vùng đất “mất hết vượng khí” như
chữ dùng trong văn thư ngoại giao Tây Sơn - Thanh để chỉ đất Thăng Long15.
Đòi đất Lưỡng Quảng là tìm đất mới thay đất cũ đã kiệt lực, là tìm cách
giải quyết những khó khăn gặp phải trong thời kỳ xây dựng vậy. Cho nên,
việc đánh chiếm kinh đô Vạn Tượng vào năm 1791 của bọn Trần Quang Diệu,
ngoài ý nghĩa phá mối lo bị đánh tập hậu, quân Tây Sơn còn tìm của cải
ngựa voi, nghĩa là những thứ nuôi dưỡng, tăng gia binh lực mà Ai Lao
đáng lẽ hàng kỳ hạn phải nạp với thể lệ triều cống16. ______________________________________ 1. Hoàng Lê, t. 270. 2. Liệt truyện q30, 40b. 3. La Sơn phu tử, sđd. t. 141, 142. 4. V. Imbert, Le séjour... sđd, t. 28. 5. Quang Trung...
sđd, t. 310-315, t. 320-329 trích thư đòi 6 châu, biểu cầu hôn, chiếu
sai Vũ Văn Dũng đi sứ. Sứ bộ Macartney cũng nói Nguyên Huệ “có nhiều
mộng lớn mà một là chiếm lấy một phần nước Trung Hoa và ông không ngần
ngại tìm đủ mọi cách để thành công” (sđd, t. 17). Hoàng Lê, t. 271. 6. Hoa Bằng nói đòi 6 châu nhưng tờ sớ dâng Càn Long có trích trong sách Quang Trung... lại kể đến 7 châu. Ông Lý Vân Hùng lại nói đến 16 châu (Sử Địa,
số 13, t. 135-142) và cho rằng sở dĩ nhà Thanh trả đất là vì Quang
Trung chịu lập đền thờ Sầm Nghi Đống (nhưng ông không cho biết ở đâu
nói như vậy). 7. Lương Đức Thiệp, Việt Nam tiến hóa sử, Liên hiệp, 1950. t.102-105. 8. Hoàng Lê, t. 256. 9. Việc Giả vương là ai thì còn mù mờ. Tây Sơn thuật lược (bản dịch ở Sử Địa số 7-8, t. 161) cho là Đô đốc Nguyễn Hữu Chẩn, một tên hết sức xa lạ. Hoàng Lê cho biết Ngô Thì Nhậm chọn được Nguyễn Quang Trị làm quần hiệu (?), người làng Mộ Điền, huyện Nam Đàng, Nghệ An. Liệt truyện
q30, 39a chỉ đích xác Phạm Công Trị người có mặt ở Gia Định năm 1783.
Rắc rối là trong sứ bộ qua Thanh năm 1790 lại có tên Phạm Công Trị đã
đến Quảng Tây mà vì Nguyễn Quang Thuỳ bị bệnh phải theo hộ tống trở về.
Càn Long cũng được thông báo việc này (Đại Việt quốc thư, Bộ QGGD, t. 270). 10. Hoàng Lê, t. 262-265. Liệt truyện q30, 35b-39a. 11. Liệt truyện q30, 42b. Hoàng Lê, t. 267-271. 12. Thực lục q6, 3a. 13. V. Imbert. Le séjour de l’ambassade... sđd, t. 23-25, t. 40. Hoàng Lê,
t. 270. Trước đó, khi ra Bắc chuyến đầu, Nguyễn Huệ đã biết tìm cách
thu dụng giới tiểu công nghệ để góp sức vào việc chế tạo vũ khí, gia
tăng tiềm năng quân sự. Hoàng Lê, t. 100, nói việc Huệ “sai tìm thợ sắt”. Xem thêm Sử Địa số 9-10, t. 225. 14. Thư Lelabousse ở Gia Định, 13-12-1970 (A. Launay, III, t. 278). 15. Hoa Bằng, Quang Trung... sđd, t. 222, 224, 226. 16. Liệt truyện q33, 27a, 28b. Hoàng Lê, t. 269. Một con đường khác có thể mở ra cho họ là giao thương với bên ngoài.
Thế mà tình trạng giao thương ở miền Bắc Đại Việt lúc bấy giờ như thế
nào? Chúng ta đã thấy nơi khác những biến cố khiến thương nhân Trung
Hoa và Tây phương xa lánh Tây Sơn. Tình trạng đó vẫn chưa kịp xoá bỏ.
Tuy Quang Trung đã mở được các chợ ở ải Bình Thuỷ (Cao Bằng), Du Thôn
(Lạng Sơn) và nhà hàng ở Nam Ninh (Quảng Tây) để buôn bán với Trung Hoa
“khiến hàng hoá không ngưng đọng, lợi cho dân dùng”1,
nhưng vấn đề không phải chỉ là giao thương với Trung Hoa trong lục địa
mà là sử dụng các hải cảng trong nước, gần từng địa phương một hơn để
mong thừa hưởng chút tiến bộ kỹ thuật Tây phương.
Phái đoàn
Macartney tới nhận thấy ở Tourane có những ghe thuyền Trung Hoa, những
thuyền đi dọc biển của Macao theo kiểu Tây phương nhưng nhỏ bé và không
võ trang. Ở đây người Bồ nắm hết việc buôn bán còn sót lại, mà cũng chỉ
mua vét các chợ ở Quảng Châu đem bán lại thôi. Cho nên khi Macartney
tới, viên trấn thủ ở Quảng Nam nài nỉ người Anh bán khí giới và đạn
dược, lộ cho họ thấy rằng Tây Sơn cần được giúp với bất cứ giá nào!2.
Quang
Trung trước khi chết cũng tính gởi giáo sĩ Labartette đi Macao mời gọi
người Tây phương tới buôn bán. Giữa khi người Âu còn e ngại với Tây Sơn
thì Gia Định mở rộng cửa buôn bán, lôi cuốn các tàu tấp nập ghé bến
Đồng Nai, chỉ còn sót những chiếc tàu bất mãn với Nguyễn Ánh mới quay
ra giao thiệp với Phú Xuân thôi: cũng Labartette cho biết có một tàu
Macao, một tàu Manille đem bán cho Quang Trung 100.000 cân lưu hoàng3.
Vì vậy cho nên đường cát rất nhiều và rất rẻ ở Quảng Nam mà không trở
thành một món hàng xuất cảng như ở Biên Hoà trong khi trước nội chiến,
Tourane nườm nượp những ghe trọng tải từ 40-150 tô-nô đến chở cau,
đường mà riêng thứ sau mỗi chuyến đem đi hàng 40 ngàn tô-nô4.
Kết
quả là hiệu năng vũ khí kém đi với những khẩu súng nhồi bằng thuốc đạn
Trung Hoa không bắn xa bằng thứ cùng loại ở Gia Định nhồi bằng thuốc
đạn Tây phương. Lực lượng quân sự phía mặt biển yếu thấy rõ. Tây Sơn
phải tìm cách bù đắp. Bọn cướp biển Tề Ngôi bổ túc vào sự thiếu sót đó.
Thực ra sau khi làm chìm chiếc tàu Macao tịch thu được của
người Bồ bị bão dạt vào Quy Nhơn, Tây Sơn cũng cố gắng phát triển thuỷ
quân. Nguyễn Huệ đã cho đóng những chiếc “đại-hiệu-thuyền” có thể chở
nổi con voi5. Có lẽ
đó là những chiếc tàu mà người Anh đi lạc vào thành Quảng Nam chuyến
tháp tùng phái bộ Macartney đã nhìn thấy và ước lượng đến 150 tấn trọng
tải và chắc cũng là loại tàu Định quốc mà Vũ Văn đem án ngữ ở cửa Thi
Nại trong trận thuỷ chiến 1801. Nhưng chúng ta hãy nghĩ tới những chiếc
tàu bọc vỏ đồng của Nguyễn Ánh rõ là có sức chịu đựng hơn nhiều. Cho
nên các thuyền Tề Ngôi vừa giữ nhiệm vụ tiếp tế cho nội địa vừa chính
là một bộ phận của thuỷ quân Tây Sơn để quân bình yếu kém vậy6.
Tề Ngôi hải phỉ là gì? Có khi gọi là Ô Tàu hải phỉ, danh từ được thấy ở Thực lục7
chỉ rõ đám cướp biển Đông gồm có hai nhóm: giặc Tàu Ô ở vùng Lưỡng
Quảng và Thiên Địa hội ở Tứ Xuyên (nên nhớ Hà Hỉ Văn thuộc Thiên Địa
hội đã hoạt động ở vịnh Xiêm). Các đầu mục được Quang Trung phong chức
Tổng binh (hay Thống binh) cho đi cướp phá khắp nơi. Thực lục và Liệt truyện
cho ta biết một số tên các người này như: Dương Thất Nguyên, Ngô Tam
Đồng, Phiền Văn Tài... Và đặc biệt là người cầm đầu xưng Đông hải vương
Mạc Quần Phù8.
Là
quan Tây Sơn nên sào huyệt họ ở ngay trên đất liền, khi Nguyễn Ánh tiến
đánh thì họ bỏ thuyền chạy bộ để bị bắt sống. Phạm vi hoạt động của họ
lan xa đến nỗi Nguyễn Ánh lần đầu bắt được thuyền Tề Ngôi vội vã sai sứ
đem cho Xiêm để tuyên dương uy thế của mình. Kỹ thuật thuỷ chiến tinh
vi nên Tây Sơn dùng họ chống đánh thuỷ quân Nguyễn Ánh. Ngay từ trước
khi Nguyễn Huệ chết, hơn 40 thuyền Tề Ngôi men theo ven biển Bình
Khang, Bình Thuận vào khuấy rối. Trận đánh cuối cùng dữ dội nhất ở Trấn
Ninh (1802), thuỷ quân Tây Sơn gồm toàn các thuyền Tề Ngôi. Đó chỉ vì
chiến tranh càng kéo dài ra, thuỷ quân Tây Sơn hoặc phải đồng hoá các
đơn vị Tề Ngôi, hoặc phải tổ chức như họ. Cho nên, trong trận Đà Nẵng,
Võ Tánh bắt được hơn 20 Tàu Ô và tướng của họ không phải Tổng binh mà
là Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ.
Vai trò bổ túc của họ quan trọng như
thế nên không phải chỉ vùng Nguyễn Huệ mới có Tề Ngôi thuyền. Nguyễn
Nhạc cũng phải cho phụ trách kiểm soát vùng biển Quy Nhơn: thuyền Tề
Ngôi Nguyễn Ánh bắt được đem khoe với Rama I là ngoài khơi Thi Nại của
Nguyễn Nhạc.
Giữa lúc Tây Sơn miền Bắc dựa vào trung châu Nhĩ
Hà cùng vài khu vực cằn cỗi khác để nỗ lực phát triển trong những điều
kiện khó khăn thì Nguyễn Ánh cũng vội vã lo củng cố thế lực ở vùng đất
chưa được tận dụng hết khả năng: đồng bằng miền Nam.
Trong
khoảng 1789-1792, gặp lúc Tây Sơn không đủ sức nhìn về phương Nam nữa,
ông có được thời cơ để lo tổ chức Gia Định. Thêm nữa, ông còn có sẵn sự
ủng hộ bền dai của các cựu thần, sự đóng góp kỹ thuật của đám phiêu lưu
thương nhân và giáo sĩ Tây phương, cùng một lề lối ý thức tổ chức xưa
cũ có thể không thành công với những vùng thâu nhận ảnh hưởng Việt lâu
đời, nhưng lại rất có hiệu lực ở những vùng mới mẻ.
Chế độ đồn
điền đã từng được áp dụng từ đầu Lê để khai thác lãnh thổ theo tính
cách tập thể, quân sự hoá, bây giờ được Nguyễn Ánh tiếp tục với sự đóng
góp của đám trí thức Gia Định mới về đầu. Là sĩ phu cố giữ tiết tháo
trong thời loạn, noi gương theo xử sĩ Võ Trường Toản, thấm nhuần Khổng
giáo trong cả những ý nghĩa tích cực nhất, một khi ra làm việc, họ là
những tay hăng hái nhiệt thành nhất. Ý thức hệ Khổng giáo gắn liền với
một lề lối tổ chức kinh tế nông nghiệp, một khuôn mẫu tổ chức binh đội
lấy sức mạnh ở nông dân nên mỗi lần bàn đến việc khai đất tuyển binh là
Nguyễn Ánh viện đến “Chu Đường cố sự”, đến quan niệm “tứ dân chi trung
duy nông vi bản”9.
Hành
động đầu tiên là vào tháng 6 Kỷ Dậu (1789) - thángHoàng tử Cảnh về -
Nguyễn Ánh bổ nhiệm Điền tuấn quan. Mười hai người trong số có Trịnh
Hoài Đức, Ngô Tòng Châu, Lê Quang Định, Hoàng Minh Khánh, chia nhau đi
4 doanh Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn, Trấn Định khuyến dụ dân chúng
từ phủ binh tới dân cùng cố cứ theo sổ bạ mà bắt làm ruộng, dân không
có nghề nông thì bắt phủ binh thế. Đến mùa lúa chín, đạp ra, quan khám
thu mỗi người, ruộng đồng lấy 100 cơ lúa (một cơ bằng 40 bát), ruộng
núi lấy 70 cơ. Phủ binh nạp trên số đó được miễn một năm tòng chinh,
dân trơn được miễn một năm lao dịch làm xâu. Nếu không đủ số không được
chuẩn miễn.
Ai mộ được dân ngoài sổ bộ lập thành các đội điền
tốt, Điền tuấn quan sẽ cấp ruộng hoang cho. Nếu trâu cày điền khí không
đủ, quan cho mượn, đến mùa nạp lúa thế10.
Tiếp tục thúc đẩy chính sách, tháng 8 năm sau (1790), lại có lời dụ
khuyến nông, cũng bấy nhiêu nội dung tổ chức ấy. Việc nông trang được
chăm sóc kỹ vì một lẽ nữa là năm này lúa cao, dân đói. Ánh bắt các nha
văn võ phải đi mộ các đội đồn điền, mỗi năm mỗi người phải nộp 6 đấu
lúa. Dân gian, ai mộ được 10 người trở lên thì được làm Cai trại, rút
khỏi sổ thôn. ________________________________________ 1. Hoa Bằng, Quang Trung... sđd, 308, dẫn lời Ngô Thì Nhậm ghi trong Bang giao hảo thoại của ông. 2. V. Imbert. Le séjour de l’ambassade... sđd, i. 15, 16, 17. 3. Thư gởi cho Letondal 6-10-1797 (A. Launay. III, t. 244). 4. V. Imbert. Le séjour de l’mbassade... sđd, t. 22, 23, 27. 5. Hoàng Lê. sđd, t. 269. Thực lục q4, 14b. 6. Ông Hoàng Xuân Hãn (Sử Địa, số 9-10, t. 3-8, t. 245-263) dịch Càn Long chinh vũ An Nam ký của Nguỵ Nguyên và phụ thêm Gia Khánh Đông Nam Tĩnh Hải ký, xác nhận cho những ý kiến chúng tôi vừa nói trên năm 1968: “Cha con Nguyễn Quang Bình dùng binh cướp nước. Của trong nước hư hao. Thuyền buôn không đến. Bèn sai hơn 100 chiếc Tàu ô, 12 viên Tổng binh lấy tiếng là tìm mua quân lương,
đi chiêu tập nhiều tụi vong mạng dọc bờ biển Trung Quốc. Lấy quan tước
làm mồi nhử, cấp cho thuyền và khí giới, sai đưa đường cướp Mân, Việt,
Giang, Chiết” (Càn Long...) “Đến đầu đời Gia Khánh
(1796) mới có cướp thuyền quấy rối. Cướp thuyền này bắt đầu từ khi cha
con Nguyễn Quang Bình ở An Nam, quân mỏi, lương hết bèn vời bọn
vong mạng dọc bể cấp cho binh thuyền, nhử bằng quan tước, sai cướp các
thuyền buôn ở bể gần để biện lương thực (Gia Khánh...). Chính chúng tôi nhấn mạnh. 7. Thực lục q6, 7b, 9a; q10, 3a, 6ab, 38b... Ô Tàu hải phỉ là tên gọi từ Liệt truyện q30, 41b. Ngoài ra ở q7, 13b, q11, 4b... vẫn gọi là Tề Ngôi hai phỉ. 8. Nguỵ Nguyên gọi là Mạc Phù Quan. Sách Tĩnh hải ký kể
trên cũng gọi Mạc Phù Quan, còn cho biết thêm tên Trần Thiên Bảo có sắc
ấn Tổng binh An Nam và thêm Báu Ngọc hầu, Luân Quý Lợi với 4 Tổng binh
khác. 9. Lời dụ khuyến nông khai khẩn đất: “Gia Định phì nhiêu mà lương chưa chứa đủ” (Thực lục q6, 4ab). 10. Thực lục q4, 16ab, 17b, 23a; q5, 18a: “Cho dân các doanh trưng đất ruộng hoang”. Lính ở các nơi trấn đóng cũng không được ở không. Nơi luỹ Vàm Cỏ ở Gia
Định, các quan văn bắt lính ra làm ruộng lấy tên Đồn điền trại. Lúa
giống, trâu cày, dụng cụ làm ruộng đều được quan cấp. Lúa thu thành đem
bỏ vào kho (tên là kho Tích Trữ sau cải là kho Đồn Điền). Biện pháp này
đến tháng tư Tân Hợi (1891) thì được áp dụng lan đến vùng Bà Rịa, Đồng
Môn. Lính ở đó phải tìm đất làm đồn điền để “tự thực kỳ lực”1.
Chính
sách lan cả đến dân thiểu số. Dân Hoa ngụ cư - Đường nhân - ở Long
Xuyên nếu tự nguyện làm đồn điền mà thiếu dụng cụ sẽ được cho mượn. Mỗi
người mỗi năm nộp 8 hộc lúa thì được miễn giao dịch. Ai không làm ruộng
sẽ phải sung quân. Dân Miên ở Ba Thắc, Trà Vinh cũng không thoát: họ bị
buộc khẩn đất, nộp mỗi người 15 đấu lúa (sau giảm còn 5)2.
Nói
tóm lại, chính sách đồn điền nhắm vào việc khai phá đất đai làm ruộng
bằng cách bắt mọi người không đừng được, phải tham gia với sự đôn đốc,
kiểm soát, trợ giúp của chính phủ. Đó là một chính sách nông nghiệp
cưỡng ép, tận dụng nhân công, có từ xưa nhưng bây giờ lại được áp dụng
trên một quy mô rộng lớn, khiến vùng Gia Định trở nên phồn thịnh, sản
xuất dồi dào quyến rũ được đám dân nghèo đói Bình Thuận, Phú Yên... bỏ
xứ chạy vào làm tăng dân số, uy tín nội bộ cho Nguyễn Ánh3, để dư gạo giúp Xiêm đói, giúp Thanh đánh Tây Sơn4
và cuối cùng, để đủ binh lương cho quân lính dùng những khi tràn ra
phía bắc đánh đám người kiệt thiệt đã làm ông khốn đốn khi xưa.
Công
cuộc khai thác ruộng lúa, đối với thương nhân Tây Phương không quan
trọng mấy cho việc buôn bán của họ. De Guignes, viên lãnh sự Pháp ở
Quảng Châu có tiếc rằng Vua đã không làm chủ được “những tỉnh giàu có
hơn ở miền Bắc” mà chỉ chiếm một vùng “không tốt” vì “sản xuất có lúa
mà thôi”5. Nhưng nếu
ta lưu ý đến công việc buôn bán với người Xiêm, Chà-và, Trung Hoa... và
các thương nhân Tây phương thực hiện các chuyến tải hàng trong địa
phương - le commerce d’Inde en Inde của họ - thì rõ ràng lúa gạo cũng còn là một sản phẩm trao đổi được để từ đó làm giàu cho quốc khố6.
Vả lại, tuy sử quan nói toàn chuyện cày ruộng, thu lúa, nhưng ta vẫn
thoáng thấy có những canh tác khác. Các vườn cau mọc lên nhiều để cung
cấp một sản phẩm cần thiết cho phong tục địa phương(7.
Sản phẩm quan hệ nhất là đường cát. Nguyễn Ánh đã nhắc đi nhắc lại cho
dinh Trấn Biên biết rằng đường cát cần thiết dùng để đổi binh khí Tây
phương nên phải có chính sách riêng. Một mặt nhà nước ép dân sản xuất,
hạn định mỗi năm phải nạp 100.000 cân (6.000KG), một mặt phát tiền cho
dân có vốn làm ăn, đến mùa tính theo giá chợ mà nhà nước mua lại. Chính
sách có vẻ có hiệu quả vì số lượng sản xuất tăng lên, giá thị trường hạ
xuống trong mấy năm thi hành: cuối năm 1789, nhà nước phát trước 10
quan cho mỗi 100 cân còn hẹn đến mùa theo giá chợ phát thêm mà đến gần
cuối năm 1796, nhà nước chỉ phát 9 quan cho 100 cân thôi8.
Nguyễn
Ánh cũng chú ý đến việc tìm các lâm sản. Người trong các đội Hoàng Lạp
mỗi năm nếu nạp 10 cân sáp vàng thì được miễn giao dịch, thuế má, tòng
quân. Trầm hương, kỳ nam lấy ở dân Chàm Bình Thuận, đậu khấu, sa nhân
cùng với các sản phẩm Cao Miên thì theo đường nước của sông Tiền, sông
Hậu chuyển xuống9.
Nhưng khi chế độ sản xuất được đôn đốc kỹ lưỡng thì chế độ thương mại
cũng phải theo một sự kiểm soát gắt gao. Những thương thuyền ngoại quốc
đến buôn bán không được lén chở lúa gạo, kỳ nam, trầm hương, ngà voi,
sừng tê. Ai thông đồng buôn bán riêng tư thì phải tội 100 roi, làm phu
3 năm, tài sản bị tịch thu. Người kiểm soát cũng không được lơ là nhiệm
vụ: thất thoát, tội cũng như vậy, ai tố cáo được thưởng 300 quan tiền!10.
Sở dĩ có sự kiểm soát gắt gao như vậy vì chính quyền muốn giữ các quý
vật ấy làm món hàng trao đổi binh khí, đạn dược cần thiết cho binh
dụng. Việc mua bán với bên ngoài thực hiện do các tư nhân hoặc chính
tay chân Nguyễn Ánh.11.
Từ trước khi Cảnh về đã có một chính sách mời gọi các thuyền Thanh đến
buôn bán. Nếu họ chở tới sắt, gang, chì đen (?), lưu hoàng thì phải bán
cho quan để quan tuỳ theo ít nhiều cho miễn thuế bến đổi gạo mang về
nước. Cứ thuyền có các thứ ấy trên 10 vạn cân thì miễn thuế cho chở 30
vạn cân gạo đi, thuyền có 6 vạn cân, chở 22 vạn cân gạo, 4 vạn cân chở
15 vạn cân gạo, đều miễn thuế. Những thuyền ít hơn thì cứ mỗi 100 cân
đổi 300 cân gạo về, nộp thuế y lệ định12.
Sau đó vào khoảng năm 1791 (tháng hai Tân Hợi), có người Bồ tên là
Chu-di-nô-di (?) đến buôn bán, Ánh mới đưa thư cho quốc trưởng (chắc
toàn quyền Goa hay Macao) để mua một số lớn binh khí: súng điểu thương
1 vạn cây, súng gang lớn 2.000 cỗ (mỗi cỗ 100 cân), hoả tâm đạn 2.000
viên13.
Về
việc người đi buôn thì tay chân Ánh phái đi tuy chắc mang tính cách bầy
tôi ăn lương chúa nhưng hẳn cũng có thể kiếm ăn riêng được. Các quan
lớn cũng có phương tiện chuyên chở riêng: năm 1800 một ông Chưởng dinh
Hữu quân (Nguyễn Huỳnh Đức?) đã bán cho Despiau một chiếc thuyền lớn để
ông này đi buôn. Despiau cũng nằm trong sự đãi ngộ chung của Nguyễn Ánh
đối với người Tây phương dưới quyền: họ vừa làm cho Ánh vừa kiếm lợi
riêng. Những khu vực họ thường lui tới nhất là ở phía Tây: để mua binh
khí, Nội viện Trần Vũ Khách đã đi Giang-lưu-ba (Batavia), Cai đội
Ô-li-vi, Đội trưởng Ba-la-di đi Goa, Mã-la-kha (Malacca). Tài liệu Tây
phương cho biết L. Barizy còn trương hiệu kỳ của chúa Nguyễn buôn bán
với thương nhân Đan Mạch, Hanop và Stevenson, trung lập trong chiến
tranh Anh - Pháp, làm đại lý cho Ánh ở Tranquebar (Ấn Độ)14.
Có lẽ chính vì việc buôn bán hướng về phía Ấn Độ, Mã Lai, nơi người Anh
đang phát triển thế lực, danh tiếng vang dội trên mặt biển lúc bấy giờ,
nên có việc sử quan ghi rằng Ô-li-vi đi Hồng-mao mua binh khí, có
thuyền Hồng-mao đến buôn bán và L. Barizy là dân Hồng-mao15.
Tất
cả những hoạt động nông nghiệp, thương mại đó có chủ đích tạo lập một
lực lượng khả dĩ chống đối được Tây Sơn, tràn ra Bắc chiếm lại cố đô.
Ta đã kiểm xét đám người Tây phương trợ giúp Gia Định. Nhưng điều quan
trọng vẫn là việc kết hợp được một lực lượng quân sự gồm những người
trong nước, điều hoà được việc binh với sự cần thiết sản xuất16. _________________________________________ 1. Thực lục q5, 6b, 7a, 21b. Về việc cấp lúa giống, Thực lục q5, 22a ghi đã phát đến 1 vạn đấu cho nông dân. 2. Thực lục q5, 15a. 3. Thực lụcq4,
12a: “Sai 4 doanh công đường quan nhóm lưu dân gốc từ Bình Thuận trở
ra, biên danh tánh, niên quán để miễn thuế”. Cùng quyển, 17ab ở Ba
Thắc: “Bọn phiên dân mới về, vận gạo 500 vuông cho vay để canh tác”.
Quyển 6, 2a: “Dân Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận khổ vì giặc tàn bạo,
dắt díu vợ con vào Bà Rịa. Sài Gòn, vua khiến cấp đất làm ăn” (Xuân
1792). 4. Thực lục q4, 10b:
“Xiêm hạn hán, (Vua) cho 8.800 vuông gạo”. Xem thêm q6, 37b; q5, 2a:
“Từ mùa hạ 1789, nghe quân Thanh đánh Tây Sơn, (Vua) sai Phạm Văn Trọng
đem thư đi Quảng Đông và lấy 50 vạn cân gạo giúp. Ghe bị chìm”. 5. Thư ngày 29-12-1791. G. Taboulet, La geste française, sđd, t. 242, 243. 6. Thực lục
q4, 24b: “Nước Tà-nê (Chà-và) sai sứ hiến phương vật”. Cùng quyển, 28b:
“Nước Tam-hoạt sai sứ thần Giáp-tất-đơn, Điền-hoà tới cho binh khí
(Vua) tặng lại quốc trưởng họ một chiếc lọng vàng và một vạn cân gạo”.
Lưu ý rằng tuế cống, triều cống theo kiểu tương tự là một hình thức
buôn bán chính thức ở Đông phương (Jacques Lacour Gayet. Histoire du commerce, t. II, phần về thương mại Trung Hoa: phát triển thương mại và chính sách triều cống, t. 358, 359. Sách Thực lục
cũng đầy rẫy các chuyện ta cho Xiêm gạo, kỳ nam, sáp, đường, Xiêm cho
lại diêm tiêu, súng ống, voi. Ý nghĩa buôn bán thực quá rõ ràng. 7. Barrow (BSEI,
1926, t. 208) có ghi chuyện Gia Long để phát triển các vườn trầu lấy
phẩm vật xuất cảng. Đây chắc là Thập bát Phù Viên, 18 thôn Vườn Trầu ở
Hốc Môn mà Trịnh Hoài Đức cũng có nhắc tới. 8. Thực lục q4, 25b; q8, 29a. Xin xem lại tình hình thị trường đường cát ở Quảng Nam đã nói về vùng Tây Sơn để so sánh. 9. Thực lục q4, 18a, 19a; q5, 6a, 17b. 10. Thực lục q4, 11a. 11. “Nội viên Thuyền chủ Huấn Đức hầu là tôi tâm trường. Vả lại gia tư ấy lai khứ tiện thông...” (Phụ lục, thư chữ Nôm số 11). 12. Thực lục q4,
12b. Tỷ lệ đổi chác 3/1 là ở hai đầu tối đa và tối thiểu, còn các mốc ở
giữa thì tỷ lệ cao hơn: 3, 6/1 (22/6. 3, 7/1 (15/4). Chắc người ta cũng
sợ hết gạo! 13. Thực lục q5,
18a. Điểu thương chắc là loại arquebuse, súng lớn 60kg chắc là loại đại
bác di động mà L. Barizy có nói tới trong trận Đông Cây Cầy 1801 sau
này. Hoả tâm đạn chắc là đạn nổ mảnh. 14. Suzanne Kapelès. “Un cas de droit maritime international en 1797”. BSEI, XXIII, t 126-131. 15. Thực lục q7, 26a, q9, 3a, 8a. 16. Thực lục q4, 36a.
Những
kỳ kiểm tra liên tiếp vào sổ bộ đám dân Việt gồm dân sở tại, dân đói
rách lưu vong từ ngoài vào, tăng ni, đạo đồng, lính Tây Sơn tan rã trốn
nấp vào đám người thiểu số người Tàu, Miên, Chàm, Thượng, khiến chính
quyền biết rõ được dân số để tận dụng họ1.
số
Gia Định bao nhiêu, sử quan không đếm được, John Barrow người đi theo
sứ bộ Macartney, lấy tài liệu của L. Barizy để ghi quân số Gia Định vào
đầu thế kỷ XIX như sau: Bộ binh: 24 đội kỵ binh 6.000 người 16 đại đội tượng quân (200 voi) 8.000 người 30 đại đội pháo binh 15.000 người 25 liên đội (mỗi đơn vị 1.200 người) võ trang súng tay 30.000 người Khinh binh võ trang gươm giáo và súng mồi 42.000 người Cận vệ tập luyện chiến thuật Tây phương 12.000 người ______________________________________________________ Cộng: 113.000 người
Thuỷ binh: Lính làm thuốc đạn của xưởng đóng tàu 8.000 người Thuỷ binh trên các tàu trong cửa biển 8.000 người Thuỷ binh trên các tàu đóng kiểu Âu 1.200 người Thuỷ binh trên các ghe bầu 1.600 người Thuỷ binh trên các thuyền chiến có chèo 8.000 người _______________________________________________________ Cộng: 26.800 người Tổng số quân lực là 139.800 người2.
Danh
xưng chỉ các ngành quân đội và các thuật ngữ về chiến cụ của John
Barrow dùng tuy có khác với sử quan nhưng so sánh để soát xét lại ta
vẫn thấy dấu vết của sự thực, tuy phức tạp hơn nhiều. Nên nhớ thêm rằng
bảng tổng kết này làm bằng những tài liệu có lẽ thu lượm 1, 2 năm cuối
thế kỷ XVIII, nghĩa là trong lúc binh Gia Định đã phát triển mạnh, thu
thêm vào hàng ngũ của mình đám hàng binh Tây Sơn cùng chiến cụ, chiến
tượng của họ.
Xét sách Thực lục, ta thấy có các danh từ: lạc tòng quân, chiến tâm quân, hương binh, phủ binh, tinh binh, thần sách quân, cấm vệ binh3.
Không có xác nhận rõ rệt, ta chỉ căn cứ vào ý nghĩa danh xưng cùng hoạt
động của các đội đó mà giải thích tổ chức thôi. Lạc Tòng quân rõ là đám
dân tình nguyện, nhưng vì việc lập ra đạo quân này sau thời kỳ vây đánh
Quy Nhơn (1793), nên phải hiểu dè dạt chữ “tình nguyện” vì đó chính là
binh tướng Tây Sơn đầu hàng vậy. Chiến Tâm quân là các binh cảm tử.
Nguyễn Ánh sai các dinh tuyển chọn, lọc lừa trong các binh đội lấy
người để lập thành đội ngũ nhập vào ước thúc của dinh Trung quân. Xung
trận, họ phải liều mình tiến trước, nếu lùi lại phải chịu quân pháp,
trốn đi cha mẹ, anh em họ phải chịu tội thay. Hương binh, Phủ binh là
lính làng, lính địa phương, trong khi Tinh binh là lính túc trực, lính
chính quy: ta thấy khi dẹp xong Phạm Văn Sâm, Nguyễn Ánh cho phủ binh
về làm ruộng, chỉ giữ lại tinh binh. Chuyện xảy ra ở Phiên Trấn nên có
thể là tinh binh chỉ ở Gia Định, còn các dinh khác (Vĩnh Trấn, Trấn
Định) thì phải tuyển phủ binh để dùng4.
Cấm vệ binh, đã nói rồi, được hưởng quyền lợi rất lớn, nhưng quân số
chắc ít ỏi. Thần Sách quân - quân ở Kinh - được nhắc tới nhiều chính là
đám cận vệ 12 ngàn người tập luyện theo chiến thuật Tây phương mà
Barrow đã ghi nhận vì có Olivier là một kẻ điều khiển với chức Vệ uý.
Sau này, trùng hợp với lúc Olivier đi, danh từ Thần Sách quân ít được
sử quan nói tới và thay bằng đội Ngự Lâm quân tuyển toàn dân Quy Nhơn,
giao cho các hàng tướng Tây Sơn trông coi vì sự hăng hái, gan dạ của
họ, tướng cũng như quân.
Đáng lưu ý là sự đổi thay kỹ thuật
chiến đấu do người Âu đem lại hay gián tiếp qua các sách dịch của
Pigneau: J. Barrow có nói đến pháo binh, đến các đội kỵ binh di chuyển
bằng trâu. Nếu ta nhớ rằng Pigneau khi bàn bạc việc viện trợ cho Nguyễn
Ánh với các tướng lãnh Pháp có nghĩ cách dùng trâu kéo súng lớn và ta
ghép lời xưng tụng công đức Bá-đa-lộc: “chế hoả xa, bầy trái phá...”5
thì ta thấy quân đội Nguyễn Ánh có súng nặng lưu động dễ dàng trên bộ
như chứng tỏ trong trận Đập Đá tháng 7 âm lịch (1793) với “hoả xa đại
bác”6.
Khí
giới ngoài các thứ mua cũng được chế tạo tại chỗ. Qua lời xưng tụng quá
đáng của J. Barrow, ta cũng lược qua được sự thực. Ông nói Nguyễn Ánh
đã làm một nhà máy chế diêm tiêu ở Phiên Trấn, khai một mỏ sắt, xây các
lò đúc chế hàng ngàn súng mồi lửa, các súng đại bác đủ cỡ7. Sử quan xác nhận điều này khi cho biết việc phân phiên làm việc của các Cục tượng: thợ đúc, thợ rèn, thợ súng, thợ bạc8. Trịnh Hoài Đức9
cũng nói về chế tạo cục trong thành Gia Định, ghi rõ “có 3 gian nhà
ngói đối mặt nhau”, dãy trại đặt súng bên tả phía trước. Chế tạo cục có
15 gian lợp ngói, lát ván, đặt đồ phụ tùng súng, bên trong sắp các khẩu
đại bác đồng, sắt, hoả xa, trụ súng, đều có xe chở. Bên hữu là một dãy
trại lá vừa là nơi trú ngụ cho các thợ tạo tác, vừa là nơi thu chứa thổ
sản hoá vật. Ngoài ra, còn có 12 gian mái ngói, tường gạch chứa thuốc
súng dồn trong những thùng gỗ đặt trên sàn. Bên ngoài cửa Khôn Minh 2
dặm là nơi chế tạo thuốc súng, 4 phía rào gai, có đủ khí cụ cối chày để
nghiền thuốc.
Việc tổ chức phòng thủ cũng được thực hiện đồng
thời với việc huấn luyện binh sĩ. Nguyễn Ánh đã lo củng cố công sự
phòng thủ nhiều đến nỗi các giáo sĩ phải lên tiếng công kích thái độ mà
họ gọi là “lẩn tránh chiến tranh”. Phần lớn các luỹ đắp bằng đất. Một
số luỹ là để ngăn chặn đề phòng những nhóm Miên nổi dậy như luỹ Trấn Di
(cái tên tỏ rõ được công dụng) ở sông Ba Thắc, luỹ Thanh Sơn ở Ba Lai.
Cũng có những luỹ như các tiền đồn hướng về phía Tây Sơn: luỹ Đồng Chàm
ở Trấn Biên, luỹ Bà Rịa10. _______________________________________ 1. Thực lục q4, 11a, 29b; q5, 4a, 18b; q8, 7b. 2. G. Taboulet, La geste française, sđđ, t. 256. 3. Thực lục q4. 8b, 9b, 17b; q6, 32b, 33b. 4.
Phủ binh là chế độ binh vụ có từ đời Bắc Chu sang Tuỳ, Đường, bắt dân
trong sổ bộ làm lính, miễn cho các thứ thuế tô, dung, điệu, phải chịu
huấn luyện trong những khi rảnh việc nông, phải tự lực sản xuất. Gia
Định tổ chức theo chế độ Hán, Đường chắc cũng đã sử dụng phủ binh theo
ý nghĩa này. 5. BAVH, 1936. t. 111, 112. Xem thêm Trịnh Hoài Đức tả trại súng kể sau. 6. Thực lục q6. 25a. 7. G. Taboulet trích lại trong La geste française, sđd t. 270. “Quelques notes sur Gia Long par un contemporain”, BSEI 1926. t. 208. Chữ dùng của Barrow: Fentan. 8. Thực lục q4, 5a. 9. Trịnh Hoài Đức, Thành trì chí đã dẫn, Đại học, 12-1961. t. 30-40. 10. Thực lục
q4, 17a chuyện tháng 6 Kỷ Dậu (1789); 22a, chuyện tháng 9, 26a chuyện
tháng 12 cùng năm; q5, 10b, chuyện tháng 12 Canh Tuất (1790). Nhưng công sự làm cho Ánh hãnh diện nhất và công trình xây cất cũng trải qua nhiều khốn đốn nhất là thành Gia Định. Thực lục
chép rằng ngày Kỷ Sửu tháng 3 Canh Tuất (1790) bắt đầu xây thành bằng
đá Biên Hoà vì luỹ ở làng Tân Khai không đủ dùng cho binh vụ1.
Trịnh Hoài Đức ghi ngày 4 tháng 2 và tả thành theo khuôn mẫu Á đông:
thành có hình bát quái, các cửa chính theo phương vị càn tốn, cấn
đoài... Thành giống hình hoa sen nở, 8 cửa, ngang dọc có 8 đường, từ
Đông qua Tây rộng 131 trượng 2 thước, từ Nam qua Bắc cũng vậy cao 13
thước, chân thành dày 7 trượng 5 thước day mặt ra hướng tốn (Đông Nam).
Việc xây thành này, các tài liệu Tây phương cho biết là do Le
Brun và Olivier de Puynamel theo lời yêu cầu của Nguyễn Ánh. Hoạ đồ phố
xá hình như của Le Brun gồm có 40 con đường rộng từ 15 đến 20 thước cắt
nhau theo hình thước thợ và dự án này không được thực hiện. Nhưng Le
Brun còn ở đến đầu năm 1792 và rõ ràng việc thiết kế đô thị chịu ảnh
hưởng hoạ đồ ông rất nhiều. Ta hãy nghe Trịnh Hoài Đức so sánh nơi đó
trước kia “nhà ở lộn xộn, đường lối cong quẹo, để dân tuỳ tiện, chưa
rảnh sắp đặt (!)” với quang cảnh sau khi xây thành “phố xá chợ búa,
hàng lối dọc ngang đều có thứ tự”... “quan lộ... gặp những khúc quanh
co đều chăng dây sửa lại cho thẳng, rộng 6 tầm... bằng phẳng như đá
mài” thì đủ công nhận xác quyết trên. Thư của giáo sĩ Boisserand
(2-1792) cho biết có pháo đài, hào, điếu kiều, đường mở ra đất trống
trước thành và luỹ vòng cung... Nguyễn Ánh muốn làm tức khắc tuy cần
phải đợi thời cơ thuận tiện hơn. Người ta phải phá nhà cửa, bắt đến 30
ngàn dân làm việc. Loạn nổi lên, dân chúng và quan binh đổ riết cho
Olivier và Le Brun gây nên tội muốn bắt giết làm hai ông này phải chạy
trốn, nhờ Bá-đa-lộc che chở. Bình yên trở lại, Nguyễn Ánh cho lính về
và dân rảnh rang cày cấy2.
Chi tiết sau phù hợp với việc sử quan ghi tới hai lần xây cất thành mà
không nói lý do ngưng nghỉ: một lần vào tháng 3 Canh Tuất như đã nói và
lần “sửa sang lại” vào tháng chạp năm đó.
Qua những chứng dẫn
trên ta biết thành xây theo kiểu phòng thủ Tây phương nhưng cố uốn nắn
theo quan niệm phong thuỷ Đông phương (bát quái). Tuy nhiên hiệu quả
phòng thủ của nó vẫn không thay đổi. Từ đấy Tây Sơn không vào Gia Định
lần nào để nó được thử thách nhưng đứa em sinh sau nó, thành Diên
Khánh, đã chứng tỏ hiệu lực trước đám quân Trần Quang Diệu thiếu vũ khí
công phá tương xứng.
Nhưng người ta còn phải nghĩ tới việc tấn
công nữa. Ta đã nói tới nỗi lo âu của Gia Định về sức mạnh của đám
tượng quân Tây Sơn, sức mạnh chứng tỏ trong cuộc tấn công Vạn Tượng
“làm rung động Miến Điện, Xiêm La và khiến cho Đồng Nai sửa soạn chạy
trốn”. Tự nhiên, với phản ứng bắt chước, Nguyễn Ánh cũng phải lo củng
cố tượng quân. Từ sau vụ phá thuỷ quân Tây Sơn ở cửa Thi Nại, Nguyễn
Ánh sai người đến các vùng Đồng Nai, Bà Rịa bắt voi về nạp3.
Số voi tăng cường nhờ trao đổi với các nước Chân Lạp, Xiêm, nhờ cống
phẩm của dân thiểu số Chàm, nhờ bắt được của Tây Sơn. Theo với tiến
triển của tình thế chiến tranh và với sự rút lui của người Tây phương,
lực lượng tượng quản sẽ tăng mạnh hợp sát với thực tế địa phương và để
cố gắng quân bình với thuỷ quân.
Bởi vì Nguyễn Ánh đã có một
đội thuỷ quân hùng mạnh. Bầy tôi của Ánh và chính Ánh cũng thấy rõ điều
đó. “Thuỷ chiến là sở trường của ta”4,
Đặng Đức Siêu thực đã tri bỉ, tri kỷ vậy. Nhờ ưu thế đó mà Nguyễn Ánh
thắng trận thuỷ chiến Thi Nại 1792 làm ưu uất Quang Trung. Trong cuộc
tiến quân ra, thuỷ quân bao giờ cũng đi mau và đi xa vào đất địch hơn
bộ binh. J.M. Dayot phục vụ Nguyễn Ánh trong những năm 1790-1795 đã
nhân dịp điều khiển các tàu Tây trong chuyến xuất quân vào khoảng tháng
5 đến tháng 10 dương lịch để mà lập cả một chương trình vẽ các hải
cảng, đi dò đáy nông sâu. Chính đội này dắt theo sau cả hàng ngàn
thuyền mang lương thực cho binh lính - cả lính bộ - có khi phải ghé lại
một bến đến vài ngày để chờ bộ binh tới lãnh lương5.
Nhận biết thuỷ binh là quan trọng ở một xứ đầy sông rạch như Gia Định
này, nên từ tháng 5 Kỷ Dậu (1789) ta thấy giá bắt lính đào ngũ có cách
biệt rõ rệt: quân bắt được lính bộ thưởng 30 quan, còn được thuỷ binh
thì được hưởng tới 40 quan!6
Cấu
tạo lực lượng đó như thế nào thì tài liệu để lại của sử quan cũng còn
lờ mờ. Họ cùng với Trịnh Hoài Đức có nói đến Chu Sư xưởng lập tháng 12
Canh Tuất (đầu 1791), dọc từ bờ sông Tân Bình đến sông Bình Trị, chứa
những dụng cụ thuỷ chiến và các loại ghe tàu. Lelabousse vừa tả các
xưởng này vừa tâng bốc: “Các xưởng thuỷ quân và quân cảng của ông làm
người ngoại quốc ngạc nhiên và chắc sẽ khiến cả Âu châu thán phục nếu
Âu châu có thể chứng giám. Một bên người ta thấy các thứ súng tay, súng
lớn đủ mọi cỡ, dụng cụ, giá súng, đạn... phần lớn đẹp đẽ chỉ nhường
kiểu mới nhất thôi. Một bên, vô số các thuyền chiến (galère), các chiến
hạm đủ mọi cỡ, mọi hình thức, rất chắc chắn. Tất cả những cái đó là
công trình của ông hoàng ưa hoạt động cũng như chăm chỉ này, được các
sĩ quan người Pháp luôn luôn giúp đỡ vì nghệ thuật và công nghệ đó ở xứ
này còn xa mới đuổi kịp Âu châu”. Ở mục nói về Chu Sư xưởng, sử quan
cũng như Trịnh Hoài Đức có tả rõ các thứ thuyền. Theo họ, thuyền Hải
đạo là tàu thuỷ chiến hay nhất, chiến hạm là thuyền buôn không buồm mà
nhỏ (chú này sử quan ghi cho thuyền Hải đạo), ghe Ô, ghe Chu là các ghe
đánh giặc thân lớn, dài, ghe Lê có chạm vẽ ở mũi thuyền và lái. Ngoài
ra, ở những chỗ khác, sử quan ghi thêm các thuyền hiệu (5 thuyền hiệu
tạo tháng giêng năm Nhâm Tý 1792: Hoàng Long, Xích Nhạn, Thanh Tước,
Bạch Yến, Huề Hạc), các Ô sai thuyền (chắc là ghe Ô), Đại hiệu thuyền
và Tây dương dạng thuyền7.
Tài
liệu của người Pháp giúp việc Nguyễn Ánh để lại hay nói đến các chiến
ghe rõ là các thứ ghe Ô, Chu, Lê. Có lẽ từ ngữ này cũng chỉ các thứ ghe
mà L. Barizy gọi bằng các tên galère, chaloupe canonière, demi
canonière... khác nhau từ lớn tới nhỏ. Còn Tây dương dạng thuyền hẳn là
các “vaisseaux construits à l’européenne” mà Barrow nói tới, J. Liot tả
rõ, một loạt frégate có phía sau và buồm dạng của Trung Hoa trong khi
phần còn lại mang dạng Tây, có 6 đại bác mỗi bên, mỗi cái mỗi đầu8.
Đó là các Thao (tàu) Thoại Phụng của Barizy điều khiển, Loan Phi của
Chaigneau, Bằng Phi của De Forçan, Phượng Phi của Vannier...
Tuy
nhiên, trước đó khi chưa lập Chu Sư xưởng, Nguyễn Ánh cũng thuê được
các tàu Bồ đi buôn (10 chiếc) võ trang thành chiến hạm. Chiếc “tàu
đồng” do Dayot chỉ huy tiến vào cửa Thi Nại (1792) là một kinh ngạc lớn
cho Tây Sơn.9. Rồi
sau đó Nguyễn Ánh mới bắt chước theo các tàu Tây mà đóng tàu vỏ đồng
nhờ số kim loại dồi dào trong các cuộc trao đổi thương mại. Còn các ghe
thì đóng toàn bằng gỗ ván lấy trên các vùng nguồn Băng Bót, Quang Hoá
trên đất ta, Sơn Phụ, Sơn Bốc, Sơn Trung trên đất Miên.10
Tóm
lại, đặc sắc của thuỷ quân Gia Định là sự dồi dào vũ khí, hiệu suất cao
của chúng, là các tàu bọc vỏ đồng chắc chắn cùng chiến thuật mới của
các sĩ quan Tây Phương đưa vào. Lực lượng này là kết quả của công cuộc
khai thác đất Gia Định mở rộng trao đổi với bên ngoài. Nó trở thành
nòng cốt của lực lượng thống nhất một khi Tây Sơn trên bộ chưa tìm được
cách phát triển hơn thì lại phải đối phó với sự tan rã nội bộ ở trung
tâm Phú Xuân nữa. Biển cả thênh thang ở phía đông với đội hải thuyền
lớn mạnh của Gia Định biết uốn nắn theo quy luật gió mùa sẽ mang đầy đủ
ý nghĩa của một yếu tố kết liền hơn là một yếu tố ngăn cách vậy. _____________________________________ 1. L. Malleret. “Eléments d’une monographie des anciennes fortifications et citadelles de Saigon”. BSEI, 1935, t. 5-108. Thực lục q4. 31a; q5, 10b. Bản hoạ đồ thâu hẹp thành phố Sài Gòn xây năm 1790 do Cai đội V. Olivier, trong Iconographie historique de l’Indochine française, fig. 40, pl. XXI. 2. G. Taboulet dẫn trong La geste française... sđd, t. 242. 3. Thực lục q6, 9b. 4. Liệt truyện q10, 6b. 5. G. Taboulet, La geste française, sđd, t. 250. Thư Dayot đã dẫn. 6. Thực lục q4, 12a. 7. Theo thứ tự, Thực lục q4, 21a, tháng 8 âl. 1789; q6, 1a, 6a, 12a, tháng 1 âl. 1793; q10, 2b, tháng 2 âl. 1798. 8. Thư của J.Liot ở Tân Triệu, 18-7-1792, BEFEO. 1912, t. 28. 9. Thư của L.M.J. de Jésus Maria cho L.M Trưởng tỉnh. Chợ Quán, 4-3-1790, BSEI, 1940, t. 101, 102. 10. Thực lục q4, 30b, tháng 3 âl. 1790; q5, 21b, tháng 3 âl. 1791. ________________________________________________________Tiết 14
DÂN ĐẠI VIỆT Ở CUỐI THẾ KỶ XVIII
Các
sắc dân trong tiến trình tiếp xúc * Đời sống vật chất thường nhật * Đời
sống với ảnh hưởng của chiến tranh * Đời sông tinh thần.
Trên
con đường phát triển của đôi bên Tây Sơn và Nguyễn dần dần đưa tới chỗ
biến đổi thế quân bình có lợi cho Gia Định, chúng ta đã phân tích ảnh
hưởng bên ngoài cùng thái độ, công việc của lớp người cầm quyền. Nhưng
ta cũng không quên rằng thấp thoáng sau những sự kiện chứng dẫn vẫn có
bóng quyền uy, mồ hôi nước mắt của đám dân chúng đã đưa Quang Trung đến
trận Đống Đa, mời gọi Nguyễn Ánh về Gia Định, nghĩa là thúc đẩy lịch sử
đi theo bước tiến của nó mà chính họ, họ cũng không hay biết gì. Trước
khi bước gấp tới để nhìn đôi bên thanh toán nhau, chúng ta hãy dừng lại
sống cuộc sống không tên không tuổi của người xưa vào thời đó qua những
tài liệu quá hiếm hoi, quá vắn tắt đã để lại.
Bản đồ nhân
chủng Đại Việt vào hậu bán thế kỷ XVIII có khác với bây giờ, nhất là ở
miền Nam Hà. Trên con đường tràn về Nam, đám nông dân đồng bằng tiếp
xúc với những nhóm thiểu số hoặc từ đời nào vẫn có cuộc sống bộ lạc dời
đổi như các sắc dân phía Tây, hoặc đã từng là phần tử của những quốc
gia hào hùng trong quá khứ như Chiêm Thành, Chân Lạp, hoặc là những kẻ
từ phương xa tới, những con chim đi tìm đất lành như Tiêm, Trung Hoa...
Chúng ta đã thấy sức mạnh của Nam Hà dựa trên sự kết hợp này như thế
nào rồi. Tuy nhiên các phần tử không phải đã được nhất hoá - cũng như ở
Bắc Hà - các nhóm sẽ hướng về trung ương mà dần dần biến đổi.
Trước
nhất là dân Chiêm Thành. Khoảng 1773-1774, chúng ta gặp họ tụ đoàn xa
nhất về hướng Bắc là Thạch Thành ở Phú Yên. Nữ chúa Thị Hoả của họ đã
hưởng ứng với Tây Sơn và bị Tống Phúc Hợp giết. Nhóm thứ hai quan trọng
hơn, ở Bình Thuận, được Nguyễn đặt riêng là Thuận Thành trấn, từ
Kế-bà-tử đến Chưởng cơ Tá vẫn thế tập kế truyền.
Từ năm 1782,
Tây Sơn vào, Tá đem vàng bạc ra hàng. Năm 1788, Nguyễn Ánh về, Tá đem
quân lên núi giết quân Ánh biến thành một tiền đồn quan trọng của Tây
Sơn. Khi quân Nguyễn ra đến Phan Rí, Nguyễn Văn Hào dẫn bắt giết Tá. Từ
đó mới chấm dứt vương hiệu. Ánh phong cho Nguyễn Văn Chiêu làm Chưởng
cơ, Nguyễn Văn Hào, Nguyễn Văn Chấn làm Cai cơ coi trấn Thuận Thành.
Các tên đó vốn là Nguyễn-hoá rồi chứ thật ra Chiêu tên Môn-lai-phù-tử,
Hào tên Thôn-ba-hú, Chấn tên Bô-kha-đáo. Sau Chiêu được phong Tán lý
theo quân Nguyễn Ánh đánh giặc trở thành một viên quan triều, còn Hào
lên thế coi sóc Chử Chân, Tiểu Trà Dương, Đại Trà Dương1 có Chấn phụ tá.
Đầu năm 1793, lại thêm 3 sóc về hàng là Phố Châm và Ba Phủ2,
Nguyễn Ánh lo tổ chức cai trị trấn Thuận Thành, đặt Lịnh-sử-ti 10 người
coi xét công việc trong trấn. Sưu dịch họ phải làm ngoài binh vụ là bắt
voi nạp, vào tổ chức An tượng cơ để dạy voi cho thuần, dùng trong chiến
tranh. Thuế Gia Định đánh vào họ là trầm hương, kỳ nam, thuế lúa nạp
thay tiền. Ruộng ở đó thường bị khô cháy, không cày cấy được miễn thuế.
Ruộng Trà Nương ở xứ Long Hương3, Phan Rí, Phố Hài là lộc ăn của vua Chàm cũng theo quy chế trên, nghĩa là chỉ chịu thuế những khoảng nào có người cày thôi.
Các
trận chiến qua lại trên trấn Thuận Thành khiến cho hơn 36 sóc người
Thượng phải bỏ xuống phía nam nơi các vùng Đồng Môn, Phước Hưng, La Bôn4
xin trú ngụ và phụ thuộc vào dinh Trấn Biên. Chiến tranh gây sách nhiễu
cho lớp người thiểu số này nên có sóc như sóc Ba Phủ đã nổi loạn suốt
mấy năm 1796, 1797, 1798, 1799 đến nỗi Nguyễn Văn Thành phải kêu lên:
“Ba Phủ là mối lo tâm phúc của ta”. Chính loạn Ba Phủ lúc dừng, lúc
phát, lúc ẩn náu trong rừng sâu, lúc ồ ạt ngoài đồng nội đã làm ngăn
trở ít nhiều những cuộc tiến quân ra Bắc5.
Một điều đáng chú ý là sự quy phục càng ngày càng đông của những người Thượng về phía Gia Định. Rải rác đây đó, Thực lục
ghi việc tháng 4 âm lịch 1791 dân Thượng Bình Khang đánh Tây Sơn, việc
Ánh kêu gọi các tù trưởng Phố Châm, Ba Phủ kêu gọi đồng bào họ về hàng
để ngăn giặc, việc dân Thượng Đồng Hương ở Bình Khang (1793), Thuỷ Xá ở
Phú Yên (1794) ra hàng được cấp vải vóc, tiền bạc, chiêng cồng. Các
việc này cũng như việc Hà Công Thái tù trưởng Mường ở Thanh Hoá đưa thư
vào Gia Định xin đánh giặc chứng tỏ thái độ bất phục tùng của đám dân
phía Tây đối với Tây Sơn. Hành động này có thể do uy danh của Nguyễn
Ánh lan rộng ra, nhưng đằng khác cũng bắt nguồn từ việc Tây Sơn không
có đủ để trao đổi với họ gạo lúa, vải vóc, sắt đồng... nghĩa là những
thứ họ cần dùng trong khi Gia Định rộng rãi hơn6.
Người
trung gian quan trọng giữa Gia Định và các sắc tộc miền Cao Nguyên là
Nguyễn Long, bộ tướng của Châu Văn Tiếp từ lúc chiếm cứ núi Chà Rang
với dân Thượng Phú Yên. Chức Thượng đạo Tướng quân mà ông giữ suốt cả
thời gian từ lúc về Gia Định đến khi thống nhất, chứng tỏ Nguyễn Ánh đã
biết dùng uy tín của ông để chiêu dụ họ. Tên tuổi ông có vẻ lấp sau các
chiến tướng đánh Tây Sơn, nhưng nội một vai trò giữ yên miền Thượng
cũng đủ là cả một đại công rồi.
Xa nữa về phía Nam cũng có
những vấn đề phức tạp về chủng tộc phải đặt ra. Ở đây, sử quan gọi
người Việt là Hán nhân, người Hoa đến ở là Thanh nhân, Đường nhân,
người Miên là Lạp dân hay Phiên dân. Chính sách tự trị, phân biệt được
thực hiện trong một chừng mực có lợi cho quốc gia. Một người Thanh làm
Chưởng cơ tên Trần Công Dẫn được phái trông coi làm sổ bộ cho những
người Đường cũ và mới ở các tỉnh, kể cả binh lính. Có lẽ Lư Việt Quan
làm Tổng phủ ở Trà Vinh coi Đường nhân, trưng quan thuế, là một người
Hoa; cũng có lẽ người Hoa là Tường Vĩnh Quan làm Đồng khấu coi ruộng
muối, Lâm Ngũ Quan Tổng phủ Ba Thắc.
Về phía người Miên, tháng 1 âm lịch 1791, Ốc-nha La làm An phủ ở Ba Thắc trông coi các phiên liêu, bộ lạc7.
Chính sách tự trị này là kết quả của những bước dò dẫm. Ban đầu dẹp
xong Phạm Văn Sâm, giết được Ốc-nha Ốc, Ánh thấy không cai trị trực
tiếp được họ nên phải để cho một viên “phiên liêu về hàng” là
Gia-tri-giáp coi phủ Ba Thắc. Triều đình trông chừng bằng cách lập luỹ
Trấn Di kiềm chế.
Thế nhưng chính sách tự trị quá rộng rãi này
lại không được hiệu quả. Thổ dân vẫn hướng về Chân Lạp nên khi
Gia-tri-giáp được rút về Nam Vang thì viên tù trưởng mới lại đánh phá
luỹ Trấn Di khiến Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Trương phải đến thay thế
Trương Phúc Khoa mới dẹp an được. Số lượng quân chinh phạt lên đến
8.000 người và kết quả là đồng ruộng bị đốt cháy, bọn nổi loạn chắc bị
giết hết nếu không có Bá-đa-lộc can kịp8.
Nguyễn Ánh rút bớt quyền các tù trưởng, để Ốc-nha Kê dưới quyền đạo
Trấn Di đi thu mối lợi lớn là thuế hoa chi của Đường nhân, còn các chức
việc Miên (phiên liêu) thì dưới quyền một An phủ như ta đã thấy. ______________________________________ 1. Vùng Trà Dương hay Tà Dương thuộc quận An Phước (Ninh Thuận), giáp giới Bình Thuận, vùng nội địa của Cà Ná. 2. Phố Châm chắc là vùng gần Tánh Linh mà Aymonier (“Notes sur l’Annam Le Binh thuận”, Excursions et Reconnaissances,
1885, t. 210) gọi là Patjam chiếm 2, 3 xóm Chàm và 2, 3 xóm Thượng
Chrou (hay Ka-hơ). Ba Phủ chắc là dân Đê (Thượng) Ba-vô của ĐNNTC,
tỉnh Bình Thuận, mục núi Phố Châm (Bộ QGGD, t. 28) vì ở đây có nhắc đến
cuộc loạn năm 1797 của bộ lạc này. Ba Phủ hay Ba Vô cùng gần như nhau
về chuyển âm cũng như về chữ viết (nếu dùng chữ phủ = thủ + vô). 3. Vùng quận lỵ Tuy Phong, Bình Thuận. hiện gọi là Liên Hương. 4. Lá Buông? Vùng rừng Lá bây giờ? 5. Thực lục
q5, 4b, 6a, chuyện tháng 10 âl. 1790; q6, 10b, 19b, tháng 12 âl. đầu
1792; q7, 2ab, 12a, tháng 2 âl. 1794; q8, 11a, tháng 11 âl. 1795; q9,
5ab, 8a, 12ab, 34ab, 35ab, 37ab chuyện tháng 11 âl. 1796, tháng 12 âl,
cùng năm, tháng 2 âl. 1797, tháng 8, tháng 9, tháng 10, tháng 12 âl.
cùng năm. 6. Thực lục q5, 21b; q6, 10b, 31b; nhất là q7, 2a, 12b, 13a; chuyện Hà Công Thái: Thực lục q7, 4a, Liệt truyện q28, 4b. 7. Thực lục q4, 35a, q5, 17a 8. Thư Lelabousse cho một người trông coi Chủng viện các Phái đoàn Truyền giáo 13-12-1790 (A. Launay, III, t. 290). Việc Ba Thắc lôi thôi cũng vì Chiêu-thuỳ Biện, viên phụ chính ở Nam
Vang. Ông này luôn luôn tìm cách gây hiềm khích giữa Gia Định và Vọng
Các bằng cách báo rằng Nguyễn Ánh đúc súng đạn để xâm chiếm Xiêm khiến
Ánh phải sai sứ sang phân trần. Việc Biện muốn chiếm lại Ba Thắc có lúc
đã được Rama I nghe theo nên khiến sứ qua Gia Định điều đình về việc đó
nhân tiện muốn lan rộng ảnh hưởng đến vùng Hà Tiên bằng cách xin cho
Mạc Công Bính giữ Long Xuyên, Kiên Giang. Ánh từ chối khéo: “Vì cớ
Chiêu-thuỳ Biện chớ riêng người Xiêm thì đâu có tiếc”. Cho đến tháng 9
âm lịch 1794, Biện chạy về Battambang, Gia Định nhân đó đòi Nặc-ấn từ
lâu ở Xiêm, Nguyễn Ánh mới thoát được một kẻ làm rầy rà, nhất là khi
thực lực ông đã lớn mạnh hẳn1.
Người Việt tới, người Miên cũng không tránh khỏi nạn bị giành đất.
Nguyễn Ánh phải ra sắc bắt dân chúng phàm xứ nào ruộng đất canh tác
thành ruộng rồi thì cứ trông coi, ai làm chủ nấy, dư ra chia đều mà
không được tranh tụng gì cả. Về phần người Hoa ngụ cư, như có đất hoang
được quan chứng cho khai phá thì được cấp làm.
Phân định rõ
ràng quyền lợi, người Miên trở thành một phần tử trong một quốc gia.
Cho nên, Nguyễn Ánh cũng không quên nguồn nhân lực này. Ta đã nói tới
đội binh Miên của Nguyễn Văn Tồn, người dịch đình nô (mõ làng) sau này
vào năm 1795 cùng với 1.500 binh và chánh, phó chi binh Miên là Ốc-nha
Diệp, Ốc-nha Oa đi trấn Bà Rịa2.
Chúng ta cũng nghe đến đoàn quân Miên 5.000 người cùng 10 voi do
Cao-la-hâm-sâm cầm đầu có mặt ở Quy Nhơn trong trận phá vây cho Võ
Tánh. Tất cả vừa đủ để chứng minh sự tham gia của họ vào chiến tranh.
Điều đáng lưu ý là theo với thời gian lối sinh sống của họ cũng như của
những đám dân thiểu số khác dần dần Việt hoá đi. Lịch sử Đại Việt có họ
thêm dồi dào, phức tạp, thêm yếu tố thúc đẩy năng lực tiến thủ cần
thiết cho bất cứ một tập thể nào muốn sinh tồn và lớn mạnh.
Những
sự kiện trên nhìn xét trong giao tiếp của từng khối người trên bình
diện quốc gia, không làm cho chúng ta quên người dân trong sinh hoạt
hàng ngày. Chúng ta còn thấy họ khi chúng ta về thăm lại những làng,
sóc miền quê, khi nhìn lại chung quanh ta. Điều ấy xác quyết được vì sự
tiến bộ bao hàm đổi thay cũng có ý nghĩa cái gì được giữ lại. Tuy nhiên
không vì lẽ đó mà chúng ta lẫn lộn hiện tại với quá khứ, nhất là khi
quá khứ có chứng tỏ đã quan sát vào lúc đương thời của nó.
Sinh hoạt thường ngày3
khác nhau tuỳ theo cách khai thác sản vật. Trên miền núi hay bìa rừng
người ta sống với lề lối lượm hái, săn bắn có khi có tổ chức khá cao. Ở
Nghệ An dân tổng Hữu Đạo, huyện Thượng Du phải đi lấy vỏ quế và sáp ong
vàng để dâng lên Vua4.
Việc lấy sáp vàng thấy có khắp nơi trên đất Việt (hoàng lạp nậu ở Gia
Định), nhưng quế là đặc biệt ở vùng Thanh, Nghệ, Quảng cũng như trầm
hương, kỳ nam thấy nhiều ở phía nam, nghề nghiệp của dân Thượng Bình
Khang, dân Chàm... Dân Thượng len lỏi hái trầu, măng le, cây trái
chuyển qua các nguồn. Ngoài ra ngà voi, sừng tê cũng là những sản phẩm
có danh ngoài xứ.
Người dân miền núi dữ dằn, đen điu thì người
dân đồng vẻ mặt trông nhẹ nhõm hơn, nước da ít sậm hơn, lễ phép, đáng
yêu, lành và giản dị. Nông phu, theo nhận xét của người ngoại quốc, có
dáng lanh lẹ và thông minh. Đàn bà nhiều hơn đàn ông và cũng làm việc
đồng áng nhiều hơn. Ruộng thì có ruộng núi nhờ nước trời mưa và ruộng
đồng. Ở vùng quê Quảng Nam ruộng cắt thành từng mảnh nhỏ hai bên những
bờ đất nhỏ. Các rạch dẫn nước từ sông vào. Ruộng nào nước không tới thì
người ta tưới bằng vò. Tuy nhiên có hệ thống dẫn thuỷ nhập điền được
trông nom chu đáo bằng những công cụ khá tinh xảo như các xe nước ở bắc
Bình Định và Quảng Ngãi. Cày có hai trâu kéo. Cái cày toàn bằng gỗ. Thực lục có dẫn việc cấp ngưu canh điền khí cho những người ở đồn điền trại, dẫn việc trâu bò của Kiến Hoà phải chết dịch nhiều.
Người
dân chài có khi sống cả năm trên các ghe mui cong. Muốn cho những đứa
bé rủi có lọt xuống sông khỏi chết trôi, người ta cột những chiếc phao
to vào cổ chúng. Chiếc ghe giản dị nhất thì bằng tre đan rồi quét vôi
lên. Nhưng cũng có những thuyền gỗ thường dùng, làm bằng 5 tấm ván ghép
chung với nhau không có sườn nâng đỡ. Chúng được uốn cong bằng lửa rồi
nối bằng các then nhỏ và lạt tre cột lại. Chính dân chài tự đóng thuyền
lấy và họ sử dụng nhiều đến các ngón chân phụ giúp các bàn tay khiến
chúng cứng khều như bàn chân vậy.
Việc buôn bán những thổ sản
đối với các nghề nông, chài thật đã đem lại nhiều mối lợi lớn hơn.
Chúng ta đã thấy Nguyễn Nhạc buôn trầu (hiểu theo nghĩa buôn qua các
nguồn: lâm sản đi xuống, cá, muối, kim khí đi lên) nên “nhà khá giả”.
Chúng ta cũng biết đến đám các lái ở Bắc Hà đồng bạn với thân sinh
Nguyễn Hữu Chỉnh, vận chuyển bằng ghe thuyền. Xứ Đồng Nai dưới quyền
Nguyễn Ánh việc mua bán phát đạt tới nỗi sứ bộ Cao Miên Ốc-nha
Tha-la-ma, Ốc-nha Sa-thi nhân đi cống đem theo 14 thuyền, 140 người có
dư để đi buôn khiến cho dinh Vĩnh Trấn phải náo động5.
Sự giao tiếp với người ngoại quốc sinh ra một hạng đàn bà làm áp phe,
làm vợ bé, dùng việc này để được việc kia đến có khi được chồng đồng ý
cho phóng túng. Tang thương ngẫu lục6 có chép chuyện sinh một đứa con lai, chắc là kết quả của cuộc sống chung đụng theo kiểu đó.
Kỹ
thuật dựa trên kinh nghiệm cũng đến mức được người Anh khen. Họ ngạc
nhiên về việc người dân Quảng Nam biết dùng bẹ chuối đắp lên một lớp
mỏng đường đen để rút mật còn lại một thứ đường mỏng tinh khiết. Đồ gốm
làm ra rất sạch sẽ. Còn về nghề nấu quặng, họ đã lấy được sắt tốt đúc
súng mồi lửa (hoả hổ), lao phóng và các thứ khí giới khác. Điều ghi
nhận này làm ta nhớ đến các cục tượng của Nguyễn Ánh ở Gia Định. Thành
Chà Bàn ngày nay có một làng dân chuyên nghề lò rèn. Chắc đó là hậu duệ
của đám dân chế võ khí cho Nguyễn Nhạc, Quang Toàn vậy. Quan sát viên
không thấy ở Quảng Nam dấu vết của hoạ phẩm, điêu khắc phẩm. Lelabousse
có nhắc tới một người ở Gia Định không học gì hết mà có thể làm được
các đồ vật bằng ngà7.
Cơm
ăn thường ngày lẫn với một ít gia vị, mỡ súc vật. Bữa cơm của viên trấn
thủ Tourane đãi phái đoàn Macartney khá thịnh soạn. Có những đĩa đựng
thịt heo, thịt bò xắt miếng chấm nước rất ngon (nước mắm?). Có những
đĩa đựng cá, thịt gà hấp (luộc?) và rất nhiều trái, mứt. Số đĩa dàn ra
ba hàng đến hơn 100 cái. Trước mặt các thực khách bày ra các bát cơm và
hai lông nhím để xiên thịt. Cái thìa bằng sứ như bây giờ còn thấy ở các
nhà sang. Sau bữa ăn người ta mời uống giáp vòng các ly rượu đế nhỏ.
Không thấy Tổng trấn mời người Anh thưởng thức những chén trà tàu mà
Phạm Đình Hổ thèm tiếc8.
Khách
ngoại quốc ngạc nhiên sao ta không biết dùng rượu vang tuy dây nho mọc
đầy núi. Thuộc vào hàng chất say, họ chú ý tới trầu cau. Người ta đựng
trong một túi lụa có nhiều ngăn treo nơi lưng quần. Người giàu có đầy
tớ mang ống điếu hầu. Nhưng chính họ tự mang trầu cau trong một túi nhỏ
bỏ vào ruột tượng quàng từ trên vai xuống dây lưng. Gói trầu là một
trong những vật kể vào đồ mặc chính. Ở Quảng Nam có rất nhiều bông vải.
Trẻ con lột lấy múi bông rồi đàn bà kéo sợi, dệt vải, thường đem nhuộm
chàm đi. Dân chúng cả đàn ông lẫn đàn bà đều mặc những cái áo dài thật
rộng, cổ chật, trước ngực nhiều lằn xếp, cánh dài phủ cả bàn tay. Người
quý phái mặc áo trùng, cập đôi, cập ba. Áo thứ nhất dài chấm đất, chiếc
ngoài cụt hơn một chút. Cứ như vậy nếu có cập nhiều màu thì ta thấy có
hình dạng cầu vồng sặc sỡ. Đồ lót gồm có một áo cánh lụa hay vải và
không quần cụt. Quần dài cùng thứ vải với áo.
Phạm Đình Hổ cho biết9
người ở quê mặc áo vải trắng thô, học trò hay người thường lúc việc
công mặc áo xanh lam (thanh cát) hoặc sẫm, hoặc lợt, hoặc sừng lúc có
quốc tang, lúc thường mặc áo thâm. Đàn bà miền Bắc vẫn mặc váy10.
Đàn
bà đội nón, không đội mũ. Đàn ông hoặc lấy khăn chít đầu, hoặc đội các
thứ nón tu lờ của nhà sư (cư diện), nón sọ nhỏ (xuân lôi tiểu), nón vỏ
bứa (toan bì)11, nón mo cau của lính Tây Sơn bắt chước người dân lúc đội đi đường12.
Tất cả đều đi chân đất. Nhưng ta thấy người sang di chuyển bằng ngựa,
bằng cáng như lúc Tây Sơn khởi loạn, bằng võng mành mành cánh sáo13. _____________________________________ 1. Thực lục q5, 9a, 32b; q6, 2b, 3ab; q7, 12ab. 2. Thực lục q7, 24ab. 3.
Những bằng chứng về sinh hoạt kể ở đây, nếu không chú rõ xuất xứ, thì
đều lấy từ những điều mà nhân viên phái bộ Macartney quan sát ở Tourane. 4. Tờ sức về việc thu thuế lâm sản ngày 9-4-1790 đã dẫn. Tự Do, số 1757, 19-1-1963. 5. Thực lục q5, 17b, tháng 5 âl. 1791. 6. Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH xuất bản, 1962, t. 89. 7. Thư ngày 3-12-1790 (A. Launay III, sđd, t. 280). 8. Tuyết Trang Trần Văn Ngoạn dịch trong “Tồn cổ lục”, Nam Phong, V, t. 137. 9. “Vũ trung tuỳ bút”, Nam Phong, XXI, t. 462, 463 hay “Tồn cổ lục, IV, t. 206. 10. Hoàng Lê. t. 36. 11. Các số Nam Phong
trên IV, t. 205, XXI, t. 461, 462, Phạm Đình Hổ kể các thứ nón riêng
cho từng hạng người: ở kinh kỳ (nón cổ chầu), trẻ (tiểu liên diệp),
lính (trạo lạp), người hầu hạ, vợ con (viên đấu sư), có tang (xuân lôi
đại) … nhưng trước đó soạn giả có nói tới việc thay đổi ăn mặc, giao
tiếp dưới đời Trịnh Sâm. 12. Thực lục, q10 37b. 13. Chuyện trộm cắp của “Vũ trung tuỳ bút”, Nam Phong, XXI, t. 561. Trên một bức hoạ của J. Barrow để lại1
chúng ta thấy một nhóm người ngồi chơi ngoài trời. Ở mặt tiền bên phải
một người có vẻ lính vì có giáo dài, có tấm khiên đánh giặc, đầu vấn
khăn, quần cụt, ở trần lộ ra những bắp thịt rắn chắc. Trước mặt anh ta
là một bàn cờ tướng. Phía sau anh và ngồi nhìn nghiêng mặt là một người
đàn bà tóc vấn ở trần hở ngực, nét mặt thanh tú, nhẹ nhõm như Barrow đã
công nhận. Những người bên trái hoặc phía sau nữa có vẻ sang hơn: một
ông già áo quần rộng thùng thình, đội khăn phủ vai, có người đội nón lá
chóp đã tơi, che thêm cái dù và có người đội nón thượng. Tất cả đều có
vẻ thư thả thung dung trong một khung cảnh nhàn tản như túp lều với
hàng cau, dãy núi làm nền cho bức vẽ.
Đám quân lính thì có
điều đặc biệt hơn. Quân Tây Sơn mang giáo rất dài trang trí bằng một
cục tua nhuộm đỏ và màu đỏ này không ai được mang ở áo quần cũng như
vật dụng và chỉ dành riêng cho quân đội thôi (họ vẫn giữ gìn được mối
quyến rũ của lá cờ đỏ những ngày mới nổi dậy!). J. Barrow tả lính Gia
Định không đồng phục về màu sắc cũng như về kiểu mẫu. Thường ra, một
chiếc khăn quấn đầu đôi khi trùm khắp, một chiếc áo cánh hay áo chẽn
xuề xoà với một quần cụt là trang phục của lính. Nhưng khi triều đình
có việc thì họ mặc đặc biệt hơn, đội mũ giấy bìa cứng treo đuôi bò màu
đỏ loét. Các áo chiến choàng ngoài và các vạt áo lấm chấm thì hoàn toàn
theo kiểu cách Trung Hoa2.
Đời
sống thường nhật đó không phải lúc nào cũng êm đềm trôi qua. Trong giai
đoạn chiến tranh này, dân chúng đã trải qua những tai hoạ khủng khiếp.
Ta đã nói tới những thảm cảnh đói ở Thuận Hoá năm 1775, đã tưởng tượng
trận dịch tể làm hao mòn một nửa quân Trịnh ở nơi đó rồi. Hãy nghĩ thêm
những khi lính tráng đắc thế như lúc loạn Kiêu binh. Họ phá nhà Huy
quận công Hoàng Đình Bảo “không còn mảnh ngói”, phá cả nhà “những quan
thị mọi ngày có tánh khắc khổ mà họ vẫn ghét. Họ còn lùng những người
đó mà giết nữa là khác”. Trịnh Tông chém một người để thị oai thì việc
phá nhà tạm dừng, nhưng việc bắt người vẫn chưa thôi hẳn3.
Dân chúng ở Quảng Nam, Thuận Hoá cũng phải chịu áp lực của những người
có chút chức vị và bọn lính tráng tàn ngược. Ở Gia Định, lính và cả
quan cũng đi trộm cướp, có người có chức khá lớn như Cai cơ Nguyễn Văn
Triệu, Ngô Công Thành, Nguyễn Văn Đại ở dinh Vĩnh Trấn. Cấm vệ binh của
Nguyễn Ánh được ưu đãi, quyền lớn nên có kẻ giả mạo để đi ăn cướp khỏi
bị tội khiến Ánh phải lập thẻ lính để kiểm soát. Lính ngang tàng đến
nỗi dân Bắc Hà phải gọi là “cha”!
Cho nên, khi tình thế đảo
ngược có dịp trả thù là dân chúng không từ nan. Quân Trịnh đóng ở Huế
khi bị Nguyễn Huệ phá vỡ chạy ra ngoài thành đều bị dân chúng giết
chết. Kiêu binh ở tứ trấn khi Nguyễn Khản ủng hộ Trịnh Khải chống họ,
họ trốn đi qua các làng xóm buột miệng nói lộ ra tiếng Thanh Nghệ đều
bị dân quê bắt giết, đành phải giả người câm đi ăn xin cùng đường. Một
hoạt cảnh mà Hoàng Lê kể lại nói lên đầy đủ thái độ dân đối với quan và lính trong thời loạn:
“Khi
Tây Sơn vào Thăng Long, Kiêu binh chạy ra các làng bị dân quê kể tội
kiêu lộng ngày trước không chứa chấp và làm nhục nhã đủ đường. Có người
cởi trần trùng trục hốt hoảng ở phía trong thành chạy ra khi qua cửa ô
bị dân ở đó trông thấy và chỉ mặt nói:
“Thằng bụng phệ kia có lẽ là lính Nhưng kiện, lôi cổ nó lại mà đánh chết đi. “Người ấy vội đáp: “ - Không phải, ta là quan Huyện uý huyện Thọ Xương đây. “Mọi người cùng cười: “ - Người ta vẫn bảo “ông huyện to bụng” thật không sai. “Người ấy cũng cười rồi đi”4.
Ở
những nơi không có đánh nhau họ vẫn phải chịu ảnh hưởng nặng nề khi các
đối phương thấy rằng muốn thắng được địch quân phải tận dụng sức lực
tài năng dân chúng. Ta đã thấy điều đó ở vùng Tây Sơn. Nguyễn Ánh cũng
không thể nào làm khác hơn. Thiếu lương mễ, thuế má, dân góp. Thiếu gỗ
ván làm thuyền vận lương, dân đóng mỗi người mạnh hơn 3 quan, già yếu
bệnh tật một nửa. Thiếu áo cho lính mặc, dân phải nạp vải. Đến đi lính
cũng không tránh được đóng góp. Để dự bị đánh Tây Sơn vào giữa năm
1789, Ánh bắt thu lương riêng của quan quân. Đánh giặc nửa chừng (tháng
4 âm lịch 1795), Ánh kêu Cảnh ở Gia Định bắt bọn phủ binh, thuộc binh,
lạc tòng quân không đi đánh giặc mỗi người nộp hai vuông gạo. Quân đến
vùng nào thì ở đó cung cấp quân nhu. Thuế năm nay không đủ chi dụng thì
bắt dân góp trước thuế năm sau! Cho nên dân phải trốn tránh. Đến dân
đồn điền càng không sung sướng gì hơn. Họ trốn nhiều đến nỗi Bộ Hộ phải
ra lệnh bắt Cai trại mộ người bổ sung, hạn 15 người là đủ số trong
tháng không xong thì phải đi lính5.
Tuy
nhiên qua đói kém, chiến trận, người dân lại cày cấy, cất lại nhà thờ
khiến các giáo sĩ phải ngạc nhiên về năng lực xây dựng của họ. Rồi
những lúc rảnh rỗi, họ cũng biết tìm cách giải trí.
Phái đoàn
Macartney ngạc nhiên về một đám 7-8 người chuyền nhau đá kiện không cho
rớt xuống đất. Trái kiện làm bằng một miếng da thuộc khô, có dây cuốn
lại. Ba chiếc lông dài cắm vào trong miếng da, toả ra phía trên nhưng
đằng dưới túm lại, chui qua cái lỗ cách nhau nửa phân của một đồng
tiền. Có hai, ba đồng tiền như vậy để làm đằm cái kiện.
Khi
rảnh rang người ta đi coi hát. Người Anh không biết họ diễn hài kịch gì
(có lẽ là bữa hát chèo, bài chòi), nhưng thấy một người già làm ra vẻ
tức giận và một thằng hề chọc cười đáng gọi là có tài. Người đi xem vây
quanh rạp, có người leo lên cây nhìn vào đám hát, vào khán giả.
Macartney được mời đi xem một vở tuồng hát bội vào bữa 4-6, có kèn
trống hợp tấu, diễn từ cũng nhịp nhàng “như sân khấu Ý”. Đám đàn ca hát
rất đúng nhịp và cả tay chân thân mình uốn éo cũng rất uyển chuyển, đều
đặn như bức hình còn ghi lại cho ta thấy thêm6.
Ca nhi cũng nhiều ở Gia Định, nhưng Nguyễn Ánh lại tìm cách ngăn cấm
không cho lẫn lộn trong quan quân. Ngoài ra, ở vùng này, các trò đá gà,
đá cá, đánh bạc cũng là những món giải trí thông thường7.
Sống
vui buồn lẫn lộn như vậy, dân chúng còn để ý đến những hiện tượng siêu
hình. Các lễ tiết, tin tưởng mà chúng ta còn thấy quen thuộc vừa là dịp
cho họ cầu mong thần thánh giúp đỡ họ qua cơn nguy khốn như trường hợp
người dân chài ở Tourane lên bộ cầu xin gia đình yên ổn, chuyến ra khơi
đầy lưới. Trên các cành cây to hay trên các nơi cao khác, họ dựng trang
thờ, đặt vào đó cơm, đường và các thức ăn rồi đốt trầm lên khấn khứa.
Một
nhân chứng đã viết những điều mắt thấy tai nghe về một tu viện vùng
thiểu số Mường: “Tôi được đến thăm một tăng viện mà họ gọi là Cả Đễ. Có
hai “Chậu húa” hay thầy tăng với 6 hay 8 người “sơ tu”(…). Họ mặc áo
đỏ, không làm gì cả, không cưới vợ, nhưng nghe đâu họ cũng rất phóng
túng. Làng của Cả Đễ đó nuôi tất cả những người ở trong tăng viện không
để ai phải mất công làm bếp. Khi có một người đến thăm họ theo tục lệ,
trước nhất phải bái tượng đặt tại một góc phòng sau đó quỳ dưới chân
“Chậu hùa” để chào ông ta và để thưởng công cho khách, ông ta đưa tay
cho hôn. Trong khi đó thì “Chậu hùa” ngồi nghiêm. Họ chỉ ăn có hai lần
một ngày. Những ai ham ăn thường viện cớ cúng để giữ lại hai phần cơm
sáng hay trưa để đến tối ăn.
Tăng viện hay Cả Đễ ở trên núi
cao nhất vì theo sách dạy, họ tin rằng họ ở nơi cao bao nhiêu, khi chết
họ càng dễ lên trời bấy nhiêu vì họ cho rằng trời chỉ cách núi cao nhất
có 20 dặm...”8.
Trong
dân gian đầy phù thuỷ, ông đồng, bà bóng mà Nguyễn Ánh bắt ngăn cấm,
không thì đánh roi, phạt xay lúa, giã gạo. Tục lệ bị khinh khi, nhưng
thực ra nó bắt nguồn từ tin tưởng của rất đông dân chúng nên ảnh hưởng
rất to tát. Chúng ta lưu ý rằng tin tưởng đồng bóng đã được thể chế hoá
ở vùng Trịnh bằng đạo Nội. Chuyển về Nam, màu đỏ của phái đạo đó - màu
tượng trưng cho phương Nam - đã trở nên một khích động linh hồn quân
tướng Tây Sơn nơi lá cờ, nơi sắc áo lính tráng. Tất nhiên không khí
thần bí đó gặp mảnh đất tốt của sinh hoạt bộ lạc, của tư tưởng Chiêm
Thành, của các hội kín Minh dân lưu vong lại càng nồng nàn thêm khiến
kết thành một phong trào quấy đảo dữ dội, khiến Nguyễn Ánh thù ghét các
ông đồng, bà bóng cứ tưởng mình vô tội vạ.
Tuy nhiên, tục thờ
cúng ông bà - lạy xác - trên khắp nước vẫn được chính quyền bênh vực
coi như là nền tảng đạo đức của dân tộc. Các giáo sĩ phần lớn cũng công
nhận ý nghĩa luân lý, không mê tín của tục này nhưng vẫn theo lệnh Roma
để gây ra xung đột khiến ý thức Tây phương đi vào với một số đông người
đã hiện diện ở Đại Việt rồi mà phải lùi bước lại đợi một cuộc can thiệp
mạnh mẽ hơn vào nửa thế kỷ sau. _______________________________________ 1. P. Boudet và A. Masson. Iconographie historique de l’Indochine française, ang VIII, hình 11. 2. Dẫn của G. Taboulet. La geste française... sđd, t. 257. 3. Hoàng Lê, t. 30. 4. Hoàng Lê, t. 76. 5. Thực lục q4, 1b, 14a; q6, 12b; q7, 30b; q8, 7a, 13b; q10, 14a. 6. Iconographie historique.... sđd, bảng VII, hình 10. 7. Thực lục q8, 28b mục tháng 8 âl 1796: “Văn võ thần... ăn thua cả hàng trên ngàn”. 8. Thư ông Guérand gởi ông Blandin, 20-7-1796 (Sử Địa số 9-10. t.159, 160). ________________________________________________________Tiết 15
CHIẾN TRANH VỚI NGUYỄN NHẠC
Phản
ứng của Quy Nhơn * Cuộc tiến quân dò dẫm của Lê Văn Quân * Những chuẩn
bị trong khó khăn và trận thuỷ chiến ở Thi Nại 1792 * Chiến tranh ở
thành Quy Nhơn.
Ta đã thấy sự sôi sục phát
triển của Gia Định và Phú Xuân. Trong khi đó Quy Nhơn vẫn im lìm. Vẫn
biết có khi biến cố vẫn xảy ra mà tài liệu không nói tới để cho sử gia
phải cam bó tay nhưng cũng có khi biến cố thật không xảy ra nhiều vì
địa phương, thời đại, tập đoàn ở đó gặp phải những điều kiện ghìm bước
tiến. Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc ở vào trường hợp này.
Nơi vùng
Tây Sơn, trong khi em ông cai trị trên hai cựu đô Nam, Bắc có đủ nhân
vật tài lực để làm thế trưởng thành thì Nguyễn Nhạc phải bằng lòng với
một phần lớn xứ Chiêm Thành cũ từ Quảng Ngãi vào đến Bình Thuận. Cũng
như chúng ta choáng mắt trước bước tiến ồ ạt của Tây Sơn, lầm tưởng họ
có một hậu thuẫn kinh tế dồi dào, phái bộ Macartney nhìn thấy “bằng mắt
trần” xứ Tsiompa có dáng của một cánh đồng xinh tốt, chập chùng thành
từng bực cấp từ bờ biển tới bên trong và chen lẫn một cách kỳ diệu
những nội cỏ và đồng áng. Nhưng bằng viễn kính thì cái cảnh giàu có ấy
tan biến đi, nhường cho cảnh một vùng mênh mông những cát vàng nhạt,
chen vào đó rải rác những dãy núi, đỉnh nhọn vút lên cao1.
Vì vậy ta không lấy làm lạ rằng vùng Bình Thuận, Bình Khang không là
cái đích tranh giành của Tây Sơn và Nguyễn. “Đất Bình Thuận chiếm dễ
giữ khó”2. Nguyễn
Văn Thành đã nói như vậy bởi vì quân Tây Sơn không giữ được mảnh đất
khô cằn này thì đổi về tay Gia Định mới trung hưng, khó khăn nào có
giảm bớt đâu.
Thất bại trong chiến tranh nồi da xáo thịt gây
một xúc động tâm lý cho viên tướng đa mưu mà tuổi đã về chiều khiến cho
Nguyễn Huệ phải chê trách. Nhưng thực ra Thái Đức Hoàng đế cũng không
thể làm hơn được. Trên căn bản nông nghiệp, ông cũng biết cố gắng
khuyến khích dân chúng canh tác bằng cách công nhận ích lợi của những
cơ sở sẵn có như cho các tay thợ gìn giữ các xe nước ở Quảng Ngãi được
miễn sưu dịch, cấp bằng cho người trông coi3.
Đám Tề Ngôi cũng có lảng vảng che chở bờ biển cho ông và trước sự phát
triển của Gia Định làm dân, binh Tây Sơn phải kinh hồn, chính ông cũng
cố gắng cho đóng nhiều thuyền bè mong chận trước cuộc tấn công 1792.
Nhưng kết quả thực là ít ỏi. Sự hiện diện của ông khiến Phú Xuân cách
biệt Gia Định chỉ có hiệu quả là làm cho Gia Định qua những bước khó
khăn ban đầu thôi.
Tháng 4 Canh Tuất (1790), thu thập được
năng lực mới mẻ, Nguyễn Ánh bàn chuyện đánh Bình Thuận. Nguyễn Văn
Thành bác đi nhưng Ánh vừa nhận thấy được ích lợi do giao thương đưa
lại nên muốn mở rộng đất để “xuất nhập thông thương” để “nhờ cậy cái
lợi cá muối” (của Bình Thuận) cần yếu cho binh lính, dân chúng.
Dưới
quyền của Tiết chế Lê Văn Quân có 6.000 quân. Tiên phong là Võ Tánh;
Nguyễn Văn Thành được làm phó với dụng ý làm hoà giải mối bất đồng giữa
viên tướng cướp mới về làm Phò mã và viên phụ tá của Châu Văn Tiếp cục
mịch, thô lỗ nhưng vẫn rõ ra là can đảm, có tài. Bình Thuận là đất
Chàm, nhờ dịp Tây Sơn nới lỏng, viên cầm quyền ở đó tên Tá hưởng được
một quyền tự trị khá rộng rãi nên đứng về phe Quy Nhơn. Nguyễn Ánh cũng
khôn ngoan cho đi theo quân một người Chàm là Hàn lâm Nguyễn Văn Chiêu
làm Khâm sai Tán lý.
Nguyễn Văn Thành tiến quân đến Hốc Trâm
chận đường về khiến Đô đốc Tây Sơn là Đào Văn Hổ phải nhờ Chưởng cơ Tá
dẫn theo thượng đạo rút lui. Tá bị bội phản chết và quân Gia Định chiếm
được Phan Rí. Lê Văn Quân muốn nhân dịp này thừa thắng tiến lấy Diên
Khánh. Nhưng quân tướng Gia Định với xuất xứ lẫn lộn chưa tín nhiệm
nhau. Nguyễn Văn Thành không đồng ý việc tiến quân. Võ Tánh không đồng
ý với Quân đã đành mà Tổng nhung Cai cơ Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Dực
còn ám thông với Tây Sơn nữa. Lê Văn Quân mặc thuộc tướng, để Nguyễn
Văn Thành giữ chợ Mai (Mai Thị), Võ Tánh giữ Phan Rí rồi tự dẫn binh
chia giữ Nha Phân và Mai Nương4 trên ba luỹ mới đắp. Nhưng Tây Sơn đã tiến quân đánh trước.
Tháng
6 năm đó, Đô đốc Hồ Văn Tự, Nguyễn Công Thái, Tham tá Từ Văn Tú từ Diên
Khánh đem 9.000 quân vào tấn công. Thuỷ binh họ cũng đồng thời đổ bộ
lên cửa Phan Rang. Binh Nguyễn chết nhiều, Quân lui về giữ Ỷ Na5
đưa thư cầu cứu. Lúc bấy giờ Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh đã được chiếu
triệu về nhưng Tánh cứ đi luôn mặc Thành một mình quay lại.
Nguyễn
Ánh một mặt sai Phạm Văn Nhân tiếp, một mặt tự dẫn binh thuỷ ra cửa Tắc
Khái. Lúc bấy giờ Quân, Thành đã lui được về Phan Rí. Quân Tây Sơn lại
tới vây. Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương, Võ Văn Lượng đem binh
tiếp viện khiến Tây Sơn lui về Phan Rang. Ánh cũng nhân mùa gió bấc sắp
tới, bất lợi cho cuộc hành quân nên để Nguyễn Văn Tính giữ Phan Rí,
triệu Lê Văn Quân về đóng Phước Hưng6.
Trận chiến kéo dài khoảng 4 tháng là lần thử sức đầu tiên của Gia Định và Quy Nhơn. __________________________________________ 1. V. Imbert. Le séjour de l’ambassade... sđd, t. 11, 12. 2. Thực lục q4, 32a, mục tháng 4 âl 1790. Lời can lúc Nguyễn Ánh muốn đánh Bình Thuận (xem sau). 3. A. Laborde. “La province de Quang ngai”, BAVH,
Juil-Sept 1924. Trong bài có chụp phía ngoài tờ sắc của Nguyễn Nhạc,
giữa có 3 chữ thảo “Thính chấp bằng” (giấp cho giữ làm cớ), chữ đỏ,
hàng bên phải một cột chữ: “Thự Thục lang Vũ Văn Lợi, Hà Nghĩa phủ, Mộ
Hoa huyện, Tứ chính tư đô vạn”. Bên trái: “Thái Đức thập nhị niên, tam
nguyệt, nhị thập ngũ nhật (20-4-1789). Ta biết tỉnh Quảng Ngãi lấy nước
vào ruộng bằng xe nước. Theo P. Guillemet (“Une industrie annamite: les
noria du Quảng Ngãi”, BAVH, Avr- Juin 1926, phụ lục), ở nhà Lão
Diệm làng Bồ Để, huyện Mộ Đức còn giữ ngoài những tờ ghi niên hiệu Cảnh
Thịnh, Minh Mạng, Tự Đức có một tờ đơn (số 6 trong phụ lục) của dân 2
xã thôn Thiện Đề, An Mỹ, huyện Mộ Hoa, phủ Hoà Nghĩa xin cho được miễn
sưu dịch. Đơn đề ngày 2-12 Thái Đức thứ 12 (16-1-1790). 4. Một chợ ở Phan Rang tên Chàm là Dac niên. 5. Cà Ná? 6. Liệt truyện q27, 4a, 5b. Thực lục q4, 32a, 34a, 35b, 38ab; q5, 1ab. Phước Hưng, chữ của Thực lục là Hưng Phúc vùng cửa Xích Ram. Dù có tên Phạm Văn Nhân, người theo hầu Hoàng tử Cảnh và dù tháng
3-1790 ở Gia Định đã có độ 10 thuyền buôn Bồ và một tàu Pháp như L.M J.
de Jésus Maria cho biết, chúng ta không nghĩ rằng người Tây đã tham gia
chiến trận, vì họ phải theo Nguyễn Ánh mà Ánh thì chưa đến Phan Rí. Dù
sao, rõ là lực lượng Gia Định tuy đánh bại Phạm Văn Sâm nhưng chưa đủ
sức tiến ra. Và Ánh phải chờ đợi.
Trong khoảng thời gian đó
Ánh lo chỉnh đốn nội bộ, phát triển thế lực. Cũng chính lúc này người
Tây phương dồn dập tới. Ánh mua tàu đồng của ông Gombra, sai Dayot đi
buôn ở Macao, Manille. Nhưng đồng thời Gia Định cũng gặp nhiều khó khăn
do phát triển gây ra. Ánh nuôi binh, dân đói. Ánh lo xây công sự phỏng
thủ bắt sưu dịch nhiều, dân oán, ngóng về Tây Sơn. Ánh thận trọng lo
việc mở mang, chần chờ không ra quân làm bọn phiêu lưu Tây phương, kiêu
ngạo có sẵn, ồ ạt đã quen, mong muốn có chiến tranh để kiếm lợi, đâm ra
sốt ruột, chán nản. Ngày đầu tháng 5-1791, Ánh thấy Dayot đi buôn tiêu
nhiều quá, phát ghét đòi đuổi cả bọn từ lính tới sĩ quan. Phần
Bá-đa-lộc lại nghĩ rằng do thái độ thiếu cả quyết của Ánh mà Tây Sơn
bớt lo sợ và cho rằng “trong tình thế này nếu họ có gan đến đánh thì
thực là khó ngăn cản họ”1.
Thực
ra Bá-đa-lộc còn có dụng ý khác khi hối thúc Ánh ra quân. Quá tin cậy
vào lực lượng một nhóm người phiêu lưu, Pigneau định chắc ông sẽ thắng
được Tây Sơn. Ông muốn ra Bắc Hà làm phép cho các L.M ở đấy mà từ lâu
ông không được gặp. Ông hỏi thúc Ánh cất binh. Ánh không chịu, ông đòi
bỏ đi tới 2 lần2. Ngón đòn doạ già này sau đó Nguyễn Ánh sẽ bắt chước để buộc ông ở lại.
Tuy
nhiên việc đánh Tây Sơn cũng vẫn được tiến hành. Tháng giêng Nhâm Tý,
Nguyễn Ánh bày ra kế hoạch mà sau này người ta sẽ gọi là những trận
giặc mùa. Ông bảo đợi tiết gió nam thổi thì ra quân, gió ngược thì trở
về. Khi đánh thì tụ tập binh lính lại, khi về thì cho đi cày ruộng,
binh không mệt, không ngồi ăn không trong lúc Tây Sơn chạy ứng cứu đầu
này đầu nọ không rảnh tý nào3.
Nhưng
đến khoảng tháng 5-1792 thì Gia Định nhốn nháo về tin Tây Sơn sắp tràn
vào. Không phải của Nhạc mà là của Huệ mới đáng sợ. Tin nghe ngóng ở
đây thì nói Tây Sơn có độ 300.000 người tràn vào đánh tốc thẳng xuống
Cao Man4. Sử quan
thì cho biết Xiêm đưa thư xin Ánh giúp binh ở đường thượng vì Tây Sơn
đánh mạnh ở Vạn Tượng. Thư trả lời của Nguyễn Ánh cho biết rõ Gia Định
có thám báo kỹ càng. Theo đó, Nguyễn Huệ tuyển binh Bắc Hà có đến 2-30
vạn muốn đem vào tấn công. Bộ binh đánh các đạo miền thượng phá đến Nam
Vang, chuyển đánh sau lưng Sài Gòn. Thuỷ binh sẽ vào Côn Lôn, phá Hà
Tiên, theo Long Xuyên, Kiên Giang ập lên chiếm Sài Gòn mặt trước. Thắng
xong họ sẽ tính tới Xiêm. Điều này chắc là Ánh doạ Xiêm để đề nghị một
cuộc hợp tác: Xiêm ở phía sau trên bộ, Nguyễn Ánh phía trước mặt đường
thuỷ cùng hai mặt đánh Nghệ An, Phú Xuân, phá trước kế của Tây Sơn5.
Kế
hoạch đánh Gia Định có vẻ thực vì toan tính to lớn, hung bạo hợp với
thói quen của Nguyễn Huệ. Và sau đó quả có 40 thuyền Tề Ngôi của Quang
Trung lần mò vào đánh phá ở Bình Thuận. Không biết vì sao kế hoạch
không thành. Sử quan không cần nhắc lại nếu sự việc không xảy ra để cho
họ ghi. Lelabousse đưa hai giả thuyết: hoặc Tây Sơn sợ những chiếc tàu
Âu lúc này đến buôn bán rất nhiều ở Gia Định, hoặc quân họ đã gặp hai
đạo quân Xiêm đưa lên ngăn họ vào Miên. Rốt cục họ đã rút lui. Sự thực,
như đã nói, Nguyễn Huệ thật khó mà hi vọng thắng khi đưa quân đi vòng
tránh đất Vua Anh để đến đánh. Còn đường bộ thì núi rừng chập chùng,
quân Lào, Xiêm, Miên sẵn sàng tiêu hao, đánh tập hậu; đường nước thì
gió bấc đã dứt và gió nam đang thổi mạnh. Cuộc viễn chinh chỉ chậm lại
nếu không có bất ngờ xảy ra cho Nguyễn Huệ.
Trong lúc Nguyễn
Ánh bấn loạn thì Pigneau đòi đi lần thứ hai. Người ta nhốn nháo lên vì
ông này bỏ đi tức là lôi theo cả bọn phiêu lưu đang giúp binh. Nguyễn
Ánh cũng còn non tay không biết rằng khoảng đó năm trước Bá-đa-lộc muốn
đi nhưng không dám vì sợ hại cho công cuộc truyền giáo. Ánh vội vã tới
xin Pigneau ở lại. Một người lẻn nghe trộm cuộc hội kiến thuật lại rằng
Pigneau trách Ánh không chịu nghe lời, không đi đánh Tây Sơn6.
Rốt
lại Bá-đa-lộc thắng. Ông không đi nhưng Nguyễn Ánh phong Olivier làm Vệ
uý Thần Sách quân và đem súng lớn, lương thực ra ngoài biển tổ chức một
cuộc tập trận lớn gồm khoảng 128 chiếc vừa đại hiệu thuyền vừa ô
thuyền. Chiến dịch bắt đầu.
Thuỷ quân tràn đến vũng Diên bắt
được thuyền tuần Tây Sơn biết họ không chuẩn bị phòng thủ, Nguyễn Ánh
sai Tôn Thất Huy cắt đặt tướng sĩ, Nguyễn Văn Thành làm Tiên phong,
Phạm Văn Nhân tiếp theo sau. Nguyễn Văn Trương theo Trung quân hộ vệ và
Nguyễn Kế Nhuận đi sau rốt.
Đến Thi Nại, Nguyễn Ánh cho binh
giỏi lên bộ đốt huỷ trại Tây Sơn, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành
lấy thuyền Long, Phụng xông thẳng vào7.
Nhưng theo người Tây, kẻ mở đường lại là Dayot trên chiến “tàu đồng”.
Quân Tây Sơn giữ thành tưởng là tàu buôn định khám tàu nhưng khi thấy
theo sau đó là cả thuỷ quân của Nguyễn Ánh nên chận lại. Họ bắn 5-6
tiếng đại bác. Dayot theo thói quen Tây phương cho kéo cờ lên, bắn trả
hết loạt. Rồi chiếc tàu nghiêng lại để bắn nốt phía bên kia. Tây Sơn
tiếp tục bắn nhưng tới lần thứ hai thì cả hệ thống phòng thủ đã bị chiếm8.
Đô
đốc Tây Sơn tên Thành bỏ chạy. Quân Gia Định lấy được 5 đại hiệu
thuyền, 30 ghe đi biển và 40 ghe sai rồi lại tìm bắt được 3 ghe Tề Ngôi
nữa. Hai ngày ở chợ Thi Nại, Nguyễn Ánh vỗ về, phủ dụ dân chúng. Quân
lại kéo về Gia Định, khứ hồi chỉ hơn 10 ngày.
Đó là chiến
thắng đầu tiên chứng tỏ sức mạnh của đội thuỷ quân mới. Nguyễn Ánh lại
còn vui mừng hơn khi biết chắc rằng đến lúc này Nhạc, Huệ cũng vẫn chưa
hoà nhau. Nức lòng, ông cho sửa soạn ngay cuộc tấn công mùa sau: cho
quân nghỉ, cho sứ đi Xiêm báo tiệp, bắt voi làm tượng binh, tạo thêm
đại hiệu thuyền, tăng thuỷ binh. __________________________________________ 1.
Các thư của Pigneau 26-5-1791, 1-8-1791, 14-9-1791, của J. Liot
17-12-1791, của Lavoué ở Lái Thiêu 16-6-1792 (A. Launay, III, t. 297). 2. Thư của Pigneau gởi cho ông Boiret 20-6-1792 (A. Launay, III, t. 297). 3. Thực lục
q6, 1b, chú, sử quan ghi những lời mà ta tin chắc là của Nguyễn Ánh, vì
đối với họ lời vua là trọng nên không được sơ sót bỏ qua. 4. Thư ngày 16-6-1792 (A. Launay, III, t. 223). 5. Thực lục,
q6, 2b, 3ab. Chính nhân dịp này Xiêm đòi cho Mạc Công Bính giữ luôn
Long Xuyên, Kiên Giang và cho Chiêu-thuỳ Biện đất Ba Thắc nhưng Ánh từ
chối. 6. Thư Lelabousse cho ông Letondal, 17-6-1792 (A. Launay, III, t. 297). 7. Thực lục q6, 6ab, 7ab. 8. Thư của L.M Jean de Jesus Maria kể chuyện Thi Nại tháng 8-1792. La révolte et la guerre des Tay son..., bđd, t. 102. Chiến thắng Thi Nại làm hoảng hốt Tây Sơn. Nguyễn Huệ phải tức tốc nhảy
vào chiến trận, Theo tờ hịch gởi cho quân dân hai phủ Quảng Ngãi và Quy
Nhơn đề niên hiệu Quang Trung thứ 5 ngày 10 tháng 7 (27-8-1792)1
ông tỏ ra được ý đó. Bản dịch của giáo sĩ De La Bissachère vẫn còn giữ
được giọng hung hăng, ồ ạt của lời kêu gọi bình Thanh 5 năm trước ở xứ
Nghệ. Theo tờ hịch, sau trận Thi Nại, Nguyễn Nhạc có viết thư cho ông
trình bày rằng quân dân Quy Nhơn khiếp sợ trước đối phương nên mới bị
thua mau chóng như vậy. Quang Trung phải nhắc nhở đến tính cách phù trợ
của dân hai phủ đối với anh em Tây Sơn và ngược lại, ơn huệ họ đã ban
cho dân chúng trên 20 năm rồi. Ông gợi lại những trận bình Xiêm, đánh
Bắc oai hùng, lừng lẫy và lưu ý rằng chen vào đó, những chiến thắng
chống cựu trào thật quá dễ dàng. “Gia Định là mồ chôn” họ Nguyễn. Thế
thì dân hai phủ sợ gì bọn người nhút nhát ấy? Đúng ra dân chúng sợ
người Tây dưới quyền Nguyễn Ánh thì phải hơn. Nhưng cái kiêu hãnh của
viên tướng bách thắng không cho phép dân bái quận của mình sợ bất cứ
ai, vì “cho dù loại người ấy có khéo léo đến đâu đi nữa, tất cả đều có
cặp mắt xanh của con rắn, phải coi họ như những xác chết trôi từ biển
bắc dạt xuống”.
Dự định của Nguyễn Huệ báo cáo cho dân chúng
là quân Phú Xuân sẽ đem toàn lực lượng thuỷ bộ tung vào Gia Định, đánh
đến tận Cao Miên, đập tan quân Nguyễn Ánh “như gỗ mục vậy”. Đáng chú ý
là tờ hịch nói “theo lệnh Vua Anh”. Có thể thực hai bên đã đồng ý với
nhau về điểm Huệ trợ giúp cho Nhạc này vì rõ ràng là họ đang đứng trước
sự tồn vong của gia đình họ. Vì cũng chính trong tờ hịch, Nguyễn Huệ
khuyến khích dân hai phủ trung thành với Nhạc và nói rõ rằng việc đánh
Gia Định là để tỏ cho mọi người biết Nhạc - Huệ thực là anh em và họ
không bao giờ quên họ cùng một dòng máu. Lời lẽ có tính cách trấn an và
cũng lộ có sự tương nhượng. Có lẽ chính có sự nhượng bộ về phía Nhạc
nên Nguyễn Huệ hiểu dụ các làng trong hai phủ phải lo làm cầu, đường để
quân dễ trẩy đi...
Dự định không thành như ta biết. Hai mươi
ngày sau, Nguyễn Huệ chết bất ngờ vì lo cho cuộc viễn chinh. Chiến
tranh do đó tiếp tục có lợi về phía Gia Định.
Tháng 2 âm lịch
1793, có viên Đô ty Tây Sơn đem hai thuyền và 100 người vào Gia Định.
Nguyễn Ánh biết được việc Nguyễn Nhạc đem em gái đi điếu Nguyễn Huệ đến
Quảng Ngãi thì bị chận lại không cho ra2. Thấy bác cháu họ còn nghi kỵ nhau, Ánh bèn quyết định đánh Quy Nhơn3.
Viên Đô ty này từ Phú Xuân đến nên có thể chính ông cho Gia Định biết
cả việc Quang Toản và Quang Thuỳ hục hặc nhau nữa bởi vì ông Lelabousse
đã kể rõ việc này trong thư khoảng tháng 6 dương lịch khi cuộc tiến
quân mới còn ở Phan Rang, Bình Khang.
Lần ra quân này (tháng 4
âm lịch 1793) do Tôn Thất Hội coi. Quân bộ đánh Phan Rí với Nguyễn Văn
Thành, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Ánh theo quân thuỷ có Nguyễn Văn
Trương, Võ Di Nguỵ đi trước, Võ Tánh hộ vệ. Quân đi có người Miên, Hoa,
Âu hung hăng, dữ tợn.
Quân thuỷ đến trước ở cửa Phan Rang.
Nguyễn Kế Nhuận đánh luỹ Mai Nương thì Tây Sơn đã chạy rồi. Nguyễn Ánh
để lại Vệ uý Nguyễn Hiên đợi bộ binh rồi ra cửa Nha Trang. Nguyễn Văn
Đắc, Võ Văn Lượng đổ bộ đánh luỹ Hoa Vông4
lấy phủ Diên Khánh. Ánh sai Võ Tánh mang 3 vệ đội đi lấy Bình Khang rồi
chính mình cũng theo thuỷ quân tiến ra nữa. Ở vũng Hòn Khói, Chỉ huy
Trí lại bỏ Bình Khang để một số binh tướng ra hàng đầu quân dưới cờ Gia
Định5.
Quân
bộ chậm chân hơn, nhưng Tôn Thất Hội cũng đuổi được Đô đốc Hồ Văn Tự
chạy theo đường thượng về Quy Nhơn. Trong lúc đó binh thuỷ đã đến Xuân
Đài. Võ Tánh tiến lên đánh luỹ La Hai6, Tham đốc Tây Sơn là Phạm Văn Điềm chạy bỏ cả lương hướng. Sức chống cự của Tây Sơn rõ là rất yếu ớt.
Như
vậy là từ Bình Thuận đến Phú Yên quân Nguyễn đã chiếm trọn. Ánh lo đặt
người cai trị, thâu thuế, lấy lúa nạp thay tiền để có lương cấp binh
lính. Quan cai trị có người là quan võ rảnh ranh như Nguyễn Thoan coi
Hậu thuỷ doanh, giữ Bình Khang, có người là hàng tướng vô hại như
Nguyễn Y Mân được làm Cai bạ Phú Yên.
Nhưng khi quân Nguyễn
vào đất Quy Nhơn thì thấy được sức đề kháng của Tây Sơn. Võ Tánh đổ bộ
lên cửa Thi Nại rồi tiến phá cầu Tân Hội vào tháng 6 năm đó. Tây Sơn
lui về giữ núi Trường Úc7. Ở đồng Bình Thạnh, quân Nguyễn gặp đội tượng binh của Nguyễn Bảo, con Thái Đức. Bảo thua bèn lui về đắp luỹ giăng từ Thổ Sơn8 đến núi Trường Úc để ngăn giữ.
Lúc bấy giờ, bộ binh đã tiến vào theo hai đường hẻm có sẵn: Cù Mông gần biển và Hà Nhao9 phía tây. Ánh mật sai Tôn Thất Hội ở đèo Phú Quý10
bắt dân gần đó phá gai, chặt cây dọn đường để đánh trên núi. Dưới đồng,
quân ông nửa đêm vượt qua Kỳ Sơn cùng Nguyễn Văn Thành tập kích núi, có
Võ Tánh đánh ở mặt sau. Ở Trường Úc, Võ Văn Lượng đến đốt trại để Lê
Văn Duyệt tiến lên núi thu súng ống, đạn dược rất nhiều. Nguyễn Bảo và
Đào Văn Hổ phải chạy về thành Quy Nhơn bỏ lại các luỹ Phú Trung, Tân
An, Cầu Chàm, Đập Đá11.
Vòng
vây cứ dần dần thu hẹp lại. Nhưng Ánh cũng cần thêm quân khi chiến
tranh càng quyết liệt. Một phần Ánh lấy ở đám dân sở tại hưởng ứng
theo, phần lớn là đám dân mới nội thuộc: Phú Yên, Bình Khang. Ở các nơi
này, Ánh lại nhắm vào đám cựu quân Tây Sơn để khỏi mất công huấn luyện:
lệnh truyền chiêu tập ở Bình Khang các tay súng giỏi, binh cũ nhắm vào
ai là “nhưng súng đội”, “cựu ngạch binh” nếu không là họ? _______________________________________ 1. Ch. Maybon. La relation sur le Tonkin et la Cochinchine de Mgr De La Bissachère, Ed. Champion, Paris, 1920, t. 173-176. 2.
Nguyễn Nhạc bị lầm một lần khi vợ chính của Quang Trung mất mà người ta
đồn lầm là chính Huệ thương cảm quá rồi cũng chết theo luôn. Lần đó
Nhạc tính đem quân chiếm cả Phú Xuân, Bắc Hà (thư ông Sérard gởi ông
Letondal, Sử Địa, số 13, t. 171). Không trách bây giờ Quang Toản ngăn không cho đi điếu cha mình. 3. Thực lục q6, 13b. 4.
Địa điểm Hoa Vông còn thấy trên bản đồ bây giờ nơi bờ phía bắc sông
Cái, đối diện với thành Diên Khánh. Chắc trước khi xây thành, Hoa Vông
đã nằm cả 2 bờ sông nên lúc Võ Tánh giữ Diên Khánh, có tên “cầu Hoa
Vông”. 5. Thực lục q6, 17ab, 18ab. 6. Thực lục viết La Thai. Chỉ cần thêm chữ 二 sau chữ 台 là ta có La Hai, tên Nôm đúng. 7. Úc Sơn tên của Thực lục. 8. ĐNNTC,
tỉnh Bình Định, (q9, 14a) có ghi: “Thổ Sơn cổ tháp tục gọi là tháp Thị
Thiện”. Vậy địa điểm Thổ Sơn chỉ ngọn đồi trọc bên cạnh quốc lộ số 1
cũ, gần cầu Bà Di, mà người Pháp gọi là Tours d’Argent. Tên thông
thường gọi là tháp Bánh Ít. 9. Ha Nha của Thực lục. 10. Phú Quý Cương cửa Thực lục, ngọn đèo thấp đưa tới đồng Cây Cầy. 11. Lam Kiều, Thạch Yển của Thực lục. Quân Nguyễn tới đánh luỹ núi Kho1.
Đô đốc Đẩu giữ ở đấy với 4.000 binh mạnh, dựa núi cao bắn xuống dữ dội.
Trần Công Hiến người Quảng Ngãi, tâu với Nguyễn Ánh xin vào luỹ làm nội
ứng. Kết quả tự nhiên thấy rõ. Nguyễn Đức Xuyên bên ngoài kêu hàng, Tây
Sơn bắn ra, nhưng bên trong Hiến đã nổi dậy. Đô đốc Đẩu bị bại chạy
thoát, Chỉ huy Trí thoát ở Bình Khang về đến đây phải bị giết thảm.
Quân Nguyễn thu được 35 khẩu đại bác, hơn 80 thuyền biển, 3 con voi, 1
kho gạo, 1 kho cá muối cùng vô số súng điểu thương.
Thành Quy
Nhơn càng bị vây siết hơn với các tướng Tôn Thất Hội, Võ Tánh, Nguyễn
Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành. Tây Sơn cũng còn được 3 cứ điểm bên ngoài:
Gò Dê, Đầm Sấu, và Tam Tháp.
Thành bị vây đến hơn 3 tháng
trời. Không phải là vũ khí tấn công của Ánh không hiệu quả. Đám binh
lính Tây phương dưới quyền đề nghị phá thành trong 10 ngày. “Phóng diên
(diều) lưu hoả pháp” của người Âu mà sử quan nói dùng để đốt thành có
lẽ chỉ cuộc tấn công ồ ạt đó bằng lửa đạn mở đường. Nhưng Ánh không
chịu viện lẽ sợ dân chúng trong thành chết không nỡ. Thấy quân về hàng
càng ngày càng đông, Ánh tin rằng bị vây lâu, quân trong thành sẽ loạn,
tự nhiên hàng đầu. Sử quan ghi rằng Ánh “bảo các quân chớ nôn đánh” và
sau này các giáo sĩ cho ràng “cuộc vây hãm kéo dài vì lỗi của vua”, tất
cả đều đúng2.
Trong
lúc chờ đợi, Nguyễn Ánh lo đánh chiếm các đất còn lại của Nguyễn Nhạc.
Tháng 7 năm đó, ông đến cửa An Dụ sai Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn
Nhân, Nguyễn Đức Thiện đánh Đệ Dương phá một cơ sở làm thuyền biển của
Tây Sơn bắt được 30 thuyền mới tạo, còn ghe nhỏ, gỗ ván đều đốt hết.
Quân Tây Sơn kéo nhau hàng hơn 300 người trong đó có Đô đốc Nguyễn Văn
Thái, Cai bạ kiêm Công bộ Trần Văn Thái, Vệ uý Nguyễn Văn Chinh, Chỉ
huy Đào Văn Lượng, Nguyễn Văn Phát. Tướng giữ Quảng Ngãi là Nguyễn Tấn
Lục, Trần Công Trữ cũng về hàng.
Yên mặt bắc, Nguyễn Ánh trở
về, lên Đập Đá. Lần này ông có vẻ quyết liệt nên sai lấy “hoả xa đại
pháo” đánh vào nhưng không hạ nổi ngôi thành còn hơn vạn quân chống
giữ. Tuy nhiên ông cũng thu hẹp được vòng vây lại. Quân Nguyễn đánh luỹ
Gò Dê bắt được Đào Văn Hổ, quân Tây Sơn giữ Đầm Sấu bỏ chạy vào thành
chỉ còn trơ có luỹ Tam Tháp3.
Nhưng
lúc bấy giờ cứu viện của Phú Xuân do Nhạc kêu cầu đã tiến đến. Trên bộ
là 17 ngàn binh, 80 voi dưới quyền Thái uý Phạm Văn Hưng, Hộ giá Nguyễn
Văn Huấn, Tư lệ Lê Trung, Tư mã Ngô Văn Sở. Dưới nước là Đại thống lĩnh
Đặng Văn Chân, Đô đốc Hô (Hô Hổ hầu cũ?) Chưởng cơ Thiêm với 30 thuyền.
Thuỷ quân thực yếu kém nhưng bộ binh thực dũng mãnh với đủ danh tướng
cũ.
Cho nên ở Trà Khúc hàng tướng Trần Công Trữ chết trận,
Nguyễn Đức Thiện lui về giữ núi Cung Quăng. Nguyễn Ánh vội vã sai
Nguyễn Văn Thành đem 8.000 quân ra Bến Đá giữ các đường Sa Lung, hang
Tối Trời (Hôn Cốc) với Nguyễn Kế Nhuận và Nguyễn Văn Thái.
Chiến
tranh lại đổi chiều. Tuy Trương Phúc Luật vừa đem 20 thuyền chiếm lương
Tây Sơn ở Thái Cần, đốt thuỷ trại ở cửa Đại Áp tận Quảng Nam, nhưng bộ
binh Tây Sơn vẫn bám lấy sông Vệ ở Quảng Ngãi. Nguyễn Quang Toản lại
đem tiếp viện đến Sa Lung. Ánh vừa từ chối sự trợ giúp của 2 vạn quân
Xiêm cùng 50 thuyền của họ phải cho Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Đức Thiện
thối lui rồi rút hết toàn quân về Phú Yên, tránh đám tượng quân, bộ
binh tinh nhuệ của Phú Xuân. Ở Xuân Đài, Ánh sai Tôn Thất Hội coi hết
Phú Yên, phân bố Nguyễn Huỳnh Đức đóng ở La Hai, Nguyễn Long đóng ở
Thạch Thành, Nguyễn Văn Nhân giữ 36 thuyền ở vũng Lấm. Về đến cửa Nha
Phu (Ninh Hoà), Ánh xây luỹ Gò Xoài (Mông Phụ) (Bình Khang) để Nguyễn
Văn Thành giữ. Võ Tánh đem bệnh binh, hàng binh về trước ở Gia Định.
Còn Nguyễn Văn Trương thì đồn binh thuỷ ở cửa Cầu Hin4 để Ánh lo xây một thành Gia Định thứ hai án ngữ đường vào Nam của binh tướng Phú Xuân.
Đó
là thành Diên Khánh xây trên luỹ Hoa Vông cũ. Theo sử quan, thành cao 1
trượng, chu vi hơn 510 trượng, 6 cửa, có lầu, 4 góc có núi đất. Dịch vụ
cần tới 3.000 người Bình Thuận, 1.000 người Thuận Thành. Bản đồ còn ghi
lại rõ với 1 chữ “Diên Khánh đại đồn”5.
Theo con mắt chuyên môn, nhà quân sự hiện nay có thể nhìn vào đồ hình
mà phân tách được những vị trí xếp đặt y như của một ngôi thành theo
kiểu Vauban. Nhưng với chỉ mắt thường, đem so đồ hình với những đồ hình
các công sự ở các bản đồ quân sự Pháp, ta cũng thấy được những đường
nét tương tự. Bởi vì thành Diên Khánh là của Olivier vẽ ra. Nó là em
sinh sau thành Gia Định. Nhưng ở sâu vào trong một xứ vừa chiếm được,
nó đóng một vai trò rất quan trọng. Nó sẽ chứng minh có đủ khả năng để
làm một tiền đồn chống giữ cho Gia Định. Nguyễn Ánh có nó thấy vùng an
ninh, đất đai của mình mở rộng ra, sẽ vui mừng biết có tăng tiến trên
đường về cố đô6. ____________________________________ 1. Ở núi Càn Dương, có lẽ là kho lúa gạo Tây Sơn đã lấy hồi tháng 9-1773. 2. Ngoài Thực lục còn có thư của ô. Lavoué gởi các ô. Boiret và Descourvière từ Tân Triệu 13-5-1795 (BEFEO, 1912, t. 33), thư của Jean de Jesus Maria (BSEI, XV, t. 102, 103). 3. Thuộc làng Vân Tướng, quận Bình Khê. 4. Đồng Khánh,
quyển hạ, 233, có ghi “Cù Huân đại tấn khẩu” ở ngay cửa Nha Trang. Trên
vùng thành phố bây giờ là “Cù Huân tấn sở”. Vậy kho Cù Huân mà Nguyễn
Ánh lập ra chứa lương là địa điểm thành phố Nha Trang. Cùng trong sách
trên, một cửa biển nhỏ về phía nam được gọi là “Cù Huân tiểu tấn khẩu”.
Đây đúng là địa điểm cửa Bé ở cách thành phố 2km. Phía tây nam cửa Bé
là núi Cầu Hin và địa điểm Cầu Hin (còn gọi là Con Hin, Bà Hin, khác
biệt vì sự chuyển âm lờ mờ ra chữ viết cố định). Vậy Cù Huân của Thực lục là Cầu Hin. 5. Hình số CXV ở BAVH, Juil-Sept 1926, “Les Français au service de Gia Long”, L. Cadière lấy tài liệu của thư viện ông Le Fèvre de Béhaine. 6. Chiến tranh vây Qui Nhơn, ngoài những tài liệu khác có ghi, đều lấy từ Thực lục q6, 21a-30a.
|