Joseph (Józef) Klemens Pilsudski
( 5 tháng Chạp năm 1867 – 12 tháng Năm năm 1935)
Bài viết này không có tham vọng viết về vụ thảm sát Katyn, vì khả năng
tìm kiếm tài liệu về nó là khó khăn. Nhưng người viết hy vọng sẽ cung
cấp được cho các thành viên một số thông tin về mặt lịch sử để có thể
tự rút ra được kết luận về một sự kiện – cũng có thể được coi là bi
thảm đó.
Trên thực tế, khó có thể viết được về vấn đề này mà không dông dài một
chút về những vấn đề trong lịch sử quan hệ quốc tế, nhất là trong thời
gian giữa hai cuộc Đại chiến thế giới. Đó là một thời kỳ có thể nói là
phức tạp nhất trong quan hệ quốc tế. Mọi mối quan hệ được hình thành
trong giai đoạn này đều nhằm đến không chỉ một cái đích, mà là nhiều
mục tiêu, do đó nhiều khi có thể được giải thích và đánh giá bằng những
cái nhìn khác nhau, và cũng phụ thuộc nhiều vào cả các nhà chép sử nữa.
Cần phải nhìn nhận thời gian này trong lịch sử châu Âu nói riêng và
lịch sử thế giới nói chung, là thời kỳ ngoài những nghi kỵ, những âm
mưu quân phiệt hóa nhằm giành lại đất đai, còn là những cố gắng để có
được một nền an ninh tập thể, được đánh dầu bằng sự thành lập của Hội
quốc liên (thành lập ngày 10 tháng Giêng năm 1920), tổ chức có thể nói
là tiền thân của Liên Hiệp quốc ngày nay.
1 - Nước Balan sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Những mối quan hệ và những cuộc xung đột với nước Nga Xô-viết.
Chúng ta quay lại với nước Nga thời kỳ sau cuộc Cách mạng tháng Mười.
Nước Nga bước ra được khỏi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất với
đầy thương tích, chấm dứt chiến tranh với Đức bằng Hiệp ước Brext –
Litôpxcơ, mà những thiệt thòi được giành cho Nga là chủ yếu. Thời kỳ
này được xem như là thời kỳ nổi bật của chính sách can thiệp của các
nước phương Tây, chủ yếu là nước Anh, vào nội bộ các nước khác trong đó
có nước Nga. Xung quanh nước Nga còn rất nhiều thù trong giặc ngoài,
như những bọn bạch vệ hoạt động không chỉ như những toán phỉ mà còn là
những đội quân lớn, có tổ chức như Côntsắc, Đênikin – Vrăngghen… và cả
những mối quan hệ quốc tế mà đế chế Nga Sa hoàng để lại.
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc với hiệp ước Véc-xay,
trong đó có đề cập đến vấn đề quan trọng là tái thành lập nước Balan,
mà nóng bỏng nhất là vấn đề những đường biên giới của nước Balan mới.
Nước Balan, trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất cũng là một
trong những chiến trường chính và bị chiến tranh tàn phá. Sau Cách mạng
tháng Mười, nước Nga Xô-viết đã tuyên bố từ bỏ quyền của Đế chế Nga đối
với Balan và công nhận nền độc lập của nước Balan ngày 29 tháng Tám năm
1918, tức là chưa đầy một năm sau Cách mạng.
Một vị tướng người Balan, Joseph (Józef) Pilsudski (5 tháng Chạp năm
1867 – 12 tháng Năm năm 1935) đã tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Balan
vào ngày 22 tháng Mười một năm 1918. Trước đó, đến trước tháng Bảy năm
1917 ông ta đã chỉ huy “Quân đoàn Balan” chống lại người Nga. Trên đất
nước Balan còn tồn tại “Ủy ban quốc gia Balan”, được các nước đồng minh
Anh – Pháp – Mỹ đỡ đầu, Ủy ban này bất hòa với tướng Pilsudski. Nhân
tiện cần phải nói thêm, lúc này “dưới trướng” của ông ta có một nhân
vật, sau này sẽ góp phần quan trọng vào câu chuyện của chúng ta: Đại tá
Józef Beck, chánh văn phòng nội các của Pilsudski.
Cuối năm 1918, đầu năm 1919, nước Balan phải chiến đấu chống lại người
Đức, cho đến khi nước Đức thua hẳn, buộc phải ngừng chiến trước sức ép
của các nước đồng minh vào ngày 16 tháng Hai năm 1918. Tuy nhiên, nước
Balan non trẻ không định dừng lại ở đó. Ở phía đông, họ đánh nhau với
Ucraina và chiếm được thành phố Lvov. Cuộc chiến đấu này của họ khá
thắng lợi. Liên minh các nước đồng minh thành lập một Ủy ban do một ông
tướng người Nam Phi làm chủ tịch, ông Botha, đã không thuyết phục được
người Balan ngừng chiến. Kết quả, người Balan còn chiếm thêm được toàn
bộ vùng đông Galicie.
Ngày 27 tháng Năm năm 1919, Hội nghị Paris của các nước Đồng minh đã ra
tuyên bố sẽ cắt đường tiếp tế cho Balan nếu tiếp tục phiêu lưu quân sự.
Ở phía bắc, không hiểu vì những lý do gì mà người Balan vẫn tiếp tục
đánh nhau với người Nga, và tháng Năm năm 1919, họ chiếm được đường
biên giới kéo dài đến tận thủ đô Minxcơ của xứ Bạch Nga. Ngày 22 tháng
Chạp năm 1919, người Bôn-sê-vích đề nghị ngừng chiến, công nhận nền độc
lập hoàn toàn của Balan và cam kết không vượt qua biên giới mà họ đã
vạch ra trước đây. Cũng trong tháng này, các nước đồng minh thỏa thuận
với Balan về lãnh thổ của nước này: đường biên giới sẽ đi qua Grốdnô,
Vôlốpca, Nêmurốp, Brext – Litôpxcơ và phía đông Przemysl. Đường biên
giới này được gọi là “Đường biên giới Curzon”, theo tên của ngoại
trưởng Anh lúc bấy giờ.
Người Balan đồng thời không chấp nhận cả hai đề nghị của hai phía. Hầu
hết những người Balan đều muốn có được đường biên giới năm 1772 nghĩa
là chiếm toàn bộ nước Ucraina. Ngày 25 tháng Tư năm 1920, họ lại tấn
công vào quân Nga Xô-viết. Họ thu được những thắng lợi bước đầu, ngày 6
tháng Năm họ chiếm thủ đô Kiép của Ucraina. Nhưng họ bị Hồng quân
Xô-viết dưới sự chỉ huy của hai Nguyên soái Tukhachépxki và Buđionnưi
nhanh chóng đẩy lùi. Tháng Bảy, Hồng quân chiếm lại được Minxcơ, Vilna,
Grốdnô, Brext – Litôpxcơ. Hồng quân còn cắt đứt đường sắt Vác-sa-va –
Đăng-dích, trong khi nước Đức và Áo từ chối không cho vũ khí đạn dược
đi qua nước mình. Balan, do chính sách hiếu chiến của mình, lâm nguy.
Đối với nước Anh, thì Balan đã thất bại, và người Anh chơi một con bài
hai mặt. Một mặt, họ đề nghị Hồng quân ngừng bắn, dừng lại cách
Vác-sa-va 50 ki-lô-mét. Mặt khác, họ yêu cầu Balan chấp nhận cái gọi là
“Đường biên giới Curzon”. Nhưng cả Nga lẫn Balan đều bác bỏ vai trò
trung gian của người Anh. Tuy nhiên, nếu bây giờ đánh giá lại thì người
Nga đã bỏ qua một cơ hội hiếm có, vì nếu nắm được chính sách này của
Anh và thi hành thắng lợi thì đó chính là những tiền đề để thành lập
nước Balan cộng sản ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất!
Tuy nhiên sau đó người Balan đã có được một thắng lợi ngoạn mục chưa
từng có, nhưng với sự giúp đỡ của Pháp. Tổng thống Pháp lúc bầy giờ -
ông Alexandre Millerand (sinh tại Paris 10 tháng Hai năm 1859 và chết
tại Versailles ngày 6 tháng Tư năm 1943) - cử sang Balan tướng Weygand,
cùng với sự giúp đỡ nhiều vũ khí, đạn dược. Người Balan phản công và
đẩy lùi được Hồng quân 400 ki-lô-mét về phía đông. Các cuộc hòa đàm
đang được đặt ra bị cắt đứt, không còn vấn đề “Đường biên giới Curzon”.
Ngày 25 tháng Chín năm 1920, Ủy ban hành pháp trung ương Xô-viết toàn
Nga đã từ bỏ các điều kiện đặt ra cho Balan trước đây và, từ tháng Tám
họ đã bắt đầu những cuộc thương lượng mới với người Balan. Ngày 12
tháng Mười năm 1920, các hiệp định hòa bình sơ bộ đã được ký, đường
biên giới phía đông của Balan nằm cách “Đường biên giới Curzon” 150
ki-lô-mét về phía đông, nghĩa là bao gồm cả những vùng đất của người
Ucraina và Bêlôruxia. Các hiệp ước sơ bộ này trở thành Hiệp ước hòa
bình vĩnh viễn Riga ngày 12 tháng Ba năm 1921. Đồng thời người Balan
còn thu được một thắng lợi nữa, là đạt được một liên minh chiến lược
với nước Pháp bằng hiệp ước ký tháng Giêng năm 1921. Về phía Pháp, là
có được một liên minh chống Đức, và có lẽ, cả nước Nga Xô-viết nữa.
Kết luận: như vậy, sau Thế chiến thứ nhất, nước Balan đã giành được độc
lập, cái đó xuất phát từ sự suy yếu của nước Nga, và người kế thừa là
những người Bôn-sê-vích thì không đủ mạnh để thi hành chính sách quốc
tế sô-vanh, tự từ bỏ quyền đế chế đối với nước các nước thuộc địa Sa
hoàng cũ. Thứ hai, đó cũng chính do họ còn yếu, thời kỳ năm 1920 là
thời kỳ Hồng quân phải thanh toán Đênikin, Côntsắc… do đó việc Balan có
được sự ủng hộ quân sự của Pháp đã thu được thắng lợi. Thời kỳ này chấm
dứt bằng việc Balan chiếm được đất của người Bạch Nga và Tiểu Nga
(Bêlôruxia và Ucraina). 2. Những hiệp ước song phương và đa phương tại châu Âu thời kỳ giữa hai cuộc Đại chiến. Mối quan hệ Xô - Đức.
Thực ra, không thể quy kết cho Xta-lin là đặt quan hệ với Đức quốc xã
được, mà ngay từ những năm 1920, khi nước Đức lúc đó chưa có Hit-le cầm
quyền, đã đặt quan hệ với Nga Xô-viết và sau này là Liên Xô (trong đoạn
này vì có nhiều sự kiện xảy ra trước và sau khi thành lập Liên bang
Xô-viết nên tôi tạm viết là Liên Xô, không phân biệt nước Nga Xô-viết
hay Liên Xô). Năm 1922 được đánh dấu bằng Hội nghị Gènes, được các nước
đồng minh sau đại chiến thế giới 1 tổ chức, đã có nhiều lần nhóm họp
không thành công do không mời đại diện Liên Xô (chủ yếu việc không mời
này do không muốn thỏa thuận giải quyết nợ nần và chiến phí với người
Nga; do những bất đồng Pháp – Anh, do sự xích lại gần nhau Xô - Đức…).
Tuy nhiên khi được mời, Liên Xô tham gia với mục đích thuần túy thương
mại, đại diện Nga là Chicherin. Hội nghị không đi đến được kết quả đáng
kể vì kể cả phía phương Tây và Liên Xô đều không nhượng bộ về những
khoản nợ nần (Liên Xô đòi phương Tây bồi thường những thiệt hại do quá
trình can thiệp vào cuộc nội chiến, đồng thời phương Tây cũng đòi Liên
Xô bồi thường nợ nần sau chiến tranh và nhất là những tài sản đã bị
Liên Xô quốc hữu hóa sau Cách mạng).
Tuy nhiên, như một hệ quả của Hội nghị, là đã dẫn đến một kết quả bất
ngờ: ngày 16 tháng Tư Chicherin và đại diện Đức Rathenau đã gặp nhau ở
Rapallo, gần Gènes và ký kết được với nhau một hiệp ước quan trọng mà
sau này người ta gọi là Hiệp ước Rapallo. Theo Hiệp ước này, Đức sẽ
không đòi lại những xí nghiệp của tư bản Đức đã bị quốc hữu hóa, với
điều kiện là Liên Xô cũng không thỏa mãn những yêu cầu đòi bồi thường
của các quốc gia khác (với Liên Xô cái này thì dễ quá). Quan hệ ngoại
giao và lãnh sự giữa hai nước được phục hồi, hai bên áp dụng cho nhau
chế độ tối huệ quốc trong lãnh sự và thương mại. Bộ trưởng, tức Ủy viên
nhân dân ngoại giao Xô-viết thời bấy giờ, ông Pôtemkin đã phát biểu:
“Rapallo đã làm thất bại âm mưu của đồng minh về lập mặt trận tư bản
thống nhất. Kế hoạch phục hồi châu Âu trên cơ sở gây thiệt hại cho
những nước thua trận và cho nước Nga, sẽ sụp đổ”.
Rapallo là sự xóa bỏ vĩnh viễn Hòa ước Brext – Litôpxcơ, chấm dứt việc
cô lập Liên Xô về kinh tế và chính trị. Nước Đức, thật bất ngờ, đã là
nước phương Tây đầu tiên công nhận Liên Xô. Hiệp ước này chưa phải là
hết. Nó được ký kết độc lập với quân đội Đức, nhưng tổng tư lệnh lục
quân Đức thời gian đó là tướng Von Seeckt đã ngấm ngầm có những quan hệ
bán chính thức với Hồng quân. Những cuộc tiếp xúc đầu tiên bắt đầu từ
mùa thu năm 1919, nhưng quan hệ tích cực hơn diễn ra vào các năm 1921,
1922. Người Nga tìm cách sử dụng công nghệ Đức để sản xuất vũ khí, còn
người Đức thì “lách luật”, né khỏi Hiệp ước Véc-xay để thử nghiệm những
vũ khí mới cần thiết cho tái vũ trang trên đất Nga. Một vài nhà máy vũ
khí của Đức được xây dựng trên đất Nga. Từ năm 1924 đến năm 1932, có
các trại huẩn luyện xe tăng (ở Kama), máy bay (ở Lipetxcơ), hơi độc
(Xaratốp) của Đức được xây dựng trên đất Liên Xô. Quân đội Đức có ở
Liên Xô một “trung tâm chỉ huy Mát-xcơ-va” (Zentrale Moskau). Nhưng tất
cả những hoạt động này, và cả cái trung tâm này bị triệt tiêu khi bắt
đầu thời kỳ Hit-le cầm quyền.
Thời kỳ này còn là thời kỳ hợp tan của hàng loạt những liên minh to
nhỏ, đều nhằm mục tiêu hướng tới một nền an ninh tập thể. Từ 1923 đến
1925 là thời kỳ mà sớm hay muộn, các nước phương Tây và cả Nhật Bản,
công nhận Liên Xô là một thực thể của pháp luật quốc tế.
Ngày 19 tháng Mười một năm 1925, Đức gia nhập Hội quốc liên, một bước
cuối cùng của quá trình biến Đức từ kẻ tội đồ của thế chiến I thành một
quốc gia đáng gờm, không bị hạn chế. Thời gian này còn được đánh dấu
bằng sự xích lại gần nhau của Đức và Pháp. 3. Hiệp ước Đức – Balan năm 1934.
Józef Beck (4 tháng Mười năm 1894 – 5 tháng Sáu năm 1944)
Sự kiện quan trọng nhất trong câu chuyện của chúng ta có lẽ là việc
Hít-le và Đảng quốc xã của y lên cầm quyền. Ngày 30 tháng Giêng năm
1933, Hít-le trở thành Thủ tướng nước Đức. Thời điểm đó Chính phủ của y
chỉ có thêm hai đảng viên Đảng quốc xã là Goering và Frick Von Papen là
phó Thủ tướng, ngoài ra còn có thêm Von Neurath giữ chức ngoại trưởng.
Nhưng nhanh chóng Hít-le đã biến Chính phủ của mình thành Chính phủ độc
tài, như chúng ta đã biết.
Thời gian này cũng là thời kỳ của các Hiệp ước an ninh tập thể, hâu như
là thất bại, nhằm giảm đi cái vai trò vốn đã không mấy quan trọng của
Hội quốc liên. Một trong những ví dụ điển hình là việc Mút-xô-li-ni hô
hào ký “Hiệp ước tay tư” giữa Italia, Anh, Pháp và Đức, chủ yếu là nhằm
điều chỉnh lại bản đồ châu Âu đang bất lợi cho Italia và Đức. Nhưng vì
sự quân phiệt hóa ngày càng rõ nét của hai nước Italia và Đức, đồng
thời các Chính phủ Tổng thống Dalalier (Pháp), Thủ tướng Mc Donald
(Anh), thì có những lợi ích riêng lẻ khác không hòa đồng được. Giữa
Pháp và Balan còn tồn tại Hiệp ước liên minh.
Ngày 19 tháng Mười năm 1934, Đức rút ra khỏi Hội quốc liên, đánh dấu bước đầu sự tan rã của tổ chức này.
Đôi điều về đại tá Beck. Ông sinh ngày 4 tháng Mười năm 1894 tại
Vác-sa-va và chết ngày 5 tháng Sáu năm 1944 tại Stăneşti, Rumani. Là
quân nhân, sau này là nhà ngoại giao kiêm chính khách, ông đã bỏ nhiều
công sức trong việc đưa Balan có một mối quan hệ đối ngoại mềm dẻo giữa
hai thế lực là Đức và Liên Xô. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất,
đại tá Beck là ủy viên Tổ chức quân sự Balan được Pilsudski thành lập
năm 1914. Trong năm 1924, ông đã hoạt động để Chính phủ của Pilsudski
được thành lập có quyền lực trên thực tế. Trong các năm từ 1926 – 1930
Beck làm việc tại Bộ ngoại giao Balan và từ năm 1930 đến 1932, là phó
Thủ tướng Balan, kiêm bộ trưởng Ngoại giao từ tháng Mười một năm 1932
và giữ cương vị quan trọng đó trong Chính phủ Balan đến tận khi Chiến
tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Ở Bộ ngoại giao, ông ta thay chân cho
cựu bộ trưởng Zaleski, một người thích các biện pháp phi dân chủ. Tuy
nhiên, Beck lại luôn ngờ vực những chính sách của người Pháp, nhất là
thái độ không kiên quyết của họ thời Laval.
Một trong những thắng lợi của Đức là việc ký kết một tuyên bố không xâm
lược với Balan ngày 26 tháng Giêng năm 1934, có giá trị trong mười năm.
Beck, vốn bất bình với “Hiệp ước tay tư” (gạt Balan ra ngoài không có
quyền lợi gì), tìm cách cân bằng giữa Đức và Liên Xô, bằng những việc
tiếp xúc liên tục với lãnh đạo các nước khác nhau, nhất là các cường
quốc. Tháng Tư, và cả vào tháng Chạp năm 1933, ông ta đã bí mật đề nghị
với Pháp một chiến dịch ngăn ngừa đánh vào chủ nghĩa Hít-le. Khi bị
Pháp từ chối, ông ta quay sang Đức và đề nghị ký với Đức một Hiệp định.
Trong năm 1933, có nhiều cuộc đụng độ quân sự nhỏ trong quan hệ Đức –
Balan, nhất là khi Balan tăng cường quân đội đồn trú ở bán đảo
Westerplatte, trên lãnh thổ Dantzig ngày 6 tháng Ba năm 1933. Ngày 4
tháng Năm năm 1933, Hít-le tuyên bố với báo chí là đã có cuộc họp với
công sứ Balan ở Béclin, ông Wysoki, bạn thân của Đại sứ Pháp tại Đức,
Francois – Poncet, vì thế bị coi là thân Pháp. Sau đó, Lipski thay
Wysoki tại Béclin.
Ngày 16 tháng Mười một năm 1933, Hít-le gặp Lipski, đã có một thông báo
rằng hai bên sẽ không sử dụng vũ lực trong mối quan hệ với nhau. Ngày
27 tháng đó, một dự án Hiệp ước hòa bình được bộ trưởng Đức Von Molke
trình cho nguyên soái Pilsudski. Ngày 4 tháng Giêng năm 1934, Lipsky
trình một bản dự án của Balan trả lời cho dự án của Đức, mà chính những
dự thảo dự án này đã được đại tá Beck trong khi đi Genève đã rẽ qua
Béclin ngày 13 tháng Giêng và có được những thỏa thuận bí mật với Chính
phủ quốc xã. Tại sao những thỏa thuận này cần bí mật? Đó là vì trong
nội bộ nước Đức có những thế lực Phổ căm ghét Balan, đồng thời thế lực
Balan thân Pháp còn mạnh. Thậm chí ngày 25 tháng Giêng (trước hôm ký
Hiệp định một ngày), Lipsky còn tuyên bố với đồng nghiệp Tiệp Khắc tại
Đức, ông Mastny rằng không đời nào có chuyện “ác” như vậy. Hòa ước được
ký kết, tuyên bố “hai Chính phủ muốn mở đầu một giai đoạn mới trong mối
quan hệ chính trị hoàn toàn hòa bình… hai Chính phủ sẽ tham khảo ý kiến
của nhau và sẽ bao giờ sử dụng vũ lực trong giải quyết những bất đồng”.
Bản tuyên bố có giá trị trong 10 năm, và sẽ không làm thay đổi hiệu lực
của các Hiệp ước đã ký trước đây.
Trong nội dung của Hiệp định không hề chống lại nước Pháp, nhưng rõ
ràng với hoàn cảnh của Balan, thì đó là một việc không khôn khéo. Về
danh chính ngôn thuận, thì đó là việc làm không “fair play” với đồng
minh Pháp, dù là Pháp còn chưa quyết đoán được chính sách với Đức. Đại
sứ Pháp tại Đức Francois – Poncet nói: “Thái độ của Balan đối với chúng
tôi và nhất là thái độ của Đại tá Beck, bộ trưởng ngoại giao Balan,
không phải là thái độ của một người bạn, mà là của kẻ thù đích thực”.
Như vậy bằng Hiệp ước này, Balan đã đặt một chân vào thảm họa diệt vong.
4 - Liên Xô trên trường quốc tế trong những năm 1930. Nỗ lực của nước Pháp trong ngăn chặn chiến tranh.
Thủ tướng Pháp Louis Barthou (25 tháng Tám năm 1862 – 9 tháng Mười năm 1934)
Trước năm 1930, quan hệ Pháp – Xô rất xấu (cũng có thể do Hiệp ước Đức
– Xô tháng Tư năm 1926?). Nhưng từ năm đó trở đi, quan hệ có được cải
thiện hơn. Ngày 29 tháng Mười một năm 1932, Hiệp ước tương tự đã được
ký kết giữa hai nước Pháp – Xô. Từ đó trở đi, mối quan hệ giữa hai nước
tốt hơn nhiều, nhất là những giao lưu trao đổi về quân sự.
Xin quay một chút sang nước Pháp. Để đối phó với sự nguy hiểm ngày càng
tăng từ phía nước Đức quốc xã, mà nước Pháp cũng đang cố gắng có được
những hành động tăng cường an ninh tập thể, vai trò chủ yếu thuộc về
Thủ tướng thứ 78 của nền Cộng hòa, Louis Barthou (25 tháng Tám năm 1862
– 9 tháng Mười năm 1934). Ông ta đề ra một kế hoạch dự định thực hiện
trong xuân – hè năm 1934. Theo kế hoạch, nước Pháp cần hướng mạnh về
phía Đông. Không trông cậy gì được vào chính sách biệt lập của nước
Anh, ông ta định quay sang Italia và Liên Xô. Nhưng ông ta, về đối nội,
là người chống cộng lại vẫn tin tưởng ở Hồng quân hơn là quân đội
Italia. Ngày 16 tháng Năm năm 1934, ông có cuộc gặp quan trọng với Ủy
viên nhân dân ngoại giao Xô-viết Lítvinốp tại Genève. Tháng 6, ông thăm
một số nước Đông Âu và Hoa Kỳ. Ngày 2 tháng Sáu, ông lại gặp lại
Lítvinốp và trình bày kế hoạch “Hiệp ước phương Đông” chứa đựng những
nội dung đi đến một liên minh quân sự Pháp – Xô thực sự. Đáng tiếc,
những nỗ lực của ông chỉ đưa đến một kết quả duy nhất là việc ủng hộ
mạnh mẽ cho Liên Xô gia nhập Hội quốc liên ngày 18 tháng Chín năm 1934,
với 32/42 phiếu bầu. Ngày 9 tháng Mười năm đó, xảy ra một sự kiện
nghiêm trọng. Thủ tướng Pháp Louis Barthou tiếp vua Alexandr của Nam Tư
tại Marseille và cả hai cùng bị tổ chức khủng bố người Crôatia thân
quốc xã “Oustacha” ám sát. Chính cái chết của Barthou đã chấm dứt những
cố gắng của nước Pháp trong việc ngăn ngừa cuộc chiến tranh đến đã quá
gần. Người kế vị ngai vàng Nam Tư, hoàng tử Paul, nhanh chóng xích lại
gần nước Đức phát-xít. Thủ tướng mới của Pháp, Pièrre Laval (lên từ ghế
ngoại trưởng thay Barthou) làm ra vẻ tiếp tục chính sách của ông, nhưng
trên thực tế, là người có lập trường xoa dịu và hòa hoãn với phát-xít.
Paul – Boncour nói: “Tôi nghĩ rằng không phải ngay một lúc ông ta đã đi
theo tiến trình sẽ đưa ông ta đến các lập trường sau này. Thiên về kinh
nghiệm chủ nghĩa hơn là lý thuyết giáo điều, ông ta chuyển biến dần
theo hướng khác, tiếp tục dung hòa Hội quốc liên và các liên minh
phương Đông của Pháp lúc đấy đang được đưa vào Hội. Ngay khi việc trừng
phạt đang rộ lên ông ta vẫn còn tỏ ra bái phục Hội quốc liên và do đó
gây ảo tưởng rằng ông ta vẫn tiếp tục những chính sách cũ”. Trong khi
Barthou muốn thành lập một liên minh thực tế và có hiệu quả và khi cần
thiết đã biết chống lại ảnh hưởng của Anh thì Laval lại thi hành chính
sách hòa giải với tất cả mọi người, bằng một loạt thỏa hiệp ít nhiều bị
khập khiễng. “Thay vì một chính sách lớn, với Laval người ta bước vào
thời đại của những cuộc mặc cả ngắn hạn”. Đáng tiếc, điều này quá đúng
và, ngay cả Liên Xô trong thời kỳ đó cho đến trước chiến tranh, cũng đã
rơi vào những cuộc mặc cả ngắn hạn như thế.
5 - Hội nghị Munich và sự thôn tính nước Tiệp Khắc
Bản đồ vùng Xuyđét (Sudètes)
Sở dĩ tại sao phải nói một chút về giai đoạn này, mặc dù nó không liên
quan gì đến sự kiện Katyn, nhưng dù sao cũng góp phần làm rõ hơn những
âm mưu và nước cờ của nước Đức phát-xít.
Cho đến giữa năm 1937, nổi lên vấn đề kiều dân Đức ở Xuyđét (Sudètes),
đông khoảng 3.200.000 người. Việc sáp nhập vùng đất này thuộc nước Tiệp
Khắc được Hítle đặt lên hàng đầu trong chương trình của nước Đức. Thực
chất, kiều dân Đức ở đây chưa hề có ý định muốn được gắn bó với đế chế
Đức cho đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Họ chung sống hòa
thuận với cư dân người Séc và Xlôvakia. Vùng này Chính phủ Tiệp Khắc đã
xây dựng nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng quan trọng và biến vùng này
trở thành một vùng công nghiệp hóa cao của đất nước.
Nhưng tình thế năm 1937 lại khác. Đảng Sudèten Deusche Partei (Đảng của
người Đức ở Xuyđét) do Konrad Henlein cầm đầu, nắm 70% ghế trong Quốc
hội của vùng, lại có xu hướng thân quốc xã rõ rệt. Việc thành lập chính
quyền tự trị, trong đó những công chức biết tiếng Đức được xúc tiến.
Ghi nhận quyền lựa chọn sinh sống dưới chính thể Tiệp Khắc hay Đế chế
Đức của kiều dân Đức.
Một loạt hoạt động quân sự, chủ yếu là tổng động viên và tập trung quân
ở biên giới hai nước Đức - Tiệp diễn ra trong năm đó và đầu năm sau,
phía quân đội Tiệp là đêm ngày 20, rạng sáng ngày 21 tháng Năm năm
1938. Người ta đặt câu hỏi phải chăng điều này là do lời khuyên của
phía Liên Xô, lúc đó cũng rất muốn giúp đỡ nước Tiệp để chống lại nước
Đức phát-xít đang muốn bành trướng?
Chính phủ Anh cũng đã có những can thiệp mạnh mẽ do đó Hítle đã không
hành động dù hắn ta rất bực bội. Còn Chính phủ Pháp của Daladier (ngoại
trưởng Pháp giai đoạn này là Georges - Bonnet) thì có xu hướng ôn hòa.
Việc thôn tính vùng Xuyđét, đối với Đức quốc xã, chỉ còn là ngày một ngày hai.
Thông tin quan trọng trong phần này, là thái độ của Liên Xô như thế
nào? Ngày 12 tháng Năm năm 1938, ngoại trưởng Pháp Bonnet xin gặp Bộ
trưởng dân ủy ngoại giao Liên Xô Lítvinốp ở Giơnevơ (Genève). Chính phủ
Liên Xô tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ nước Tiệp Khắc nếu như Balan và Rumani đồng ý để cho Hồng quân Liên Xô đi qua lãnh thổ của mình.
Nhưng Balan đang thi hành một chính sách ngoại giao hết sức liều mạng
và nguy hiểm, là chọn phương án đối đầu cả Liên Xô và Đức, trong khi
vẫn đang hy vọng vào sự bảo trợ của nước Pháp, là nước mà dần dần người
ta sẽ thấy, bảo vệ chính mình còn chưa xong. Quan trọng hơn cả là họ
đang bất hòa với Tiệp Khắc. Còn Rumani, vẫn đang lo lắng về vùng
Bétxarabi (năm 1940 bị cắt về lãnh thổ Mônđavi xô-viết). Trên thực tế,
nước Rumani có thể cho quân Liên Xô đi qua nhưng họ chỉ có duy nhất một
con đường sắt rất tồi, và họ cho phép máy bay Liên Xô bay qua vùng trời
của mình sang Tiệp. Trên thực tế, Liên Xô biết rõ tình thế đó và rõ
ràng đây là nước cờ “tuyên bố nhưng không hành động” khá rõ nét. Tuy
nhiên trên thực tế, trong thời gian diễn ra Hội nghị Munich đã có 200
máy bay chiến đấu Liên Xô có mặt trên đất Tiệp Khắc, cũng không thể phủ
nhận hoàn toàn những hành động cụ thể của Chính phủ Liên Xô trong tình
thế ai cũng phải đi trên dây trong giai đoạn này.
Ngày 23 tháng Chín năm 1938, Phó Ủy viên nhân dân ngoại giao Liên Xô
Pôtemkin thông báo cho phía Balan rằng, Liên Xô sẽ hủy bỏ Hiệp ước
không xâm lược với Balan đã được ký ngày 25 tháng Bảy năm 1932, nếu như
Balan xâm lược Tiệp Khắc (Ý đồ này đã trở nên hết sức rõ rệt). Cũng
trong thời gian này lại diễn ra thỏa hiệp giữa một bên là Đức, bên kia
là Anh – Pháp theo đó, bất cứ một lãnh thổ nào có trên 50% dân cư nói
tiếng Đức sẽ được sáp nhập vào Đức! Ngày 21 tháng Chín năm 1938, Anh và
Pháp thông báo với Tiệp là nếu có ý định kháng cự, họ sẽ không được ai
ủng hộ cả. Đây là một sự bội ước ghê gớm của Chính phủ hai nước, nhất
là Pháp, với thành viên liên minh của mình.
Hội nghị Munich
Và thế là với những diễn biến như trên, ngày 29 tháng Chín năm 1938, đã
diễn ra Hội nghị Muních, với sự tham gia của Đức, Pháp, Anh, Italia. Tệ
hại nhất là sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Tiệp Khắc đã bị hy sinh vì
“hòa bình”. Đồng thời, chính Hội nghị này đã cho thấy manh nha âm mưu
“xử lý” Hunggari và nhất là Balan - đối tượng nghiên cứu chính của
chúng ta ở đây. Trong quyết định của mình, hội nghị còn có một phụ lục
nữa liên quan đến những kiều dân Balan và Hung ở Tiệp, sẽ liên quan sâu
hơn đến những hành động của Balan sau này: “Vấn
đề dân tộc thiểu số Balan và Hung ở Tiệp Khắc, nếu không được giải
quyết bằng hiệp định giữa các Chính phủ hữu quan trong vòng 3 tháng,
thì sẽ là mục tiêu cho một cuộc họp khác của Chính phủ 4 cường quốc
đang họp cuộc họp hôm nay”.
6 – Những cố gắng ngăn chặn cuộc chiến tranh đã ở ngay ngưỡng cửa
Bản đồ vùng Silésie
Ngày 7 tháng Mười một năm 1938, bí thư thứ ba sứ quán Đức tại Paris
Ernst Von Rath bị Herschel Grynspan một người Đức Do thái gốc Balan ám
sát chết. Sự kiện này chính là cái cớ cho làn sóng bài Do thái và sau
đó là thái độ thù địch với Balan ở nước Đức.
Sau hội nghị Munich, Liên Xô hết sức chống đối Pháp (có tin đồn rằng
chính Liên Xô đã ủy quyền cho Daladier đại diện tại Hội nghị, nhưng tờ
Pravda đã đưa ra cải chính tin đồn này). Liên Xô cho rằng Pháp đã quá
tệ bạc và bội ước. Liên Xô đang làm cho người ta tin rằng, chính họ chứ
không có ai cả, tin vào các biện pháp an ninh tập thể đã được vạch ra
trước đó mấy năm bởi một người Pháp (Thủ tướng thứ 78 của nền Cộng hòa,
Louis Barthou).
Sau Hội nghị Muních, là thời gian tan rã của nước Tiệp Khắc. Xuyđét bị
sáp nhập vào Đức. Nhiều vùng lãnh thổ phải tổ chức trưng cầu dân ý về
việc ở lại với Tiệp hay bị sáp nhập. Nhân cơ hội này, Đại tá Beck muốn
sáp nhập vùng Silésie de Teschen vào Balan. Từ năm 1937, họ đã bãi bỏ
hiệp ước không xâm lược ký với Tiệp năm 1924, và sau 6 tháng từ khi bãi
bỏ, Hiệp ước cho phép họ tự do hành động. Họ cho rằng Tiệp Khắc đã “bạc
đãi” dân Balan ở vùng này.
Ngày 19 tháng Chín năm 1938, Beck trình bày ý định của Balan đối với vùng Teschen.
Hai ngày sau, ngày 21, Chính phủ Balan chính thức bãi bỏ hiệp định
Balan - Tiệp về người thiểu số năm 1925 và chính thức đòi lại vùng
Teschen. Quân đoàn Silésie được thành lập ở Vácxava vì mục đích chiếm
vùng đất này.
Liên Xô lên tiếng, dọa sẽ xóa bỏ Hiệp ước không xâm lược năm 1932 đối
với Balan. Pháp cũng dậm dọa Balan. Nhưng thế đã quyết, Balan kiên
quyết đứng về phía Đức. Sau hội nghị Munich mà Beck không được mời dự,
cho là mình bị xỉ nhục và đã gửi cho Chính phủ các nước tham gia hội
nghị một tối hậu thư rất thô lỗ vào ngày 30 tháng Chín, các yêu sách về
lãnh thổ của Balan “phải” được phía Tiệp Khắc chấp thuận trước ngày 1
tháng Mười, và nước Tiệp Khắc cô độc, đã phải chấp nhận. Từ 1 giờ sáng
ngày hôm đó, quân Balan vượt sông Olza tràn vào lãnh thổ Teschen của
nước Tiệp, chiếm được 1000 ki-lô-mét vuông với số dân 230.000 người.
Ghê gớm hơn, Balan tiếp tục muốn chiếm lãnh thổ Ucraina vùng nam
Cácpát, vì cho rằng vùng này có những ổ hoạt động có ảnh hưởng đến
phong trào chống chính quyền của cộng đồng người Ucraina ở Balan. Hítle
đã không đồng ý với mưu đồ này nên Beck tạm dừng lại.
Như vậy, sau hội nghị Munich, đại tá Beck đã tưởng rằng Balan “đã là
một cường quốc” có thể tham gia vào thôn tính nước Tiệp Khắc, và thi
hành chính sách thân, gần như là chư hầu với quốc xã, đẩy mình vào thế
thù địch với Pháp và nhất là với Liên Xô.
Trong cuộc gặp giữa ngoại trưởng Von Ribbentrop với đại sứ Balan tại
Đức Lipsky, phía Đức vẫn nhấn mạnh tính bền vững của hiệp ước không xâm
lược lẫn nhau giữa hai nước Đức – Balan.
Nhưng cũng chính thời gian này mà âm mưu của nước Đức quốc xã đối với Balan đã thể hiện khá rõ nét.
Trong tháng Mười một, hàng loạt người Balan nói tiếng Đức di cư về Đức.
Cũng trong tháng này, Đức trục xuất 15.000 người Balan gốc Do thái về
Balan.
Từ tháng Mười, Đức đã “nhẹ nhàng” nói về vấn đề thành phố Đăngdích
(Dantzig). Ngày 24 tháng Mười, Von Ribbentrop nói với đại sứ Balan tại
Đức Lipsky rằng thành phố Đăngdích tự do cần phải được sáp nhập về Đức.
Đức còn muốn xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc xuyên qua đất Balan
đến đó và tuyến đường sắt này phải được hưởng quy chế tài phán lãnh sự
của Đức. Ngược lại Balan sẽ có một cảng miễn thuế tại Đăngdích và được
xây dựng một tuyến đường sắt tương tự của mình đến thành phố này. Bù
lại, hai bên sẽ kéo dài hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau ký năm 1934
không phải là 10 năm nữa mà là 25 năm. Đạt được như vậy, quan hệ Đức –
Balan sẽ tốt đẹp y như quan hệ Đức – Italia!
Lipsky vội vàng về nước báo cáo với Beck, ông ta hứa sẽ xem xét nhưng
kiên quyết chống lại đề nghị sáp nhập Đăngdích vào Đức. Chính quyền Đức
như đã nói, hết sức “nhẹ nhàng” và không đặt lại vấn đề nữa. Có lẽ với
Đức, mọi chuyện của đất nước Balan gần như đã an bài.
Nhưng Beck hình như cũng đã nhận ra lờ mờ tình thế của đất nước, và tìm
cách xích lại gần Liên Xô. Tháng Mười năm 1938, đại sứ Balan tại
Mátxcơva ông Grzybowsky đề nghị ký kết một hiệp ước hữu nghị mới trên
cơ sở hiệp ước không xâm lược được ký năm 1932. Ngày 24 tháng Mười một
hiệp ước được ký kết, công bố hai ngày sau đó. Hai bên tuyên bố tán
thành việc trao đổi thương mại. Các hiệp định thương mại được đàm phán
và ký kết vào ngày 10 tháng Hai năm 1939.
Ngày 5 tháng Giêng năm 1939, đại tá Beck được Hítle mời đến
Berchtesgaden. Trong cuộc hội đàm, hai bên đã nhấn mạnh sự thù địch
chung chống Liên Xô. Nhưng đồng thời Hítle lại nêu vấn đề Đăngdích và
đường sắt hành lang, đồng hời hứa hẹn là sẽ không bao giờ giải quyết
vấn đề theo hướng “việc đã rồi”. Khi về, Beck thỏa mãn được việc liên
minh với Đức để chống Liên Xô, nhưng lại bị đẩy vào thế phải “quyết” về
thành phố Đăngdích. Ông ta không thổ lộ gì với Pháp dù giữa họ còn tồn
tại một liên minh.
Sau chuyện này, Léon Noël (1888 – 1987, Đại sứ Pháp tại Balan từ 1935
đến 1940, sau này tham gia Chính phủ kháng chiến của Thống chế Charles
De Gaulle) đã nói: “Không có gì mù quáng hơn điều mà Beck đã làm!”.
Cuối tháng Giêng, ngoại trưởng Đức Von Ribbentrop thăm Balan, là chuyến
thăm chính thức đầu tiên (và cũng là cuối cùng) của một chính khách cao
cấp quốc xã tới Balan. Hắn ta khẳng định tình hữu nghị giữa hai nước và
tính bền vững của những gì hai bên đã ký kết. Đồng thời hắn cũng thăm
dò Beck xem khả năng cùng đánh Liên Xô, với mục tiêu rõ rệt là chiếm
Ucraina, có được không? Vì đang ở trong tình thế “Đăngdích”, nên Beck
đã lịch sự từ chối cả hai vấn đề trên. Ông ta vẫn chưa hiểu tất cả chỉ
là đòn gió của phía Đức mà thôi.
Ngày 15 tháng Ba, nước Tiệp Khắc hoàn toàn tan rã, vùng Rutheni nam
Cácpát bị sáp nhập vào Hunggari, vùng Memel bị sáp nhập tiếp vào Đức,
làm cho tình thế nước Balan trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết. Nguy
hiểm xuất hiện rõ nhất là trong cuộc hội đàm diễn ra vào các ngày 26 và
27 tháng Ba năm 1939 giữa Lipsky và Von Ribbentrop, Balan “bị buộc”
phải gia nhập vào liên minh chống Liên Xô, đồng thời những yêu sách về
Đăngdích được đặt lại lên bàn với áp lực ngày càng tăng. Ngày 29 tháng
Ba, một cuộc biểu dương lực lượng của Hải quân quốc xã được tiến hành
tại biển Bantích. Ngày 28 tháng Ba, Beck tuyên bố sẵn sàng dùng chiến
tranh chứ không nhượng bộ về Đăngdích, nhưng ngược lại ông ta lại đánh
tiếng với Đức rằng, chính ông ta chứ không phải ai khác, mới có thể duy
trì tình thân hữu của Balan với nước Đức quốc xã bất chấp dư luận nhân
dân Balan trong nước.
Đại tá Beck chỉ đạo vội vã tìm kiếm sự ủng hộ từ Anh và Pháp, và đã đạt
được những tuyên bố từ phía hai “ông kẹ” này. Nhưng chính điều đó lại
tạo cớ cho Đức. Quốc vụ khanh Đức Von Weizsacker đã tuyên bố những thỏa
thuận Anh – Balan ngày 6 tháng Tư là trái với những gì Balan đã ký kết
với Đức!
Trong giai đoạn này, phải nói đến một người có những cố gắng rất lớn
cho hòa bình. Người đó không phài là I. Xtalin, mà lại là cố Tổng thống
Hoa Kỳ Roosevelt. Ngày 14 tháng Tư, Ông đã đọc một bài diễn văn ở Ủy
ban thống nhất liên Mỹ, nói rõ: “Vấn
đề đặt ra là trên thực tế cần phải biết liệu nền văn minh của chúng ta
có bị lôi kéo vào một cơn lốc bi thảm của chủ nghĩa quân phiệt vô hạn
độ được đánh dấu bằng các cuộc chiến tranh định kỳ, hay chúng ta biết
duy trì lý tưởng hòa bình, tự do cá nhân và văn minh vốn là nền tảng
của cuộc sống chúng ta”. Hai ngày sau ông gửi cho Hítle và
Mútxôlini hai bức thư cá nhân, đề nghị họ khẳng định trong 10 năm tới
sẽ không xâm lược 29 quốc gia mà ông liệt kê trong thư. Nếu họ đồng ý,
ông sẽ có đề nghị tương tự tới 29 quốc gia đó và Hoa Kỳ sẽ tham gia vào
việc giải trừ quân bị và việc phân chia nguồn lợi nguyên liệu giữa các
quốc gia.
Những động thái này, không được Hítle hoan nghênh. Chính Roosevelt cũng
không hy vọng nhiều vào những hành động của mình, mà chỉ nhằm làm cho
những nước trong cuộc, ở châu Âu, nhất là Anh và Pháp, nhận rõ âm mưu
và thái độ hiếu chiến của Hítle.
Ngày 28 tháng Tư, Hítle đọc trước Quốc hội Đức một bài diễn văn dài,
lấy cớ là đã có những cuộc hội đàm Anh – Balan, và sau đó thì nước Đức
đã chuẩn bị cho kế hoạch Weiss (được Keitel ký ra lệnh cho quân đội Đức
ngày 3 tháng Tư) - kế hoạch đánh chiếm Balan vào ngày 1 tháng Chín năm
đó.
Ngày 22 tháng Năm, Đức và Italia ký Hiệp ước - được gọi là “Hiệp ước Thép”, làm cơ sở hình thành phe Trục sau này.
Từ đây, những diễn biến của tình hình chỉ là việc ngăn không cho một
cuộc Đại chiến thế giới mới không xảy ra quá nhanh mà thôi, dù trên
thực tế bên nào cũng hình dung rõ nét về nó lắm rồi.
Cuộc chiến tranh đang đến quá gần làm cho các nước phương Tây cũng như
Hítle muốn lôi kéo Liên Xô đứng về phía mình. Cho đến tháng Tám năm
1939 Liên Xô vẫn chưa có được một sự lựa chọn nào cả. Về phần mình,
Liên Xô được ngăn cách với nước Đức ở Balan và Rumani, do đó việc tham
gia bất cứ một liên minh chống Đức nào, Liên Xô cho là nguy hiểm và
chưa cần thiết. Trong khi đó về ý thức hệ, Liên Xô cũng khó có thể gần
gũi hơn được với Anh, Pháp… và thấy gần gũi hơn, muốn bảo vệ các nước
dân chủ châu Âu như Tiệp Khắc. Ngày 11 tháng Ba năm 1939, trong diễn
văn được đọc tại Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô - Mátxcơva, Manuilxki đã
tuyên bố: “Kế
hoạch của giai cấp tài sản phản động Anh là hy sinh các quốc gia nhỏ bé
ở đông nam châu Âu cho phát-xít Đức, hướng Đức sang phía Đông để đánh
bại Liên Xô, nhắm lấy chiến tranh phản cách mạng để ngăn chặn sự tiến
bộ của chủ nghĩa xã hội và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô”. Cho đến nay, cái vế đầu “Kế
hoạch của giai cấp tài sản phản động Anh là hy sinh các quốc gia nhỏ bé
ở đông nam châu Âu cho phát-xít Đức, hướng Đức sang phía Đông để đánh
bại Liên Xô…” đã chứng minh với lịch sử là hoàn toàn đúng đắn.
Nhưng nếu Đức thắng Liên Xô, thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc Đức
chiếm nốt cả nước Anh không mấy khó khăn!
Chính vì hướng về các nước dân chủ, nên ngày 19 tháng Ba, Liên Xô phản
đối việc chia cắt làm tan rã nước Tiệp Khắc. Đồng thời Liên Xô bắt đầu
đã có các cuộc hội đàm với nước Anh. Liên Xô đề nghị một cuộc hội đàm
giữa những nước có liên quan nhất đến tình hình: Liên Xô, Anh, Pháp,
Balan, Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng vì nhiều lý do mà đề nghị này không thành
công, những lý do này không cần viết ra chúng ta đều đã biết là mỗi
nước đều có những vấn đề và cách giải quyết riêng của mình.
Nhìn chung trong lúc dầu sôi lửa bỏng này, nhưng những cố gắng của các
bên vẫn rất kỳ lạ và đi theo những chiều hướng khác nhau, như những con
kiến cùng kéo một miếng thức ăn, mỗi con đi về một hướng, nhưng lại làm
cho tình hình chung đi về cái hướng tàn bạo và khốc liệt: chiến tranh!
Người Anh phản ứng hết sức chậm chạp, ngược lại để trả lời “không!” thì
người Xô-viết bao giờ cũng phản ứng hết sức nhanh chóng. Cả hai đều
không có những dấu hiệu của thiện chí. Chỉ có người Pháp là vội, vì họ
ở sát nách nước Đức. Nếu Đức đánh Balan, có nghĩa là chiến tranh. Mà
chiến tranh, có nghĩa là Đức sẽ đánh nước Pháp. Pháp hoàn toàn chấp
thuận một liên minh đầy đủ với Liên Xô, nghĩa là một trong hai nước bị
đánh thì nước kia sẽ tham chiến. Còn Anh thì chỉ muốn Liên Xô đảm bảo
cho trường hợp Balan và Rumani bị xâm lược, chứ không sẵn lòng tham
chiến trong trường hợp Liên Xô bị tần công. Liên Xô thì muốn cả Anh và
Pháp đều “được như Pháp”. Về phần mình, thật kỳ lạ, nước Balan của đại
tá Beck thì phản đối mọi thỏa thuận có Liên Xô tham gia, và hơn nữa
không ủng hộ bất cứ thỏa thuận nào bảo đảm cho Rumani. Đến tình thế này
rồi, mà ông ta vẫn còn có những suy nghĩ kỳ lạ đến thế!
Ngày 18 tháng Tư, Ủy viên nhân dân ngoại giao Liên Xô Lítvinốp đề nghị
một hiệp ước an ninh tập thể, gồm có 3 định ước: 1- Hiệp định tương trợ
và giúp đỡ lẫn nhau giữa 3 nước; 2 - Một thỏa ước quân sự và 3 - Hiệp
ước đảm bảo cho các quốc gia nằm giữa biển Bantích và biển Đen. Trong
Hiệp ước an ninh này có sự đảm bảo không có sự ký kết các hiệp ước
riêng rẽ khác của các nước thành viên. Nhưng đây mới chỉ là đề nghị vì
ngay sau đó, Môlôtốp thay Lítvinốp (người luôn hướng về an ninh tập
thể) làm Ủy viên nhân dân ngoại giao Liên Xô. Đây là sự kiện làm đình
chỉ việc đàm phán ký kết Hiệp ước nói trên và đánh dấu sự thay đổi
chính sách của Liên Xô.
Đến đây đã có được những nhượng bộ bước đầu của Anh, nhưng cũng không
đi đến đâu vì một số những bất đồng, mà có thể do cố tình tạo ra. Ngày
27 tháng Năm, Anh và Pháp chấp thuận một dự án hiệp ước an ninh tập
thể, Anh và Pháp sẽ tham chiến nếu Liên Xô bị xâm lược. Việc đảm bảo sẽ
áp dụng với Balan, Rumani, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Bỉ. Với các nước vùng
Bantích như Estonia, Latvia, Anh muốn ký kết một nghị định thư riêng,
nhưng Liên Xô lại khăng khăng đòi đưa những nước đó vào diện được đảm
bảo trong cùng Hiệp ước. Đây chính là cái cớ để Liên Xô bác bỏ đề nghị
này của nước Anh.
Ngày 1 tháng Bảy, Anh và Pháp lại đưa đề nghị mới, chấp nhận đề nghị
của Liên Xô là đưa các nước Bantích vào diện được bảo đảm, có thêm Phần
Lan trong số này – nhưng lại đưa thêm vào danh sách Thụy Sỹ và Hà Lan,
vốn là hai nước không được Liên Xô chấp thuận ngay từ đầu. Và thế là
các cuộc đàm phán lại quay về vạch xuất phát. Ngày 18 tháng Bảy, Anh và
Pháp đồng ý bỏ hai nước trên ra khỏi danh sách, nhưng họ lại vấp phải
những bất đồng khác, nhất là trong định nghĩa về một cuộc “xâm lược
trực tiếp”, là cái cớ để hành động tham chiến sau này cho các quốc gia
thành viên hiệp ước. Thế là câu chuyện lại chẳng đâu vào đâu.
Không thành công về Hiệp định chính trị, họ quay ra đàm phán về Hiệp
định quân sự. Nhưng vấn đề lớn nhất là Liên Xô cứ khăng khăng trong
việc, liệu Balan có cho phép Hồng quân đi qua lãnh thổ của mình hay
không? Pháp và Anh lại sa lầy vào việc thuyết phục Balan, mà chúng ta
và cả những lãnh đạo Liên Xô đều thừa biết chẳng đời nào Beck đồng ý
điều đó. Ngày 21 tháng Tám, Daladier (Thủ tướng Pháp) chỉ thị cho
Doumenc (Đại sứ Pháp) phải ký bằng được Hiệp ước với Liên Xô, về việc
đi qua lãnh thổ Balan cũng được, bất chấp Balan có đồng ý hay không.
Nhưng đã quá muộn, vì Liên Xô yêu cầu có được sự đồng ý chính thức của
Balan. Ngày 28 tháng 8, Vôrôsilốp cho triệu Doumenc đến để thông báo
rằng những điều kiện từ phía Pháp chuẩn bị là không đủ, và Liên Xô cần
có câu trả lời chính thức từ phía Balan và Rumani. Thái độ của Balan
thì hết sức rõ ràng: nguyên soái Balan Smigly-Rydz nói: “Với người Đức chúng tôi có nguy cơ sẽ mất tự do, nhưng với người Nga chúng tôi sẽ mất cả linh hồn!”.
Xin nhớ rằng, Hiệp ước Xô - Đức được ký ngày 23 tháng Tám năm 1939!
Quay lại với Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô ngày 10 tháng Ba năm 1939,
Xtalin không hề đả kích mạnh mẽ Hítle và tập đoàn cầm quyền của y. Ông
chỉ nói rằng sự yếu kém của các nước phương Tây chính là nguyên nhân
chính của những hành động bạo lực của Đức. Ông ta cũng chi ra rằng,
không có căn cứ để xác định chính sách thù địch với nước Đức của Liên
Xô.
Ngày 3 tháng Năm, Môlôtốp được cử giữ chức Ủy viên nhân dân ngoại giao.
Ngày 17 tháng Tư năm đó, đại sứ Liên Xô tại Đức Mêrêkalốp đã gặp Quốc
vụ khanh Đức Von Weizsacker vừa đề ra mắt, trình quốc thư và đồng thời
xúc tiến thực hiện những Hợp đồng đã ký kết, được thực hiện tại những
xí nghiệp quốc phòng của tổ hợp Skoda (Tiệp) bây giờ đã thuộc về Đức.
Trong cuộc hội kiến, ông ta đã nói khá rõ ràng là Liên Xô đã đang và sẽ
không lợi dụng mối bất hòa Đức – phương Tây, và không có lý do gì để
cho quan hệ Đức – Xô xấu đi cả! Ngoài ra sau đó Liên Xô còn có một số
những động thái mới, trong khi chính Đức quốc xã lại e dè, sợ rơi vào
một âm mưu gì đó của Liên Xô!
Nhưng dần dần thì họ cũng nắm được cơ hội. Họ đang chứng minh cho Liên
Xô thấy rằng, về ý thức hệ, Đức và Italia gần gũi hơn với Liên Xô trong
việc chống lại “bọn tư bản phương Tây”! Và trong mối quan hệ hỗ tương
đó, Đức sẽ đem lại cho Liên Xô nhiều hơn là những gì mà nước Anh sẽ
mang lại cho Liên Xô!
Ở đây còn một kẻ vội vã nữa: chính là bọn Đức quốc xã. Chúng đã quyết
định tấn công Balan vào ngày 1 tháng Chín, nên phải quyết định nhanh.
Ngày 23 tháng Tám năm 1939, Von Ribbentrop đến Mátxcơva – y được ủy
quyền toàn quyền ký với Môlôtốp một Hiệp ước có hiệu lực ngay. Ngay đêm
đó Hiệp ước được ký kết, cam kết không xâm lược lẫn nhau, không tham
gia vào một liên minh nào chống lại nước kia, không ủng hộ bất cứ một
nước thứ ba nào chống lại nước kia và giải quyết những bất đồng qua
trọng tài. Nhưng Hiệp ước không quan trọng bằng nghị định thư bí mật đi
kèm. Theo A. Rossi (“Hai năm liên minh Đức – Xô”) thì nghị định thư này
gồm 3 chương chính:
Chương 1: các nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Liên Xô gồm Phần
Lan, Estonia, Látvia. Những nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Đức có
Lítva. Hai nước Đức – Xô công nhận quyền lợi của Lítva ở Vilna.
Chương 2: quy định ranh giới vùng ảnh hưởng của hai nước trên
đất Balan, được vạch ra trên tuyến ba con sông Narép – Vixtuyn – Xan
(Narew – Vistule – San) “Vấn đề liệu có nên, vì lợi ích của cả hai
bên, duy trì một nước Balan độc lập và quy định các biên giới của nước
này như thế nào, chỉ có thể được giải quyết trong diễn biến chính trị
trong tương lai. Trong mọi trường hợp hai Chính phủ sẽ giải quyết bằng
con đường thỏa thuận hữu nghị”.
Chương 3: ghi nhận sự quan tâm của Liên Xô đối với vùng
Bétxarabi, và phía Đức quốc xã tuyên bố không có lợi ích chính trị nào
ở khu vực này.
Xtalin đã nâng cốc chúc sức khỏe của Hítle: “Tôi biết là dân tộc Đức yêu mến vị Quốc trưởng của mình như thế nào; và tôi muốn được nâng cốc chúc mừng sức khỏe của ông ta”.
Xtalin theo đuổi chính sách một nước Balan thu hẹp chỉ còn một dải đất
mỏng dính kẹp giữa ông ta và Hítle, đủ để làm vùng đệm phòng thủ sau
này.
Như vậy với Hiệp ước này, chính là thời khắc đánh dấu việc cuộc chiến tranh bùng nổ là không thể tránh khỏi.
7 – Thôn tính Balan – Bùng nổ cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ 2
Arthur Neville Chamberlain (1869 - 1940) Thủ tướng Anh
Từ đó trở đi, là thời gian của những sự kiện biên giới Đức – Balan, hầu
hết do phía Đức gây ra. Đại tá Beck bình tĩnh một cách kỳ lạ. Ông ta ra
tuyên bố lấy làm tiếc về việc Hiệp ước Đức – Balan bị phía Đức phá bỏ,
và vẫn kiên quyết trong việc bảo vệ Đăngdích nhưng có vẻ không mấy
cương quyết trong việc chuẩn bị chiến tranh. Trên thực tế, người dân
Balan không hào hứng lắm với việc kháng chiến chống Đức. Theo nhiều tài
liệu, Quân đội của Beck chỉ tuyển được có 700.000 quân trong số 3 triệu
người trong tuổi động viên. Ngoài ra cho đến phút cuối cùng, Beck vẫn
tin ở việc Đức không thể tấn công được trước cuối tháng Chín.
Ngày 30 tháng Tám, Đức lần cuối cùng đưa yêu sách 16 điểm, trong đó có
việc thành phố tự do Đăngdích phải được sáp nhập vào Đức, Gdynia vẫn là
của Balan nhưng bị phi quân sự hóa, và lập lại trật tự bảo vệ kiều dân
Đức “đang bị vi phạm quyền lợi từ sau năm 1918”. Người Balan đã không
nhận thức được những điều kiện đó, vì bây giờ tất cả phụ thuộc vào ý
chí của Hítle: hoặc là Balan đầu hàng, hoặc chiến tranh!
Ngày 31 tháng Tám, Balan mới ra lệnh tổng động viên, thì đến 0 giờ ngày
1 tháng Chín, đất nước đã bị tấn công. Cùng lúc đó chính quyền thành
phố Đăngdích tuyên bố tự sáp nhập vào nước Đức quốc xã.
Về quân sự, Balan không thể kháng cự được Đức. Đây là lần đầu tiên
chiến thuật “Chiến tranh chớp nhoáng” (Blitzkrieg) được thử nghiệm
thành công. Nhưng quân đội Balan cũng đã gây cho Đức những thiệt hại
đáng kể.
Liên Xô bắt đầu động viên từng phần. Ngày 9 tháng Chín, Môlôtốp đánh
tiếng với Đức là Liên Xô chuẩn bị can thiệp vào tình hình. Ngày 12
tháng Chín, ở Liên Xô có một chiến dịch báo chí rầm rộ về việc người
Bạch Nga và Ucraina bị đối xử tồi tệ ở Balan.
Xin nhắc lại, từ tháng Năm năm 1939, Liên Xô đã tiến hành các cuộc giao
tranh ở Khankhin Gôn, nhằm “dằn mặt” Nhật Bản. Và rõ ràng là Liên Xô đã
hoàn toàn yên tâm về mặt này.
Ngày 17 tháng Chín năm 1939, viện cớ nội bộ nước Balan đã tan rã, các
hiệp ước giữa Liên Xô và Balan đã không còn giá trị, nên quân đội Liên
Xô tiến vào Balan để bảo vệ người Bạch Nga và Ucraina. Von Ribbentrop
đã nói sự can thiệp của Liên Xô là hoàn toàn phù hợp với kế hoạch. Ngày
18 tháng Chín hai bên ra một tuyên bố chung Xô - Đức là việc hai nước
liên minh quản lý nước Balan đã tan vỡ và cứu giúp nhân dân Balan.
Nhưng đã xuất hiện những mầm mống đầu tiên của sự tan vỡ liên minh. Đức
quốc xã không thiện cảm với chiến dịch của Liên Xô, tiến vào đất Balan
mà chẳng vấp phải trở ngại nào, trong khi người Balan lại kháng cự kịch
liệt ở phía Tây.
Ngày 22 tháng Chín, sau vài ngày thương lượng, ranh giới giữa hai nước
được xác định nằm trên tuyến sông Pixa – Narép – Búc – Vixtuyn (tên
Balan là Vixla) – Xan (Pissa – Narew – Bug – Vistule – San). Chính
quyền Vácxava cố chống cự đến ngày 29 tháng Chín rồi thua hẳn. Thủ đô
Balan nằm trong vòng kiểm soát của phát-xít Đức, từ bờ phải sông
Vixtuyn (Vixla) thuộc về Liên Xô.
Như vậy cùng với sự tan rã của chính quyền Balan, Xtalin là từ bỏ ý
định “nhân đạo” duy trì một những Balan “mỏng dính”. Ngày 27 tháng
Chín, Von Ribbentrop đến Mátxcơva và ngày 28 ký một hiệp ước Xô - Đức
mới, với một nghị định thư bí mật mới, trong đó quan trọng nhất là việc
quy định lại ranh giới vùng chiếm đóng giữa hai nước, có lợi hơn cho
Đức so với ranh giới ngày 22 tháng Chín vì không theo sông Vixla nữa mà
theo sông Búc, đổi lại, Lítva sẽ chuyển sang vùng ảnh hưởng của Liên
Xô. Ranh giới này có lợi hơn cho Liên Xô so với nước Nga của thời kỳ
năm 1795, vì như vậy Liên Xô sẽ có thêm vùng Galicie và cũng có lợi hơn
so với tuyến biên giới Curzon năm 1920.
Tiếp đó là những sự kiện khác của cuộc Đại chiến, trong đó có các âm
mưu chống lại Liên Xô của phát-xít Đức. Một trong những sự kiện tôi cảm
thấy cần nhắc đến là yêu sách của Đức đối với Liên Xô về đường biên
giới Đức – Xô, được phía Đức đưa ra vào thời gian mùa xuân năm 1941, và
Liên Xô đã chấp thuận vào ngày 25 tháng Tư năm 1941, rút quân về phía
biên giới cũ của mình, chính tuyến biên giới mà ngày 22 tháng Sáu năm
1941, Hítle cho quân tràn qua bắt đầu bước vào cuộc phiêu lưu quân sự
lớn nhất trong lịch sử.
KẾT LUẬN
Như vậy chúng ta có thể rút ra một số kết luận về những sự kiện lịch sử
này. Về lịch sử mà nói, thì sự kiện Katyn là một tội ác của Bêria,
nhưng chắc chắn có sự chỉ đạo của Xtalin. Trước Cách mạng tháng Mười,
nước Balan nằm trong đế chế của Nga hoàng, như vậy có thể nói, nước
Balan chưa bao giờ nguôi ý thức phản kháng với người Nga. Ngược lại,
chắc hẳn người Nga cũng chưa thể quen ngay với việc nước Nga mất đi
những khoảng đất lớn, như Balan và sau này, Tiểu Nga, Bạch Nga, các
nước vùng Bantích và nhiều nữa… Hơn nữa như ở những phần đầu tôi đã
trình bày, chính tại nước Balan cũng đã từng tồn tại những mưu đồ chống
lại người Nga, thể hiện rõ nhất là những hoạt động của Bạch vệ Balan
(gây rất nhiều tội ác) trong các vùng đất Ucraina và Bêlaruxia xô-viết
thời nội chiến.
Sai lầm của chính giới Balan là ở chỗ họ đã có một thái độ thù địch quá rõ rệt với người Nga - khi mà không phải ai khác, chính chính quyền Xô-viết sau Cách mạng đã trả lại độc lập cho Balan, cũng như Phần Lan vậy.
Cùng với tâm lý trên đây, sự thù địch quá rõ ấy đã đẩy họ vào thế hết
sức bất lợi. Tiếp nữa, chính họ cũng là những người “yếu còn ra gió”,
chưa lo được thân mình còn định đi chiếm đất của nước khác!
Lịch sử trong cùng một lúc xuất hiện đến ba “thằng đểu”. Người thứ
nhất, chính là Thủ tướng Arthur Neville Chamberlain của Anh. Chính ông
ta chứ không phải ai khác, muốn hướng cuộc chiến tranh của Đức sang
phía Liên Xô.
Người thứ hai, là Xtalin. Đây là một người phức tạp và khó đánh giá.
Ông ta rõ ràng là đúng khi tính toán chiến lược, vì nếu không chiếm
được đất Balan làm vùng đệm thì Đức cũng chiếm, và thế thì còn nguy
hiểm hơn. Cũng khó mà đoán được rằng liệu ông ta có tính toán cho việc
sau này, Hồng quân Liên Xô sẽ tràn sang chiếm nước Đức, lập nên cả một
hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu hay không, vì thế vụ thảm sát Katyn
như tác giả của loạt 8 bài đưa ra là nhằm làm sạch hậu phương của Hồng quân
sau này, có vẻ như là xa vời quá. Theo tôi, đó là hành động “làm sạch”
hậu phương của Hồng quân vào chính thời điểm đó thì đúng hơn. Nhưng
Xtalin phải chăng đã quá ngây thơ khi tin vào hứa hẹn của Hítle? Tôi
đoán thời gian đầu thì có, nhưng càng về sau thì ông ta càng không tin
nữa và gấp rút chuẩn bị chiến tranh. Ông ta đã không đoán được ngay từ
đầu rằng, việc đánh Liên Xô là tất yếu, chứ không phải nước Anh trước!
Thực ra, Xtalin còn tàn ác cả với chính những người Xô-viết bị cho là
chống đối, thì đúng là việc “xử lý” những sỹ quan Balan đó, cũng không
quá khó hiểu. Có thể nói những sỹ quan bị thủ tiêu đó là nạn nhân của
chế độ độc đoán Xtalin. Chính trị đồng hành với tội ác.
Người thứ ba, một thằng đểu chính hiệu là Hítle. Hắn đã rất logic khi
tính toán là cuộc chiến chống nước Anh sẽ “cù cưa”, còn nước Pháp thì
không được tính! Vì thế để đảm bảo nguồn lực cho cuộc chiến đó, sẽ phải
là lúa mì Ucraina, là quặng Ural, là dầu Bacu! Vì thế mà hắn tính toán
kỹ đến từng nước cờ và rõ ràng trên bàn cờ chính trị giai đoạn trước
Đại chiến, hắn là người thắng cuộc. Hắn chỉ tính sai một điều, đó là
hắn không biết người Nga là ai!
Ngày hôm nay, người Nga đã chính thức xin lỗi người Balan vì sự kiện
Katyn bi thảm trên. Nhưng gần đây, nhất là trên các phương tiện thông
tin đại chúng Việt Nam, cụ thể là trên mạng internet xuất hiện những
bài báo còn chưa đầy đủ, phiến diện. Tôi muốn nghiên cứu những nguyên
nhân dẫn đến nó như là một trong tổng thể những sự kiện nằm giữa hai
cuộc chiến tranh thế giới, và nhất là nằm trong những sự kiện trực tiếp
dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Những nguyên nhân của
Katyn phải được xem xét dưới góc độ lịch sử khách quan và trong mối
quan hệ biện chứng với những sự kiện khác là nguyên nhân của cuộc Đại
chiến. Tôi muốn cố gắng để đưa ra một nghiên cứu đầy đủ và khách quan
nhất về sự kiện trên, là như thế. Xin giành lời cuối để tưởng niệm
những nạn nhân của tội ác, và mong tội ác sẽ không còn diễn ra trên thế
giới trong tương lai gần.
Đây mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu, còn phải hoàn thiện nhiều.
Hơn thế nữa nó cũng ngốn của tôi khá nhiều thời gian vì phải tìm lại
sách cũ trong máy tính, đọc, dịch, tổng hợp chúng lại cho thành mạch
xuyên suốt, nhưng không phải lúc nào cũng theo trình tự thời gian. Tôi
cố gắng sắp xếp các sự kiện theo mạch logic của những hành động và nước
cờ chính trị, vì thế có đôi chỗ có thể khó hiểu. Những nhận xét đánh
giá nhiều khi còn chủ quan và chưa chính xác, vì thế những đóng góp xin
gửi về email:
This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it
_______________
Theo các tài liệu:
Lịch sử quan hệ ngoại giao – Jean Baptiste Duroselle (Histoire diplomatique de 1919 à nos jours, Paris, Dalloz, 1974, 871)
“Hai năm liên minh Đức – Xô” – A. Rossi - bản tiếng Anh.
Các tài liệu trên Internet, wikipedia… |