Chương 6
GIA ĐỊNH VÀ PHÚ XUÂN ĐỐI ĐẦU
_________________________________________________________Tiết 16
CÁI CHẾT CỦA NGUYỄN HUỆ
Con
người Nguyễn Huệ * Vai trò Nguyễn Huệ trong chế độ quân chính của Tây
Sơn * Khó khăn của Cảnh Thịnh: sức tràn bờ của Tây Sơn ở Diên Khánh và
vụ Bùi Đắc Tuyến.
Giữa những bộ mặt lịch
sử xuất hiện vào hậu bán thế kỷ XVIII Nguyễn Huệ tỏ ra đặc biệt nhất.
Nguyễn Ánh bền dai, kiên trì có lẽ đã làm cho một số người trầm tĩnh
thán phục, nhưng lại từng là bại tướng của “ông Long Nhương”, nên có
thắng trận cuối cùng cũng bớt một phần oai vũ đối với người sau. Nguyễn
Nhạc thất bại ngay lúc còn sống, hình như đã thừa đến 6 năm trong thành
Chà Bàn, kén may mắn hơn Châu Văn Tiếp chết trên chiến trường, Nguyễn
Hữu Chỉnh bị bêu đầu sau một hồi làm mưa làm gió. Nguyễn Huệ trái lại
sống giữa hào quang rực rỡ của chiến thắng, chết đi ném trả cho con
cháu trách nhiệm giữ cho dòng họ khỏi bị tru diệt. Nguyễn Huệ thu nhặt
được tất cả những lời khen lao, từ bọn bầy tôi quen tán tụng bất cứ ai
là chủ tể cho tới đám thù nghịch từng chịu điên đảo vì ông.
Về
khuôn mặt, dáng người, lịch sử còn để lại bức vẽ truyền thần của nhà
Thanh hoạ lúc có sứ bộ 1790. Nhưng chúng ta đều biết đó chỉ là Giả
Vương. Người ta không cần chọn người giống lắm vì đã có Phúc Khang An
làm tay trong gạt Càn Long rồi. Nói về khí vũ hiên ngang của một võ
tướng bách chiến bách thắng thì hẳn Giả Vương đã có - nếu ta tin hoạ sư
vẽ theo thực, không tô điểm thêm.
Mới đây, người ta tìm được chứng cớ rằng một pho tượng trong chùa Bộc ở Hà Nội chính là tượng Quang Trung1.
Việc bức tượng được cho mặc triều phục, đi hia mà lại chân trong chân
ngoài chứng tỏ thái độ ngang tàng của con nhà tướng. Nhưng nếu chữ
“quang trung” trên đôi câu đối đúng là chỉ ông vua Tây Sơn này thì bức
tượng chắc cũng không tạc đúng hình Nguyễn Huệ vì đã phải chịu những
quy luật về hình ảnh khuôn khổ của một ông Phật, ông tướng Trung Hoa:
tai to, mắt xếch (đáng chú ý là trong hình Giả Vương, đôi mắt người mẫu
còn nằm ngang hơn ở đây).
Trong một quyển dã sử còn lại, có
một vài nét về Nguyễn Huệ có vẻ thực lắm: “Tóc Huệ quăn, mặt mụn đầy,
có một con mắt nhỏ, nhưng mà cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có
đèn thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu...”2. Tóc quăn, mặt mụn, mắt không đều
là dấu vết của thân xác. Nhưng câu chuyện tròng mắt có ánh sáng phát
ra, ban đêm soi sáng cả chỗ ngồi là cảm tưởng của người nhìn khiếp sợ
trước oai vũ của “Thượng công”.
Về cuộc đời riêng của con
người này, lịch sử cũng biết được một ít, nhiều hơn những ông vua thời
bình cầm đầu quốc gia bằng thế tập. Sĩ phu Bắc Hà quen với không khí
tôn nghiêm, bệ vệ của Lê hoàng, Trịnh chúa đã ngạc nhiên khi thấy cảnh
anh em Tây Sơn “trò chuyện, kẻ hỏi người đáp cực kỳ ôn tồn (?) y như
anh em các nhà thường dân”3.
Và cũng nhân dịp ra Bắc này, tướng sĩ dưới quyền được vui cười cảm thấy
gần gũi ông tướng oai nghiêm ngày thường với câu nói cợt nhả: “Vì dẹp
loạn mà ra rồi lấy vợ mà về, trẻ con nó cười thì sao? Tuy vậy ta chỉ
quen gái Nam Hà chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng thử một chuyến xem
có tốt không?”4.
Người
con gái Bắc Hà 16 tuổi đó cũng biết nhược điểm của bậc anh hùng nên đã
dùng thế lực riêng của mình mà ảnh hưởng tới quyết định của Nguyễn Huệ
khi đòi phế tự hoàng Lê Duy Kỳ, lập Sùng Nhượng công Duy Cẩn, khi thì
đòi ngược lại, “mếu khóc” vuốt ve tự ái đấng trượng phu. Tình cảm mềm
yếu cũng tỏ rõ mấy năm sau, khi Quang Trung “điên cuồng lên” vì một
người vợ mất ở Phú Xuân5.
Tấm
lòng say mê đó đem đổ vào cuộc đời ông, nơi triều chính, nơi chiến
trường biến thành một sức quyến rũ lôi cuốn mọi người. Dù Nguyễn Nhạc
có ghét em đến dùng chữ “giảo quyệt”, “hợm hĩnh”, “kiêu ngạo”, người ta
vẫn nhìn hành động của Huệ để mà thấy các hình dung từ trên không có ý
nghĩa xấu khi gán cho một con “hùm (muốn) ra khỏi cũi”. Trái lại, khi
bàn về Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Chỉnh đang ở thế đối địch, Nguyễn Đình
Giản cứng cỏi đều nhận “Bắc Bình vương là một tay anh hùng”. Khi triều
thần Bắc Hà họp lại để bàn việc cử người vào đòi Nghệ An, Phan Lê Phiên
loại Nguyễn Đình Giản, Phạm Đình Dư, viện lẽ “Bắc Bình vương là người
rất quyệt, hay dùng trí thuật lao lung người khác, trong lúc bàn luận,
khi xuống lại nâng lên người ta không biết đâu mà dò”. Trần Công Xán,
viên sứ giả được đề cử sau lúc “luôn trong mấy hôm vẫn không cử được
người nào”, cũng phải e dè nhận rằng kẻ mình phải thuyết là “người
huyền bí khó lường”6.
Thận trọng dè dặt không vào thăm Lê Hiển Tông bệnh, dùng lý đó để bắt
lỗi Lê Duy Kỳ sao không đợi ông vào hãy phát tang, Nguyễn Huệ thực đã
hành động có chừng mực, có tính toán khiến bọn Lê thần phải nể sợ vậy.
Những
chiến thắng của ông càng đưa ông lên cao trên đài danh vọng. Một cung
nhân ở Thanh Hoá trong dịp Ngô Văn Sở chận núi Tam Điệp hẳn đã thấy cả
hùng khí của Tây Sơn nên bày mưu cho Lê Thái hậu mà kỳ thực tóm tắt
được cả dư luận Bắc Hà lúc bấy giờ đối với viên tướng “hang núi”:
“Nguyễn
Huệ là bực lão thủ hung tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam thật
là xuất thần quỷ nhập. Không ai có thể dò biết. Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh
như bắt trẻ con, giết Vũ Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào
dám trông thẳng vào mặt. Nghe lệnh y, ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn cả
sấm sét...”7. _________________________________________ 1. Bức hình có in lại nơi trang bìa 2 của quyển Việt Nam thời bành trướng: Tây Sơn. Đôi câu đối ở trang bìa 3. 2. “Tây sơn thuật lược”: Tạ Quang Phát dịch, Sử Địa số 9-10, t. 165. 3. Hoàng Lê, t. 92. 4. Hoàng Lê, t. 82. 5. Thư Labartette gởi cho Letondal, 6-10-1797 (A. Launay, III, 1. 244). 6. Hoàng Lê, t. 89, 90, t. 162, 163, t. 167. 7. Hoàng Lê, t. 252. Kẻ thù của Tây Sơn ở phương Nam, tuy phải chui nhủi chạy trốn, tức giận
vì vua chúa họ suýt diệt tộc trong tay Nguyễn Huệ cũng không thể nào
nói khác hơn những lời khen lao được, tuy họ đã từng chê trách thậm tệ
Nguyễn Nhạc. Sử quan viết: “Nguyễn Văn Huệ là em Nhạc, tiếng nói như
chuông, mắt sáng như điện, giảo, kiệt, thiện chiến? ai cũng phải sợ...
Bốn lần đánh Gia Định, lúc ra trận đều đi trước, sĩ tốt hiệu lệnh
nghiêm minh, thuộc hạ ai nấy dốc lòng vâng mệnh”1.
Có
thể nói Nguyễn Huệ đã dùng hào quang của mình mà che chở cho chế độ khi
phong trào Tây Sơn đưa ông lên đài danh vọng. Bởi chế độ Tây Sơn quả đã
phải đứng bấp bênh vì xây dựng trên một mâu thuẫn. Chúng ta đã nói rằng
phong trào Tây Sơn xuất hiện vì sự giao thoa của hai nguồn năng lực lấy
từ hai biến chuyển: một, bên trong là kết quả của tiến trình Nam tiến
phối hợp với văn hoá phương Nam mấy trăm năm, và một, bên ngoài là sự
khích động của văn minh kỹ thuật Âu tây trên đất Đại Việt.
Trong
lịch sử của họ, Tây Sơn đã xô được Nam Hà rồi không tìm được đồng minh
bên ngoài, bên trong lại hãnh diện vì sức mạnh quân lực, họ không tìm
ra được cách tổ chức, khai thác những khả năng địa phương để tâm phục
lâu dài dân chúng. Quay ra Bắc Hà, họ lại chui đầu vào trong cái rối
rắm mà người trước đã gỡ không ra vì sự cằn cỗi của đất đai, vì không
khí bảo thủ đã lâu đời, khó tẩy phá của sinh hoạt vua quan, dân chúng.
Chúng
ta đã thấy cố gắng dung hoà giữa Tây Sơn và cựu thần Lê - Nguyễn. Nhưng
sự vá víu ấy quả là tạm bợ. Bên trong chế độ vẫn chưa có sự hoà hợp.
Nguyễn Thiếp chẳng hạn, tuy thấy được lối đào tạo nhân tài theo kiểu
trích cú tầm chương không có ích lợi nên hô hào phục cổ. Nhưng cái
giọng “tuần tự nhi tiến” quả cũng là giọng kinh văn. Không thể đòi hỏi
Nguyễn Thiếp điều gì khác hơn một khi còn tồn tại cái không khí truyền
thống Nho giáo đã hãnh diện có một Ngô Nho chẳng hạn, khẳng khái nói:
“Đại thần vì nước gánh việc, kẻ sĩ vì người tri kỷ mà chết, đều là
nghĩa nên làm như thế, ngoài ra tôi không còn biết có sự gì khác”.
Chính các nho sĩ bảo thủ đã chê cười nho sĩ cải cách và giễu cợt lối
học chữ Nôm do Quang Trung chủ trương.
Quân tướng Quy Nhơn
cũng không chịu để lôi kéo đi xa. “Theo Chu tử”, nhưng phải dịch kinh,
truyện ra chữ Nôm, thi cử lời Nôm, dụ tướng sĩ bằng chữ Nôm, điếu tang
viết lời Nôm2. Chúng ta cũng thấy các bức thư chữ Nôm của Nguyễn Ánh, đã nghe lời dụ ban cho tướng sĩ ở Gia Định (1800)3,
nhưng đó chỉ là phương sách tạm bợ nhất thời đối với họ Nguyễn. Trong
khi đó Tây Sơn phải dùng chữ Nôm như một phương tiện diễn đạt tư tưởng
chính thức, hợp với sự hãnh diện của họ. Có những tờ chiếu, sắc thần4
bằng chữ Hán trong triều đại là một mỉa mai cho quá khứ của họ, nhưng
cái thế cô lập với ảnh hưởng phương Nam mà từ đó họ phát xuất khiến họ
đi dần vào trong không khí các trào cũ.
Sự lưỡng lự đó làm nên
yếu kém của Tây Sơn. Tất nhiên việc Chiêu Thống còn ở Trung Hoa, việc
Nguyễn Ánh hùng cứ phương Nam ảnh hưởng phần nào vào sự quyết định hợp
tác với Tây Sơn của các cựu thần Nguyễn - Lê. Nhưng bản chất bấp bênh
của chế độ Tây Sơn cũng khiến người ta ngần ngại hợp tác, nếu không là
chống đối lại.
Quân tướng Tây Sơn trong vai trò chủ động nắm
vận mệnh của vùng đất họ chiếm cứ cũng tung hết khả năng trong một cố
gắng cùng cực để biến đổi xã hội đang cuốn hút họ theo một khuynh hướng
thoái trào. Những biện pháp mạnh mẽ đã tung ra để bảo đảm thi hành cải
cách hầu như đều có kèm với sự phô trương quân lực. Triều đại Tây Sơn,
do đó, có bản chất quân phiệt và chỉ có thể tồn tại bằng chế độ quân
chính của họ thôi. Thực ra đám võ tướng cũng chứng tỏ được họ là những
người kiểu mẫu của thời đại mới. Kiêu căng, quen dùng uy quyền đàn áp,
họ khiến cho những người Anh đến thăm năm 1793 phải phàn nàn cho đời
sống của người dân. Nhưng phái bộ Macartney cũng phải công bình mà nhận
rằng bọn võ tưởng ít hư hỏng hơn bọn văn quan5.
Thêm một chứng cớ rằng bên dưới sự thanh liêm tương đối của quân đội,
có một tình trạng suy đồi xã hội mà những sức phản kháng tiềm tàng có
thể lợi dụng được.
Nhưng bọn võ tướng từng vào sanh ra tử vốn
chỉ chịu phục tòng người chỉ huy của họ thôi. Nguyễn Huệ cùng trưởng
thành với họ, với thiên tư, với tài năng đã cai trị họ cũng như thần
dân dưới quyền bằng sức mạnh của khiếp phục. Do uy quyển đó mà Nguyễn
Huệ đã thi hành những cải cách có khi động chạm đến cả đời sống tinh
thần của dân chúng như khi tiếp tục thi hành “phụng truyền” của Nguyễn
Nhạc sai phá các chùa chỉ chừa mỗi tổng một ngôi mà thôi6.
Giáo sĩ Labartette ở Bố Chính hơn ai hết, có đủ những điều mắt thấy tai
nghe để phán đoán về chế độ Tây Sơn. Ông nói: “Một ông vua dù có ẩn ý
thế nào với tôn giáo có lẽ cũng thi hành một cách nhẹ nhàng vì những lý
do chính trị. Ông chắc phải sợ bất mãn gây ra loạn lạc. Không bao giờ
ông có thể có đủ sức mạnh để làm điều mà bọn này (Tây Sơn) đã làm. Chỉ
trong một khoảng thời gian ngắn, họ đã quét sạch xử sở khỏi những lạm
dụng nhơ nhuốc: không ai dám rục rịch hết”7.
Có
lẽ biết đến vai trò - không chắc quyết định - nhưng quan trọng của ông
trong sự sinh tồn của triều đại, nên Quang Trung, trước khi mất ngày 29
tháng 7 Nhâm Tý, giờ Dạ Tý (11-12 giờ khuya 16-9-1792)8
đã đòi Trần Quang Diệu về trối trăn, dặn chôn cất cho mau nội trong một
tháng rồi dời kinh về Phượng Hoàng Trung đô. “Nếu không, quân Gia Định
kéo tới, các người sẽ không có đất mà chôn đâu”9. __________________________________________ 1. Liệt truyện , q30, 17b.) 2. Có trích trong các sách đã dẫn: La Sơn phu tử, Quốc văn đời Tây Sơn. 3. Do An Khê sao lục trong Nam Phong, XIV: Fév, 1924, có trích lại ở Việt Nam văn học sử yếu, sđd, t. 73-75. 4. La Sơn phu tử, sđd, t. 42, đạo sắc phong thần Đỗ công đại vương trưng bày ở Hội chợ Hà Nội 1941. 5. Le séjour de l’ambassade... sđd, t. 28. 6. Thư Le Roy ở Kẻ Vĩnh (Ninh Bình), 6-12-1796 (BEFEO 1912, t. 8 ). Tờ phụng truyền được dịch trong Le peuple annamite. E. Langlet, 1912. t. 50, 51. 7. Thư ngày 12-5-1787 (RI, XIV, Juil-Déc. 1910, t. 44). 8. La Sơn phu tử, t. 160. 9. Liệt truyện q30, 47b. Thực lục q6, 7b, 8a. Đứa bé mới lên 9, “đồ sự du hí”, làm gì biết đến sự cần thiết của những
biện pháp khắt khe. Cho nên bãi lệnh mang tín bài, bỏ lệnh bắt dân lậu1,
việc làm tuy tiếng là nhân ái mà kỳ thực chứng tỏ triều thần Tây Sơn
thiếu chủ tướng đã trở nên giải đãi, dắt nhau vào con đường cầu an, đem
thêm nguy vong cho chế độ vậy.
Chế độ phân phong cho anh em đã
thấy có nhược điểm ở Trung Quốc là khi trung ương không mạnh thì quốc
gia dễ tan rã. Cho nên, vào năm 1793 ai cũng biết là Quang Thuỳ muốn
độc lập với Quang Toản. Rồi loạn lạc nổi lên, nhất là ở Bắc Hà. “Xứ xứ
tịnh khởi”, thật sử quan vẽ được trong lời, sức phản động bày tỏ khi
Nguyễn Huệ chết. Ở Gia Định, tháng 7-1792, người ta còn hoảng hốt vì
“tên giặc ở Huế mạnh hơn bao giờ hết và chắc chắn hắn sẽ bóp chết Vua”2, nhưng cùng tháng năm sau, người ta vui mừng “kẻ thù vẫn còn, nhưng lực lượng họ yếu kém thấy rõ”3.
Cho nên Ngọc Hân than khóc chồng mà như thay cả triều đại Tây Sơn khóc chúa tể:
“Nghe trước có đấng vương Thang, Võ, “Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao, “Mà nay áo vải, cờ đào, “Giúp dân dựng nước xiết bao công trình!...
“Công dường ấy mà nhân dường ấy, “Cõi thọ sao hẹp bấy hoá công “Rộng cho chuộc được tuổi rồng, “Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi”.
Tuy
nhiên sự tan rã không phải đến tức khắc. Mười bảy ngàn quân và 80 voi ồ
ạt vào cứu viện Quy Nhơn còn đủ hung hăng để người ta tăng quân số gần
gấp đôi: 30.000 người, hay như Lelabousse nói 5-60.000 người.
Nhưng
thành Chà Bàn không mất vào tay Nguyễn Ánh thì cũng mất vào tay Phạm
Văn Hưng. Quân cứu viện đến trước thành thì thấy cửa đóng. Họ lên tiếng
đe doạ thì Nguyễn Nhạc nhắm không đủ sức giữ nổi nữa nên đã mời họ vào.
Tiếp sau đó là những cử chỉ nhường nhịn giả dối. Nhạc tuyên bố nhường
ngôi lại và chỉ muốn sống như người thường thôi. Ban đầu họ không nhận,
mời ông lên lại trên ngai ngồi để họ lạy, nhưng ông từ chối. Vài tháng
sau (13-12-1793), ông mất đi, người ta nói, “vì buồn rầu và xấu hổ”.
Nguyễn Bảo, con Nhạc được phong làm Hiếu công, ăn lộc huyện Phù Ly4.
Như
vậy là từ nay Nguyễn Ánh phải đối đầu trực tiếp với Phú Xuân. Việc
Nguyễn Nhạc chắn giữ Quy Nhơn ngăn giúp được cho Gia Định sức mạnh của
Tây Sơn miền Bắc trong khoảng vài năm đủ để cho Nguyễn Ánh chỉnh bị
quân tướng. Tuy bây giờ thực là muộn, nhưng quân đội còn giữ được hăng
hái và sức mạnh đã không chịu để Nguyễn Ánh đe doạ mình.
Cho nên, tháng 3 Giáp Dần (1794) Quang Toản lại phái Thái uý Phạm Văn Hưng và Tổng quản Trần Quang Diệu vào Quy Nhơn5.
Bốn vạn quân của Hưng mới tới Phú Yên thì Nguyễn Văn Nhân bỏ chạy mặc
dầu đã có lời dặn của Hoàng tử Cảnh lúc bấy giờ ở Diên Khánh bảo phải
giữ.
Một đạo quân Tây Sơn theo đường núi vòng xuống Ba Ngòi
định để chận lương Diên Khánh từ Gia Định chuyển ra bằng đường bộ vì 4
vạn vuông lúa do Nguyễn Văn Thành tải bằng đường thuỷ mắc ngược gió
không ra khỏi Vũng Tàu. Ngày 28-4, 300 thuyền Diệu vào Nha Trang. Ngày
2-5 đã có bộ binh Hưng và 50 voi vào Bình Khang vây kín 3 mặt thành
Diên Khánh - Bên trong chống giữ là Bá-đa-lộc và Hoàng tử Cảnh với lời
dặn dò của Nguyễn Ánh lúc ra đi nhắc nhở sự quan trọng của ngôi thành:
“Ta đêm ngày hao mòn, từng phải cay đắng mới được chút đất này đó”6.
Bảy
ngàn quân bên trong chống với 40.000 quân bên ngoài. Trên thành
Bá-đa-lộc cho đặt thêm nhiều đại bác giả làm nghi binh. Quân Diệu ở
ngoài bắn đại bác vào không hiệu quả mới đắp luỹ đất vây quanh. Trong
gần một tháng không bỏ thành theo lời Nguyễn Ánh, Diên Khánh đã tiêu
hao quân địch bằng cách đột kích khiến họ bị chết và phải sợ hãi. Trận
lớn nhất và cuối cùng là vào ngày 21-5, quân Gia Định có 7-8 người chết
cùng hơn 60 người bị thương. Bên ngoài có các tướng Mạc Văn Tô, Nguyễn
Đức Thành ở Ba Ngòi, Nguyễn Long trên vùng núi. Nguyễn Văn Thành lôi
Nguyễn Văn Nhân bỏ Long Cương (gò Rồng?) tới đóng Phong Lộc, cầu Dài
sát vòng vây Tây Sơn.
Ngày 23-5, Tây Sơn rút lui. Nguyễn Ánh
đường thuỷ và Hoàng tử Cảnh, Nguyễn Văn Thành đường bộ, lên đường truy
kích địch ngay sáng hôm sau. ___________________________________ 1. Hoàng Lê t. 272. Liệt truyện
q30, 45b. Quang Toản tên là Trát. Thư các giáo sĩ vẫn ghi là “Hoang
trot”. Tên Trát chắc là chuyển biến theo giọng Quảng Nam của một dấu
vết thân xác của Toản (Toản môi trớt, theo Tây Sơn thuật lược,
bđd, t. 165. P. Ký cũng xác nhận tên Hoàng Trớt trong “Souvenirs
historiques sur Sai gon et ses environs”, Excursions et
Reconnaissances, 1885 t 26). Phái bộ Macartney có tham dự lễ sinh nhật
Vua ngày 4-6. Tính ra 4-6-1793 là ngày 26-5 Quý Sửu; ngày 26-5 Quý Mão
tương đương với ngày 25-6-1783. Đó là ngày tháng, năm sinh của Quang
Toản. 2. Thư J. Liot ở Tân Triệu, 18-7-1792. 3. Thư Lavoué, Saigon ngày 31-7-1793. 4. Thư Lavoué cho các ông Boiret và Descourvières, Tân Triệu, 13-5-1795, thư G.M Gortyne, Tonkin Occidental, 22-4-1794 (BEFEO, 1912, t. 32, 33). Hoàng Lê. t. 277, 78. Thực lục q6, 31ab. Liệt truyện q30, 16a. 5. Thực lụcnói Quang Toản sai nhưng ta biết (q6, 8a) mọi việc đều do Bùi Đắc Tuyên, cậu Toản quyết định. Vả lại Hoàng Lê
cũng nói khi đi Qui Nhơn có Đắc Tuyên theo làm Tán nghị giữ thành. Vậy
chính Tuyên vào Qui Nhơn để trông coi việc đánh phía nam, chia quyền
quân quốc với Phạm Văn Hưng (Liệt truyện q30, 44b). 6. Thực lục
q6, 35b. Trước đó, tháng 11 âl (3/12/1793-27/1/1794), Nguyễn Văn Thành
từ Bình Khang về. Hoàng tử Cảnh ra trấn Diên Khánh với Mạc Văn Tô,
Nguyễn Đức Thành, Tống Phúc Đạm, Phạm Văn Nhân. Sau đó, Ánh kêu Nguyễn
Huỳnh Đức về, lưu quân Chân Lạp, Chà-và lại Diên Khánh. Tôn Thất Hội
cũng về để Võ Văn Lượng. Nguyễn Long, Nguyễn Văn Nhân trấn Phú Yên có
Mạc Văn Tô, Nguyễn Đức Thành của Cảnh sai phụ giúp. Thư Pigneau gởi cho
Letondal từ Phú Yên, 16-6-1794 (A. Launay, III, t. 287) nói bị vây vào
cuối tháng Avril. Thư Lavoué cho Letondal (A. Launay III, t 233-34) nói
rõ hơn vì Lavoué lúc bấy giờ ở Nha Trang có chứng kiến trận đánh. Thực ra Cảnh và Bá-đa-lộc ở xa trận địa đến hơn một giờ đường1,
nhưng khi Tây Sơn rút lui về đồng Cây Cầy, hai người cũng trải qua
nhiều vất vả. Đi trước có Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Long, Võ
Văn Lượng, Mạc Văn Tô, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Lợi tập kích sau
lưng Tây Sơn. Con đường Hà Nhao, An Tượng men theo các hẻm núi không
thể nào đi ngựa hoặc đi cáng được mà nhất định phải đi bộ và người mệt
không tả được như Bá- đa-lộc đã than.
Nguyễn Ánh tới Thi Nại
bèn sai Tôn Thất Hội đánh lấy Tiêu Cơ (Gành Ráng?), làng Mai lấy được
40 đại bác cùng khí giới khác. Đổi lại, Phó tướng Tiền quân là Nguyễn
Văn Thư trúng đạn chết.
Thuỷ quân Gia Định mạnh mẽ thấy rõ.
Trên núi Tam Toà, Tây Sơn bị cai cơ Nguyễn Đình Đắc bắt đến 800 người.
Trần Quang Diệu, Đổng lý Nguyễn Văn Thận đem 8.000 binh đến bãi Nhạn,
vũng Tham liền bị đánh tan. Chỉ có quân Phạm Văn Hưng, Thống lãnh Đặng
Văn Chân đóng trong cửa Thi Nại là ráng cầm cự. Hoàng tử Cảnh xin hợp
binh tiến đánh quân Hộ giá Nguyễn Văn Huấn đóng ở Vân Sơn2,
quân Kiểm điểm Trần Viết Kết đóng ở Hà Nhao. Nguyễn Ánh chỉ bảo giữ
chắc ở La Hai, Hà Nhao, tăng thêm binh giữ Cù Mông bởi vì ông tin rằng
khi thuỷ binh thắng thì bộ binh Tây Sơn sẽ tự tan rã ngay.
Tháng
6 âm lịch năm đó, Thuỷ quân của Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhân ra
đánh Tây Sơn ở cửa An Dụ lấy thuyền lương rồi ra đến cửa Đại Cổ Luỹ
(Quảng Ngãi) đánh kho Phú Đăng, đuổi Tiết độ Nguyễn Văn Giáp chạy, lấy
lương rồi trở về. Trên bộ vừa được một tin quan trọng: quân Cảnh tìm
được đường rừng đi vòng đến núi Chúa nơi đóng quân của Tây Sơn. Nguyễn
Ánh vội sai Phạm Văn Triệu, Olivier, Trần Văn Tín, Lê Văn Duyệt, Cao
Văn Lý, Nguyễn Văn Tồn với đội Xiêm binh (lính Miên) cùng Trương Văn
Phượng tới tăng cường. Quân Cảnh lẻn đến tập kích phá quân Tây Sơn ở Hà
Nhao, đồng Cây Cầy, núi Chúa bắt hơn 3.000 người, đuổi Trần Viết Kết
chạy. Nguyễn Văn Thành vội vã truy kích bị phục binh phải rút về Hà
Nhao. Sử quan không nói rõ hơn về số thiệt hại, nhưng chắc đó là cớ
chính yếu để Ánh rút quân vì thuỷ quân ông cũng không thể phá vỡ cửa
Thi Nại để lên núi tiếp cứu bộ binh được.
Tháng 6 âm lịch
Hoàng tử Cảnh dẫn binh về trước, tháng 7 Nguyễn Ánh cho người giữ Phú
Yên và tháng 9 thì về đến Gia Định sai phái Võ Tánh ra trấn Diên Khánh.
Quân Nguyễn rút thì Tây Sơn cũng theo chân mà tràn vào. Tháng
10, Trần Quang Diệu và Tư lệ Lê Trung đuổi Nguyễn Long và Võ Văn Lượng
chạy về Bình Khang. Hai tháng sau thì họ tiến mạnh vào. Chuyến này Tây
Sơn tỏ rõ quyết tâm và khôn ngoan mở rộng ngoại giao: họ đem vàng bạc
qua cầu thông với Xiêm để cô lập Gia Định.
Nguyễn Ánh nghe Võ
Tánh cho tin quân Tây Sơn đến địa đầu Bình Khang nhưng không thể làm gì
hơn vì gió bấc thổi mạnh. Ông chỉ khuyên nhủ Võ Tánh cố thủ và cho Lưu
thủ Bình Thuận Nguyễn Văn Tính lo tăng viện, đồng thời cho Nguyễn Huỳnh
Đức làm chánh, Nguyễn Văn Thành làm phó, kéo quân đóng Phan Rang.
Trần
Quang Diệu lãnh phần đánh Diên Khánh. Lê Trung tiến sâu hơn chiếm Du
Lai, đuổi Võ Văn Lân được lệnh giữ đó từ tháng 10. Nguyễn Văn Tính tăng
viện Diên Khánh không được phải quay về.
Trong tháng cuối năm
Giáp Dần (đầu 1795). Trần Quang Diệu cố tìm cách tuyệt đường lấy nước
của Diên Khánh nhưng không được. Thành này một lần nữa lại chứng tỏ khả
năng phòng thủ của nó. Tây Sơn kéo lên ồ ạt bị súng trên thành bắn
xuống lăn ra chết rất nhiều. Diệu lại phải đắp thành đất vây quanh và
sơ hở để bị tập kích chết mất Đốc chiến Định. Tuy nhiên trong thành bắt
đầu thiếu muối ăn, Đội trưởng Nguyễn Văn Trứ phải đang đêm lẻn trốn
khỏi vòng vây chạy về Gia Định cáo cấp.
Trong khi đó, Tây Sơn
Lê Trung tiến đánh Phan Rí khiến Nguyễn Huỳnh Đức phải lui về Phố Hài.
Nguyễn Ánh vội sai Đức về giữ Ma Ly trao quyền cho Nguyễn Văn Thành,
Nguyễn Văn Tính, Mạc Văn Tô ở lại chống giữ.
Đầu năm Ất Mão
(1795), Tôn Thất Hội đem binh ra Phố Hài, Phan Rí ngăn Tây Sơn. Nhưng
Tây Sơn kéo quân đến đuổi Nguyễn chạy về Bà Rịa. Đây là lần cuối cùng
Tây Sơn xâm nhập sâu vào nội địa quân Nguyễn nhất. Nguyễn Ánh tức giận
cách chức Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, bắt trao quân cho Tô Văn
Đoái để ông này theo Tôn Thất Hội giữ Ma Ly. Mặt khác, quân Miên dưới
quyền Nguyễn Văn Tồn cũng được đem từ Mang Thít lên đóng ở Bà Rịa án
ngữ.
Tuy gió còn ngược, Nguyễn Ánh cũng để Hoàng tử Cảnh giữ
Gia Định, tự đem quân cứu Diên Khánh. Và cũng như những lần khác, thuỷ
quân cũng làm thế nương tựa cho quân bộ. Tôn Thất Hội đem bộ binh đi
Phan Thiết thấy Lê Trung còn ở Phan Rí nên đóng lại Xuy Miệt. Trong khi
đó, Trương Phúc Luật đem thuyền đến Ỷ Na đánh kho Phan Rang lấy gạo,
còn Tống Viết Phúc thì phá thuỷ binh Tây Sơn từ vũng Diễn kéo tới.
Tháng
3, Nguyễn Ánh đến cửa Cầu Hin bắn đại bác cho Võ Tánh biết tin cứu binh
rồi đi ra Sử Châu (Phú Yên) phân binh chiếm Phú Yên để chận đường về
của Tây Sơn. Ông cho Võ Văn Lượng giữ núi Gian Nan, Mai Tấn Vạn, Nguyễn
Văn Nguyện chiếm Thạch Thành rồi phân ba đồn dài từ núi Cổ Ngựa đến Đại
Lãnh (đèo Cả)3. Từ Phú Yên, ông tiến quân ngược về Nam, qua Hòn Khói, sai Nguyễn Văn Đắc đánh luỹ Lạp Trường4, giết Đô đốc Gia, Binh bộ Tấn chiếm lĩnh Bình Khang.
Binh
thế hai bên bây giờ thực đã đến lúc cài nhau mà tranh chiến. Lê Văn
Duyệt, Nguyễn Đức Xuyên tiến phá thêm luỹ Lò Đúc (Dã Lô) trong khi Lê
Trung ở Bình Thuận đánh Xuy Miệt không thành. _______________________________________ 1. Thư Lavoué cho Letondal 27-4-1795 (A. Launay, III, t. 287). 2. Theo ĐNNTC,
tỉnh Bình Định, tả sông Vân Sơn thì đó là trung lưu sông Hà Thanh. Vùng
này có một cái chợ nổi danh là chợ Vân Hội (chợ Cây Gia), không biết có
phải địa điểm Vân Sơn này không. 3.
Gian Nan là núi Cục Kịch. Còn khi nói Đại Lãnh, chắc sử quan muốn chỉ
một hòn núi, vì lẽ đó có thể gọi là “đèo Cả” chứ không phải địa điểm
Đại Lãnh hiện tại ở dưới chân đèo Cả, phía tỉnh Khánh Hoà. 4. Vùng Vạn Ninh bây giờ? Tháng tư, ở Phú Yên, Võ Văn Lượng, Mai Tấn Vạn mộ được dân Thượng hai
đầu đánh ép Đô đốc Tây Sơn là Nguyên, Phượng, Quế ở sông Đà Rằng1.
Phượng bị chém, còn bao nhiêu chạy về Hội An. Đánh lâu lương thiếu, Ánh
sai Hoàng tử Cảnh bắt điền hộ nạp thêm một kỳ thuế, lính không đi đánh
giặc nạp mỗi người hai vuông gạo. Lê Trung cũng thiếu lương đưa thư cầu
cứu Trần Quang Diệu thì người đưa tin bị bắt. Phan Rang bị quân Nguyễn
chiếm nhưng chỗ đóng binh xa đường thuỷ, mất thế tựa nên Tây Sơn lại
đến đuổi chạy về Ba Ngòi.
Hai bên vẫn còn dằng co nhau. Tôn Thất Hội chiếm sông Luỹ thì Lê Trung ở sông Cạn2.
Thượng đạo Tướng quân Nguyễn Long đem quân xuống khe Sương làm thế ỷ
giác cho Diên Khánh để Võ Tánh lẻn ra đốt trại Lê Văn Lợi từ núi Sĩ Lâm
đến cầu Hoa Vông. Nhưng Tây Sơn vẫn còn vây chặt, đủ mặt Tổng quản Trần
Quang Diệu, Nội hầu Lê Văn Lợi, Tiết độ Nguyễn Văn Giáp, Đổng lý Nguyễn
Văn Thận, Kiểm điểm Trần Viết Kết, nếu không có một việc vừa xảy ra ở
Huế gióng hồi chuông báo tử cho quân tướng Tây Sơn.
Như chúng
ta đã phân tích ở trên, Nguyễn Huệ mất đi, bọn quân tướng quen dưới
quyền sai phái của một người chỉ thấy lệ thuộc nhau như những kẻ ngang
hàng mà thôi. Cho nên ta đã thấy Nguyễn Hữu Chỉnh hục hặc với Vũ Văn
Nhậm, Nhậm khinh lờn Ngô Văn Sở đem đến kết quả thảm thương. Đến bây
giờ, Thái sư Bùi Đắc Tuyên mà tên chưa từng nghe đến trong chiến trận
và tuổi đến 80 thì làm sao cai trị nổi bọn võ tướng dày dạn, sung sức?
Đắc
Tuyên từ khi làm Thái sư thì lấy Thiền Lâm tự làm phủ riêng, mọi việc
triều chính đều xét xử ở đấy (Rõ là lối làm việc co rút của một ông
già). Ông lại tự quyền sanh sát. Kẻ bất mãn tăng lên, lại có dịp để kết
tụ âm mưu.
Trần Văn Kỷ trên đường phát phối ra Bắc Thành gặp
Vũ Văn Dũng ở trạm Mỹ Xuyên, bèn nói ít lời xúi giục. Dũng về Phú Xuân
mưu với Thái uý Phạm Văn Hưng, Hộ giá Nguyễn Văn Huấn giả tiếng đem
quân tế cờ rồi thừa đêm tối ập tư dinh bắt Đắc Tuyên. Tuyên trốn trong
phủ Quang Toản, Vũ Văn Dũng đem quân đến đòi, dìm nước cho chết. Ngô
Văn Sở ở Bắc thành, Bùi Đắc Thận, con Tuyên, và Ngự sử Chương, hơn 10
người đều bị luỵ. Chưa hết. Vũ Văn Dũng còn để Nguyễn Văn Huấn đem 500
quân trấn giữ Quy Nhơn3
để án ngữ phản ứng của Lê Trung được coi là bè đảng Bùi Đắc Tuyên và
cũng trông chừng luôn Trần Quang Diệu, người mà mối liên lạc thân tộc
với Bùi Đắc Tuyên qua Bùi Thị Xuân thật không thể chối cãi.
Việc rõ ra là một mối nứt rạn thật lớn lao, đe doạ cả tương lai Tây Sơn.
Đang
vây Diên Khánh, Trần Quang Diệu nghe tin, sợ vạ cho mình bèn họp các
tướng bàn quay về dẹp loạn bên trong rồi sau sẽ trở lại. Nhưng quân
Nguyễn đã chận ở mặt sau chắn nơi Lão Lãnh, Đại Lãnh, Gian Nan Lãnh.
Cuộc rút lui cũng thật là gian nan.
Tháng 6, Trần Quang Diệu
không qua sông Thị Nghi được tuy có toán quân của Nguyễn Văn Huấn được
tiếng là vào Đà Rằng để trợ thanh thế. Lê Trung ở Do Lâm4
phải bại binh leo lên thuyền chạy một mình về Diên Khánh. Họ họp nhau
tiến đánh Gian Nan Lãnh nhưng không qua được đồn binh của Võ Văn Lượng
chận ở đó.
Trong khi đó, quân Diên Khánh ở trong thành đã bắt
đầu mỏi mệt. Võ Tánh, tướng sĩ đều mắc bệnh. Quân Nguyễn phải lo tấn
công gấp rút. Vị trí của Tây Sơn trên núi Kho không chiếm được. Nhân
bắt được tên du binh Nguyễn Văn Nho của Tây Sơn xin đi làm hướng đạo,
quân Nguyễn tổ chức đánh phá. Đêm đến, 300 người lội qua sông Ngư Trường5 cởi áo bò lên đốt trại, theo sau có đạo binh hò hét tiếp sức. Thành Diên Khánh được giải vây trong dịp này.
Nhưng Tây Sơn vẫn chưa lui được. Gian Nan Lãnh có thêm quân Nguyễn Ánh giữ chặt. Trần Quang Diệu dẫn quân vây Tu Bông6 bị súng lớn bắn cản đường tiến của voi. Vừa Nguyễn Văn Thành đem quân tiếp cứu, Tây Sơn bỏ chạy.
Rốt lại, Trần Quang Diệu theo đường núi Như Tráp mà về Quy Nhơn.
Đem
quân về thẳng An Cựu, Diệu đóng quân bờ nam sông Hương. Vũ Văn Dũng
mang quân bản bộ cùng Nội hầu Tứ lấy lệnh Vua chống lại. Cả hai đều sai
dâng biểu lên Quang Toản tố cáo tội lỗi lẫn nhau. Sứ Vua ra bảo 2 người
vào chầu thì họ đều xin y như lời biểu của họ đã rồi nhiên hậu mới bỏ
quân. Tình thế đương găng thì Phan Huy Ích đã thảo một tờ chiếu giảng
hoà7. Lý luận thuyết
phục nhắm vào việc làm cho hai tướng nhận rõ mối nguy hại từ bên ngoài
đưa tới, nhận rõ vai trò trọng yếu của họ trong việc giữ gìn, chống đỡ
chế độ, trách họ đã đem việc công làm việc riêng, không chịu để triều
đình thu xếp mà lại dùng binh ép Vua phải làm theo lời họ. Mềm mỏng,
chặt chẽ, nhưng tờ chiếu cũng lộ ra mối lo sợ tan rã của kẻ chỉ huy yếu
ớt khi nhắc đến việc bỏ qua tội bất tuân triều mệnh, phân trần không có
lòng hại tướng thần và dè dặt chận trước việc có thể xảy ra là hai bên
mang quân bản bộ bỏ đi. Thực là quá xa cái thời Quang Trung đòi “giết
hết những kẻ nhị tâm, không tha một người nào”.
Người chết
không sống dậy được thì người sống phải tự lo. Cuộc triều kiến đưa đến
kết quả giảng hoà. Bốn người chia nhau quyền binh làm Tứ trụ đại thần.
Theo nhận xét của người đồng thời, “họ đều là những tay có tài trị nước, can đảm và được dân chúng tín nhiệm”8.
Nhưng đổ vỡ đã xảy ra rồi thì khó hàn gắn được. Người chịu nạn trước
tiên là Trần Quang Diệu, viên tướng biên thuỳ mà ở Kinh đô thì như con
chim bị cắt cánh. Ông bị dèm pha, tước hết binh quyền chỉ còn cái chức
hư không ngày đêm bên điện. Tướng sĩ tan rã, chán nản tới nỗi có kẻ lộ
manh tâm hàng đầu như Lê Chất (1797) mà Lê Trung chỉ tìm cách cảnh cáo
chứ không trừng trị hay ít ra tìm cách loại đi để bớt hại.
Thế
rồi loạn Nguyễn Bảo làm chết Lê Trung. Thượng thư Hồ Công Diệu dèm pha
chết Thiếu bảo Nguyễn Văn Huấn. Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng kết phe
với Lê Văn Thanh định hại sủng thần Lê Văn Ứng của Quang Toản. Tất cả
những rối loạn đó xô đẩy nhà Tây Sơn mau sụp đổ hơn, nhưng đều đã hiện
ra từ đêm 29-7 Nhâm Tý lúc một ngôi sao vừa tắt vậy. _____________________________________ 1. Thực lục: Đà Diễn; nhưng ĐNNTC, q10, Phú Yên, 11b: “Đà Diễn cũng gọi là Đà Rằng”. 2. Một nhánh tả ngạn của sông Luỹ, thượng lưu được gọi bằng một tên quen thuộc vì chảy qua một nhà ga cùng tên: sông Mao. 3. Thực lục q7, 33ab; Liệt truyện q30, 46ab; Hoàng Lê,
t. 278. gọi trạm Hoàng Giang, Thái bảo Hoá thay vì Mỹ Xuyên, Nguyễn Văn
Huấn. Một chứng nhân đương thời, Lapavée, thì lại cho rằng Bùi Đắc
Tuyên muốn giết 3 con Quang Trung (Quang Thuỳ, Quang Toản, Quang Bàn?)
để cướp ngôi cho con ông (Bùi Đắc Thận?) nên mới âm mưu với Ngô Văn Sở
để hành dộng. Sứ giả gởi đi bị Vũ Văn Dũng chận lại. Âm mưu vỡ lở (Sử Địa số 13, t. 160-161). 4.
Có thể là Karom, tiếng Việt bây giờ là Du Long (Ninh Thuận). Ta biết
địa điểm Ma Lâm (Bình Thuận) cũng được bình dân gọi là Mằng Long. 5.
Núi Kho là hòn Trại Thuỷ ở Nha Trang, hiện có đặt Kim thân Phật tổ.
Sông Ngư Trường là phân lưu của sông Cái chảy xuống cầu Hà Ra (Nha
Trang). Xét theo diễn tiến trận đánh và vị trí các nơi liên hệ thì quân
Nguyễn từ mặt bắc đánh vào. 6. Chữ của Thực lục
là Tu Hà 修 蝦. Chúng ta nghĩ Tu Hà giống chữ Tu Hoa đã sinh ra chữ Tu
Bông bây giờ. Vậy Tu Bông không phải từ chữ Tụ Phong mà ra. 7. Sơn Tùng Hoàng Thúc Trâm. Quốc văn đời Tây Sơn. sđd, t. 26-31, đề là “Dụ Nhị Suý Quốc âm chiếu văn”. 8. Thư Le Gire gởi các ông Boiret, Chaumont, Blandin, từ Kẻ Tương (nam Quảng Bình), 12-1-1796 (BEFEO, 1912, t. 36). ___________________________________________________________Tiết 17
DAO ĐỘNG Ý THỨC HỆ Ở GIA ĐỊNH
Cơ
sở tín ngưỡng và đại giá của tiếp viện Tây phương ở Gia Định * Dao động
ý thức hệ và cuộc tranh chấp quanh cá nhân Hoàng tử Cảnh * Ảnh hưởng
cuộc tranh chấp tương ứng với việc tổ chức quan lại * Ảnh hưởng cuộc
tranh chấp tương ứng với tiến triển quân sự.
Trong
phần bàn về sinh hoạt tinh thần của dân chúng đương thời, ta đã điểm
xét qua những tín ngưỡng. Chúng ta đã nói đến Thần giáo, Phật giáo bị
Nguyễn Ánh ngăn chặn hoạt động. Nhưng điều đó một phần có nghĩa là
chính quyền trừ khử bớt những hành vi tiêu cực cản trở việc tổ chức xây
dựng Gia Định: Bắt bà đồng bỏ nghề đi xay lúa, giã gạo, cũng như bắt
người Miên làm biếng ham chơi phải đi lính.
Cho nên cơ sở tín
ngưỡng thông thường của dân chúng vẫn còn vững chắc. Thái hậu, Hoàng
hậu sinh ra Hoàng tử Cảnh đều có thờ Phật. Cuộc sống tu hành khuất lấp,
dửng dưng, có vẻ vô tội đến nỗi một người điềm chỉ cho Ngô Văn Sở đi
bắt Chiêu Thống, đã tỏ cái dễ dàng của công việc bằng một câu ví tức
cười: “Như vào chùa trói một lão sư đi mà thôi”1.
Chính
yếu của tín ngưỡng đó là sự tin vào con người có linh hồn, không phải
là một thứ linh hồn vô tội, như một xuất hiện của bản ngã mà là một thứ
linh hồn có quyền phép, có xúc cảm. Tín ngưỡng đó, ta còn thấy chung
quanh ta, nhưng nghe một L.M tả cảnh xài phí của đám chuyển linh cữu
Trịnh Sâm về Thanh, ta biết rõ hơn những điều đã gây nhạc nhiên cho
người ngoại quốc:
“Vào tháng giêng 1783, người ta mang xác
Chúa đến mộ, xa kinh thành vài ngày (...). Người ta khó mà tưởng tượng
được đã tiêu phí như thế nào cho đoàn rước ấy. Ngoài một số nhiều bàn
dọn ê hề mọi thứ đồ ăn cúng cho người chết mỗi ngày nhiều lần và phải
suốt 3 năm theo tục lệ người ta thấy khắp chỗ vải vóc, tơ lụa quý báu
để trang trí phần mộ và những cơ sở mê tín xây lên cho người chết.
Vàng
lóng lánh trên ghế, trên kiệu, và trên mọi đồ dùng tang lễ; nhiều chiếc
thuyền lớn đều lát vàng. Tất cả những gì tráng lệ đó cũng như tất cả
những đồ dùng thường ngày của Chúa đều thiêu đốt đi để Chúa dùng bên
kia thế giới”2.
Thế
giới đó, nơi trú ngụ của linh hồn người thường dân, là địa ngục, là âm
phủ. Thế giới chúng ta sống là hạ giới. Khoảng vô hình quanh ta có
những con ma ở kinh Đôi Ma trêu ghẹo quân lính Tây Sơn, con tinh, ông
thần phò hộ cho người chài lưới Đà Nẵng được mùa cá. Còn linh hồn Trịnh
Sâm chắc là lên thượng giới, nơi có Thượng đế, ông trời với cả một
triều đình y như dưới này vậy.
Trên mảnh đất Đại Việt những bè
phái có chống đối, chém giết nhau nhưng cũng đều chia xẻ tin tưởng ấy,
rõ ràng hay mơ hồ, tràn trề tình cảm tôn kính sợ hãi hay cứng cỏi trong
lý luận là còn tuỳ từng người. Nguyễn Ánh và Trịnh Hoài Đức đều ý thức
rõ ràng nước ta không lấy Phật giáo làm quốc giáo như Xiêm mà gọi vua
là Thiên tử, Thiên vương. Nguyễn Nhạc của Tây Sơn, giản dị, xuề xoà
hơn, để cho dân chúng gói mình là “vua Trời”.
Những ngày còn
cướp bóc, phải phá nhà thờ, lấy chuông chùa, Tây Sơn vẫn giữ tục lệ
thông thường như L.M Ginestar cho biết: “Bọn vô thần cấm tất cả mọi tôn
giáo hành lễ trừ đạo đời Lê, nghĩa là đạo Trời dạy những gì là thiện và
những phép tôn trọng tổ tiên”3.
Chiếm
được quyền rồi, họ chấn chỉnh đạo Phật nhưng cũng khoan dung với Thiên
Chúa giáo, tuy rằng những khó khăn từ ngoài đưa tới và thái độ hướng về
cựu Nguyễn của các giáo sĩ sẽ làm cho họ dè dặt hơn. Triều đại họ, như
đã phân tích, vẫn phải kiếm lấy sức mạnh ngoài ảnh hưởng Tây phương,
ảnh hưởng mà họ cố gắng thâu nhận cho hợp một phần với bản chất thương
mại nội địa của tập thể họ dắt dẫn lúc ban đầu. Họ đã thất bại trong
toan tính đó và kỹ thuật Tây phương lại dồn về cho một ông Hoàng còn
sót lại của chúa Nguyễn Nam Hà. Chúng ta đã thấy sự hiện diện của người
Tây phương, thương nhân cũng như giáo sĩ ở Gia Định. Đây là lần đầu
tiên trong lịch sử, nước Đại Việt thu nhận một giám mục cố vấn cho Vua,
trông coi Chế tạo cục, có các giáo sĩ giảng đạo công khai, theo quân
đội chiến thắng thu tín đồ ở nhưng vùng mới chiếm (trường hợp các giáo
sĩ Lavoué, Boisserand, Lelabousse ở Diên Khánh năm 1794)4,
có các binh sĩ Âu xây đắp thành trì, huấn luyện sĩ tốt, xây dựng một cơ
cấu thuỷ quân làm mưa làm gió trên mặt biển Đông, loại trừ các thuỷ
quân địch lẫn bọn giặc cướp Mã Lai, Tàu Ô làm trở ngại giao thương trên
mặt biển5.
Nhưng
họ ở đây mang một nề nếp sinh hoạt, suy tưởng khác hẳn với chung quanh.
Họ kiêu hãnh với kỹ thuật quân sự, tổ chức tiến bộ hơn nên thường tỏ
thái độ kẻ cả - thái độ tuy vậy cũng được biện chính một phần nào. Đối
lại, Nguyễn Ánh cùng binh tướng cũng đã từng chiếm được Gia Định trước
khi họ tới, nên ý thức được địa vị chủ nhân ông của mình, khăng khăng
bám lấy tin tưởng có sẵn. Cho nên trong khi Tây Sơn đang ở thế tan rã
thì Gia Định cũng trải qua một cuộc khủng hoảng vì sự lớn lên của họ.
Cơn khủng hoảng bắt đầu kín đáo từ 1789 nhưng bùng nổ quyết liệt vào
1794, 1796 và lan đến 1798, 1799.
Đầu tiên phải kể đến phản
ứng trong dân chúng. Ở nơi này cũng như ở nơi khác trên mảnh đất có
chiến tranh này, các giáo sĩ đều ghi những trường hợp trở-lại-đạo từ
một ông thầy phù thuỷ, cô gái quê đến một người cô (dì?) của Nguyễn
Nhạc, và ở Gia Định, một bà thứ phi của Nguyễn Ánh. Nhìn sự tiến triển
đó với cặp mắt khoan dung là một chức việc làng có uy tín, một người
cậu của Quang Toản (Trần Quang Diệu?) “tay chiến tướng giỏi nhất trong
phe từ Bắc Hà tới Nam Hà”, và chót hết, Nguyễn Ánh6. Nhưng đã có những chống đối. ____________________________________ 1. Hoàng Lê, t.211. 2. Thư Giáo sĩ Serard, 6-1783, RI, XIII, t. 521. 3. Thư trích trong La guerre et la révolle, bđd, t. 91. 4. Thư J. Liot cho các Giám đốc Chủng viện Phái đoàn Truyền giáo, ngày 20-6-1795 (A.Launay, III, t.237). 5. Thực lục
chẳng hạn, q6, 10a, đầu 1793; đáng chú ý ở q8, 27a, tháng 8 âl 1796:
“Giặc Chà-và đánh Kiên Giang. Nguyễn Ánh sai Nguyễn Đức Xuyên đánh ở
Hòn Tre giết giặc, đoạt thuyền; từ ấy Chà-và sợ mất vía không dám xâm
phạm, đường thương mãi được thông suối vậy”. (chính chúng tôi nhấn mạnh). 6. Rất nhiều trong A. Launay, tập III, sđd. Tây phương từng tìm cách khoe khoang khoa học của họ, như trường hợp
của ông Boisserand làm nảy tia lửa điện trước mặt các quan “như tay phù
thuỷ”, bắn ít phát súng lục trong điện vua, thả một quả khí cầu, và như
các giáo sĩ khác, có chữa một ít bệnh cho dân chúng. Do đó, người ta
đồn rầm lên là các giáo sĩ móc mắt người bệnh ra, nhét bông vào đó và
dùng mắt làm ngọc cùng các vật dụng đẹp đẽ khác. Một ông quan dám đoan
chắc với Nguyễn Ánh là có việc ấy ở nhà thờ.
Sự chống đối vì
khác ý thức sinh hoạt có khi được lồng trong cuộc tranh đấu Nguyễn -
Tây Sơn. Đồ đảng Tây Sơn có người tên là Phó Tín từ Bình Thuận vào Vĩnh
Trấn giả bộ cảm vì uống thuốc tây và quả quyết rằng người Âu mưu bắt
dân Gia Định để móc mắt. Bị tra tấn mới lòi ra rằng người Âu không can
gì vào đấy hết. Có một người mướn anh ta với 80 người nữa để loan tin
ấy ra. Phó Tín cùng 7-8 người đồng đảng bị giết1.
Việc
quấy rối Gia Định do chủ trương của một triều Tây Sơn yếu ớt như của
Nguyễn Nhạc, sở dĩ xảy ra được vì chính đã gặp lúc dân chúng hoang
mang, nghi ngờ. Hiện tượng này tất nhiên cũng có ở bộ máy trung ương.
Mọi
cuộc tranh chấp ở đây xoay quanh việc giành giựt linh hồn Hoàng tử
Cảnh. Các quan triều cố giữ lấy đấng trừ nhị của họ trong khuôn khổ tư
tưởng thịnh hành của quốc gia. Trong khi đó, các giáo sĩ, nhất là
Bá-đa-lộc, hi vọng ở ông hoàng này tương lai sẽ thành một Constantin le
Grand Đông phương.
Họ càng nhiều tin tưởng hơn khi Hoàng tử
Cảnh qua 4 năm tuổi thơ sống bên Bá-đa-lộc, cũng như những đứa trẻ khác
đã theo khuynh hướng tự nhiên mà hướng về Thiên Chúa giáo. Mới đặt chân
về Gia Định, Cảnh đã tỏ lộ những tư tưởng, hành động gây rối loạn trong
triều làm cho Pigneau, Lelabousse mừng nhảy lên, viết thư khoe khoang
ầm ĩ2 rằng “lòng
thành kính của Cậu đối với Đạo càng ngày càng phát triển” và “ở đây
cũng như ở Pháp, Cậu tiếp tục cho ta thấy hi vọng nhiều”.
Trong
buổi lễ trình diện trước bàn thờ tổ tiên sau những năm vắng mặt, Cảnh
nhất định không lạy “những con quỷ sứ” vì “ông bà đã chết rồi không thể
trở về hưởng được”. Cảnh có thể nghe theo lời Phụ hoàng lạy bất cứ ai
còn sống chớ không thể theo các tục lệ mê tín đó được. Những dỗ dành,
hai ba cái tát tai của Hoàng hậu không lay chuyển được ý định đó và rốt
lại Nguyễn Ánh phải lạy thay con mà cảm thấy ngượng trước triều thần
vào con đường phản kháng, Cảnh vẽ hai dấu thập tự trên tượng Phật của
Hoàng hậu mà kiêu hãnh rằng mình cũng như Phật đều từ Ấn Độ tới. Và
ghép chung các tôn giáo khác vào đạo Thần tượng, Cảnh đã chỉ cho mẹ cậu
trét phân bò trên tượng Thích Ca như cậu đã thấy làm ở một giáo phái
nào đó.
Những tin tưởng của cậu bé 8 tuổi này có vẻ có căn bản
lắm. Trong khi Hoàng hậu cho rằng chính cha cậu đã có quyền sáng tạo
nên vạn vật, thì cậu nằng nặc quyết người đó phải là “Đức Chúa ở trên
trời”, bởi vì rõ ràng là cha cậu đã không đẻ ngay được một bầy 2000 con
voi để chống với 300 voi Tây Sơn. Cậu hứa sẽ lấy một vợ thôi, vì Chúa
đã sinh “có bao nhiêu đàn ông thì có bấy nhiêu đàn bà”. Lúc đi ngủ,
Cảnh lén đọc kinh lầm rầm. Pigneau không trực tiếp xúi giục mà lâu lâu
lại dặn dò rằng đừng quên Chúa nhất là buổi chiều và buổi sáng. Chiến
thuật khôn khéo đó được tung ra vì Pigneau thấy phản ứng của các quan,
hoàng tộc và vì nó tỏ ra có hiệu quả ở lời đinh ninh cửa Cảnh: “Tôi
không muốn làm vua và tôi muốn mai này trở về Pháp ngay nếu không có ý
định làm cho cả dân tôi trở lại đạo đã giữ tôi lại”.
Triều
đình hoảng hốt, Nguyễn Ánh tức bực, nhưng già dặn, trầm tĩnh như bà
Thái hậu thì thấy khác. Yêu quý cháu nội, ngăn không cho Hoàng hậu đánh
con, bà nói: “Có gì lạ đâu con, thằng bé vừa mới về chưa nhận được chút
giáo dục phong tục của ta, chỉ thấy toàn những điều trái lại thì làm
sao nó làm theo lời ta bảo được. Để yên rồi lâu ý tưởng nó sẽ giống như
của chúng ta”. Lelabousse bảo bà ta lầm. Nhưng thực vậy.
Hai năm sau, ông cũng như Pigneau hoảng hốt viết thư báo động3.
Qua lời tâu xin của các quan, Nguyễn Ánh đem Cảnh về dạy dỗ. Ở giữa
“một triều đình ngoại đạo, sống theo quy tắc của các thầy ngoại đạo,
xung quanh có các viên Thượng thư Satan làm đủ cách để phá hoại sự vô
tội của Cảnh”, cậu Hoàng tử này trở về đời sống khuôn khổ của tầng lớp
và dân tộc cậu.
Ngày Giáp Dần, tháng ba, Quý Sửu (30-4-1793),
Nguyễn Ánh làm lễ phong Cảnh làm Đông cung, xây Thái học đường, đặt
Đông cung Phụ đạo dạy Cảnh học hành. Một Thị giảng Giáo sư, hai Hàn lâm
Thị học phụ tá, tám Quốc tử giám Thị học làm bạn, sáng chiều nhóm giảng
kinh sử. Hai người được kể làm Thị giảng là Trịnh Hoài Đức và Lê Quang
Định. Và chính Ánh bắt các quan ghi lời Cảnh nói, hằng tháng dâng lên
ông kiểm soát để biết con học hành tấn tới ra làm sao4.
Tuy
vậy, Ánh một mặt theo thiên tính, giáo dục vẫn quý trọng Bá-đa-lộc, một
mặt cũng nhận thấy còn cần có người này để mở rộng kiến thức con mình,
để giữ vững tinh thần quân sĩ, uy thế quốc gia, nên nhân dịp này bắt
Cảnh lạy Bá-đa-lộc 4 lạy bảo đối đãi như bực sư phó5.
Tất nhiên sự hiện diện của Pigneau bên cạnh Cảnh cứ cành ngày càng làm
cho các quan khó chịu. Cho đến khi nổ bùng ra vụ mà chúng ta gọi là vụ
Tống Phúc Đạm6.
Cho
Cảnh ra giữ Diên Khánh, Nguyễn Ánh có dụng ý bắt các tướng vì sự hiện
diện đó mà không bỏ thành chạy khi Tây Sơn tiến đánh. Nguyễn Ánh cũng
nài nỉ Pigneau đi theo để tăng uy thế. Trong đám tướng cùng ra Diên
Khánh có Giám quân Tống Phúc Đạm. Theo Liệt truyện, chính Đạm đã bày
mưu dùng kế phản gián chia rẽ Phạm Văn Sâm và Nguyễn Lữ trước kia. _____________________________________ 1. Thư Lelabousse cho Letondal, 24-5-1791 (A.Launay, III, t. 291, 292); Thực lục q5, 18b, chuyện tháng 2 âl 1791; lời chú (a) của De la Bissachère về bài hịch của Quang Trung đã dẫn. 2. Thư Pigneau cho Letondal, 11-8-1789, thư Lelabousse cho M.... 13-12-1790 (A, Launaỵ, III, t. 277-281). 3.
Thư Lelabousse cho Grine, 6-1792, cho Letodal, 17-6-1792; thư Pigneau
cho Boiret, 18-6-1792; thư Guillet cho Boiret, 20-6-1793, Lelabousse
cho Boiret 6-1793 (A.Launay. III, t. 283-285). 4. Thực lực q6, 14b, 15ab. 5.
Thư Lelabousse cho Letondal, 12-6-1793 (A-launay, III, t.289) có câu
Nguyễn Ánh bảo Cảnh: “Le Maitre est plus ton père que Moi”, đó là thứ
bực Sư, Phụ của Nho giáo: Thực lực, q11, 16a. 6. Việc xác định danh tính Tống Phúc Đạm trong vụ cũng như sự việc xảy ra lấy ở Thực lực q6, 35a, Liệt truyện
q8, phần cuối: truyện Tống Phúc Đạm, thư Lavoué cho Letondal, 21-4-1795
thư Pigneau cho Boiret, 30-5-1795 (A.Launay. III t. 301-305) Pigneau nhận xét, bảo Đạm là người “nghiêm trang, trịnh trọng, cần mẫn
và giản dị”. Trong 8-9 tháng cùng Pigneau thảo luận, trao đổi tư tưởng
về Khổng giáo, ông đã bị Pigneau quyến rũ, đến nỗi tâu xin Vua bỏ một
số nghi lễ ở Triều đình mà ông cho là mê tín, theo như quyết nghị của
Giáo hội La Mã về “nghi lễ Trung Hoa”, đến nỗi sau khi giải vây mắc
bệnh không về Gia Định được mà ông cứ nằng nặc quyết gặp Giám mục để
phải bị chết dọc đường.
Muốn hiểu rõ thái độ này của Tống Phúc
Đạm đã gây xúc động cho các quan như thế nào, ta phải phân biệt trường
hợp Hoàng tử Cảnh và trường hợp Tống Phúc Đạm. Đạm là bậc huân cựu đại
thần, tuổi đã lớn (59 tuổi lúc xảy ra chuyện), tư tưởng khuôn sáo đã
thành nếp thế mà bị thuyết phục trong vòng không đầy một năm, thì cậu
bé Hoàng tử sẽ ra sao nếu cứ luôn luôn ở bên Pigneau? Năm 1789 còn bảo
Cảnh nhỏ bé, chưa từng ở quê nhà nên dễ nhiễm ý tưởng của Pigneau chứ
rồi đây Cảnh càng ngày càng lớn, càng độc lập trong tư tưởng đã được
uốn nắn một lần rồi mà nay lại theo Pigneau thì nguy hại biết mấy.
Các
quan, và cả Nguyễn Ánh nữa đã thấy đe doạ mất tin tưởng truyền thống,
quyền lợi riêng tư, một khi Cảnh bị lôi kéo như Tống Phúc Đạm. Gọi là
các quan bị đe doạ mất quyền lợi riêng tư, thực đúng như Pigneau đã
nói. Nhưng ta cũng khó tách biệt rõ ràng phần tranh đấu cho quyền lợi
và phần phản ứng nào bị thúc đẩy bởi va chạm tín ngưỡng.
Ngày Cảnh không lạy ông bà, Nguyễn Ánh đã tìm gặp Pigneau1
để phàn nàn sao Thiên Chúa giáo dạy tín đồ quên ông bà. Pigneau cãi
rằng: “ở xứ này, thờ cúng ông bà vì tin rằng ông bà nhận lạy, ăn cỗ
bàn, phù hộ con cháu sống lâu, giàu có”. Vì lối thờ cúng đó nghịch với
sự thực không được đạo ông công nhận là lẽ tất nhiên. Nhưng Nguyễn Ánh
biện bác rằng Pigneau chỉ bằng vào tin tưởng của dân chúng, lúc nào và
ở đâu cũng đầy tính cách dị đoan hết. Sự thực ông tin rằng lễ bái chỉ
là chứng cớ để cho con cháu nhớ ơn cha mẹ, ông bà: “Khi tôi đi đến các
chỗ lễ đó, tôi nghĩ rằng nếu tổ tiên tôi còn sống, tôi muốn đền đáp
công ơn trong muôn một. Để chứng tỏ ý nghĩ tôi chân thành và có hiệu
quả, tôi muốn ngay bây giờ làm những điều như là ông bà tôi còn sống.
Tôi biết rằng họ không còn nữa và những điều tôi sắp làm không có ích
lợi gì cho họ cũng như cho tôi. Nhưng tôi muốn tỏ cho mọi người biết
rằng tôi không quên họ”. Lý lẽ đến đây thì không còn thuần là tin tưởng
mà lợi ích công cộng đã xen vào Tục thờ cúng ông bà có liên quan đến
trật tự xã hội, uy quyền của Nguyễn Ánh.
Pigneau gọi là dị
đoan lễ rước ông bà cuồi năm, tục đốt vàng mã, lệ thờ thần chủ coi như
là nơi trú ngụ của linh hồn người khuất. Nguyễn Ánh cho rằng không thể
bỏ được vì sợ gây loạn. Ông nói: “Tôi đã cấm phù thuỷ, thiên văn, tôi
đã coi đạo Thần tượng là xấu và sai, nhưng tôi phải giữ đạo thờ ông bà
như tôi đã trình bày, vì theo tôi đó là một trong những căn bản giáo
dục của xứ tôi”. Nguyễn Ánh xin Pigneau cho bọn tuỳ tướng Thiên Chúa
giáo của ông được theo các cuộc lễ như mọi người, khỏi có hại cho uy
tín của ông. Chỉ có một chút đó thôi được thoả mãn là không ai ngăn họ
tiến lên những địa vị cao cả.
Thế mà lời yêu cầu không được
chấp thuận. Tám năm sau, Nguyễn Ánh trong một lúc muốn dùng áp lực bắt
Pigneau ra Diên Khánh lần nữa, đã cưỡng ép một ông quan lạy bài vị các
tiên chúa với lý luận: “Ta nuôi ông lâu rồi, ban ơn phúc danh vọng cho
ông nhiều rồi, sao ông không chịu lạy các đấng khuất của Ta (...), ông
không từng lạy các thánh sao? Họ cũng đã chết rồi và không trở lại nữa.
Ta cũng không tin rằng ông bà Ta hiện có trong đền, rằng họ có thể trở
về đó ăn uống, nhưng chỉ lạy để tỏ lòng biết ơn của Ta trước mọi người
thôi (...). Ông muốn Ta gởi đi Xiêm để phật vương bắt lạy Phật không?”2. Điều khó khăn này các giáo sĩ cũng thấy là tế nhị. Những bức thư gửi đi3
đều lưu ý đến tính cách thế tục, không có ý nghĩa tôn giáo của việc lạy
xác, thờ cúng, và họ vạch ra rằng ở Pháp vua chết đi được liệm tử tế,
đơm cơm để vài ngày mà không ai cho là mê tín cả.
Ông
Boisserand kể lại cuộc hội đàm 1789 trên của Nguyễn Ánh, Bá-đa-lộc và
tiên đoán rằng nếu người ta bài bác “thì sự thù hằn tăng thêm và mê tín
càng vững chắc”. Các giáo sĩ lại chống đối tất cả những tục lệ có sẵn
mà họ cho rằng theo “nghi lễ Trung Hoa”. Ngày đầu năm, mỗi vùng đều có
góp tiền “theo dị đoan” để làm lễ Kỳ Yên, cầu cho quốc thái dân an.
Pigneau sai Liot đề nghị hai người có uy tín, có ơn cũ với Nguyễn Ánh
đến xin miễn cho những người Công giáo khỏi bị rầy rà, thì được trả lời
theo kiểu “phép vua thua lệ làng”: “Nếu các nơi không đòi người Công
giáo phải nộp tiền thì tuỳ họ, nhưng nếu họ bắt buộc thì họ có quyền vì
đó là tục lệ lâu đời rồi”. Chưa hết, trong khi Pigneau đi Diên Khánh
với Lavoué, Boisserand, Lelabousse, Nguyễn Ánh có sai trùng tu Văn
Miếu, các giáo sĩ họp lại cử Hồ Văn Nghị và J.Liot vào tâu Hoàng hậu
xin góp tiền cho quốc gia chớ không góp tiền xây cất Khổng miếu. Nguyễn
Ánh bác đi vì cho rằng đó là dịp mọi người trả ơn cho người sáng lập,
dạy dỗ đạo lý chữ nghĩa. Ra về, các giáo sĩ gởi thư đi các nơi bảo
“cương quyết” không nạp. Liot ở lại thúc đẩy tinh thần các quan. Nguyễn
Ánh phải chịu bỏ qua trường hợp một viên tướng cứng đầu. Và ở trong dân
gian, các tín đồ cũng noi theo gương đó mà cưỡng lại4. Uy quyền vị chúa tể bị xâm phạm nặng nề.
Như
vậy, luôn luôn có những ganh ghét, thù hằn ngấm ngầm sôi sục. Nó chỉ
bùng nổ khi bọn sĩ phu Gia Định thấy bị đe doạ thật sự. Đó là khi Tống
Phúc Đạm xoay chiều. Và khi họ tấn công thì gặp được dịp tốt. _______________________________________ 1. Thư Gpigneau cho Letondal, 17-8-1789 (A.Launay, III, t.320, 321). 2. Thư Pigneau cho Boiret, Saigon, 12-4-1797 (A.Launay, III, t. 311). 3.
Thư Boisserand, 11-8-1789, thư Pineau cho Boiret, 15-6-1798, Pineau -
Labartette, 5-6-1796, Labartette (ở Bố Chính) cho các Giám đốc trường
Dòng của Phái đoàn Truyền giáo, 12-11-1800 (A.Launay, III, t. 322, 328,
332, 335) 4. Thư J.Liot gửi cho Giám đốc trường Dòng của Phái đoàn Truyền giáo, 20-6-1795) (A.Launay, III, t.336 - 338). Thực lục, q7, 3b, mục tháng 2 Giáp Dần (1794) có nói đến việc trùng tu Văn Miếu ở Trấn Biên đúng vào chuyện này Từ 1792, những tin tức về cuộc cách mạng phản đế do bọn lái buôn Bồ đưa
đến đã lọt vào tai Nguyễn Ánh. Giáo sĩ Lavoué nhận xét rằng: “Hình như
các tin ấy có ảnh hưởng mạnh đến đầu óc ông Hoàng này và làm ông xa rời
người Âu. Hiện nay (1795), ông tỏ ra ít dễ dãi đối với đạo hơn mấy năm
trước”1. Sửa soạn đi
cứu Diên Khánh bị vây lần thứ hai, Nguyễn Ánh đã tống giam Dayot và một
tuỳ tướng vì tội làm chìm chiếc tàu được giao trông coi hư hại đến nỗi
không thể sửa chữa để dùng được gì cả. Nguyễn Ánh tức giận chửi lung
tung. Đúng dịp ấy, 19 người đại thần, trong số đó có người chú vua (Tôn
Thất Thăng?) và một người hoàng phái, dâng sớ bày tỏ mối nguy hại nếu
cứ để Hoàng tử Cảnh cho Bá-đa-lộc dạy dỗ theo một tin tưởng khác hẳn
mối tin tưởng cổ truyền. Họ cầu xin Nguyễn Ánh cắt đứt mối liên lạc ấy
và để Cảnh cho các quan triều dạy.
Nghe chuyện, Bá-đa-lộc khôn
ngoan ẩn tránh vài ngày. Thấy Nguyễn Ánh có vẻ nghe theo lời sớ, ông
lên tiếng phàn nàn thì Ánh đến tận nhà đưa tờ biểu cho ông coi.
Bá-đa-lộc nhắc lại công trình ông đã giúp Ánh và lưu ý Ánh rằng ông đến
đây không phải với tính cách riêng tư mà là với tính cách đại sứ của
vua nước Pháp. Thực ra, thoả ước Versailles đâu có áp dụng mà ông nêu
điều này ra. Tuy nhiên, Ánh còn cần Bá-đa-lộc trong khi quân Lê Trung
tiến vào cuối Bình Thuận, nên nghe Bá-đa-lộc đòi về, nhân dịp hai người
có tên trong sở là Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành không đi cứu
Phố Hài, ông kêu về tống giam vừa để trị tội, vừa để làm vừa lòng Giám
mục2.
Vụ
Tống Phúc Đạm có thể coi như chấm dứt với việc Bá-đa-lộc xin phục chức
cho Đức và Thành cho theo quân đánh giặc tháng 3 ất Mão (1795). Nhưng
tranh chấp vẫn còn, Bá-đa-lộc trở nên dè dặt hơn vì nhận rằng xúc động
của các quan có lý: “Các đại thần ở Pháp sẽ nói sao khi ông Hoàng của
họ được đặt vào tay một người ngoại quốc có tôn giáo khác biệt?” Hi
vọng của ông như đã ghi nhận ở lá thư 3 năm trước là “nếu dòng họ này
nắm quyền thì tôn giáo sẽ yên ổn hơn ở các triều khác”.
Trong lúc đó thì triều đình Gia Định càng ngày càng được củng cố theo mẫu mực Nho giáo.
Tháng
chạp Ất Mão, khi cứu Diên Khánh về, Ánh định tháng 3 sang năm mở thi
Hội. Theo lệ triều trước kỳ thi trải qua 3 trường, bây giờ các quan họp
lại định trường nhất hỏi về hiểu biết kinh truyện, làm thơ, trường nhì
làm văn sách, trường ba làm thơ, phú. Những người trúng cách được phân
3 hạng Giáp, Ất, Bính cho bổ quan chức hay miễn dao dịch. Người trúng
trường nhất được miễn binh dao từ 2 đến 6 năm. Qua trường nhì, người
trúng cách được bổ cao nhất là Lễ sanh, hạng cuối được làm Nhiêu học,
miễn binh dao 4 năm. Ở trường ba, 3 hạng đầu là Cống sĩ, Huấn đạo, Lễ
sanh; ba hạng sau là Huấn đạo, Lễ sanh, Nhiêu học (suốt đời). Khoa thi
tháng ba Bính Thìn (1796) lấy đỗ 273 người3.
Như
vậy là tiếp với nhóm Bình Xương cùng các văn quan Bắc Hà, Phú Xuân về
đầu, một nhóm cử tử thành đạt càng làm nho sĩ có đủ sức mạnh để bênh
vực, khuông phò Khổng giáo. Bọn văn quan này noi gương Hàn Dũ, Trương
Hán Siêu sẽ công kích Phật giáo rất dữ, hợp một phần với ý tưởng Nguyễn
Ánh. Nhưng thực ra, nằm ở chừng mực tín ngưỡng trung bình, lễ tiết Phật
giáo đã hoà lẫn với những tập tục bình dân mà ngay chính nho sĩ cũng
không vứt bỏ được trong sinh hoạt hàng ngày. J. Barrow đã vẽ cho ta
thấy hình một tượng Phật ở một động phía Nam Đà Nẵng (Ngũ Hành Sơn?)
được đặt trên cây đa cao trông như ông thần cây vậy4. Đó có thể là một suy đồi tín lý của Phật giáo nhưng đó cũng là sức mạnh của họ.
Trước
sự đe doạ của ý thức hệ do các giáo sĩ đưa lại, Nguyễn Ánh với địa vị
chủ tể càng ngày càng thấy phải trở nên khôn ngoan hơn để nghiêng dần
về phía những tập tục cổ truyền. Cho nên, ta không ngạc nhiên như
Lelabousse:
“Cho tới bây giờ, Đức vua không nhận tôn giáo nào
khác hơn đạo thờ ông bà, thế mà từ 2 năm nay, ông đã xây cất nhiều
Khổng miếu. Điều làm mọi người ngạc nhiên là ông hoàng này vốn không
bao giờ chịu đựng đạo Phật đến nỗi đánh roi những người đem tượng vào
phòng Hoàng hậu và đánh 100 roi những ông hoà thượng hành lễ, ông hoàng
đó bây giờ lại đi chùa và dự những cuộc lễ của các vị sư mà ông đã luôn
luôn ghê tởm”5.
Lelabousse giải thích là Nguyễn Ánh muốn làm vừa lòng mẹ, vợ và các phi
tần, nhưng điều đó lại đánh dấu một bước lùi nữa trong chương trình của
Pigneau.
thắng lợi quân sự tiếp theo đã đẩy Gia Định tiến mạnh
trên con đường tổ chức xã hội theo khuôn khổ của Nho giáo để bọn sĩ
phu. càng trở nên tự phụ hơn trước các giáo sĩ.
Tháng 2 Bính
Thìn (1796), Nguyễn Ánh tổ chức kiểm tra quân dân chặt chẽ bằng cách
bắt dân phải mang “tín tích”, một thứ tín bài của Gia Định. Tháng 7 năm
đó có tăng tiến tổ chức thuỷ quân trên cơ sở có sẵn: trước kia chỉ có 3
doanh, nay thêm 2 là 5, đủ Tiền, Hậu, Trung, Tả, Hữu6.
Nhưng
như kinh nghiệm cho biết, trên bộ, đội tượng binh của Trần Quang Diệu
còn làm e ngại quân Nguyễn. Từ mùa đông 1792, Gia Định bắt đầu tổ chức
tượng binh, nhưng lực lượng vẫn còn rất yếu ớt. Số voi tăng dần nhờ bắt
dân Chàm, Thượng cung cấp, nhờ Vua hay trao đổi bằng cống phẩm với Cao
Miên, Xiêm La và bắt được của Tây Sơn. Người huấn luyện điều khiển ban
đầu là Chàm, Thượng. Trong trận 1797, Nguyễn Ánh đề ra chiến thuật đánh
tượng binh: ông bảo lính cố sức giết cho được tên nài và địch quân ngồi
trên đó để cướp voi7. Chiến thuật có vẻ thật là giản dị như Kiêu binh đã từng áp dụng để giết Quận Huy. ____________________________________________ 1. Thư Pigneau cho Boiret, 20-6-1792; thư Lavoué cho Giám đốc trường Dòng (A.Launay, III, t.306, chú (I)). 2. Xem lại tiết trước. Chuyện xảy ra vào đầu năm 1795. Tên Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành được xác nhận vì một đằng so với Thực lục
(q7,23b, 24a, 27b), một đằng thư Lavoué kể trước có nói: (Ánh) đến nhà
Bá-da-lộc trước khi đi đánh Tây Sơn và 2 trong những người tố cáo đang
làm quan lớn bị tống giam vì đã bỏ rơi 2 quan khác khi Tây Sơn tiến
đánh. 3. Thực lục, q8, 12b, 13a, 15a. 4. Hình chụp lại trong Iconographie historique..., sđd, IX, 13. 5. Thư Lelabousse cho Boiret, 12-7-1796 (A.Launay, III, t.225). 6. Thực lực, q8, 14b, 23ab. 7. Thực lục, q9, 21ab. Nguy hại thêm cho Tây Sơn là tổ chức nội ứng của Nguyễn Ánh đã lan mạnh
trong khu vực của họ. Chúng ta đã biết, theo với đà suy yếu từ trung
ương, dân chúng càng lộ vẻ chống đối Tây Sơn. Một bài ngâm như Hoài nam khúc
trong đó tác giả nói toàn những chuyến cũ kỹ từ 1774, 1775 mà cũng làm
dao động Thuận Hoá và lan rộng đến miền Nam. Cho nên, từ tháng ba Tân
Hợi (1791), sử quan đã hãnh diện về số tay chân thương hộ ra ngoài Bình
Thuận, Thuận Hoá dò la tin tức1.
Những
chuyến đánh ra rồi lại rút về càng tăng thêm lòng nao nức của những
người oán Tây Sơn, hướng vọng về Gia Định không kể đến sự thực ở miền
trong. Tiếp tục lợi dụng tinh thần đó, trong tháng 7 Bính Thìn (1796),
Nguyễn Ánh sai người về Quy Nhơn, Quảng Nam, Thuận Hoá chiêu dụ nghĩa
binh làm nội ứng. Một đợt thứ hai những gián điệp như vậy cũng được
tung ra vào tháng 11 cùng năm2.
Mùa
Xuân Đinh Tỵ (1797), Gia Định phát binh đánh ra ngoài. Họ vừa được Cai
đội Nguyễn Văn Vân bạt thuyền bị bắt ở Phú Xuân năm 1793 nay trốn về
báo cáo tình hình. Con đường từ Xích Ram đến Ma Ly được sắp đặt ngựa
trạm để thông báo tin tức. Loạn Ba Phủ vừa tạm dẹp yên. Gió mùa nổi
lên. Nguyễn Ánh sửa soạn tăng cường 200 ghe chiến nhẹ và lô ghe bầu chở
12 súng lớn.
Đội quân xuất phát vào tháng 4-1797 gồm một lực
lượng hùng hậu tới 447 thuyền và 42.000 chiến binh trong đó chiếc
frégate và chiếc corvette đều do người Âu chỉ huy3.
Do đó mà những trận đầu tiên trên biển và ở ngoại vi Quy Nhơn, chiến
thắng có vẻ dễ dàng. Nguyễn Văn Trương dẫn thuỷ quân đánh Đô đốc Triêm
ở Tiên Châu rồi phá Đô đốc Tính ở đầm Nước Ngọt. Trên bộ, Nguyễn Văn
Thành dẫn Hậu quân đánh chợ Hội An (Phú Yên) đuổi Đô đốc Hiếu chạy về
La Hai.
Nhưng quân Lê Trung đã dàn ra giữ vững mặt nam Quy
Nhơn và cửa Thi Nại. Nguyễn Ánh đành phải bỏ đó đem hơn 100 thuyền ra
cửa Đà Nẵng. Hiểu rõ thực lực mình, tránh giao chiến bất lợi, Thống
lãnh Đặng Văn Chân rút hết binh thuyền vào trong cùng với bộ binh của
Thiếu bảo Nguyễn Văn Huấn dàn hai bên bờ sông dựa nhau cự chiến. Một
trận đổ bộ thắng nhỏ không phá vỡ được quân địch, Nguyễn Ánh sai Nguyễn
Văn Thành, Trần Văn Tứ, Trần Văn Bố dẫn quân chiếm Câu Đê đến Hải Vân,
sát cửa Kinh thành4. Nguyễn Quang Toản sợ hãi vội vã sai Trần Quang Diệu giữ cửa Eo (Noãn khẩu) có Đô đốc Lê Văn An tiến quân trợ giúp.
Mặc
cho hai quân đối đầu ở giáp giới Quảng Nam, Thuận Hoá, Nguyễn Ánh lo
thanh toán vùng bên trong, nên sai Cảnh tiến vào cửa Đại Chiêm đánh
Chiên Doanh (thủ phủ Quảng Nam), có Võ Tánh từ Phú Yên đến trợ giúp.
Cảnh chiếm chợ Đông An, Hội An. Võ Tánh đánh Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ bắt
tù binh cùng 30 tàu Ô ở Đại Chiêm.
Trên bộ, Tây Sơn phản công
dữ. Lê Trung tung quân đánh Hội An ở Phú Yên khiến Nguyễn Văn Thành
phải bỏ về giữ Bình Khang. Tháng 6 năm đó, quân Nguyễn thắng mạnh ở
Quảng Nam. Nguyễn Văn Trương đánh viện binh của Lê Văn An ở gò Phú Gia
chạy về Câu Thai. Võ Tánh đánh Tiết độ Nguyễn Văn Giáp ở sông Mỹ Khê.
Hoàng tủ Cảnh thắng ở núi La Qua, để Phạm Văn Nhàn ở lại Đại Chiêm, kéo
Vũ Bá Diên đến Phú Triêm. Đang đêm, Nguyễn Văn Khiêm và Olivier mang
bọn Chiến tâm quân lẻn đốt thuyền Tây Sơn.
Quân Quảng Nam cố
thủ và cầu viện ở Quy Nhơn. Lê Trung sai Đại Đô đốc Lê Chất, Đoạn Văn
Cát, Đô đốc Nguyễn Văn Xuân và một người tên Hàn đem 2.000 quân, 40
thớt voi tới cứu, bị đánh tan. Voi bị giết, Hàn bị trúng đạn chết. Tuy
vậy Lê Trung còn là mối lo cho quân Nguyễn. Trong tháng 7, Nguyễn Ánh
sai Nguyễn Văn Biện, Nguyễn Đức Thiện đổ bộ lên cửa Hợp Hoà đóng ở Bến
Ván chận cứu binh Quy Nhơn. Đô đốc Lê Văn An của Tây Sơn cũng cố tiến
chiếm Trạm Dã nhưng không được. Nguyễn Ánh hi vọng Phú Yên yếu, Nguyễn
Văn Thành, Đặng Trần Thường có thể chiếm được, nên không nghe lời
Nguyễn Văn Biện, Nguyễn Đức Thành xin đánh Trà Khúc sau khi phá được Đô
đốc Gia ở Thạch Đậu.
Như vậy là hai nhóm quân Tây Sơn mạnh vẫn
còn chiếm một ở Đà Nẵng, một ở Trà Khúc với Lê Trung nơi ấy đang trưng
tập đàn để bổ sung quân sĩ.
Thấy khó đánh, Nguyễn Ánh tính đến
kế phản gián, sai người bảo Tham tán Tây Sơn là Từ Văn Tú thuyết Tiểu
triều Nguyễn Bảo giết Lê Trung. Mặt khác ông tính tuyệt lương địch bằng
cách sai Nguyễn Văn Biện giữ Tam Kỳ còn Lê Tấn Tham thì theo sông Thanh
Hà đốt luỹ cản trở tiếp tế giữa Nam, Ngãi.
Nhưng nếu Tây Sơn
bối rối vì hụt lương thì Nguyễn cũng không hơn gì. Từ lúc mở chiến
dịch, họ đã mang lương mễ hơn 12.700 vuông gạo, 500 vuông muối, hợp với
12.800 vuông gạo và 3 vạn quan tiền chở đến Cầu Hin tháng 6 năm ngoái
(1796). Không may, Trương Phúc Luật đem thuyền tiếp tế bị gió cản, cướp
biển đoạt (Tề Ngôi hải phỉ?), khiến quân Quảng Nam chỉ còn có 5 ngày
lương. Cuối tháng 7 đầu, Nguyễn Ánh phải cho lui quân mà không hay rằng
thuyền lương kế tiếp đã tới vũng Quất (Quảng Ngãi). Nguyễn Văn Thành
chiếm được Phú Yên cũng đành bỏ.
Chiến tranh kéo dài trong 4
tháng, quấy đảo Quảng Nam, đe doạ Phú Xuân trong 3 tháng đã mang lại
vui mừng, hi vọng cho các giáo sĩ cùng dân chúng ở vùng này, tưởng như
sắp được thoát ách Tây Sơn. Họ thất vọng vì quân Nguyễn rút lui5, nhưng binh tướng Gia Định thì lại phấn chấn tinh thần hơn lên.
Cuối
năm Đinh Tỵ, Nguyễn Ánh dẹp được loạn Ba Phủ mới nổi. Đầu năm sau (Mậu
Ngọ 1798), Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương định đem 7.000 quân giúp
Xiêm đánh Miến Điện6. Rõ ràng là Gia Định càng ngày càng tự thấy làm chủ mình và muốn làm chủ người nữa. _________________________________________ 1. Thực lục q5, 9ab. 33a. 2. Thực lục q8. 26b, q9, 5b. 3.
Chi tiết về số lượng thuỷ quân do bức thư của Olivier gửi cho St.
Lefèbre de Tranquebar, 16-4-1798, trích của A.Slles. “Les Français au
service de Gia Long. J.B.Chaigneau”, BAVH, Janv-Mars 1923. 4. Thư Labarlette cho Letondal, 6-10-1797 (A. Launay, III, t.242) 5. Thư Labartette cho Letondal. 6-10-1797 kể trước. Chuyện tiến quân lấy ở Thực lục, q9, 19b - 27a. 6. Thực lục q9, 37a, q19, 2a. Đám nho sĩ khỏi lo về phía Hoàng tủ Cảnh. Đông cung sống đúng cung cách
của một ông hoàng Đông phương: ông vừa có 3 vợ mùa xuân năm ngoái1.
Và tháng 3 năm nay (1798), chính ông đã xin làm truyện các bậc trung
thần để người ta theo đó mà được dạy dỗ rộng rãi cho trung thành với
quân quyền hơn2. Còn nói chi đến Nguyễn Ánh. Tuy vẫn còn kính trọng Pigneau, ông đã bắt đầu biết lợi dụng ông này.
Ngày
Tết năm Đinh Tỵ (1797), Pigneau đến chúc đầu năm thì Ánh đề nghị ông đi
cùng với Cảnh theo quân. Nhớ lại chuyện rắc rối kéo dài ở Diên Khánh
trong 2 năm trước, ông từ chối. Mười lăm ngày sau, Ánh mời đi chơi để
nói lại chuyện đó nhưng ông vẫn khăng khăng không nhận. Ánh bèn giở thủ
đoạn chính trị ra. Lúc trở về, ông tỏ thái độ không bằng lòng đối với
Thiên Chúa giáo. Ông bảo rằng ông đã phải chịu đựng rất nhiều để cho
đạo hoạt động trong nước chỉ vì ngưỡng mộ Pigneau, chỉ vì ông này đã
làm ơn cho ông. Bây giờ thì nhất định phải xét lại vấn đề đó. Ông lôi
một viên quan có đạo ra bắt lạy các bực tiên hiền cho kỳ được để khủng
bố tinh thần Pigneau. Quả nhiên Pigneau chịu nhún, đành phải nhận lời
đi Diên Khánh3.
Bọn
nho sĩ trong triều lại có thế để mà tuyên dương đạo học của họ lên. Sử
quan kể một chuyện xảy ra trong tháng 5 Mậu Ngọ (1798) như sau, có thể
tóm thâu được hết cả tình hình độc chiếm tư tưởng lúc bây giờ:
“Đất
Gia Định chuộng đạo Phật. Có vị cao tăng phạm tội vua muốn giết. Gặp kẻ
cản ngăn, lấy lẽ đó là bậc chân tu, Nguyễn Ánh trả lời rằng: “Chân tu
thì có ích gì cho nước?” Ông bắt kiểm tra hoà thượng, đạo đồng chỉ miễn
dao dịch cho những tăng chúng trên 50 tuổi mà thôi, còn dưới 50 vẫn
phải làm xâu như dân thường. Quần thần can làm Ánh lưỡng lự, Ngô Tòng
Châu bèn lấy tính cách phụ đạo Đông cung tâu lên Cảnh: “Quân thượng
ngài ngại đạo Phật hưng thạnh mà quần thần không tán thành ý đó lại
ngăn cản đi. Thần sợ việc làm nửa chừng rồi thôi thì kẻ kia lại bậy bạ
ngông cuồng hơn ngày trước. Tăng nhân đối với thần không có ghét bỏ
riêng tư, nhưng mà cái hại của Phật, Lão còn hơn Dương, mặc nữa, chẳng
lẽ không nói”. Hoàng tử Cảnh đồng ý. Tòng Châu bèn dâng sớ bài bác thậm
tệ, Vua mới không phân vân nữa mà quyết thi hành việc kiểm soát tăng
chúng”.
Sử quan cũng nhân dịp này mà chêm vào một câu: Bá-đa-lộc nghe Châu bài bác “Tả đạo” trong lòng cũng ghét4.
Quả vậy, nho sĩ đã thắng thế rõ rệt. Tháng 10 năm đó, Pigneau đi Diên
Khánh với Cảnh. Tuy rằng ở đó Tống Viết Phúc vào tháng giêng năm sau
(1799) nói hỗn với ông còn bị cách chức lôi về Gia Định5, nhưng hợp với lúc J. Dayot đã đi, V. Olivier sắp bỏ chức, uy thế Tây phương hạ xuống rõ rệt ở xứ này.
Nho
sĩ dựa vào sự trù phú của Gia Định, gặp dịp Tây phương rối loạn trong
những chuyển mình về kinh tế, xã hội, mắc lo nội bộ không rảnh phát
triển về phương Đông6,
lớp nho sĩ đó của đất Việt đã thu thập được một ít kỹ thuật tiến bộ của
Tây phương để lớn lên, nhưng chịu đựng được những dao động do sự tiếp
viện đem lại để vẫn làm chủ được tình hình. Họ đã biết đem trùm lên
trên phần đất miền Nam còn đầy phức tạp với những ảnh hưởng tứ xứ và
bản thổ, một lớp sơn Nho giáo đem từ phương Bắc xuống mà tính cách cứng
cỏi còn được ghi nhận đến mãi sau này và còn lưu dấu trong toàn thể
chính sách quốc gia một khi nền thống nhất được lập lại. _______________________________________ 1. Thư Lelabousse cho Boiret, 5-1797 (A.Launay, III, t.288). 2. Thực lục q10, 3a. 3. Thư Pigneau cho Boiret, 12-4-1797 (A.Launay, III, t.310, 311). 4. Thực lục q10, 12b, 13a. 5. Thực lục q10, 14b-20a. 6.
Pháp không thi hành được hiệp ước Versailles chỉ để bốn phiếu lưu giúp
nên cạnh tranh nhau, tố cáo nhau làm mất mặt Tây phương trước dân bản
xứ. Chúng ta đã thấy vụ Mãn-noàỉ chứng tỏ sự xung đột Bồ - Pháp về Đạo
cũng như về Đời trên đất Gia Định. Xung đột còn mãi đến 1801 khi người
Bồ tố cáo L.Barizy đầu độc chủ tàu tên R.Henderson, và làm cho Barizy
phải bị tù (Chuyện từ thư của Barizy cho Letondal, BAVH, Oct-Déc, t.380-384). __________________________________________________________Tiết 18
ĐÁNH VÀ GIỮ Ở QUY NHƠN
Nỗi
khó khăn và những phản ứng của Phú Xuân * Chiến thuật ngoại giao của
Nguyễn Ánh * Chiến trận chiếm thành Quy Nhơn * Lòng quyết chiến của Tây
Sơn ở Thang Mộc ấp của họ * Trận thuỷ chiến Thi Nại (1801).
Chiến
tranh dữ dội trong 3 tháng ở Quảng Nam trả thù những thất bại của quân
Nguyễn 24 năm về trước đã làm nức thế những người tự nhận là của phe
Gia Định ở miền này và gây khủng hoảng thêm cho triều đình Phú Xuân.
Ta
đã nói đến vai trò của các cựu thần, các phiên thần nhà Lê, nhà Nguyễn,
nhưng dưới quyền Tây Sơn còn có một nhóm người mang tính cách chống đối
ngay từ căn bản tư tưởng: nhóm đạo đồ Thiên Chúa giáo. Thực ra, hoặc vì
mang tính cách xuề xoà của người Việt về vấn đề tôn giáo hoặc vì lý lẽ
chính trị không muốn gây bất mãn trong dân chúng để nhờ cậy Tây phương
qua các giáo sĩ, Tây Sơn đã từng để yên cho các giáo đồ hành đạo. Cuộc
nổi loạn lấn chiếm của Tây Sơn có một phần nào bài bác những tin tưởng
cũ đã được giáo sĩ Labarlette ở Thuận Hoá vui mừng ngóng đợi tương lai
xán lạn cho tôn giáo của ông. Và cũng vì những lẽ đó nên có giáo sĩ mới
cho rằng dưới triều Tây Sơn tôn giáo phát triển tiến bộ.
Nhưng
ta lại đã nói thêm rằng dù Nguyễn Ánh, dù anh em Tây Sơn cũng đều chia
sẻ ý thức hệ Việt Nam hỗn tạp những tin tưởng Nho, Phật, Lão, Thần cho
nên sớm muộn gì cũng có xung đột với tin tưởng từ phương xa tới còn
nhiều sắc thái khá khác biệt. Cho nên, Nguyễn Nhạc đưa ra một phụng
truyền bắt phá các chùa nhỏ ở làng để lập chùa lớn mỗi tổng thì đồng
thời cũng bắt phá các nhà thờ để lấy vật liệu cần thiết cho việc xây
cất kia. Lệnh bài đạo năm 1785 được tung ra vì một xung đột nghi lễ,
tục lệ. Nội dung sắc lệnh bài đạo ngày 17-8-1798 đưa lý lẽ: “Xét rằng
kiến thức điều khiển quốc gia đều gồm trong tam cương, ngũ thường (...)
trong khi đạo Hoa lang lại đầy mê tín, dối gạt dân chúng và đảo lộn
trật tự xã hội”1.
Thế
mà những biến động chính trị còn làm cho vấn đề phức tạp hơn. Việc
Pigneau xả thân vượt biển giúp Nguyễn Ánh đã được những thương nhân đi
Macao về nói lại2.
Tây Sơn biết rõ ràng, tất nhiên họ nghi ngờ nhóm giáo sĩ dưới quyền họ.
Về phần giáo dân và những người lãnh đạo, theo khuynh hướng cục bộ, họ
cũng hướng về Gia Định3 không cần biết rằng ngay ở đó đám nho sĩ đang chèn lấn các linh mục và đã thắng thế.
Những
mâu thuẫn càng gay gắt hơn theo với tình thế. Quang Trung còn vững chãi
nên chỉ dùng để làm phương tiện bóc lột các tín đồ, bù đắp thiếu hụt
ngân sách thôi: tháng 7-1791, ông bắt giáo dân từ Phú Xuân trở ra phải
nộp 10.000 cân đồng4.
Đến Cảnh Thịnh thì nguy cơ đã lớn hơn. Các đạo đồ theo thời thế đã
chống đối rõ rệt. Với các nhà truyền giáo thì việc bức đạo ở Quảng Ngãi
tháng 8-1798 thực là dã man. Nhưng họ cũng công nhận rằng Lê Trung bắt
một thầy giảng là cốt để phăng lần đến tung tích cha Dominique do
Pigneau gởi tới đang lẩn trốn ở Phú Yên5.
Tây Sơn nghi ngờ những người này có nhiệm vụ do thám binh tình cho chúa
Nguyễn. Cũng như linh mục Emanuel Triệu tử vì đạo trong chuyến này vốn
là người quê Tống Sơn, bái quận của nhà Nguyễn, sinh ở Phú Xuân, có cha
chết trong khi chống Tây Sơn năm 1775, có gia đình vào Đồng Nai và
chính ông cũng đã ở trong đội cận vệ của chúa Nguyễn6. Nghi ngờ của vua quan Tây Sơn nếu không đích xác thì cũng có lý lẽ biện hộ.
Chiến
thuật ngoại giao của Nguyễn Ánh cũng mang lại những tác dụng quấy rối
đáng kể. Từ lúc ở Xiêm về, ông vẫn cố giữ lấy tình giao hảo với Phật
vương để lấy thế tựa bên ngoài nhất là khi hiệp ước Versailles đã không
được thi hành. Mỗi lần đánh thắng trận, mỗi lần có rắc rối ở biên cương
- như với Chiêu-thùy Biện ở Cao Miên - ông đều sai sứ sang Xiêm với lời
lẽ mềm mỏng. Sứ bộ 16-12-1797 gồm có Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Kế Nhuận,
Ngô Nhân Tĩnh7. Rồi
tháng 8 năm sau (1798) lại có sứ sang Xiêm. Quan trọng hơn cả là sứ bộ
tháng 2 Kỷ Mùi (1799) xin Xiêm vương đem quân Chân Lạp, Vạn Tượng đánh
vào mặt sau của Nghệ An. Người trông coi việc vận động với Vạn Tượng là
Nguyễn Văn Thoại (Thuỵ), Lưu Phước Tường... Từ Diên Khánh, Nguyễn Văn
Thành cũng dâng mưu đem các thuyền cướp biển bắt được dâng với Thanh đế
để chia rẽ với Tây Sơn. Sứ bộ Ngô Nhân Tĩnh đi làm việc đó, thêm việc
dò Lê Hoàng vào tháng 6 Mậu Ngọ (1798).
Những hành động đó đã
làm cô lập thêm Tây Sơn. Nhưng phía Nguyễn Ánh cũng gặp những khó khăn
nội bộ. Loạn Ba Phủ đang còn là một thứ “tâm phúc chi ưu” dằng dai thì
tiếp đó Cai cơ Thuận Thành là Nguyễn Văn Phong lại “làm phản” chiếm sóc
Kha8. ______________________________________ 1. Thư giáo sĩ Longer cho Giám đốc nhà Dòng các Phái đoàn Truyền giáo, Tonkin, 3-6-1799 (A.Launay, III, t.250.) 2.
Thư Longer gởi cho Dufresne, 1-5-1786, cho Letondal, 9-8-1786,
Labartette cho Descourvières, 16-5-1788, cho Letondal, 18-6-1788
(A.Launay, III, t 162). 3. Thư Le
Gire gởi cho cha mẹ, 11-1-1796, cho Boiret từ Kẻ Lương, Thượng
Cochinchine, 12-1-1796, có câu: “Chúng tôi nóng đợi Vua tới... người ta
quá hi vọng Vua từ Đồng Nai tới khiến chúng tôi sai lầm... (A.Launay,
III t 239, 240). 4. Thư Longer cho Giám đốc Nhà dòng các Phái đoàn Truyền giáo 14-4-1792 (A.Launay, III, t.239). 5. vụ Nguyễn Bảo kể sau. 6. Giáo sĩ Labartette kể lại (A.Launay, III t.251-256), thư Longer 3-6 kể trên. 7. Hai tờ chiếu sai của Nguyễn Ánh, một có ghi chi tiết lễ vật, tất cả để ở từ đường họ Nguyễn Huỳnh, xã Khánh Hậu, tỉnh Long An. 8. Thực lục q10, 13b. Tây Sơn lo tìm cách thanh toán bên trong. Đầu tiên là vụ Nguyễn Bảo.
Nguyễn Bảo sau trận Quy Nhơn 1793 chỉ còn ăn lộc có huyện Phù Ly. Bị mẹ
già nói khích, Bảo ấm ức chờ cơ hội. Lúc đánh ra Quảng Nam, Nguyễn Ánh
đã saì người dụ Bảo tập kích Lê Trung. Thế rồi tháng 11 năm Mậu Ngọ
(1798), viên Hiếu công Phù Ly này tung quân chiếm Quy Nhơn, Lê Văn
Thanh phải bỏ cả quân lính, cạo trọc đầu, ăn mặc rách rưới, trốn chạy
lên rừng.
Nguyên do tức thời của biến loạn có lẽ là vì sự
khuyến khích của Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường lúc bấy giờ vừa đến
đóng ở sông Đà Rằng. Mặt khác cũng vì rối loạn ở Phú Xuân. Trần Quang
Diệu vừa bị tước hết quyền bính, Bảo tin rằng tiến quân ra sẽ phối hợp
được với quân Lê Trung, người từng chiến đấu bên cạnh Diệu. Nhưng Quang
Toản đã kịp thời sai Diệu dụ Lê Trung. Bảo phải rút về cố thủ ở thành
Quy Nhơn, sai Đại Đô đốc Đoạn Văn Cát, Đô đốc Nguyễn Văn Thiệu đang
đóng ở Hội An (Phú Yên) đưa thư xin hàng Nguyễn Ánh. Chính Quang Toản
đích thân vây thành. Cuộc công hãm kết thúc nhanh chóng vì quân trong
thành mới là của Quang Toản hôm trước nên đêm lẻn ra chỉ chỗ phòng thủ
sơ hở cho bên ngoài. Cứu binh Nguyễn Văn Thành chưa tới kịp thì Nguyễn
Bảo đã bị xử theo “tam ban triều điển” rồi. Việc này dẫn theo cái chết
của Lê Trung, việc trốn tránh của Lê Chất1 và chắc có ảnh hưởng xa gần tới cái chết của Nguyễn Văn Huấn nữa.
Tuy
nhiên quân Nguyễn có muốn thừa thế tiến đánh nữa cũng phải gặp sức phản
kháng kịch liệt của Tây Sơn vì đất từ nay họ phải chiếm là nơi phát
tích của kẻ thù. Tây Sơn đã tổ chức cả phủ Quy Nhơn thành một đồn binh
rộng lớn: dân biến thành lính, mỗi ấp chia thành đội ngũ, ai nấy đều
được miễn thuế thân để nức lòng đánh giặc. Truyền thống chiến đấu bừng
trỗi dậy gây kính nể cho quân Nguyễn. Mùa xuân 1799, trận chiến Quy
Nhơn lại bắt đầu chuẩn bị ở Gia Định. Kho tạm ở Cầu Hin chứa 169.000
vuông gạo từ Gia Định tới hợp với 22.100 vuông gạo, 53.500 vuông lúa,
3.000 cân thuốc đến năm ngoái ở Diên Khánh dành phát cho chiến dịch.
Nguyễn Văn Thành đem bộ binh đóng ở Diên Khánh trước.. Hoàng tử Cảnh
được lệnh bảo Nguyễn Long giữ chặt Tam Lãnh không để lộ tin tức ra
ngoài. Thuỷ binh thì theo Nguyễn Văn Trương.
Tháng 4 âm lịch,
Nguyễn Ánh đến Cầu Hin phân phối kẻ giữ người tiến rồi theo thuyền ra
cửa Thi Nại. Nguyễn Huỳnh Đức, Võ Tánh đổ bộ đóng ở Phủ Trung; quân
Thần Sách qua sông Càn Dương đánh Tây Sơn ở gò Cũ rồi chiếm đóng suối
Tre2, đe doạ Thái phủ Lê Văn Ứng. Quân Nguyễn đổ bộ mau như vậy nhờ tình cờ lợi dụng một rối loạn nội bộ của Tây Sơn.
Nguyên
Trần Quang Diệu vẫn có mối thù với Lê Văn Ứng về việc Ứng xúi Quang
Toản giết Lê Trung nên bàn với Vũ Văn Dũng: “Lê Văn Thanh là phe ta, ta
đem binh thuyền vào Thi Nại, mật ước với Thanh nghe súng hiệu ở cửa
biển, lừa Ứng rằng quân Gia Định đánh, sai Ứng một mình đến cho ta tập
kích bắt”. Diệu tâu với Quang Toản rằng Quy Nhơn là đất căn bản cần
phải cho bầy tôi thân tín giữ nên sai Ứng đi. Gặp lúc quân Gia Định ra
bắn 3 phát súng, Lê Văn Thanh tưởng binh Diệu, Dũng mới không phòng bị
mà sai Ứng đi như đã bàn trước. Không ngờ quân Nguyễn tiến chiếm cả
vùng duyên hải, Thanh mới vội vã phân binh với Ứng đón ở Thốc Lốc3, gò Dê. _______________________________________ 1. Chuyện Nguyễn Bảo tổng hợp của Thực lục q10, 16ab, 17b, Liệt truyện q30, 17ab, 46b, 47ab, Hoàng Lê,
t.279, 280, thư của Lelabousse cho Giám đốc Nhà Dòng các phái đoàn
Truyền giáo, tháng 6-1799, thư khác ngày 24-4-1800 (A.Launay, III,
tr.259, 260). Về nguyên nhân, Hoàng Lê ghi Diệu đưa mật thư bảo Lê Trung phò Bảo. Trung đã kéo quân về đến Quảng Nam “trong ngoài khiếp sợ”. Còn Liệt truyện
cho biết nhân dịp Lê Trung vắng mặt ở Qui nhơn, Nguyễn Bảo mới chiếm
thành. Có lẽ ở Phú Xuân người ta hoảng lên vì cuộc điều động quân của
Nguyên Bảo và Lê Trung chớ chắc Trung chưa có hành động nào rõ rệt là
theo Bảo mới dám theo Diệu về ra mắt Quang Toản rồi đi vây Qui Nhơn.
Tuy nhiên, thư Lelabousse có câu “(Bảo) profitant de la division qui
était entre les grands mandarins”, ta mới có câu kết tạm như trên. Về
tên người và diễn biến, Thực lục cho Lê Trung chết ở Thuận Hoá vì Trần Văn Kỷ xúi giục Quang Toản giết. Hoàng Lê cho là vì Thái phủ Màn, và Trung chết ở Qui Nhơn. Liệt truyện
cho Trung chết vì Lê Văn Ứng (Thái phủ Màn) dèm pha. Lelabousse không
nói đến tên, nhưng nói đến một người bị cách chức rồi bị chết thảm
khốc: “chặt 4 chân tay, chém sả đầu, bêu lên, mình đốt ra tro vứt khắp
nơi”, là một “chiến tướng có tài, lên chức cao bằng sức mình” - chắc
ông chỉ Lê Trung. Người giữ thành khi Nguyễn Bảo làm loạn, Thực lục ghi Nguyễn Văn Hưng (Phạm Văn Hưng), Hoàng Lê cho là Lê Trung thay Thái bảo Hóa (Nguyễn Văn Huấn) từ khi Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng giảng hoà, Liệt truyện
nói Diệu xin Lê Trung giữ Qui Nhơn thay Huấn. Khi Trung dẫn quân về Phú
Xuân thì để lại thành cho Uyên Thanh hầu ở lại giúp Bảo, Bảo nghe lời
mẹ xúi và tin lời hứa của Nguyễn Ánh “tội cha không bắt đến con” nên
mới nổi lên bắt giam Thanh Uyên hầu, chiếm Qui Nhơn. Lelabousse kể
chuyện viên trấn thủ ở đó phải cạo đầu chạy trốn trên rừng, rồi sau ra
lệnh giết Lê Trung “thay mặt Thượng đế trừng phạt ông này” về tội bắt
giáo sĩ(!). Riêng chứng cớ này còn tỏ rằng Trung chết ở Qui Nhơn. Liệt truyện
dùng lẫn lộn Uyên Thanh hầu và Thanh Uyên hầu nhưng chắc cũng chỉ một
người, có thể là Lê Văn Thanh, người được Quang Toản cho giữ Qui Nhơn
khi dẹp Bảo xong (Tây Sơn cũng từng có 2 tên Hô Hổ hầu và Đô đốc Hô
chắc cũng chỉ một người). Chắc Thanh nghe lệnh giết Trung, nhưng vẫn
giữ cảm tình đồng liêu, nên che chở cho Lê Chất khi Chất giả chết bị lộ
về đầu. Mọi oán thù trút cho Lê Văn Ứng nên Thanh, Diệu, Dũng lập mưu
giết Ứng (xem sau) và sau này Lê Chất hàng Nguyễn Ánh mới tìm Ứng đánh
đuổi để lịch sử ghi lại cả ở Hoàng Lê lẫn Thực lục.) 2. Trúc Khê của Thực lục, một nhánh của sông La Tinh chảy vào đầm Nước Ngọt. 3. ĐNNTC, tỉnh Bình Định, gọi là “Phúc Lộc”. Chữ của Thực lục là “Ngốc Lộc, Thốc Lộc”. Hình như chính chữ là “Trọc Lóc”. Cũng như những trận đánh trước, Nguyễn Ánh thừa thế thuỷ quân tiến xa
về phía Quảng Ngãi, sai Nguyễn Văn Trương tuần thám ngoài biển, để Lê
Văn Duyệt, Nguyễn Đức Thiện đến Tân Quan giữ núi Cung Quăng, Bến Đá,
Đoạn Văn Cát giữ núi Thái An, Vĩnh Thuận chặn quân tiếp viện của Diệu,
Dũng.
Ghé đầm Nước Ngọt đốt lương, chém Đại đoàn luyện tên
Giảng, Lê Văn Duyệt đến Bến Đá cùng dân ứng nghĩa Quảng Ngãi giữ hang
Tối Trời, núi Sa Lung có dân Thượng phụ giúp bên trong. Võ Tánh, Nguyễn
Huỳnh Đức tiến đến đồng Cây Cầy đuổi Thiếu uý Trương Tấn Thuý, bắt 13
voi, đuổi theo đến cầu Tân An giết Đô đốc Nguyễn Thực đổi tính mạng Vệ
uý Hữu vệ của quân Thần Sách là Tôn Thất Nông. Ở Phú Yên, Tham đốc
Nguyễn Văn Điềm hàng Nguyễn Văn Thành.
Chiến thắng làm dao
động tinh thần binh tướng Tây Sơn. Bây giờ Lê Chất mới có dịp mang 200
quân ra hàng Võ Tánh cùng với Đại Đô đốc Vũ Đình Giai, Nguyễn Văn Điểm,
Đô đốc Lê Văn Niệm, Hồ Văn Viện, Trương Văn Lân, Đô uý Mai Gia Cương,
Nguyễn Văn Trí. Quân hàng được theo Nguyễn Huỳnh Đức ở suối Tre đánh
giặc.
Lương thực thu tại chỗ, lấy thuế ruộng của dân chưa nạp
cho Tây Sơn đem chứa vào kho Nước Mặn. Chính sách đó cũng tiếp tục
trong tháng 5 khi Tây Sơn đánh đập Cát, lui toán binh Miên (Xiêm binh).
Họ phải mất 20 voi trước thế hợp tác của lính Miên và đội chiến tượng
của Nguyễn Đức Xuyên. Dân Tuy Viễn phải theo Nguyễn Văn Thái hàng tướng
từ (1793) đánh giặc, ăn lương trong số thuế điền của 3 huyện Tuy Viễn,
Phù Ly, Bồng Sơn.
Tháng 6, Nguyễn Văn Thành vượt qua sông Lò
Gạch (Đào Lô), chiếm Ưu Đàm để phó tướng Trương Tấn Bảo chiếm An Giá,
Đầm Sấu. Nhưng lúc bấy giờ Nguyễn phải lo chống với tiếp viện của Tây
Sơn, Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng đến Quảng Ngãi nghe Tân Quan bị chiếm
bèn bỏ thuyền lên bộ. Diệu đóng ở Bến Đá để Dũng lén đem quân qua suối
nhỏ tập kích quân Nguyễn. Sử quan kể rằng quân đi trong đêm có người la
“con nai” rồi truyền đi thành “quân Đồng Nai”. Binh rối loạn để Tống
Viết Phúc đánh hôi lập được công. Thuỷ quân Gia Định lại thắng tiếp ở
cửa Mỹ Á, truy kích đến Sa Kỳ.
Trần Quang Diệu giấu tin thất
bại của Dũng, rồi bỏ Bến Đá về đóng ở Thanh Hảo chờ viện binh thuỷ của
Trần Viết Kết. Nhưng Tống Phúc Lương phá được Thống binh Phiền Văn Tài
coi đám Tề Ngôi ở Kim Bồng, truy kích mãi tận Phú Yên rồi trở lại với
Tống Viết Phúc giữ chặt ngoài khơi đầm Mân Khê.
Trên đất liền,
Lê Văn Ứng nghe tin viện binh đến bèn đem 6.000 quân cùng 50 voi lên
Tây Sơn thượng lấy lương, bị Võ Tánh biết được điều động Nguyễn Văn
Thành mang tướng hợp với Nguyễn Đức Xuyên, Lê Chất... đánh tan ở Kha
Đáo. Viện binh ngoài không có, lương trong thành thiếu, Tổng quản Lê
Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đại Phác, thiếu uý Trương Tấn Thuý
mang 10.300 người ra hàng (tháng 6 âm lịch 1799)1.
Thế
là căn bản Tây Sơn đã mất. Nguyễn Quang Toản ở Phú Xuân cũng nôn nóng
phải thân cầm binh vào Trà Khúc sai Nội hầu Lê Văn Lợi đem 1.000 quân
cùng 20 voi đến đầm Mân Khê. Trần Viết Kết đem 100 thuyền định tràn vào
Sa Huỳnh đánh sau lưng Nguyễn Văn Lợi lúc bấy giờ đang cố chống với Lê
Văn Lợi. Bị bão đắm thuyền, Kết bỏ quân chạy về Cổ Luỹ. Kinh nghiệm này
làm Kết hết sức gàn trở dự định tiến quân đánh nữa của Quang Toản. Kết
cục Toản về Phú Xuân, Diệu, Dũng về Quảng Nam, lưu Tiết độ Nguyễn Văn
Giáp giữ Trà Khúc.
Nguyễn Ánh mệt mỏi nên cũng không đuổi nữa,
chấm dứt chiến tranh trong tháng 8 để lo tổ chức cai trị Quy Nhơn, thu
dụng năng lực nhân, vật vùng này.
Trước hết, như đã nói, đất
Quy Nhơn đã được Tây Sơn biến thành một đồn quân khổng lồ. Nguyễn Ánh
làm chủ mới phải lo thi hành một chính sách nhặt nhiệm khôn khéo. Vì
chú trọng đến việc thu phục nhân tâm mà tháng trước đó quần thần đã can
ông đừng thu thuế thân là thuế Tây Sơn đã tha cho dân chúng. Tướng
Nguyễn Công Hu lên vùng Tây Sơn hiếp gái, lấy của bị đem trị tội ngay.
Tiếp theo là việc kiểm soát dân, lính. Ánh sai quân Nguyễn hợp với bọn
hàng tướng coi 6 thuộc của 3 huyện Quy Nhơn, phân hàng điểm duyệt
18.900 binh sĩ cũ. Chỉ những người bị thương mới không vào sổ đội ngũ
mà thôi. Lại có một sổ riêng cho những người chỉ huy. Khi làm sổ rồi,
ai ở đâu yên đấy, dời đổi một ấp, một thôn đều bị tội. Như vậy tạm thời
Nguyễn Ánh kiểm soát đám dân binh Tây Sơn khỏi làm loạn. Ông lại còn
dùng lợi nhử họ phản bội đồng ngũ cũ: dân Quy Nhơn ai bắt được lính Tây
Sơn người Bắc, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thuận Hoá ẩn trốn trong thôn ấp,
ngăn trở họ khỏi mưu chạy về Phú Xuân thì được miễn dao dịch. Ai chứa
chấp, biết mà không tố cáo thì bị tội.
Nhưng tinh thần chiến
đấu của dân binh nung đúc trong lò Tây Sơn đã làm cho Nguyễn Ánh thán
phục. Ông lấy dân ở đây tổ chức thành Ngự lâm quân định lập một đội
quân ưu tú nữa sau các đội Thần Sách. Chính sách hơi vội vã khiến có
nhiều sơ hở. Sau này khi ra giải cứu Võ Tánh, bọn Ngự lâm quân bỏ chạy
rất nhiều để chiến đấu chống đối lại tận lực. Nhưng điều đó không tránh
khỏi càng tỏ rõ sự bao dung, sáng suốt của Nguyễn Ánh muốn mở đường cho
quân địch về hợp tác, trái hẳn với thái độ hẹp hòi của bọn tuỳ tướng
như Tống Viết Phúc chẳng hạn.
Sau khi cải thành Quy Nhơn ra
thành Bình Định để tuyên dương công trận, khuyến khích tướng sĩ thấy
trước thắng lợi cuối cùng, Nguyễn Ánh lo tổ chức cai trị ở đây, sai Võ
Tánh giữ thành với một vạn binh Miên (Xiêm binh) cùng Ngô Tòng Châu,
Trịnh Hoài Đức và bọn hàng tướng Lê Chất. Lúc Nguyễn Ánh đang chuẩn bị
về Gia Định thì Bá-đa-lộc chết ở Mỹ Cang2.
Ánh rất thành thực khi phong tước Quận công cho Giám mục, sai người đến
đọc điếu văn. Sử quan nhân dịp này cũng nhắc việc Bá-đa-lộc “tận tâm
giúp đỡ” Đông cung Cảnh hồi đi Tây. Nhưng cái chết của ông xảy ra vào
lúc Nguyễn Ánh thắng mạnh ở cội gốc Tây Sơn đã chấm dứt một quá khứ nhờ
cậy, kêu xin. Vấn đề chính trị quan trọng còn lại chỉ là thái độ đối
với tướng cũ Tây Sơn mà thôi. _______________________________________ 1. Các giáo sĩ cho biết thành có 40.000 quân tinh nhuệ ra hàng với vũ khí và 120 chiến tượng (A.Launay, III, t.292). 2. Nhà thờ này ở làng Mỹ Cang quận Tuy Phước (Bình Định). Tháng 10 Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Ánh ban sư về Gia Định. Việc mất thành
Quy Nhơn cũng gây ra rối loạn về phía Tây Sơn, theo lẽ thường của một
triều chính nghiêng ngửa có những kẻ giữ trách vụ nhưng không muốn đảm
đương trách nhiệm. Ở Thuận Hoá, Kiểm điểm Trần Viết Kết, Phụng chính
Trần Văn Kỷ, Thượng thư Hồ Công Diệu giả thư Quang Toản nói Quy Nhơn
mất là tại Trần Quang Diệu, đưa cho Vũ Văn Dũng bảo Dũng giết đi. Không
ngờ Dũng được Diệu ém nhẹm việc thua quân ở Quảng Ngãi, hàm ân nên mới
đưa thư cho Diệu xem.
Trần Quang Diệu tức tốc kéo binh về bờ
nam sông Hương vây thành. Kỷ đổ cho Kết, trốn mất để Hồ Công Diệu chịu
tội thay. Ổn thoả nội bộ rồi, việc chính của Tây Sơn là lo lấy lại đất
Quy Nhơn. Hai viên tướng nổi bật, được nhắc nhở từ đây là Trần Quang
Diệu và Vũ Văn Dũng, đến nỗi đối địch, Nguyễn Ánh truyền rao ai bắt
được 2 người ấy, Chánh quản được phong tước Công, Phó quản thêm một
hàm, thưởng tiền vạn quan. Danh tiếng Trần Quang Diệu có phần lấn át cả
Vũ Văn Dũng. Giáo sĩ De la Bissachère1
đã khen “viên tướng mà ngay ở Âu châu người ta cũng phải coi là dũng
mãnh, anh hùng”. Lực lượng dưới quyền ông tỏ ra vững mạnh đến nỗi khi
gần tàn cục vẫn còn làm cho Giáo sĩ tưởng rằng đạo quân đó có những
danh tướng chỉ cần ló mặt ra là quân Nguyễn phải rút về và đủ để đánh
tan đạo quân gấp 3 lần quân chiến thắng luỹ Thầy!
Tháng Giêng
Canh thân (1800), Vũ Văn Dũng đổ bộ lên Thi Nại, Trần Quang Diệu mang
bộ binh đuổi Nguyễn Văn Biện đang giữ Bến Đá chạy về Bình Định. Võ Tánh
trong thành gọi binh Phú Vên tới. Lưu thủ Hồ Đắc Vạn đã sai người vận
lương tiền trước, nay sai thêm hàng tướng Phạm Văn Điềm cùng Sái Văn
Long lấy du binh đi trước rồi tự dẫn quân theo sau. Đêm qua Cù Mông,
Điềm cùng Đô uý Đỗ Văn Nguyệt, Ngô Văn Huyền, Đô tư Nguyễn Văn Soái,
Hoàng Văn Tráng cùng các cựu tướng Tây Sơn, quay lại chiếm Phú Yên đuổi
Cai bạ, Ký lục chạy về Bình Khang. Điềm làm hàng tướng Tây Sơn phản
Nguyễn sẽ mở đường cho một loạt những hàng tướng trở giáo tiếp theo,
gây khốn đốn cho Nguyễn Ánh nhiều nhất vì cái thế không lùi lại được
của họ.
Sự trung thành này gây ra lo lắng và ngạc nhiên không
ít cho phe Nguyễn. Nguyễn Ánh giải thích là lòng nhớ quê xúi giục họ.
Nhưng điều đó chỉ hợp với binh tướng bị lôi về Gia Định chứ không hợp
với hàng binh ở lại Bình Định và Phạm Văn Điềm. Nguyên do là Tây Sơn
cũng đã tạo ra một lề lối sinh sống mà tướng binh họ còn quyến luyến.
Họ hàng chỉ là thế bất đắc dĩ như trường hợp Lê Văn Thanh sau này đã
lẻn mang một thuyền trốn về Tây Sơn. Tủi nhục của kẻ hàng đầu cũng
khiến họ phải trở giáo: Tống Viết Phúc cứ thường chửi Từ Văn Chiêu là
hàng tướng đến nỗi khi phản lại, Chiêu luôn chận đánh Phúc và giết được
khi chiến thắng quân Nguyễn đã gần kề2.
Riêng
ở đây, Phạm Văn Điềm đã giúp ích Tây Sơn rất nhiều. Ông tổ chức Phú Yên
trong thế tử chiến “bắt hết cả dân làm lính”, đắp 9-10 luỹ chỉ trong
mấy tháng khiến Nguyễn Đức Xuyên nghe thế mạnh không dám tiến nữa mà
phải dừng lại ở Diên Khánh.
Ở Diên Khánh, Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng quyết hạ Võ Tánh. Diệu bao vây 4 mặt từ mồng hai tết Canh Thân (26-1-1800)3.
Ông sai đắp thành đất một vòng ngoài dài 4.340 trượng để làm điểm tựa
công kích. Trong ý chí quyết lấy lại đất cũ, Tây Sơn dùng đến hình thức
khích động tinh thần quân dân. Phan Huy Ích làm bài hiểu dụ dán nơi
quân thứ Quy Nhơn, đã đưa ra những câu kêu gọi đến ý thức địa phương,
khiêu gợi niềm hãnh diện làm dân đất khởi nghĩa một dòng vua:
“Quý phủ ta: cội gốc nền vương, dậu phên nhà nước,
“Miền
thang mộc vốn đúc non xây bể, mở mang bờ cõi bởi từ đây. Hội phong vân
từng dìu phượng vịn rồng, ghi tạc thể quyền dành dõi để.
“Dấu cờ nghĩa đã sáng công dực vận, buổi xe nhung thêm dong sức cần vương.
“Mấy
phen gió bụi nhọc con đòng, giúp oai võ cùng đều nhờ đất cũ. Ba huyện
đá vàng đền tấc dạ, căm cừu thù chi để đội trời chung”
Chúng
ta không có tài liệu để biết về sự sôi động của dân chúng Quy Nhơn khi
Tây Sơn trở lại. Nhưng ngay chính ở đất Gia Định mà Ánh đã coi là căn
bản, khoảng hơn năm sau, L. Barizy cho ta thấy nỗi lo sợ phập phồng của
tướng Nguyễn giữa khung cảnh hiềm thù đe dọa vô hình:
“Lúc nào
chúng tôi cũng trông tin Nhà Vua và mọi người ở đây đều xao động đến
cực độ, nông công binh đều lo lắng. Bọn giặc ở đây có những bè đảng bí
mật không ai hay biết và lâu lâu lại có một tin loan ra gây hoảng hốt
và làm cho dân chúng xáo động.
“Ngày 13 tháng này, lúc 2 giờ
30, lửa bắt đầu trong thành ở 5 chỗ khác nhau, nơi kho lúa gạo, kho vải
vóc, kho tơ lụa, nhà của Vua và các Hoàng tử. Duy chỉ cháy có đồn Tả
quân mà thôi”4.
Nhưng
ở Bình Định, những sự kiện thuần tuý quân sự cũng tỏ rõ được cái không
khí đó. Tháng 4, hàng tướng coi Ngự lâm quân là Võ Văn Sự, Nguyễn Bá
Phong, giết tướng mở cửa Bắc ra ngoài đầu, Võ Tánh thấy mình lo đúng
khi sai Lê Chất đem quân bản bộ về Diên Khánh trước lúc bị vây, bây giờ
bèn bảo bộ tướng Ngô Văn Sở cướp lại thành, chỉ để lọt có 400 người. Để
phòng hậu hoạ, Tánh sai giết bọn hàng binh còn lại. _____________________________________ 1. Ch. B. Maybon, La relation sur le Tonkin..., sđd, t.112, 113. 2. Liệt truyện q13, 10a. Lê Chất (Liệt truyện,
q24) cũng phải chịu cảnh nhục nhã đó tuy không thể phản bội được: khi
Bắc phạt, Chất được coi Hậu quản, phong Bình Tây tướng quân, có người
nói “Chất bình Tây thì ai bình Chất?” 3. Chi tiết theo lời dẫn bằng chữ Nho đặt trên đầu bài dụ trích trong Quốc văn đời Tây Sơn, sđd, t.44 - 49. 4. Thư của L. Barizy gởi cho Letondal, Marquini, 16-4-1801, dẫn bởi G.Taboulet, La geste française, sđd, t. 253, 254, bởi L. Cadière trong BAVH,
Oct-Déc, 1926, t. 397-400. Taboulet trong lời chú (1) của ông cho rằng
nơi nói đến là thành Qui Nhơn, dựa trên lẽ Barizy trong thư 16-7-1801
có dẫn thư ngày 8-5 nói chuyện lấy Tourane hôm 8-3 mà cho ông này có
tham chiến ở đây. Thực ra, thời gian viết thư 16-4, Barizy còn ở Gia
Định, mới ở tù ra. Ngày 17-5 dl, ông mới theo quân tiếp viện Gia Định
ra tới Qui Nhơn. Có lẽ ngày 8-3 là ngày âl vì tuy Barizy có viết rõ “8
Mars”, nhưng vẫn kể chuyện trong các thư bằng ngày tháng âm lịch khi có
liên quan đến trận đánh (như chuyện đồng Cây Cầy), vì lẽ giản dị là
quan, dân ta dùng âm lịch, 8 Mars tương đương với 21-1 Tân Dậu không
hợp với trận đánh nào hết ở Quảng Nam. Chỉ có 8-3 âl (20-4-1801) mới
hợp với trận Tourane mà sử quan ghi vào đầu tháng 3 âl thôi. Và thành
Qui Nhơn chưa giải vây thì Barizy có ở Thi Nại cũng làm sao vào trong
đó được? Thực lục q12, 16a ghi: “Cho Ba-la-di về nước, cấp 1
thuyền” là chỉ việc cho chiếc thuyền chìm đã làm ông ấm ức chớ ông vẫn
còn có mặt ở Thi Nại ngày 27-5 như đã nói, và ở Đà Nẵng sau đó. Nhưng bây giờ viện binh Gia Định đã ra. Đây là lần đầu tiên sử quan xác
nhận vai trò quan trọng của những người Pháp trong thuỷ quân Gia Định.
Tháng 2 năm đó, cho rằng người Hồng Mao (!?) “giỏi thuỷ chiến”, Ánh sai
Cai đội Ba-la-di họp thuyền bè, dự bị quân nhu, chiến cụ đợi lệnh. Đồng
thời, lại cho Nguyễn Văn Chấn coi Phụng Phi Đại hiệu thuyền chở 26 đại
bác, có Renon phụ tá. Tàu Long Phi của Nguyễn Văn Thắng có 32 đại bác,
tàu Bằng Phi của Lê Văn Lăng có 26 đại bác, mỗi tàu chở trên 300 người,
tất cả đều sửa soạn đi đánh giặc1.
Chuẩn
bị đâu đó rồi quân sĩ lên đường vào tháng 3. Những kẻ hăng hái chắc còn
nghe vang vang lời khuyến dụ “thành Quy Nhơn chỉ bắc, đạp phá trùng vi;
đô Thuận Hoá rung cờ, dẹp yên đảng nguỵ”.
Tháng tư nhuận, trên
bộ, Nguyễn Đức Xuyên, Đặng Trần Thường dẫn voi tiến đánh Phú Yên.
Nguyễn Văn Trương vẫn coi thuỷ quân. Trần Quang Diệu vội vã sai thêm Đô
đốc Đào Công Giản, Đô đốc Tuấn vào La Hai, Hội An phụ với Phạm Văn
Điềm. Chỉ đợi Nguyễn Ánh đến vũng Trích sai Nguyễn Văn Thành đổ bộ Xuân
Đài cầm quân trên đất là trận tấn công bắt đầu.
Ở Phú Yên,
chiến thắng tương đối dễ dàng. Nguyễn Văn Thành sai Đô thống chế Lê
Chất, Nguyễn Đình Đắc, Trương Tấn Bửu phân binh 3 đạo đánh Đất Đỏ,
Thạch Kỳ rồi tiến về Hội An. Đô đốc Tuấn và Phạm Văn Điềm phải lui về
gò Ải Thạch dựa núi chống lại. Giáp trận với quân voi của Nguyễn Đức
Xuyên, họ lui thêm về giữ La Hai. Thành sai binh đi vòng đánh tập hậu
đuổi bắt được Giản, Tuấn. Điềm trốn thoát lên núi chờ cơ hội xuống quấy
rối.
Quân Nguyễn cũng gặp khó khăn vì hàng ngũ mới kết hợp dần
dần tan rã. Thực ra binh đã trốn nhiều từ tháng tư đầu nhưng càng đi
sâu vào nội địa Tây Sơn, dân lính Tây Sơn trong quân Ngự lâm càng thấy
có cơ hội để đào ngũ hơn. Lính trốn nhiều đến nỗi Nguyễn Ánh phải lo vỗ
về an ủi Lê Chất và khi cho Ngự lâm quân tiến đến Cù Mông, ông phải sai
Nguyễn Huỳnh Đức ra cầm quân cho chắc dạ.
Tuy nhiên trong
tháng năm âm lịch đường đến Bình Định đã mở. Khi Võ Tánh nghe tin viện
binh tới, bèn mở cửa Nam ra đánh một trận định liên lạc với bên ngoài
nhưng không được, thì mặt trận đồng Cây Cầy (còn gọi là Gò Cầy) bắt đầu
và kéo dài đến nửa năm.
Phải dừng lại để điểm xét địa thế của
vùng phía nam thành Chà Bàn, nơi xảy ra trận chiến quyết liệt, nhiên
hậu chúng ta mới theo sát cuộc so tài này. Đường đi từ Phú Yên ra có
hai lối. Một men theo gần biển qua đèo Cù Mông dọc thung lũng sông Phú
Huề, từ đó có thể đến đồng Bình Thạnh, Phú Trung ở mặt sau Thi Nại để
lên Thành. Về phía tây, nơi thung lũng của hai sông La Hai đổ xuống
phía nam (Phú Yên) và sông Hà Thanh ngược hướng đông bắc (rồi đổ vào
đầm Thi Nại), có đường thông thương ngày nay làm đường liên tỉnh và
thiết lộ. Vẫn ở phía tây, các khe nguồn hợp nên sông Kỳ Lô có những ngõ
ngách giữa núi Chúa, đồng Cây Cầy, nơi quân Nguyễn - Tây Sơn đang giằng
co nhau, nơi mà lần nào tiến quân ra, quân Nguyễn cũng phải tử chiến
mới xô đuổi được Tây Sơn để uy hiếp thành Chà Bàn.
Lúc mới tấn
công trên đất Bình Định, Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đình Đắc, Lê Chất
đi hai bên, Trương Tấn Bửu đi giữa để ông cùng Nguyễn Đức Xuyên đem voi
ứng tiếp đánh núi Lão Hương. Tây Sơn lui về núi Chúa, nhưng viện binh
của họ tới tăng tinh thần binh sĩ. Nguyễn Văn Thành đổ ra đánh từ mờ
sáng tới trưa. Rốt lại chỉ làm cho Nguyễn Văn Sử chết, tướng nản. Lương
Văn Cương, Nguyễn Văn Vân2 đang trông coi Ngự lâm quân mang cả 200 thuộc binh chạy về phía Tây Sơn để tiếp tục chiến đấu.
Lúc
này, Tây Sơn cũng bối rối ở Nghệ An. Ta đã biết việc Nguyễn Văn Thụy
(Thoại), Lưu Phước Tường, Nguyễn Hoài Châu, Lê Văn Xuân đem 150 người
dụ Vạn Tượng đánh sau lưng Nghệ An. Phái bộ đi từ tháng 4 năm ngoái,
đến Viên-chăn vào lúc Nguyễn Ánh sắp rút về nên vua Lào không quyết tâm
giúp. Tháng 3 năm nay, Thụy lại về Gia Định xin thêm người, đến tháng 6
thì đem binh tràn xuống Nghệ An đánh Nguyễn Đình Lạc ở Đồn Bố, đuổi Phò
mã Nguyễn Văn Trị ở Đồn Lam chạy về Thanh. Chiến dịch có lẽ không lấy
gì làm dữ dội, nhưng có tiếng vang lớn vì đánh ngay trong nội địa Tây
Sơn. Các thổ hào, phiên liêu như Hà Công Thái ở Thanh Hoá, Phan Bá
Phụng ở Hưng Hoá cùng khắp nơi Bắc Hà nhân dịp này nổi dậy đánh phá.
Ở
Bình Định, Tây Sơn vẫn chưa bị lay chuyển. Nguyễn Ánh thấy đồng Cây Cầy
vững chắc muốn chuyển mũi dùi tiến quân về dưới đồng bằng. Ông sai Lê
Văn Duyệt với Mạc Văn Tô, Nguyễn Đức Thành mon men ra Phú Trung. Thực
lực không đủ, ông mới đưa thư bảo Nguyễn Văn Thành chia một nửa voi đi
gặp Duyệt. Thành không chịu vì một mặt ông phải lo đối phó với Tây Sơn
đang biết rõ ông vì hàng ngày vẫn có người bỏ qua bên kia, mặt khác ông
phải lo kềm giữ chính quân ông vì “bọn ở lại cũng không đủ tin”.
Chiến
trận càng kéo dài thì tinh thần binh tướng càng lung lay, nhất là ở
những phần từ chưa đồng hoá. Tháng 7, hàng tướng coi Ngự lâm quân là Từ
Văn Chiêu làm phản với Nguyễn Văn Điểm cùng 500 thuộc binh. Tây Sơn lại
được thêm một viên tướng có tài, liều lĩnh, ngăn chặn không biết bao
nhiêu trận tấn công của Nguyễn. Ánh phải vội vàng an ủi Nguyễn Văn
Thành, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương. Nhưng cũng không ngăn được
150 quân Ngự lâm nữa trốn đêm ở Hội An, Ánh gượng giải thích: “nhớ quê,
nhớ nhà, ai lại không vậy”.
Chưa hết bối rối cho Gia Định. Nơi
đồng Cây Cầy. Thành sai người đến núi Chúa chôn thuốc nổ đốt, nhưng
không lui được giặc mà còn làm chết thêm Nguyễn Công Trọng. Khi Trần
Quang Diệu, Vũ Văn Dũng nghe chuyện Nghệ An, muốn kéo binh đánh rốc một
lần ở núi Hoa An nơi mà Lê Văn Duyệt vừa đuổi Tư khấu Định tháng trước,
thì viên tướng Miên Cao-la-hâm-sâm của Thành lại tư thông với Tây Sơn
khiến Ánh vội vã trả lại cho Thành tướng Nguyễn Đức Xuyên (vừa đem voi
và Lê Chất xuống) để đổi quân Miên về giữ Cù Mông. _____________________________________ 1. Thực lục, q12, 4b, 5a. 2.
Không phải Nguyễn Văn Vân, con Nguyễn Văn Trương, bị bạt gió năm 1793,
về năm 1797. Nguyễn Ánh tổ chức 5 đồn quân Ngự lâm quân, lấy hàng tướng
chỉ huy lính cũ Tây Sơn, dưới quyền tướng Ánh. Trong danh sách có tên
Lương Văn Chương, nhưng không có Nguyễn Văn Vân, vì ở đây (Thực lục
q11, 10a 0 12b) chỉ liệt kê Đô thống chế, Thống chế đồn, Trưởng, Phó
chi mà không nói đến Trưởng hiệu, cấp bực của Vân. Trưởng hậu chi của
Vân là Nguyễn Văn Lân. Chiến tranh dằng dai thì vấn đề lương phạn, tiếp tế đạn dược phải gặp
nhiều rắc rối, bất ngờ. Tây Sơn bị Nguyễn Văn Trương cướp mất ở Đề Di 3
vạn vuông lúa cùng thuốc đạn, khí giới chở từ Thuận Hoá, Bắc Hà vào
trên 150 thuyền. Thống lãnh tên Thụy bỏ thuyền lên bộ chạy báo tin
chẳng lành cho Diệu.
Nguyễn Ánh cũng gặp trở ngại. Ông có
lương ở kho Diên Khánh, phụ thêm ở phủ Thuận Thành, ở kho La Hai, Hội
An (đánh thuế điền, đinh nơi lính, dân Phú Yên), ở kho các nơi khác
bằng cách lấy trước thuế năm sau. Lương chở đường thuỷ thường gặp các
thuyền Tề Ngôi cướp phá. Từ khi Trần Quang Diệu vào Quy Nhơn thì đội
thuỷ quân đặc biệt của Tây Sơn này đã lảng vảng vào đến tận Hòn Khói.
Họ lẩn lút trên mặt biển cướp thuyền, thuốc đạn vật dụng của Nguyễn Văn
Yến chở từ Cầu Hin đi. Họ chân đánh thuyền chở cá muối của Bình Thuận.
Một mối cản trở khác chờ đợi Nguyễn Ánh là các luồng gió bấc: trong
tháng 10, thuyền lương chở qua vũng Ma Văn (vũng Nại, Ninh Thuận) bị
gió lớn lật úp, chết hơn 100 người, hao hơn vạn quan tiền, 4 vạn vuông
gạo.
Thiếu lương, Ánh sai Lưu Tấn Hoà đi Bình Thuận, Bình
Khang thu thuế với lời dụ đặc biệt: “cứ tuỳ tiện làm việc không nệ nơi
lệ thường”. Cần gạo, Ánh tính lấy gạo cả nơi người Thượng ở Đồng Hương
nữa. Tháng 11, điền tô tăng. Khó khăn như vậy không trách trong tháng 9
khi Lê Văn Thanh trốn đi, Vệ uý Hồ Văn Huệ bị Tây Sơn bắn chết ở núi
Chúa, Nguyễn Đức Xuyên đã dâng sớ xin dừng binh chờ sang lăm gió hơi
thuận sẽ đánh.
Nhưng một may mắn đã đến với quân Nguyễn. Nhờ
hỏi dò dân Thượng biết được có đường đi vòng đánh tập hậu, Nguyễn Văn
Thành xin thêm Tống Viết Phúc và Lê Văn Duyệt. Nguyễn Ánh đẩy Lê Chất
về La Hai và cho tin quân Cù Mông chuẩn bị. Ngày 5-1 (1801), trận đánh
xảy ra: Lê Văn Duyệt mặt trước, Nguyễn Văn Thành mặt sau, quân Nguyễn
tấn công với một đội súng thuần thục và độ 20 đại bác cỡ nhỏ bắn gần
được. Tây Sơn phải bỏ chạy đi nguồn Cơ, Đô đốc Hoan bị giết. Tiếp tục
truy kích, quân Nguyễn gặp Tây Sơn góp quân lại đánh ở Tuần Dã (đồng
Vòng?) ngày 11-1.1
L. Barizy đếm số địch quân đến 223.000 người. Thật quá nhiều. Viên
tướng chống đối là Từ Văn Chiêu đã bày tỏ gan dạ Tây Sơn. Họ đánh rất
dữ nhờ chiếm được địa thế tốt, chỉ phải chịu thua vì súng lớn, súng nhỏ
của quân Nguyễn thôi. Chiêu thua bỏ chạy để Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn
Thành mở tiệc ăn mừng, quá hăng say chiến thắng, khích bác nhau, để
hiểm thù kéo dài mãi về sau.
Những trận tiếp theo chỉ là những
cuộc thanh toán nhỏ, Nguyễn Văn Thành đến đồng Dài sai Tống Viết Phúc
đánh núi An Tượng. Tiếp theo là các trận Đầm Sanh, Sơn Chà. Tây Sơn bỏ
từ núi Đá Mài đến Hoa An, Hoa Lục. Như vậy 2 đạo binh Cây Cầy đã thông
được với nhau. Họ đóng binh dọc sông Hà Thanh, từ Quán Rạp đến Vân Sơn.
Thành Bình Định bị vây tính gần tròn năm. Lực lượng Gia Định tuy đã
tiến nhiều nhưng không đủ uy hiếp mặt sau của Thi Nại nên một số quân
quan trọng của họ còn kẹt ngoài khơi với 91 thuyền và 50.000 người2.
Bộ, thuỷ Tây Sơn còn đóng ở Thi Nại cản đường quân Nguyễn Ánh đổ bộ
lên, và đe doạ phía sau lưng quân Nguyễn Văn Thành nữa. Nhìn vào bản đồ
vụng về của L. Barizy vẽ rồi so sánh các tài liệu khác cùng địa thế
thực tế, ta thấy vị trí chống đánh của hai đối phương trước của Thi
Nại. Đường nước bên trong đầm đã hẹp mà Vũ Văn Dũng đem hai chiếc Định
quốc Đại hiệu thuyền chở từ 5 đến 60 khẩu đại bác chắn ngay cửa với dày
đặc bên trong là 40 tàu lớn, 20 tàu nhỏ hơn, 100 ghe chiến đậu san sát
đến cửa sông đưa vào Nước Mặn. Ông còn đặt đại bác trên núi Tam Toà,
trên đất liền, bãi Nhạn (phía thành phố Quy Nhơn bây giờ) dựa vào núi
cao chĩa xuống bảo vệ đoàn thuyền trấn giữ. Trên bộ còn hơn 60 voi với
quân lính.
Nguyễn Ánh lúc bấy giờ đang ở hòn Nần3.
Từ tháng chạp Canh Thân (15-01 - 12-02-1801), ông đã dự tính sắm sẵn
thuyền nhỏ, chất đồ dẫn hoả rồi móc lấy thuyền Tây Sơn đốt. Tống Viết
Phúc xin đảm nhận việc đó. Ánh báo cho Thành biết mưu tính để hợp lực
ngăn chặn bộ binh không cho tiếp cứu. Theo ý Thành, Lê Văn Duyệt được
cử thay Phúc. Tướng sĩ lâm trận được khuyến khích bằng một lời dụ: “Đây
là lúc các người báo đền ơn nước, sống thì phú quý đồng hưởng, chết thì
ân điển chẳng quên; anh em trong quân, nếu anh chết em lên thay chức…”.
Sử quan cũng ghi thêm rằng: “mọi người đều nức lòng đánh giặc”. _______________________________________ 1. Thời điểm “21-11 âm lịch”, “27-11 âm lịch” là của Barizy trong bức thư kể sau. 2.
Theo ước lượng của L. Barizy trong bức thư gởi cho Letondal ngày
11-4-1801. Đáng lưu ý là Barizy không có dự vào trận Thi Nại. Cũng
trong thư này ông phàn nàn về việc bị các quan bắt đóng gông, nhưng hai
tháng sau ông đã có mặt ở Quảng Nam trong đoàn thuyền với Chaigneau,
Vannier, de Forçan... Trận Thi Nại sắp kể đây dựa vào các tài liệu: Thực lục
q13,3b-6b, thư của Chaigneau (có dự trận) cho Barizy, 2-3-1801, ngay
ngày sau lúc đánh nhau, thư của Lelabousse cho Nhà Chung từ Nha Trang,
20-4-1801 (G. Taboulet, La geste française..., sđd, t. 259, 260. Thư Barizy kể trên L.Cadière “Les Francais au service de Gia Long - II - Leur correspondance” BAVH, Oct - Déc 1926, t,373- 391) có kèm bản đồ vẽ cửa Thi Nại.
Về thực lực đôi bên, Barizy đã ước lượng Tây Sơn như sau: 1.800
thuyền với 6.000 khẩu đại bác? Ta phải ước giảm bớt vì nhớ rằng Barizy
không dự trận và vốn có tính dễ xúc động. Chaigneau viết thư cho ông
chỉ tỏ vẻ ngạc nhiên vì khả nàng chống cự của thuỷ quân Tây Sơn thôi.
Lelabousse kể chuyện có những điểm sát với Thực lục. Ví dụ ông
đã chỉ đích trận từ 10 giờ đêm đến 10 giờ sáng, việc thuyền Nguyễn nhờ
đêm tối và gió tiến đến gần thuyền địch đốt cháy theo kế hoả công. 3. Sử quan viết là Nan Dự. ĐNNTC,
tỉnh Phú Yên gọi là Bàn Than Dự, và còn chỉ thêm một hòn đảo khác tên
là Than Dự trên có khắc chữ “nan” “không biết từ thời nào”. Hòn Bàn
Than và hòn Nần là một vì đều được xác nhận là một hòn đảo bên trong
vùng Cù Mông, có miếu Công thần. Nguyễn Ánh ở đó điều khiển quân tướng
tránh được sóng gió mà cũng cách biệt với quân thù hơn. Duy lúc đánh
trận Thi Nại thì chắc ông phải dời ra đóng ở hòn Đất ngoài cửa biển Qui
Nhơn. L. Barizy chỉ “Ile ông Datte”, L.Cadière gọi theo âm đọc “hòn
Đạt” là sai. Đó là một trong 3 hòn: hòn Khô, hòn Đất, hòn Ngang (Khô
dự, Thổ dự, Hoành dự) của ĐNNTC. q9, 15b. Chiến trận xảy ra vào đêm 16 tháng giêng Tân Dậu (28-2-1801). Tiền chi
Hoàng Văn Khánh đem bộ binh lén đến Vũng Dừa đợi ở Tiêu Cơ lửa cháy thì
tiến lên công hãm trại giặc và đi vòng núi mai phục để cản tiếp viện
(theo vùng đèo Son bây giờ?). Quân Nguyễn qua Tiêu Cơ bắt được thuyền
tuần Tây Sơn, truy ra khẩu hiệu. Nguyễn Văn Trương, Tống Phúc Lương bèn
đem thuyền nhỏ nhắm Hổ Cơ xông vào, đốt thiêu thuỷ đồn làm hiệu.
Và
trận tấn công bắt đầu. Theo Lelabousse, quân Nguyễn chỉ dùng có 4.000
người trên 26 ghe chiến và 100 thuyền nhỏ. Lúc đó quân Nguyễn Văn
Trương, Tống Phúc Lương đã đổ bộ rồi. Các ghe chiến còn lại chở ông
Tổng thuỷ “to họng”1 Võ Di Nguy đi trước.
Quân
lính “thừa đêm tối và gió xuôi, tiến vào tàu thứ nhất, nhảy lên đốt
phá. Họ xông vào cửa biển, ném vung các bó đuốc và đổ dẫn hoả ra”. Thế
rồi trận đánh trở nên dữ dội. Quân Tây Sơn từ trên núi và từ các tàu
bắn vãi đến. Hà tiện lời như sử quan mà cũng tả ra là “tiếng súng vang
trời, đạn bay như mưa”. Võ Di Nguy trúng đạn ngã lăn ra chết. Lê Văn
Duyệt không quay đầu lại, đánh mạnh hơn đến Nguyễn Ánh bảo lùi cũng
không chịu. Đám sĩ quan Tây phương: Chaigneau, Vannier, de Forçan đưa
các ghe chiến vào rồi quay lại bảo vệ Nguyễn Ánh khi trận chiến xảy ra.
Nhưng nóng lòng, sốt ruột, máu chiến sĩ nổi lên, de Forçan lẻn đi trong
đêm tối, tự mình đốt được 7 ghe chiến địch. Chiến trận kéo dài 3 giờ
sáng đến đứng trưa 1-3-1801 (“Dần tới Ngọ” của Thực lục).
Thuyền Tây Sơn cháy tan, nhưng họ còn cố chống giữ trong các giàn súng
tới khi cuối cùng đám cháy lan đến các thùng thuốc súng làm nổ tung hết
lên. Như lời Chaigneau báo cho Barizy biết chiến thắng, “ta đốt hết cả
thuỷ quân giặc, không sót một chiếc thuyền nhỏ nào”2.
Ông
thấy rằng “người Nam chưa bao giờ phải đánh trận dữ dội như vậy” và sử
quan cũng không quên kết luận: “Người ta gọi trận này là đệ nhất vũ
công”.
Ngày đó, Nguyễn Ánh đổ bộ lên chợ Giã3,
ra dụ chiêu an rồi sai người đi báo cho Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận
biết. Ông lại bảo Gia Định truyền sứ cho tin đến tận Cao Miên, Xiêm La.
Tuy vậy, Ánh cũng mất đến hơn 600 người. Tướng thì ngoài Võ Di Nguy còn
có Cai cơ Hoàng Văn Định, Phó Tiền thuỷ dinh và Phó Vệ uý Nguyễn Vĩnh
Hựu của đạo Thần Sách.
Phía Tây Sơn, họ “chống giữ đến chết”
như Chaigneau nói, cho nên toàn bộ thuỷ quân đều bị tiêu diệt. Từ nay
họ không còn chút uy thế nào trên mặt bể nữa, trước cả khoảng tháng 4
âm lịch khi Đông hải vương Mạc Quần Phù cùng các tướng bị bắt lúc bị
gió dạt ngoài khơi Thi Nại. Họ hoàn toàn không kiểm soát được mặt bể để
tha hồ cho thuỷ quân Gia Định tung hoành ra lấy Phú Xuân mà không sợ
một lực lượng lưu động nào theo kịp ngăn trở nữa. Trần Quang Diệu còn
bức được Võ Tánh chết, nhưng sự thực đám quân tướng Tây Sơn ở đây mấy
tháng sau phải tan rã trên rừng chính vì không thể nào di động theo các
đồng bằng dọc biển mà không có yểm trợ của thủy quân, chính vì sự tan
vỡ ở trận Thi Nại này vậy4. ______________________________________ 1.
Biệt hiệu của người Tây gọi Võ Di Nguy, theo Barizy. Cũng Barizy cho
biết người ở tiền tuyến là “ông Yun koun” (Giám quân) mà Cadière chỉ là
Phạm Văn Nhân, người giữ chức Giám quân của 5 đội quân Thần Sách (Thực lục,
q10, 8a). Thực ra, Nguyễn Ánh đã cắt Nhân nằm ở Cù Mông. Người ở tiền
đạo, như ta đã biết, là Nguyễn Văn Trương và Tống Phúc Lương. Nguyễn
Văn Trương có hồi cũng làm Giám quân dinh Trung thuỷ, rồi coi dinh
Trung thuỷ, kiêm cả Tiền, Hậu thuỷ (Thực lục, q7,26b), coi cả thuỷ quân suất các chiến dịch về sau. Cho nên, ông Giám quân Barizy nói ở đây là Nguyễn Văn Trương vậy. 2.
L.Barizy còn viết thư ngày 11-4-1801 nhận Nguyễn Ánh mất 4.000 người,
Tây Sơn mất 50.000 người, toàn bộ thuỷ quân và thuyền bè chuyên chở
trên 1.800 chiếc, 6.000 khẩu đại bác. Tưởng chỉ nên lưu ý đến tính cách
tiêu diệt hoàn toàn thuỷ quân Tây Sơn mà thôi. 3.
Barizy ghi tên trên bản đồ đầm Thi Nại là “port de Qui nhon autrement
Choya” (Chợ Giã). Thị xã Qui Nhơn hiện vẫn thường được dân quê gọi nôm
na là “Giã”, tên một thứ thuyền, lưới bắt cá dân chài thường dùng. 4. Tiết này, ngoài những chứng dẫn khác có ghi rõ, đều lấy từ Thực lục q10, q12, q13, 1a-6b. __________________________________________________________Tiết 19
CHIẾN TRANH Ở PHÚ XUÂN VÀ BẮC HÀ
Cuộc
tử thủ của Tây Sơn ở Quy Nhơn và ý kiến giải vây cho nơi này * Trận
chiếm Phú Xuân * Cố gắng tuyệt vọng của Tây sơn ở Quy Nhơn và luỹ Thầy
* Kết thúc chiến tranh ở Bắc Hà.
Chiến
thắng Thi Nại làm nhẹ bớt nỗi “uất uất không vui” của Nguyễn Ánh. Nhưng
lực lượng bộ binh của Tây Sơn vẫn còn nhiều hùng khí. Khi Ánh sai Lê
Văn Bản đem quân đi hai vũng Nồm, Bấc đóng giữ tuần phòng thì Vũ Văn
Dũng đã hợp với Trần Quang Diệu chia người trấn giữ: Tư khấu Định đóng
ở Bến Đá, Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ giữ đầm Nước Ngọt, Đô đốc Vũ Văn Sự
trấn Tân Quan ở giữa. Hàng phòng vệ ấy dùng để cản sao cho họ rảnh tay
công thành sau khi họ đã tụ tập quân lính thề chiếm lấy cho kỳ được.
Quân
Nguyễn nhân đà thắng cũng muốn tiến lên phá vỡ vòng vây cho Võ Tánh.
Nguyễn Văn Thành sai Tống Viết Phúc đóng ở Càn Dương. Binh Tây Sơn đánh
giết Vệ uý Trần Văn Xung ở chợ Chánh Lộc. Quân Phúc kéo đến thì Tây Sơn
lui. Rượt đuổi đến Thạch Cốc1,
Phúc rủi gặp kẻ thù. Đô đốc Từ Văn Chiêu vẫn hậm hực về tiếng gọi “hàng
tướng” của Phúc, có dịp để trả thù bằng một trận phục binh chiến thắng
lớn lao. Phó Đô thống chế Phạm Văn Cơ, Vệ uý Nguyễn Văn Tri bị bắt, hai
Vệ uý Hoàng Phúc Bảo, Hoàng Văn Tứ bị giết khiến Phúc phải bỏ quân chạy
về Thi Nại. Như vậy rõ ràng chiến thắng thuỷ trận mới đó chưa đủ làm
điên đảo Tây Sơn trên bộ.
Mọi người hoang mang. Lúc bấy giờ
chính ai đã đề nghị ra đánh Phú Xuân để không những cứu gỡ cho tình thế
mà còn làm cho chiến thắng trở nên quyết định như lời De la Bissachère?
Theo ông này, Nguyễn Ánh bị thúc đẩy bởi các tướng Bắc Hà đang chán nản
vì phải đánh lâu quá bắt đầu muốn bỏ rơi ông và cũng được vài người
Pháp khuyến khích, nói rằng đánh ra Phú Xuân vẫn là ý kiến của Giám mục
d’Adran. Với sử quan thì người bày mưu đó với người đề nghị đốt Thi Nại
cũng là một: Đặng Đức Siêu, người Bồng Sơn, phủ Quy Nhơn, đồng hương
với chúa Tây Sơn2.
Họ cũng có ghi thêm ý kiến của Võ Tánh, nhưng ta có thể coi lời Võ Tánh
như một sự chấp nhận hy sinh hơn là một sáng kiến. Vinh dự đó có lẽ để
dành cho mưu thần Việt thì phải hơn vì cái thế “vây Nguỵ, cứu Triệu”
đầy dẫy trong binh pháp Đông phương.
Cho nên, sau khi lên Vân Sơn coi đồn trại địch một ngày rồi về3,
bắt đầu tháng 2 âm lịch, Nguyễn Ánh sai Cai cơ Tống Phúc Chu về Gia
Định hợp với Lưu trấn ở đó là Nguyễn Văn Nhân tuyển thêm một vạn binh,
nếu cần bắt cả lính đồn điền. Rồi cũng có việc xét dân bắt lính ở Phú
Yên, Bình Khang, Bình Thuận. Ánh có nói rõ mưu mô dự tính cho Nguyễn
Văn Trương để đem binh thuyền đánh Quảng Nam, Quảng Ngãi trước.
Nhưng
cuộc vét dân đã gây phản ứng về phía dân chúng. Phạm Văn Điềm chạy lên
rừng từ hồi quân trong mới kéo ra, nay tụ tập được 500 bộ đảng đánh đốt
Hội An, đuổi Lưu thủ Phan Tấn Tuấn chạy ra Xuân Đài nhờ cậy thuỷ binh
của Tống Viết Phúc, Nguyễn Đức Xuyên được phái tiếp viện.
Mối
loạn Phạm Văn Điềm là khó khăn mới cho Nguyễn Ánh, dằng dai, làm nhọc
mệt quân Nguyễn không ít. Trong tháng ba, đánh rồi chạy, chạy rồi lên
đánh Điềm đã quấy rối Phú Yên trước mặt danh tướng Lê Chất. Lưu Tấn Hoà
giữ Hội An bị Điềm lén đốt phong hoả đài tuyệt đường thông tin, đánh úp
giết chết. Nguyễn Long đóng ở La Hai định chiếm lại Hội An lại bị đánh
lén phải bỏ cả lương phạn, khí giới chạy về sông Đà Rằng. Tội nghiệp
cho viên Thượng đạo tướng quân 20 năm trên rừng, mới làm chỉ huy lần
đầu đã phải bại vong. Lê Chất ra tay, hợp binh với Hoàng Văn Khinh
người thay Long, tiến đánh bắt Đô tư Nguyễn Nhiễu ở bến Gạo (Mễ Tân).
Điềm bỏ chạy lần nữa nhưng vẫn còn sẽ gây khó khăn trong tỉnh, sau lưng
quân Nguyễn Văn Thành.
Trong lúc đó thì tiến triển thuỷ quân
Nguyễn vẫn khả quan. Nguyễn Văn Trương đổ bộ Cổ Luỹ, đốt kho Trà Khúc
đuổi Đô đốc Tuấn chạy, rồi ra cửa Đại Chiêm đánh Hội An, Phú Triêm bắt
24 voi. Ở La Qua, ông đuổi Đô đốc Nguyễn Văn Xuân, Lưu thủ Thiếu uý Lưu
Tấn Thể lấy hơn 80 đại bác, binh thuyền, khí giới4.
Nghe tin, Nguyễn Ánh phái thêm Tống Viết Phúc đem 1.000 binh và 30 ghe
chiến đến giúp. Ông còn cho cả Phạm Văn Nhân lãnh 3 chiếc Long, Phượng,
Bằng trong đội cận vệ của ông ra Đà Nẵng.
Để việc rút quân
khỏi tiết lộ, Nguyễn Ánh sai Nguyễn Công Nga đem 15 thuyền ngày đêm
tuần tiễu từ cầu Tân Hội tới Nước Mặn, từ sông Tam Kỳ (?) tới sông
Dinh, Gò Bồ (Phù Sa), cấm dân chúng lai vãng, xầm xì tin tức. _______________________________________ 1. Có Thạch cốc tự, gọi nôm là “chùa Hang” nổi danh, thuộc xã Mỹ Hoà, quận Phù Mỹ, Bình Định. 2. Liệt truyện, q10, từ tờ 6b, truyện Đặng Đức Siêu. 3.
L.Barizy trong thư 11-4-1801 dẫn việc Nguyễn Ánh có mặt ở trận “Dung
thi” (Đồng Thi, đồng Cây Cầy) tháng 11, 12 âl năm ngoái, “tay mang ống
viễn kính”. Barizy lúc bấy giờ còn ở Gia Định, mới vừa ra tù nhờ lệnh
hoàng tử Cảnh trước khi chết (20-3-1801), không biết có được tin đích
xác không. Vì sau trận đồng Cây Cầy, Vân Sơn thuộc về quân Nguyễn,
nhưng Thi Nại chưa bị phá, Nguyễn Ánh có bỏ hòn Nần lên bộ thám sát
không? Cho nên chuyện lần này có vẻ đáng tin hơn chuyện lần trước. Còn địa điểm Vân Sơn theo lời tả của ĐNNTC,
tỉnh Bình Định, mục “Vân Sơn giang” thì chắc là vùng Vân Hội, quận Tuy
Phước (đã nói) chớ không phải gò Vân Sơn (có nhà ga cùng tên), gần Chà
Bàn, nơi nổi tiếng nhờ Chế Lan Viên ngồi khóc dân Chàm. 4. Thư Barizy cho các ông Marquini, Letondal, 16-7-1801 (BAVH,
Oct - Déc 1926, t. 401) kể trận đánh lấy Huế, có nhắc trận Đà Nẵng hôm
8-3 lấy 30 voi, 84 đại bác, kho gạo, áo quần. So với số súng và voi thu
được với Thực lục ở đây, ta chắc 2 trận của 2 tài liệu chỉ là một. Ngày 27-5-1801, binh thuyền Gia Định tới Quy Nhơn với 10.900 bộ binh, trên 27 ghe chiến và nhiều ghe trí súng1.
Quân ở vài ngày, Ánh đưa mật thư bảo Võ Tánh lén bỏ thành chạy ra và
đồng thời tuyên lệnh ban thưởng cho những người nào bắt được vua tôi
Quang Toản. Ngày 3-6, quân Ánh rút đi sau khi đốt lửa ở núi Một báo tin
cho Nguyễn Văn Thành ở Vân Sơn biết và để giã từ viên Phò mã Hậu quân,
người anh hùng cuối cùng của Gia Định Tam kiệt. Ngày 7-6 quân đến Đà
Nẵng, Ánh sai Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn Nhân đem thuyền đi trước đến
cửa Eo (Noãn khẩu, cửa Thuận An). Trận đánh Phú Xuân bắt đầu2.
Tám
giờ sáng ngày 11-6, thuỷ quân Nguyễn đến dàn trước mặt cửa sông Hương
chia làm 2 đạo: các tàu và thuyền trí súng dưới quyền Phạm Văn Nhân
hướng vào cửa Thuận An, 42 ghe chiến và 300 ghe nhỏ chở 15.000 bộ binh
theo Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Lê Chất nhằm vào cửa Tư Hiền (Tư Dung,
hay nôm na, cửa Ông theo bản đồ của Barizy). Người giữ cửa là Phò mã
Nguyễn Văn Trị đóng trên núi Quy Sơn (núi Linh Thái) với 10.000 người
dựa thế hàng cọc gỗ đóng chặn bên bờ sông ngăn ghe thuyền địch.
Năm
giờ sáng ngày 12, cuộc tấn công bắt đầu. Binh Tây Sơn trên núi cao bắn
xuống rất dữ, các ghe thuyền lại mắc phải cọc chìm khá nhiều. Trận
chiến kéo dài đến suốt ngày (từ Thìn tới Dậu): 7 giờ sáng tới 5 giờ
chiều. Lê Văn Duyệt bàn với Lê Chất rằng không đánh tập hậu không được.
Đêm đến, ông đem 20 thuyền lén vượt bờ cát, trước sau ập lại, bắt được
Nguyễn Văn Trị cách đồn độ 500 thước. Đô đốc Phan Văn Sách cùng 500
người phải hàng.
Trong lúc trận chiến tiếp diễn ở cửa sông thì trên Kinh thành một âm mưu nội tuyến của giáo đồ bị tiết lộ3.
Một người thợ mộc ở Phú Xuân đã lén thuyết phục Nguyễn Ánh rằng các
giáo sĩ và giáo đồ có thể giúp ông được. Ông bèn gửi thư cho Giám mục
(có lẽ Labartette) và các giáo sĩ báo tin quân ông đến và xin các ông
này cầu nguyện cho. Lúc trở về người thợ mộc bị bắt và khai tất cả.
Dưới sự thúc đẩy của Nội hầu Lê Văn Lợi (Barizy viết “Hoe Hanh Loi”: Lê
Văn Lợi, hay “Noé haw Loée”: Nội hầu Lợi), một lệnh truyền tru diệt
những người Thiên Chúa giáo trong vùng được tung ra ngày mồng 5 - 5
(tết Đoan Ngọ), nếu quân Nguyễn Ánh không vừa tới kịp4.
Trong
sông, quân Nguyễn gặp một số tàu trong 64 chiếc từ Bắc vào tiếp viện
dưới quyền một viên Tư mã mà Barizy gọi là “Noe”. Hai mươi bảy thuyền
có trí súng của Tây Sơn có mang cờ lụa đỏ tiến đến ngăn chặn đội thuyền
Phấn Dực, chỉ trong phút chốc đã bị đánh thua chạy. Ba giờ chiều mồng
ba tháng 5, ghe thuyền quân Nguyễn vào bến Phú Xuân5.
Quang Toản vội vã mang vàng bạc, bỏ cả sắc ấn nhà Thanh lại để chạy cốt
thoát lấy thân với em là Thái tể Quang Thiệu, Thái sư Quang Khánh cùng
Đại tư mã Tứ, Đô đốc Trù. Ở lại hàng có Nội hầu Lê Văn Lợi, Trung thư
lệnh Trần Văn Kỷ cùng các Phụng nghi, Thị lang bên văn, Đô đốc, Đô tư
bên võ. Barizy đi thăm người bị bắt thấy có mặt mẹ Trần Quang Diệu, em
vợ ông, vợ Vũ Văn Dũng với các con Ngọc Hân mà ông không tiếc lời khen
ngợi vẻ mặt ưa nhìn cùng thái độ cứng cỏi của họ (đây là Quang Cương,
Quang Tự, Quang Diệu của Thực lục).
Nghe tin quân
Nguyễn đánh Phú Xuân, Trần Quang Diệu sai Tư khấu Định đem 5.000 quân
vòng đường núi về cứu. Quân đi 12 ngày đường bị người Thượng ngăn trở,
Định tới thì Phú Xuân đã mất liền đóng quân cách đấy nửa ngày đường,
người ngựa mệt nhọc lăn ra ngủ. Lũ chăn trâu về báo, Nguyễn Ánh sai Lê
Văn Duyệt, Lê Chất đem quân bản bộ tiến đánh thì bị vây ở vùng núi gần
đó. May sao 4.000 quân hậu tập đến vừa kịp phá tan vòng vây. Định bỏ
chạy chết trong rừng. Ba Đô đốc bị bắt, trong đó có Đại Đô đốc Lê Văn
An mà tuổi trẻ và khí vũ hiên ngang khiến Nguyễn Ánh phải mến phục6.
Ở
Quy Nhơn, Trần Quang Diệu cũng lo công kích thành gắt gao. Võ Tánh đánh
ra một lần cuối rồi tự đốt chết sau khi bảo Lưu thủ Nguyễn Văn Thanh
đưa súng cho Trần Quang Diệu gởi gắm tướng sĩ. Như vậy Tây Sơn đã thanh
toán xong đạo quân trong vòng vây để rồi phải lo phá vòng vây.
Trong
nửa năm sau 1801, phía bắc không có gì đáng lo lắng cho Nguyễn Ánh. Ông
đã sai Nguyễn Văn Trương đuổi theo vua tôi Quang Toản đến sông Gianh
chận bắt 2.000 quân chạy trốn. Thế mà Tây Sơn còn ráng thắng một trận
để chặn đường cho vua họ chạy thoát. Nguyên khi Tây Sơn đến Hoành Sơn,
Trương sai Nguyễn Kế Nhuận đem 7.000 binh thuỷ bộ chận đánh. Đến núi
Thần Đầu bị phục binh, Nhuận phải chạy bỏ quân chết quá nửa7. Viên hàng tướng Tây Sơn từ đất Gia Định nay bị Nguyễn Ánh kể tội đem ra giết chết. __________________________________________ 1.
Thư Barizy đã kể, danh xưng về các thuyền lộn xộn quá: galère, chaloupe
canonnière, demi-canonnière rồi “ghequienne”! Chuyển tiếp viện này
không thể lẫn với chuyến đầu năm do Trần Công Thái dẫn Hậu quân Gia
Định ra (Thực lực, q10, 3b). Số lượng 10.900 quân ghi ở đây,
10.000 ghi ở thư khác, ngày đến Qui Nhơn cho ta quyết chắc là chuyến
chuyển quân vào tháng 4 âm lịch của Thực lục (q13,22a) 2. Trận Huế, ngoài Thực lục, thư Barizy kể trên, còn có tài liệu ở Liệt truyện
q7, 17b, về Phạm Văn Nhân, q8, 8a về Nguyễn Văn Trương, q21, 20b,
Nguyễn Văn Thành, q22, 6b Lê Văn Duyệt, q24, Lê chất, q30, 51ab Nguyễn
Quang Toản. 3. Thư Girard gởi cho Letondal, 25-6-1801, thư Barizy cho Marquini, 15-7-1801 (A. Launay, III, t. 422, 423). 4. Thời điểm lấy của Barizy vì chi tiết vẽ rõ hơn, Thực lục có nói đến lúc rời Qui Nhơn ngày Canh Ngọ (5-6-1801), đến Đà Nẵng ngày Quý Dậu tháng 4 âl (8-6-1801). 5. Theo Barizy tả biến chuyển thì 3 giờ chiều 13-6 trùng với 3-5 của Thực lục
(q14, 1b). Nhưng Nguyễn Ánh ở dưới thuyền ngự đến 8 giờ sáng 15-6 mới
vào Kinh thành có lẽ vì muốn chờ tết Đoan Ngọ (tốt ngày? long trọng?).
Vì lẽ đó nên Girard mới nói đến chuyện giải phóng Huế ngày 15-6. 6. Thực lục q14, 10ab, Liệt truyện
q22, 7ab. Thư Barizy do Cadière đã kể có nhắc tên 3 Đô đốc hàng là Do
Doue Cane (giải thích là Lương Văn Canh như Cadière là sai), Boune và
Banaa. Lê Quốc Cầu và Lê Văn Từ bị bắt trong trận không có âm tên giống
như vậy, Duy Boune có lẽ là Tống Phúc Phượng (Liệt truyện, q25)
hơn là Nguyễn Bá Phong như Cadière đã theo lời chỉ dẫn của Ch. Maitre.
Phượng cầm cánh quân riêng 1.000 người và tự đi đầu hàng trước. 7. Liệt truyện q8, 9a. Tuy nhiên mặt nam mới là đáng chú ý tới1.
Nguyễn Ánh bảo Nguyễn Văn Trương sai Hoàng Văn Điểm giữ Thanh Hà rồi về
Đồng Hới sửa luỹ phòng thủ. Thu thêm 52.000 binh Tây Sơn nhập binh
mình, Ánh sai Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Tống Viết Phúc đánh vào. Đến Trà
Khúc, Phúc lập được công lớn: đánh bắt Đô đốc Nguyễn Văn Khôn, Tham đốc
Hồ Văn Tự cùng 3.000 quân. Nhưng ông rủi ro lại gặp kẻ thù: viên tướng
do Trần Quang Diệu phái ra với Đại Đô đốc Lê Danh Phong (sau ra hàng)
lại là Từ Văn Chiêu, nên đã phục binh giết chết Phúc, ngăn hẳn con
đường tiến quân của Duyệt, Chất đang đóng từ cửa Mỹ Á giăng lên núi2.
Phía
nam chiến luỹ đó, 30.000 quân (ước lượng của Barizy và tính toán của
Nguyễn Ánh) của Nguyễn Văn Thành cũng đang mệt nhọc với quân Dũng, Diệu
và bọn hàng tướng trong thành Bình Định3. Ở phú Yên, thỉnh thoảng Phạm Văn Điềm cũng làm rối 6-7.000 quân của Tiên phong Hoàng Viết Tuyển.
Tháng 8 Tân Dậu (1801), Tây Sơn muốn đánh Hoa An, Hoa Lộc để thông với Phú Yên bèn đàn áp thật mạnh ở Sơn Chà4,
tiến đến sông Dinh, sát núi Một, nhưng không kết quả. Trần Quang Diệu
lại chuyển 18.000 quân ra phía Bắc, mưu sai Từ Văn Chiêu đem 2.000 quân
đánh úp sau lưng Lê Văn Duyệt để phá thế bao vây mà tìm đường ra Bắc Hà
nhưng cũng không toại nguyện. Mặt nam Bình Định, Nguyễn Văn Thành lại
tung quân đánh mạnh từ luỹ Lò Giấy (Lô Chỉ) đến Tân An khiến Diệu phải
trở vào tiếp tay với Vũ Văn Dũng tận vét dân binh chống cự5. Trận chiến cứ dằng co như vậy trong tháng 10.
Trong
khi đó ở Bắc Hà, Tây Sơn cố gượng dậy. Quang Toản cải hiệu Cảnh Thịnh
làm Bảo Hưng, hạ chiếu tự cải lỗi để uy phủ các trấn, sai đắp gò tròn
nơi cửa ô Chợ Dừa và đầm vuông nơi hồ Tây để hạ chí, đông chí ra đó tế
trời đất. Công việc thật có vẻ của thời thái bình thịnh trị khiến cho
Nguyễn Huy Lương phải làm bài phú Tụng Tây Hồ, ca ngợi công đức Tây Sơn
một cách quá muộn màng. Nhưng Nguyễn Văn Trương ở sông Gianh cũng nghe
điệp báo nói Bắc Hà “xứ xứ lũ động” nên hi vọng của Tây Sơn tranh đoạt
lại đất đai thật là mỏng manh.
Tuy vậy, tháng 8 âm lịch, Quang
Thùy cũng dẫn quân bản bộ đi Nghệ An trước. Ở Bắc trong 3 tháng, Quang
Toản đốc 3 vạn binh tứ trấn cùng Thanh Nghệ, lưu Quang Thiệu, Quang
Khánh lại Thăng Long rồi kéo quân vào Nam. Từ tháng 11 Tân Dậu ra đi mà
tới 1-1 Nhâm Tuất (1802) mới xảy ra trận đánh luỹ Trấn Ninh, thật quá
xa thời Quang Trung tung quân.
Những danh tướng Tây Sơn mắc
kẹt ở Quy Nhơn để ở đây nổi bật lên hình bóng một anh thư mà giáo sĩ De
la Bissachère đã hết lời ca tụng đến nỗi đem tăng quân số bản bộ từ
khoảng 5.000 lên đến 300.000! Thuỷ quân Tây Sơn do Thiếu uý Đặng Văn
Đằng và Đô đốc Lực dàn trên 100 thuyền bày trận ngoài cửa Nhật Lệ. Trên
bộ, Quang Thuỳ, Tổng quản Siêu thẳng lên luỹ Trấn Ninh. Và ở mút phía
Tây luỹ, nơi núi Đâu Mâu có Tư lệ Đinh Công Tuyết và Đô đốc Nguyễn Văn
Kiên cáng đáng. Chiến tranh xảy ra như 150 năm về trước cũng nơi đất
này, tuy các vai trò đã đổi thay.
Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn
Trương đánh ngoài biển, Phạm Văn Nhân, Đặng Trần Thường phản binh cự.
Quân Tây Sơn bị chết cả ngàn vẫn leo lên núi Đâu Mâu như kiến. Nguyễn
Ánh sai thả đá xuống vẫn không ngăn được. Bùi Thị Xuân đốc thúc voi,
binh tử chiến từ sáng tới trưa, đã phá đổ một vài mảng thành. Ngôi vị
Nguyễn Ánh tưởng bị đe doạ lần nữa. Nhưng ngoài biển, Nguyễn Văn Trương
phá tan được thuỷ quân Tây Sơn. Trên đất, Nguyễn Văn Kiên tiến quá sâu
với 8-900 bộ binh bỗng nhiên chịu hàng. Thế mà Bùi Thị Xuân còn đánh
mãi tới xế. Thuỷ quân Nguyễn theo đà thắng đổ bộ đánh tập hậu. Quang
Toản vội vàng rút lui, bỏ quân Bùi Thị Xuân rối loạn theo. Thế trận
đánh tan rã đánh dấu lần quật cường cuối cùng của Tây Sơn6.
Trận
Trấn Ninh cũng làm tiêu tan hi vọng của quân Tây Sơn ở Quy Nhơn. Trong
hai tháng đầu năm Nhâm Tuất (1802), họ đã phục binh giết được Phó tướng
Nguyễn Văn Huệ và cố gắng cầm cự với quân Nguyễn Văn Thành hợp với Lê
Văn Duyệt vào đánh luôn trong 7 ngày. Vùng dưới biển gần Thi Nại, từ
sông Dinh lên núi Kỳ Sơn đều bị quét sạch đến mãi Vườn Cau. Vũ Văn Dũng
đem nhiều binh đến đánh, không chiếm được mà còn hao các Đô đốc nữa.
Cảnh quân Lê Văn Duyệt, Lê Chất đánh ép vào Bến Đá, thuỷ binh đổ bộ Tam
Quan, Đề Di.
Nhưng cái nguy nữa cho Tây Sơn chính là thiếu
lương. Hồi tháng 2 họ định vượt núi Nha Tham lén cướp Phú Yên nhưng đã
bị Nguyễn Văn Thành chặn lại được. Bây giờ cho dù Trần. Quang Diệu và
Vũ Văn Dũng có muốn đi cướp Gia Định như giáo sĩ De la Bissachère nghe
đồn cũng không được nữa7. Tháng ba năm đó, hai người đều hết lực bỏ thành đem quân đi vòng trên núi ra Bắc với 80 tướng, 3.000 binh mạnh và 86 voi.
Tháng
5, Nguyễn Ánh lên ngôi tôn, niên hiệu Gia Long. Đối với chúng ta, ý
nghĩa chính là ở chỗ cuộc chiến kéo dài 30 năm đã sắp chấm dứt. ______________________________________ 1. La relation sur le Tonkin...., sđd: t.108, 109. Thư Langlois cho Boiret. 3-9-1802 (BEFEO, 1912, t.55) 2. Con số 52.000 là của Barizy. Thực lục q14, 16b - 18b, Liệt truyện q13, 9b, 10ab. 3. Trường hợp Nguyễn Văn Tồn (Liệt truyện
q28, 3ab) khi thành Bình Định mất theo Tây Sơn đánh rất hăng, quân
Nguyễn kêu không ngó lại, đến khi trở về, người ta hỏi, ông trả lời:
“Đánh hăng cho giặc khỏi nghi”. Ấy vậy mà không biết sử quan nghe ở đâu
lại nói có người khen là “có trí”. 4.
Theo sự kiện kể ở đây thì chắc là hòn Chà vùng nam sông Vân Sơn (Vân
Hội) chớ không phải núi Trà (Trà Sơn), Chà Rang (Trà Lang Sơn) ở Phù
Cát, tây bắc Chà Bàn của ĐNNTC. 5. Thực lục q15, 1b, 17a, 20ab. 6. Trận Trấn Ninh: Thực lục, q15, 28ab, q16; Liệt truyện q8, 11b-13a, q30, 53ab, 54a; La relation sur le Tonkin...
sđd t.108-111. Tuy De la Bissachère quá tán tụng Bùi Thị Xuân nên mới
lo sợ giùm cho Nguyễn Ánh, nhưng đã có những chi tiết đúng như: voi phá
vài nơi của luỹ Thầy (Liệt truyện: “Bùi Thị Xuân suất tượng khu chúng”), đánh tới 2 giờ chiều (“quá trưa” của Liệt truyện).
Duy ông không biết đến tên viên tướng phản bội mà ta gán cho Nguyễn Văn
Kiên vì ông này có mặt trong trận và có tên trong danh sách hàng tướng. 7. La relation sur le Tonkin,
sđd, t. 113. Có thể vì toan tính đánh ở Phú Yên trong dịp này mà người
ta đồn tới tai De la Bissachère rằng Trần Quang Diệu muốn vào lấy Đồng
Nai chăng? Từ lâu trong quân đội Nguyễn Ánh có những người Bắc Hà đầu quân mưu
khôi phục nhà Lê. Nguyễn Ánh vẫn mập mờ dùng niên hiệu Cảnh Hưng trong
các văn thư. Các cựu thần nhà Lê lại thường tổ chức những cuộc xâm nhập
Bắc Hà để quấy rối hậu cứ Tây Sơn. Nhưng khuynh hướng phò Lê theo với
thời gian đã trở thành lỗi thời, quần thần nhà Nguyễn xuất thân ở Nam
Hà tranh quyền bằng xương máu của mình hẳn không phải để đặt lên ngai
vàng một ông vua lưu vong chưa từng chia xẻ gian khổ với họ. Ý nghĩa
việc đúc tiền năm 1796 với danh hiệu Gia Hưng riêng biệt cũng là một
dấu vết phủ nhận từ Nguyễn Ánh1.
Việc Tây Sơn cầm quyền xứ Bắc trên 13 năm đã xua tan thành kiến ranh
giới sông Gianh. Tây Sơn chịu tiếng cướp nước, nhưng sẽ mở đường cho kẻ
sau vượt tiếp mà không thấy trở ngại nhiều. Bởi vậy, khi Nguyễn Ánh
đánh Bắc mà phân vân “Bắc Hà vốn là đất của nhà Lê” thì Đặng Đức Siêu,
Trần Văn Trạc mới có thể lý luận: “Đất Bắc là của Tây Sơn rồi... Lấy
đất Bắc là lấy của Tây Sơn chứ lấy gì của Lê!”2.
Lên
ngôi xong là Nguyễn Ánh đã dứt khoát sau khi chuẩn bị đầy đủ cuộc vận
động tâm lý quần thần. Những người Bắc Hà đã được dự bị từ lâu để theo
quân ra: văn thần có Đốc học Nguyễn Gia Cát, Hàn lâm viện Mai Huy Đường
đã chờ sẵn từ tháng 6 âm lịch (1801), Đặng Trần Thường cũng được rút từ
quân thứ Bình Định đến với Tham quân Hậu dinh là Nguyễn Trí Hoà3.
Quân Bắc phạt gồm cả một lực lượng hùng hậu. Tiền quân mang 60.000
binh, Tả quân Lê Văn Duyệt dẫn 86.000 người, Hậu quân Lê Chất 50.000
người; Nguyễn Văn Trương mang 50 tàu, hơn 100 ghe chiến. 800 thuyền có
trí súng, 500 thuyền nhỏ hơn chở 50.000 người, tất cả rầm rộ tấn phát4.
Quân đi dũng mãnh nhưng đã có bài “Hịch dụ các người trung nghĩa ngoài Bắc thành”5 để chứng tỏ là Vương sứ đến. Lời kêu gọi nhắm vào việc động viên người Bắc hưởng ứng quân Nam, phục thù cho nhà Lê:
“Trước để sanh hồi miếu xã - sau là chửng cứu sinh linh. “Khuyến người trung nghĩa ngoài này - rõ ý không phù trong ấy”.
Nhưng chúng ta hãy nghe tiếp: “Nghe võ hịch một lòng ứng Hán, giúp cơn đông lạc thuở trùng hưng; “Dựng can kỳ bốn mặt công thành, từ thuở sơn man thất thế”.
Nhắc
chuyện bạo Tần tức là nhắc chuyện dời đổi triều đại, tuyên xưng cho một
phía là nhà Hán, tức là bắt mọi người phải công nhận quyền uy của triều
đại mới, người viết hịch trong ước mơ của một di thần Lê Trịnh cũng
đành phải vô tình nhận rằng phân tranh sắp chỉ vào là dĩ vãng và nhà Lê
chỉ còn là bóng mờ mà thôi.
Cho nên cuộc Bắc phạt thành công
thực dễ dàng. Nguyễn Văn Trương đi trước đuổi Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ,
rồi cùng với bộ binh của Lê Văn Duyệt, Lê Chất hợp nhau quét sạch xứ
Nghệ. Trấn thủ Nguyễn Văn Thận, Hiệp trấn Nguyễn Triêm, Thuỷ quân Thống
lãnh tên Đại, Thiếu uý Đằng đều bỏ chạy. Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng,
Từ Văn Chiêu, Nguyễn Văn Mân, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Điểm, Lê Công
Hưng (phần lớn đều là hàng tướng cũ lại trở về), theo đường thượng vừa
đến. Diệu qua đèo Quy Hợp vào Nghệ An thì nơi này đã mất, bèn qua Thanh
Chương, vượt sông Thanh Long. Lính theo hao mòn vì thiếu ăn, bệnh tật,
nên bỏ rơi tướng họ sa vào tay bọn nông dân ham tiền. Cuộc đời dõng
mãnh, thanh cao rồi sẽ cùng chấm dứt với người vợ hiếm có. Phần Vũ Văn
Dũng cũng không thoát tay dân Nông Cống6.
Quân
Nguyễn qua Thanh Ba bắt Quang Bàn và Văn Thận. Đằng và Hổ đem nhau ra
hàng. Đến Sơn Nam hạ, Nguyễn Văn Trương lùa được bọn Thống binh Tề Ngôi
lên bộ, bắt Dương Thất Nguyên, Ngô Tam Đồng. Ngày 15-7-1802, Thiếu uý
Nguyễn Văn Thọ mở cửa thành Thăng Long ra hàng. Quang Toản, Quang Duy,
Quang Thiệu, các Đô đốc Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ, Tú (Từ Văn Tú?)
vượt qua sông Nhĩ Hà chạy trốn. Họ không may mắn hơn những người trước.
Đêm ở Xương Giang, dân chúng đón bắt, Quang Thuỳ, Đô Đốc Tú và vợ cùng
tự vẫn. Còn Quang Toản bị dân Phượng Nhỡn bắt, chấm dứt đời Tây Sơn.
Ngày
20-7, Nguyễn Ánh ra tới Thăng Long, đặt chân lên nơi mà hơn 200 năm
trước, tổ tiên ông phải giả tiếng mới về Nam được. Thăng Long, Thanh
Hoá, Phú Xuân, Gia Định rồi nối vòng Gia Định, Phú Xuân, Thăng Long,
con đường thật dài, thật đầy gian nan, cực nhọc mà cũng đầy vinh quang.
Đất nước mệt mỏi vì chiến tranh nay đã tìm được đường thoát trong thống
nhất, yên nghỉ. Một giai đoạn mới bắt đầu với Nguyễn Ánh - Gia Long. _____________________________________ 1. Thực lục, q9, 6a. 2. Thực lục q16, 17b. 3. Thực lục q14, 20b, 22b. 4. Số lượng quân trong thư Barizy gởi cho Marquini và Foulon, 15-6-1802 (BAVH, Oct-Déc 1926). Chuyện Bắc phạt: Liệt truyện q8, 13ab, q30, 54ab, Thực lục q17, 11b-18a. 5. Tác giả Vũ Huy Dao, trích trong Morceaux choisis... t.254, 255. 6. La relation sur le Tonkin, sđd, t.114, 117; Liệt truyện
q.30, 54b, 55a. Trong tập Bình Định (1964), Ty Thông tin Bình Định,
trang 13, 24 có đoạn xác nhận rằng Vũ Văn Dũng là người địa phương
(thôn Phú Mỹ, xã Bình Phú, quận Bình Khê), sau khi bị bắt bèn trốn
thoát, cải danh là Vũ Văn Độ, mất ở An Khê năm 1853. Nếu ông Độ có thật
thì chắc là một người bà con lưu lạc chớ chuyện Vũ Văn Dũng trốn thoát
là điều khó tin (Dũng không quá trẻ để đến mãi năm 1853 mới chết!).
Trần Quang Diệu nhờ tha chết cho binh tướng Võ Tánh mới được đặc ân
uống thuốc độc, khỏi bị voi xé như vợ con. Còn Vũ Văn Dũng mà đầu cũng
treo giá đồng thời với của quan Thái phó thì làm cách nào thoát khỏi
nanh vuốt của Nguyễn đang thắng được? Dũng là người Hải Dương đã có
bằng cớ hẳn hoi nơi tước Chiêu Viễn hầu như ta đã nói trước. |