|
PHẦN THỨ NHẤT
CHUYỂN MÙA - KHOẢNG THỜI GIAN THIÊNG ĐẦU NĂM
Cái khoảng thời gian thiêng đó của các dân tộc bản địa Đông Nam Á,
trong đó có người Chăm, là những ngày tháng chuyển mùa: từ mùa khô sang
mùa mưa và từ vụ thu hoạch của năm cũ sang một năm trồng cấy mới. Trong
những tháng chuyển tiếp này, người Đông Nam Á nói chung và người Chăm
nói riêng, tiến hành một loạt những lễ hội lớn nhằm tống tiễn mọi điều
xui xẻo của năm cũ và cầu mong mọi sự tốt lành của một năm làm ăn mới.
Đầu năm - những thời khắc chuyển từ năm cũ sang năm mới, đối với nhiều
dân tộc trên thế giới, luôn luôn là khoảng thời gian chuyển tiếp linh
thiêng.
CHƯƠNG MỘT
Hệ thống lễ hội chuyển mùa đầu năm của Đông Nam Á
Đành rằng, mọi lễ tết được gọi là “năm mới” của các dân tộc trên thế giới đều mang một ý nghĩa chuyển tiếp linh thiêng từ thời điểm cuối của một chu trình thời gian cũ đã qua sang thời điểm đầu của một chu trình thời gian mới
sẽ đến, thế nhưng, cái chu trình thời gian cũ và mới lặp đi lặp lại ấy
của năm mới lại được biểu hiện ở mỗi vùng văn hóa có khác nhau. Và, do
những đặc thù của điều kiện tự nhiên và văn hóa chi phối, tính chất
chuyển tiếp linh thiêng của năm mới của các dân tộc Đông Nam Á cũng có
sắc thái riêng của mình.
Nhưng, nhìn chung, khí hậu gió mùa ở vùng này tạo nên một thể liên hoàn
luân phiên giữa mùa khô và mùa mưa chi phối đời sống của những người
dân định cư và chi phối sự luân chuyển của những luồng gió chính quyết
định hướng đi cho những người đi biển bằng thuyền buồm. Mà đại bộ phận
người Đông Nam Á lại là những cư dân trồng lúa nước và ăn cơm gạo là
chính. Do vậy, từ ngàn đời nay, thời gian năm tháng của người dân Đông
Nam Á được tính theo chu trình canh tác cây lúa, nghĩa là, cứ mỗi mùa
lúa là tương ứng với một năm. Và bao giờ cũng vậy, bắt đầu mùa mưa là
khởi đầu của một năm xuống đồng gieo trồng cây lúa. Còn quãng thời gian
cuối mùa khô và đầu mùa mưa, hay thời kỳ chuyển tiếp từ mùa khô sang
mùa mưa, là cả một mùa nghỉ ngơi kéo dài cả mấy tháng liền, vì lúa thì
đã gặt và đã lên kho.
Ngay từ nửa đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nhận thấy tác động to
lớn của khí hậu nhiệt đới gió mùa đối với cuộc sống của các cư dân Đông
Nam Á(1). Không phải ngẫu nhiên mà G.Coedes, nhà nghiên cứu Đông Nam Á
nổi tiếng người Pháp, đã đưa ra một nhận xét thật xác đáng: “Bán đảo
Đông Dương và quần đảo Nam Dương là những xứ nhiệt đới bị gió mùa chi
phối(2)”. Mặc dù có những biến đổi từ năm này qua năm khác, mà những
biến đổi đó có thể gây tác hại đến việc canh tác lúa nước, loại cây
trồng cung cấp chất bột chủ yếu, nhưng mùa mưa thực sự thì vẫn chưa
đến. Chính vào quãng thời gian nhàn hạ và no đủ này, những người trồng
lúa nước ở Đông Nam Á thường tổ chức nhiều lễ hội lớn, mà một trong
những lễ hội lớn đó chính là Tết năm mới.
Chắc chắn việc thời điểm của Tết năm mới trùng với thời gian chuyển mùa
và thời lịch của mùa gieo trồng cây lúa nước là có nguồn gốc bản địa
Đông Nam Á. Có thể nhận thấy điều này qua hệ thống nông lịch của nhiều
dân tộc bản địa miền núi của Đông Nam Á. Ví dụ, hầu như tất cả các
tháng trong năm của dân tộc Giẻ-Triêng, một trong những dân tộc thuộc
ngữ hệ Môn-Khmer, ở tỉnh Kon Tum (Bắc Tây Nguyên) đều gắn với lịch sản
xuất: tháng Giêng (Khay muôi) và tháng hai (Khay bar) - bắt đầu phát nương; tháng ba (Khay pe) - đốt rẫy, thu dọn nương; tháng tư (Khay poam) - tra lúa sớm; tháng năm (Khay pdap) - tra lúa muộn; tháng sáu (Khay hrâu) - làm cỏ lúa sớm và lúa muộn; tháng tám (Khay tơ hem) - thu hoạch lúa sớm; tháng chín (Khay tchít) - thu hoạch lúa muộn; tháng mười (Khay cu diót) - chuẩn bị ăn Tết; tháng mười một (Khay cu diót muôi) - làm nhà, cưới xin và ăn Tết; tháng mười hai (Khay cu diót bar)
- đi tìm nương. Hệ thống lịch pháp của người Bana ở Bắc Tây Nguyên gắn
với cây lúa còn cụ thể hơn. Đối với người Bana, thời kỳ sản xuất gồm
mười tháng gọi là khay pớ giang bao gồm: tháng Giêng và tháng
hai - làm đất chuẩn bị gieo trồng; tháng ba và tháng tư - trỉa lúa;
tháng năm và tháng sáu - làm cỏ lúa; tháng bảy và tháng tám - lúa trổ
bông; tháng chín và tháng mười - thu hoạch; và hai tháng cuối cùng là
hai tháng nghỉ (khay ning nơng) - thời gian của lễ hội và đón
Tết. Về cơ bản, lịch của người Xơ Đăng (ở Kon Tum) cũng không khác lịch
của người Bana và Giẻ-Triêng là mấy: tháng 1, 2 và 3: phát rẫy; tháng 4
và 5: trỉa lúa; tháng 6 và 7: làm cỏ; tháng 8: chuẩn bị cho thu hoạch;
tháng 9 và 10: thu hoạch lúa; tháng 11 và 12: tháng nghỉ ngơi và làm lễ
hội(3). Không chỉ các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, mà cả các dân tộc
nói các thứ tiếng Mã Lai - Đa Đảo ở Tây Nguyên cũng đều tổ chức mọi lễ
hội lớn của mình, trong đó có Tết năm mới vào hai tháng nghỉ ngơi cuối
cùng của năm nông lịch (tháng Giêng của người Tây Nguyên tương ứng với
tháng tư hoặc tháng năm dương lịch). Ví dụ, năm của người Giarai gồm:
tháng một (blan Sa) và tháng hai (blan Doa) là thời gian làm rẫy; tháng ba (blan Khâu) và tháng tư (blan Pă) - thời gian gieo lúa; tháng năm (blan Rơma) và tháng sáu (blan năm) - thời gian làm cỏ cho lúa; tháng bảy (blan Juh) và tháng tám (blan Păn) - gặt lúa sớm; tháng chín (blan Doa Rơpăn) và tháng mười (blan Pluh) - thời gian thu hoạch lúa chính vụ; hai tháng cuối cùng của năm không có tên và được gọi là thời gian nghỉ ngơi (blan Ninh Nông)(4).
Như vậy là, theo lịch pháp truyền thống của những cư dân bản địa miền
núi Đông Nam Á, Tết năm mới thực sự mang tính bản địa của nhiều cư dân
Đông Nam Á là lễ tết chuyển mùa giữa mùa khô và mùa mưa. Mà, thông
thường, ở nhiều khu vực Đông Nam Á (như Tây Nguyên, miền Trung và miền
Nam của Việt Nam), mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng tư đến tháng mười
dương lịch và mùa khô bắt đầu từ cuối tháng mười đến đầu tháng tư năm
sau. Vào cuối mùa khô, sau khi đã thu hoạch mùa màng và làm lễ mừng cơm
mới (vào tháng 11, 12 hoặc tháng 1 dương lịch), các dân tộc ở Tây
Nguyên thường tổ chức hàng loạt những lễ hội lớn nhỏ, trong đó có Tết
năm mới. Không khí chuyển mùa của Tết năm mới và tập tục đón Tết của
người Êđê được thể hiện thật sinh động trong bài ca lễ tết của họ: “Đã
trọn mùa rét, Đã hết mùa lúa, Theo tục lệ xưa. Chủ làng lễ cúng, Ăn
mừng năm mới, Uống tháng ăn năm, Trâu đâm lợn mổ, Bà con làng họ, Ai
nấy đều lo, Mừng gùi sắp sẵn…”(5) Mà, một trong những lễ hội tết
điển hình của các dân tộc Tây Nguyên và vùng núi của các tỉnh duyên hải
miền Trung Việt Nam là Tết Htend của người Hre.Như nhiều dân tộc khác trên Tây Nguyên, người Hre đón Tết vào đầu năm
nông lịch, khi mùa khô đã qua, trời đã bắt đầu có mưa và cây cối bắt
đầu nẩy lộc (vào khoảng tháng tư dương lịch). Sau những ngày chuẩn bị
(giã gạo, ủ rượu cần, lau chùi cồng chiêng, sửa soạn vòng cườm và áo
váy, gói bánh, trang trí nhà cửa và cổng làng…), mọi người hồi hộp chờ
đón ngày đầu tiên của năm. Khi mặt trời thức dậy, lễ thức đầu tiên mọi
nhà đều làm là lễ Hvang Hnim
(tống tiễn tà ma và những cái xấu đi để đón cái tết và niềm vui đến).
Tiếp đến là lễ cúng mời các thần linh và tổ tiên về ăn Tết và phù hộ
cho mọi người. Sau hai lễ thức trên, mọi người gói bánh nếp, thịt lợn,
gà… để chuẩn bị cho lễ cúng trâu ngày hôm sau (Ta Hreo Capơ). Lễ
cúng trâu được tổ chức ngay trước cửa chuồng trâu vào tảng sáng ngày
thứ hai của Tết với mục đích cầu mong cho con trâu (con vật thân thiết
giúp con người kéo gỗ, cày bừa…) được mạnh khỏe và biết nghe lời người.
Sau đấy chủ nhà dọn cơm, thịt, rượu… mời mọi người cùng ăn uống. Bên
các ché rượu cần, mọi người tâm tình, trò chuyện, đánh cồng, nhảy múa,
chơi các trò chơi truyền thống… suốt cả ngày và cả đêm. Sang ngày thứ
ba, ngày cuối cùng, các gia đình dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, bày chén rượu
ngon ra giữa nhà để đón bà con làng xóm tới thăm hỏi, chúc tụng. Đến
thăm nhau, chủ và khách chúc nhau: “Cái ốm bỏ đi, làm gì được nấy”,
“Người khỏe, thóc đầy”… Trước kia, những cuộc thăm viếng và vui chơi
đầu năm có thể kéo dài tới mươi ngày, nửa tháng mới hết Tết Htend.
Lễ hội chuyển mùa - tháng ba Tây Nguyên
Không chỉ các dân tộc bản xứ chưa chịu sự tác động của các nền văn hóa
lớn của Đông và Nam Á (tức của Trung Quốc và Ấn Độ), mà hầu hết các dân
tộc cư trú tại các vùng đồng bằng lớn ven biển và đã tiếp nhận những
ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trong khu vực cũng đều đón Tết năm mới vào
khoảng thời gian chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa (trong tháng tư
dương lịch). Tại Lào, hội lớn nhất thời gian chuyển mùa là lễ tết Pimay (tên gọi tắt của nhóm từ cút xổng can pimay
nghĩa là ngày cuối cùng của năm cũ sắp hết, ngày đầu năm mới sắp đến),
cũng còn gọi là hội năm mới, hay hội té nước. Như người Lào, các dân
tộc khác ở Đông Nam Á lục địa như người Thái ở Thái Lan, người Khmer ở
Campuchia và người Miến ở Myanmar cũng đón Tết năm mới của mình vào
tháng tư dương lịch, thời kỳ chuyển từ mùa khô sang mùa mưa. Và một
trong những nét đặc trưng chung nhất cho Tết năm mới (Bun Py mày của người Lào, Songkran của người Thái, Chon chnam thamay của người Khmer và Thagyarmin của người Miến) là tục té nước để tẩy rửa những cái cũ đi và để cầu nước cho cả một năm mới.
Thế nhưng, do chịu ảnh hưởng của các tôn giáo của Ấn Độ như Bàlamôn
giáo và Phật giáo, các dân tộc Thái, Lào, Miến và Khmer đã phủ lên lễ
hội nông nghiệp truyền thống của mình những sắc màu tôn giáo. Nơi chủ
yếu diễn ra những lễ thức của Tết năm mới là các ngôi chùa Phật giáo và
những người làm những lễ thức chính đầu năm cũng là các nhà sư. Và các
dân tộc Thái, Lào và Khmer đã linh thiêng hóa nguồn gốc ngày Tết năm
mới của mình bằng câu chuyện huyền thoại về đầu của một vị thần. Người
Thái ở Thái Lan kể rằng, xưa kia, trên mặt đất có một ông vua thần kỳ
lấy một bà hoàng hậu xinh đẹp. Họ sinh ra được mười hai cô con gái. Khi
cô con gái đầu sinh ra, nhà vua vẽ hình con chuột và đặt tên cô là Tủng
Nữ, nghĩa là “người bảo hộ chuột”. Con chuột trong tranh lập tức biến
thành chuột thật để cô gái chơi. Khi cô gái thứ hai ra đời, nhà vua vẽ
hình một con bò và đặt tên con gái là Tủng vuatupua, nghĩa là “người
bảo hộ bò”. Con bò trong tranh cũng hóa thành bò thật. Cứ như vậy, nhà
vua biến mỗi người con gái thành một người bảo hộ cho một con vật vốn
mang tên cho từng năm sinh của từng cô gái. Sau một thời gian trị vì
trên mặt đất, nhà vua quyết định về trời. Thế nhưng, khi ông đang bay,
một trận cuồng phong nổi lên, và sấm sét chém đứt đầu nhà vua. Cái đầu
rơi xuống đất. Mọi người không nhận ra đó là chiếc đầu của ai. Khi tới
nơi xem, mười hai cô công chúa nhận ra đó là đầu của cha mình. Trên
đường về, các cô công chúa thỏa thuận: mỗi người cất giữ đầu cha một
năm. Cái đầu được gọi là Song kran.
Từ đó, mỗi khi người con gái này chuyển chiếc đầu của cha mình cho
người con gái kia, thì mặt đất cũng bước sang một năm mới. Và vì thế,
Tết năm mới của người Thái được gọi là Song kran. Tết năm mới
Song kran của Thái Lan diễn ra vào những ngày giữa tháng tư dương lịch
và thường kéo dài 3-4 ngày. Riêng ở Bắc Thái Lan, Tết năm mới kéo dài
tới 5-6 ngày và được gọi là Tết Hốt mặn (té nước). Vào ngày đầu
tiên, mọi người bắn súng đuổi tà ma, tắm rửa giặt giũ, gội đầu, làm vệ
sinh nhà cửa… để tẩy sạch những nhơ bẩn của năm cũ. Ngoài ra, ngày hôm
đó cũng là ngày dâng đồ ăn lên chùa và biếu quà cho những người cao
tuổi. Sang ngày thứ hai, nhà nhà đem cát lên chùa làm tháp cát để cầu
may và thi nhau phóng sinh chim thú để làm phúc và tích đức. Ngày thứ
ba là ngày tìm các tượng Phật và đồng thời là ngày hội té nước tưng
bừng. Những ngày sau đó là những ngày vui chơi, hội hè, đến nhà nhau
thăm hỏi.
Người Lào cũng có câu chuyện về sự tích Tết năm mới tương tự của người
Thái. Câu chuyện của người Lào kể rằng, ngày xưa có một chàng trai, con
một gia đình giàu có, tên là Thăm Maban Cumman. Chàng là người thông
minh, học rộng và còn biết cả tiếng các loài vật. Tiếng tăm của chàng
trai bay đến tai thần Kabin Laphôm trên trời. Thần quyết định thử tài
Thăm Maban. Một hôm, thần xuống trần, gặp chàng trai và nói: “Nghe nói
ngươi là người tài giỏi. Vậy ta hỏi ngươi ba câu. Nếu ngươi trả lời
đúng, ta sẽ tự chém đầu dâng nhà ngươi; ngược lại, nếu ngươi không trả
lời được, thì nhà ngươi cũng sẽ bị mất đầu với ta. Ba câu hỏi đó là: 1.
Buổi sáng chỗ thiêng của con người ở đâu? 2. Buổi trưa chỗ thiêng của
con người ở đâu? 3. Buổi tối, chỗ thiêng đó ở chỗ nào trong con
người?”. Cảm thấy không trả lời ngay được, Thăm Maban Cumman hẹn sau 7
ngày sẽ trả lời thần. Thế rồi, sắp đến ngày hẹn mà Thăm Maban vẫn chưa
tìm ra lời giải cho ba câu hỏi. Buồn bã, chàng trai lang thang vào rừng
cây thốt nốt và ngả lưng ngủ đêm ở đấy. Đột nhiên, chàng trai nghe thấy
đôi vợ chồng chim đại bàng trong tổ trên ngọn cây nói chuyện với nhau.
Chim vợ hỏi chim chồng ngày mai sẽ ăn gì: chim chồng trả lời là sẽ ăn
thịt người vì Thăm Maban sẽ chết do không trả lời được câu hỏi: “Chỗ
thiêng của con người ở đâu vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối?” của
thần Kabin Laphôm. Tò mò, chim vợ hỏi chim chồng: “Thế phải trả lời thế
nào?” Chim chồng nói: “Câu hỏi thật dễ. Buổi sáng, chỗ thiêng của con
người ở mặt, do vậy mà người ta mới rửa mặt vào buổi sáng. Buổi trưa,
chỗ thiêng ở ngực, nên người ta rửa ngực. Còn buổi tối, chỗ thiêng ở
chân, nên trước khi đi ngủ, người ta rửa chân”. Ngày hôm sau, đúng hẹn,
Thăm Maban lấy ý của chim đại bàng trả lời câu hỏi của thần Kabin
Laphôm. Thần chịu thua và phải chịu chặt đầu. Trước khi chặt đầu, thần
Kabin Laphôm gọi cả bảy người con gái của mình đến và dặn: “Bố sẽ phải
chặt đầu dâng cho Thăm Maban. Thế nhưng, nếu đầu bố mà rơi xuống đất sẽ
sinh ra lửa thiêu cháy tất cả; nếu đầu bố ở trên trời thì sẽ sinh ra
hạn hán; còn nếu đầu bố rơi xuống biển thì biển sẽ khô cạn. Do đó, các
con hãy đem đầu bố đựng vào cái mâm rồi đưa đi cất giữ trong hang Khăn
Thu Maly trên núi Khẩu Caylạt. Thế là từ đó, bảy người con gái của thần
Kabin Laphôm thay nhau, mỗi năm một người đi lấy đầu bố về tắm rửa và
rước vòng quanh nhân gian một vòng rồi lại đưa về cất trong hang. Cũng
từ đó mới có tục té nước hàng năm vào dịp tết.
Đắp cát cầu may ở Thái Lan
Bà Chúa Xuân trong năm mới của Lào
Như của người Thái, Tết năm mới của người Lào rơi vào tháng cuối cùng
của mùa khô. Vào tháng này (tháng năm Phật lịch, tháng tư dương lịch),
thời tiết nóng bức, nhưng đã có một vài trận mưa nhỏ báo hiệu đầu mùa
mưa. Sau Tết năm mới, những trận mưa bắt đầu trút xuống và cây cối, sau
một mùa khô trụi lá, bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Như vậy, Tết năm mới của
người Lào là những ngày lễ hội chuyển mùa, cầu mưa, tống tiễn những rủi
ro của năm cũ để đón chào những điều tốt lành cho năm mới. Đối với
người Lào, Tết năm mới là hội năm mới (bun py mày)
và thường kéo dài 3-4 ngày liền. Vì chịu ảnh hưởng của Phật giáo nên
trong những ngày tết, mọi người đều đến chùa dâng thức ăn cho sư, làm
lễ tắm Phật, nghe đọc kinh, đem cát đến chùa làm các núi cát… Thế
nhưng, bên cạnh các nghi lễ Phật giáo, trong các ngày tết của người Lào
còn diễn ra nhiều nghi thức truyền thống đặc sắc, như rước nàng Chúa
Xuân và đặc biệt là hội té nước. Trong đám rước nàng Chúa Xuân, cô gái
được chọn là Chúa Xuân (nàng Xăng Khản) ngồi trên lưng con vật
của năm, còn sáu cô người đẹp kia (bảy cô gái đóng vai bảy người con
gái của thần Kabin Laphôm) thì ngồi xung quanh Chúa Xuân. Sau khi đã
rước Chúa Xuân đi quanh khu vực, mọi người về chùa nghe kể sự tích ngày
Tết và chúc nhau bằng té nước. Thế là bắt đầu hội té nước tưng bừng,
náo nhiệt. Không phải ngẫu nhiên mà người Lào còn gọi Tết năm mới của
mình là Hội té nước (Bun hốt nặm). Và sau Tết té nước, mọi người lại bắt đầu bước vào một ngày làm ăn mới.
Bà Chúa Xuân trong năm mới của Lào
Chon chnam thamay hay Pithi chon chnam thamay hay Bân Chon chnam thamay có nghĩa là Lễ vào năm mới của người Khmer ở Campuchia và ở miền Nam Việt Nam. Chon chnam thamay
là Tết hàng năm của người Khmer, nếu tính theo Phật lịch thì thường
diễn ra vào các ngày 13, 14 và 15 tháng Chett (tháng Giêng theo lịch
Saba Ấn Độ tức khoảng giữa tháng tư dương lịch), còn theo năm thời tiết
thì vào những ngày cuối mùa khô và đầu mùa mưa. Vào thời điểm này, trời
nắng gắt, nóng bức, nhưng thỉnh thoảng vẫn có một vài cơn mưa rào ngắn
ngủi báo hiệu cho mùa mưa sắp tới. Vì thế sau một mùa chết lá, gặp mưa,
cây bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Đối với người Khmer, Chon chnam thamay
không chỉ là lễ vào năm mới mà, sâu xa hơn, chính là lễ mừng chấm dứt
thời kỳ (mùa) nắng hạn bước sang thời kỳ (mùa) mưa nhiều để chuẩn bị vụ
mùa mới. Ngoài ra, như ở nhiều dân tộc Đông Nam Á khác, lễ vào năm mới
của người Khmer còn là thời kỳ nghỉ ngơi, vui chơi giải trí khi mùa
màng đã thu hoạch xong.
Người Khmer tin rằng, mỗi năm có một vị thần tiên trên trời được trời
sai xuống để chăm lo cho cuộc sống của trần gian năm đó, hết năm lại
trở về trời để vị thần tiên khác xuống hạ giới. Do vậy, vào đêm giao
thừa, nhà nào cũng làm cỗ cúng tiễn vị thần cũ, đón vị thần mới và cầu
mong vị thần tiên mới ban phước lành. Như người Lào và người Thái,
người Khmer cũng có “sự tích Tết năm mới” của mình. Sự tích năm mới kể
rằng, ngày xưa, có một vị quốc vương sinh hạ được một hoàng tử thông
minh tên là Thommaban. Tiếng đồn về trí tuệ của hoàng tử khiến cho vị
thần bốn mặt Kabinh Mahaprum chuyên xuống trần thuyết pháp phải ghen
tức và tìm cách hại hoàng tử. Mọi việc sau đó diễn ra như trong câu
chuyện sự tích năm mới của người Lào: vị thần đưa ra ba câu đố khó cùng
điều kiện thắng thua rất khốc liệt (người thua mất đầu); thế rồi, nhờ
biết tiếng của chim, hoàng tử tìm ra lời giải cho câu đố và thắng cuộc.
Phần kết sự tích năm mới của người Khmer thì lại giống như câu chuyện
của người Thái: Thua cuộc, vị thần ngửa mặt lên trời gọi bảy cô con gái
(giống với sự tích của Lào, chứ không phải mười hai cô trong sự tích
của người Thái) đến và truyền rằng: “Sau khi cha chết, các con hãy đem
đầu cha cho vào trong một ngôi tháp, đừng để người trần gian chạm tới,
vì nếu họ bỏ đầu cha xuống biển thì biển cạn khô, quăng lên trời thì
không có mưa, để trên mặt đất thì đất khô hạn”. Dặn dò xong, thần rút
gươm vàng cắt đầu trao cho cô con gái lớn tên là Tungsa. Vị nữ thần để
đầu cha vào cái âu vàng, rồi cùng sáu cô em đưa đầu cha đặt vào ngôi
tháp xây trong hang thủy tinh trên đỉnh núi Kalata của dãy Himalaya. Từ
đó về sau, mỗi năm một lần, đúng ngày thần Kabinh Mahaprum tự sát, bảy
cô con gái lại xuống trần vào tháp bằng cái đầu bốn mặt của cha mình
đến núi Tudi, đi vòng quanh chân núi ba lần. Tuy cùng xuống trần, nhưng
mỗi lần chỉ một cô gái được bưng đầu cha mình. Chính tính tình của cô
gái được bưng đầu cha mình sẽ có tác động xấu hoặc tốt cho dân chúng
trong năm đó. Sau giao thừa là đến ba ngày Tết trang trọng, vui vẻ và
tưng bừng diễn ra tại chùa.
Những ngày Tết của người Khmer thực sự là những ngày hội vừa thành kính
vừa vui nhộn tưng bừng. Ngày thứ nhất là ngày làm lễ rước Đại lịch Maha sangkram
(thay cho việc rước đầu vị thần bốn mặt Kabinh Mahaprum, mà theo truyền
thuyết, ngày thần tự sát trở thành ngày đầu năm mới). Ngày thứ hai là
ngày làm lễ dâng cơm và đắp núi cát để cầu mưa, cầu phúc. Các lễ trên
diễn ra tại các ngôi chùa Phật. Trong những ngày tết, khi những người
lớn tuổi nghe thuyết pháp trong chùa, thì trong khuôn viên chùa nam nữ
thanh niên tổ chức nhiều trò chơi tập thể như đá cầu. bịt mắt bắt dê,
ném chung (như ném còn của người Thái ở Việt Nam), hát đối, kéo co… Và
sang ngày thứ ba mới thực sự là ngày hội nước. Vào ngày cuối cùng này
của tết, mọi người làm lễ tắm tượng Phật, tắm cho sư và tắm cho mình.
Đường cày đầu năm ở Campuchia
Truyền thuyết của người Myanmar kể rằng, thuở xưa, xưa lắm, khi ấy cả
mặt đất không hề có sự sống và đắm chìm trong bóng tối. Thấy tình cảnh
như vậy, Thagyarmin, chúa tể của các thần (tiếng Miến gọi là Nat)
bèn ra lệnh cho Mặt Trời và Mặt Trăng chiếu sáng mặt đất. Nhờ có ánh
sáng mà dần dà con người, loài vật và cỏ cây hình thành. Khi mặt đất đã
có cuộc sống, thần Thagyarmin về trời. Lúc chia tay, vị thần sáng tạo
tối thượng hứa với mọi người là hàng năm sẽ trở lại mặt đất vào dịp năm
mới. Bởi vậy, người Myanmar lấy tên thần Thagyarmin để gọi ngày Tết năm
mới của mình. Và Tết năm mới của người Myanmar, cũng như Tết của các
dân tộc khác ở Đông Nam Á là lễ hội chuyển mùa.
Năm nào cũng vậy, khi mùa khô gần hết (khoảng đầu tháng tư dương lịch),
người Myanmar, đặc biệt là các thầy chiêm tinh đều giở tờ giấy bói
Thingyansar ra xem để đoán những điều gì sẽ tới trong năm mới sắp đến
và thần Thagyarmin sẽ giáng trần cùng con vật cưỡi gì và sẽ cầm những
vật gì trong tay. Theo truyền thuyết, vì không chỉ là Nat tối cao mà
còn là vị thần coi giữ các giáo thuyết của đức Phật, nên vật mà năm nào
thần Thagyarmin cũng đem theo là hai quyển sổ thiên tào, một bằng vàng
và một bằng da chó. Tên tuổi của những người lương thiện được ghi vào
sổ vàng và ngược lại, của những người xấu vào sổ da chó. Chính yếu tố
Phật giáo đã biến năm mới của người Myanmar thành mùa của những ngày
hội thụ giáo (các gia đình gửi con vào chùa). Do vậy, suốt những ngày
Tết năm mới, ở Myanmar, đâu đâu cũng thấy những túp lều vải sặc sỡ đủ
màu mọc lên hai bên đường để làm lễ thụ giáo và nhận đồ dâng cúng cho
các chùa. Thế nhưng, nghi lễ khởi đầu cho những ngày năm mới là té nước.
Và thật lý thú và đầy ý nghĩa, chính con trẻ là những người đầu tiên
được phép té nước vào người thân trong nhà và khách qua đường. Sau sự
mở đầu của trẻ em, người lớn mới bước vào cuộc vui té nước. Mọi người
vui đùa té nước vào nhau. Ai nấy đều vui sướng vì nước sẽ rửa sạch đau
buồn, lo lắng của năm cũ, vì nước sẽ đem lại hạnh phúc, sẽ đem lại
những cơn mưa tốt lành và mùa màng tươi tốt. Sau những trận té nước
tưng bừng, mới tới thời điểm trang trọng của ngày lễ tết. Mọi người mặc
quần áo đẹp nhất, lên chùa làm lễ tắm tượng Phật và cầu kinh. Cho đến
nay ở Myanmar, mọi người còn giữ lại một phong tục linh thiêng: lễ
phóng sinh. Trước khi bước sang năm mới, mọi người trả lại tự do cho
những con vật: chim được thả khỏi lồng; gà, vịt được thả khỏi chuồng;
trâu bò già được tháo ách…
Té nước năm mới ở Myanmar
Người Bali trên đảo Bali (Indonesia) là những người theo đạo Bàlamôn
chứ không phải là những tín đồ Phật giáo như người Myanmar, người Thái,
người Lào và người Khmer; thế nhưng, Tết năm mới của họ (nepi)
cũng là lễ hội chuyển mùa và luôn diễn ra vào đầu mùa xuân (cũng vào
khoảng tháng tư dương lịch, tháng cuối cùng của mùa khô). Năm âm lịch
của người Bali kết thúc bằng nghi thức làm sạch làng mạc, vườn tược,
nhà cửa vào ngày trăng lặn của tháng cuối mùa khô. Trước năm mới hai
ngày, người Bali bao giờ cũng làm lễ Melis. Khi vào lễ, những đoàn rước
sặc sỡ, đem theo các đồ tế, từ các làng kéo ra bãi biển hoặc bờ sông.
Các tượng thần trong nhà, trong các đền thờ, được mang đặt lên kiệu
khiêng cùng đám rước. Những người tham dự lễ cầm cờ phướn, giáo mác,
chậm rãi bước đi theo nhịp nhạc của dàn nhạc gamelang. Khi đã tập hợp
đông đủ ở bờ biển (hoặc bãi sông), người ta bắt đầu làm lễ. Các bức
tượng được đặt lên một bục cao; cờ phướn, lọng ô cắm trước bục; đồ tế
được xếp thành từng đống hình tháp. Sau lễ Melis là ngày tất niên, ngày
Kala, vật tế của ngày này là một con trâu đen (xếp ở chính giữa) và tám
con vật khác (xếp quanh con trâu đen theo tám hướng, bắt đầu từ hướng
đông): bê non, vịt, hươu, chó, mang, công, lợn, dê. Khi các đồ tế được
đặt đúng chỗ, ông thầy cúng làm lễ mời các hung thần về nhận đồ lễ. Đãi
tiệc các hung thần xong, dân làng mới bắt tay vào tẩy rửa nhà cửa bằng
lễ thức vẩy nước thiêng tưng bừng và náo nhiệt. Mọi người hò reo, đánh
trống, đánh mõ; đốt đèn, đốt đuốc, chạy tới, chạy lui, vẩy nước đuổi tà
ma khỏi nhà, khỏi vườn tược, khỏi làng xóm… Hai hung thần Buta và Kala,
vừa được một bữa no, cũng phải hoảng sợ, bỏ chạy khỏi làng. Sở dĩ người
Bali làm như vậy là vì họ tin rằng, năm mới đến là Diêm vương (thần
Yama) sẽ quét sạch ra khỏi các tầng địa ngục những hồn ma, bóng quỷ của
đảo Bali để hòn đảo này trở nên trong sạch. Vì vậy, cuối năm phải nghỉ
ngơi để chuẩn bị cho những ngày Tết.
Đối với người Bali, ngày đầu năm mới là ngày tế máu cho các thần. Khắp
nơi, trước cổng các ngôi đền, trên các sân bãi của làng… đâu đâu cũng
diễn ra các cuộc chọi gà. Những con gà bị chết trong các cuộc chọi gà
mang tính nghi lễ này được đem hiến tế cho các thần. Người ta đem những
con vật đẫm máu này đến chân các đèn tháp cao dâng tế cho thần Mặt
trời, thần Biển, thần Núi, thần Đất… để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa
màng tươi tốt. Ngoài những con gà tế, người ta còn phải có những đồ
dâng tế riêng dành cho các vị thần tối cao và hai vị hung thần Buta và
Kala. Đồ tế cho các vị thần tối cao thường là một con ngỗng trắng và
một con ngỗng đen. Còn đồ tế cho Buta và Kala, đối với người Bali,
chính là các đồ lễ tống ôn xua đuổi tà ma, quỷ dữ ra khỏi làng.
Sau những ngày hiến tế, tắm tượng thần và tống ôn là đến ngày cuối của
Tết. Khác hẳn những ngày trước náo nhiệt và tưng bừng, ngày cuối cùng
hoàn toàn tĩnh lặng và bất động: không nấu nướng, không làm việc và cả
không sinh hoạt vợ chồng và không ai ra khỏi nhà. Vào ngày này, duy
nhất chỉ có một hoạt động là những cuộc thi kéo co được tổ chức tại
quảng trường chung của làng. Tham gia trò chơi có cả trai và gái, trai
một bên và gái một bên. Chúng cùng hò reo kẻo sợi dây mây to cho đến
khi một bên thắng mới thôi.
Sau ngày bất động, người dân đảo Bali lại bước vào một năm làm ăn mới
đầy to toan, vất vả và cũng không kém niềm vui và hy vọng(6).
Vì nhiều lý do khác nhau tác động tới, trong đó chủ yếu là những lý do
về thời tiết, cho nên Tết năm mới của nhiều dân tộc ít người ở miền Bắc
Việt Nam và của người Việt ở Việt Nam thường đến sớm hơn một vài tháng
so với mùa tết của các dân tộc khác ở Đông Nam Á. Do chế độ gió mùa tạo
nên một vùng tiểu khí hậu có phần khác biệt, nên ở miền Bắc Việt Nam,
giai đoạn chuyển mùa rơi vào tháng Chạp, tháng Giêng âm lịch (tháng 2
và 3 dương lịch). Theo các nhà nghiên cứu, phần bắc của lãnh thổ Việt
Nam, tính từ Hoành Sơn (đèo Ngang) ở khoảng vĩ tuyến 18 độ bắc trở ra,
thuộc miền khí hậu phía bắc với nét đặc trưng là: khí hậu nhiệt đới gió
mùa có mùa đông lạnh (khoảng 3 tháng). Có hai yếu tố ảnh hưởng đến đặc
tính mùa đông của miền Bắc Việt Nam: những đợt nắng ấm (chiếm tới 50%
số ngày trong mùa) và sự thâm nhập cửa gió mùa cực đới. Tuy là mùa khô
nhưng vào cuối mùa đông, sự xâm nhập của gió mùa cực đới thỉnh thoảng
vẫn đem lại những ngày có mưa nhỏ. Chính những trận mưa nhỏ thường được
gọi là “mưa phùn” hay “mưa bụi” nổi tiếng này làm cho mùa khô ở miền
Bắc bị rút ngắn. Dù mùa hè mới là mùa mưa và kéo dài, cũng như các miền
khác, từ tháng tư đến tháng mười dương lịch, nhưng ở miền Bắc, thời
gian từ cuối tháng một đến giữa tháng ba lại là thời kỳ ẩm ướt nhất
trong năm(7). Và mấy tháng ẩm ướt này thường là khoảng thời gian của
mùa xuân (ví dụ, ngày lập xuân của năm 2005 là ngày 4 tháng một, tức 24
tháng 11 âm lịch). Do vậy, thời gian chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa
ở Bắc Việt Nam (và cả vùng núi phía bắc Đông Nam Á lục địa nữa) không
phải là những tháng khô nóng như thường lệ đối với vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa Đông Nam Á, mà là cả một thời kỳ ẩm ướt. Dù có một số khác
biệt, nhưng, cũng như ở các nơi khác trong khu vực, thời kỳ chuyển mùa
của người Việt và nhiều dân tộc ít người ở miền núi phía Bắc Việt Nam
và Đông Dương là khoảng thời gian từ lúc vụ mùa đã thu hoạch hoàn tất
đến khi xuống đồng vào vụ làm ăn chính (gieo cấy lúa cũng bắt đầu vào
tháng tư dương lịch, tức đầu mùa mưa). Thế nhưng, vì có cả một mùa xuân
ẩm ướt trước khi sang mùa mưa, cho nên, khác với các vùng khí hậu nhiệt
đới khác trong khu vực Đông Nam Á, các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam bắt
đầu một năm sản xuất sớm hơn. Không ít những câu ca dao và tục ngữ của
người Việt đã khắc họa khá rõ tiết trời và lịch làm ăn của người nông
dân Việt ở Bắc Bộ. Ví dụ như những câu sau của một bài ca dao: “Tháng
chạp là tháng trồng khoai; tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà;
tháng ba cày vỡ ruộng ra; tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng; Ai ơi cùng
vợ cùng chồng; Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay!…” Và, Tết của
người Việt chính là khởi đầu của những ngày nghỉ ngơi, vui chơi đầu năm
sau cả một năm làm ăn vất vả. Điều này cũng được nói rõ trong câu ca
dao: “Tháng giêng ăn tết ở nhà; tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”;
để rồi sau đó, từ tháng ba trở đi sẽ phải xuống đồng cày cấy. Tính
chuyển mùa của năm thời tiết cũng như của năm làm ăn trong cái Tết của
người Việt thật là rõ. Và những biểu hiện về một khoảng thời gian nghỉ
ngơi, về những ngày hội hè liên tục tại khắp các làng quê và về những
mục đích cầu mưa gió thuận hòa, phồn thực âm dương… của nhiều lễ hội
xuân đã phần nào cho thấy, như nhiều dân tộc ở Đông Nam Á (như các dân
tộc ở Tây Nguyên…), người nông dân Việt Nam xưa kia vốn có cả những
tháng nghỉ ngơi, vui chơi, hội hè vào cuối năm cũ và đầu năm mới, hay
vào khoảng thời gian chuyển mùa, mà cụ thể là mùa xuân. Rất có thể, do
ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài, người Việt đã tiếp thu hệ thống lịch
pháp cũng như một số ngày tết quan trọng, trong đó có Tết Nguyên Đán
của người Trung Quốc. Thế nhưng, cái Tết của người Trung Quốc đã hòa
nhập vào cả một chuỗi những hội hè vào các tháng nghỉ khi thời tiết
chuyển mùa đầu năm truyền thống của những người nông dân Việt Nam. Và
rồi, cái Tết Nguyên Đán kia dần dần đã từ một lễ hội chuyển mùa đầu năm
trở thành Tết Cả khởi đầu cho hàng loạt những lễ hội mùa xuân truyền
thống với nhiều lễ thức và trò chơi dân gian mang đậm tính chất phồn
thực âm dương. sinh trưởng và phát triển, như: tục làm bánh chưng, bánh
dày, đánh đu, kéo co, chọi gà, thả chim, múa rồng, trồng cây nêu, chơi
cờ người… của người Việt. Không chỉ Tết của người Việt, mà Tết năm mới của nhiều dân tộc miền núi
phía Bắc Việt Nam cũng đều bắt đầu sớm hơn chừng 1 hoặc 2 tháng so với
Tết năm mới của các dân tộc khác ở Đông Nam Á. Và, cũng như người Việt,
nhiều dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam nói riêng và Bắc Đông Dương
nói chung đã tiếp nhận và đón cái Tết của người Trung Quốc. Thế nhưng,
do chịu ảnh hưởng còn chưa thật mạnh, cho nên, nhiều dân tộc miền Bắc
Việt Nam vẫn coi trọng những ngày hội xuân xuống đồng truyền thống của
mình hơn. Có thể thấy rõ điều này qua lễ hội Lồng tồng (xuống đồng) của người Nùng, Tày và một loạt những lễ hội mùa xuân truyền thống của các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam.
Sau khi đón Tết Nguyên Đán cho có lệ, từ mồng 2 tết trở ra đến hết
tháng Giêng, người Tày mới thực sự bước vào những ngày lễ hội đầu năm
lớn nhất tưng bừng nhất của mình - lễ hội Lồng tồng. Mục đích của lễ hội Lồng tồng
là tổ chức những ngày vui họp mặt sau một mùa làm ăn của cộng đồng để
cầu mùa. Vì diễn ra theo khu vực dân cư, nên lễ hội không trùng vào một
ngày ở khắp nơi mà vào những ngày khác nhau trong tháng Giêng do từng
địa phương chọn. Lễ hội thường chỉ gói trọn trong một ngày, thế nhưng
cũng có nơi kéo dài tới ba, thậm chí bốn ngày. Ngoài những lễ thức dâng
cúng thần linh, trời đất, là những trò chơi dân gian cổ truyền mang đầy
tính chất phồn thực âm dương như tức còn (ném còn), xẻ thỏi (kéo co), ván fằn fè (gieo giống má), tức xáng (đánh quay), tức yến (đánh một loại cầu lông), kỳ lằn (múa sư tử), phát tàng (mở đường)… Không còn nghi ngờ gì, như các nhà nghiên cứu đã nhận thấy, hội Lồng tồng
là lễ hội đầu năm của người Tày mở đầu cho một chu kỳ sản xuất, cho nên
mọi nghi thức, nghi lễ, thậm chí cả các trò chơi của người lớn và trẻ
nhỏ đều nhằm vào mục đích cầu mong sinh sôi, phát triển(8).
Như người Tày, sau khi gặt hái xong, người Giáy cũng có lễ hội xuống đồng Roóng poọc
(nghĩa là: xuống hội). Tại lễ hội này, ngoài các lễ cúng, cũng diễn ra
những trò chơi mang tính phồn thực nhằm cầu mong sinh sôi, phát triển
như ném còn qua những chiếc vòng mặt trời, mặt trăng, trai gái kéo co…
Thế nhưng đối với người Giáy, Roóng poọc là Tết Cả và được tổ
chức vào tháng Giêng hàng năm. Tính chất của lễ hội đầu năm chuyển mùa
còn được thể hiện rõ qua bài cúng của ông thầy mo: “Ngày này tốt,
năm này lành, Hết năm cũ, Vào năm mới. Cả bản, cả mường, Xuống đồng, ra
bãi. Để vui chơi, Mời thần bản về dự. Giữ cho bản mường yên, Giữ ao đá
ruộng lúa, Đau ốm không vào. Lúa đầy ruộng, cá đầy suối”(9).
Dù một số nhóm tộc người đã sử dụng âm lịch của người Trung Quốc, nhưng
như nhiều dân tộc ở phía Bắc Đông Dương, lễ tết đầu năm của người Lahu
vùng Tam giác vàng(10) cũng được tổ chức vào những ngày khác nhau của
thời gian chuyển mùa tại những làng khác nhau, tùy theo sự tính toán
của các già làng. Nhìn chung, thời gian tổ chức Tết năm mới là phải vào
lúc công việc đồng áng đã xong, không ai còn phải đi nương hay ra ruộng
nữa. Dù rằng phải đợi xem khi nào thì cả làng cùng làm Tết, nhưng các
công việc chuẩn bị cho Tết đã được bắt đầu từ trước đó cả tháng: phụ nữ
phải lo quần áo mới cho các thành viên gia đình, vì những ngày Tết là
dịp mọi người, đặc biệt là trai gái đến tuổi thành niên, xuất hiện đẹp
nhất với đầy đủ mọi trang sức lễ phục trên người. Và những ngày hội Tết
năm mới bắt đầu bằng việc ông thầy lễ của làng thông báo cho mọi người
biết là phải làm bánh pa pa
(các loại bánh được làm bằng gạo) vào ngày hôm sau. Gia đình nhà ông
thầy lễ là gia đình đầu tiên của làng làm bánh pa pa. Làm xong, ông
thầy lễ bắn súng làm hiệu để mọi nhà bắt tay vào làm bánh pa pa.
Thế là, trong mỗi nhà, mọi người ngồi quây xung quanh cái cối giã để
cùng làm nào là bánh để cúng, nào là bánh để ăn. Suốt ngày hôm đó,
những người trẻ tuổi thì ra đồng hái cho thật nhiều rau tươi ngon, còn
những người đàn ông thì vào rừng chặt cây năm mới (leh dzuh) đem
về cho nhà mình. Khi mặt trời đã lặn, từ trong ngôi miếu thờ thần bảo
hộ của làng, ông thầy lễ của làng thông báo là, sau khi mặt trời lặn,
các gia đình phải dựng cây năm mới lên ở trước nhà. Sau đấy là lễ tiễn
năm cũ. Để làm lễ này, các gia đình phải “tẩy uế” nhà cửa bằng cách
quét bỏ đi hết mọi thứ rác bẩn và cả những đồ ăn cũ. Tối hôm đó, mọi
người sẽ được nhận những quả trứng luộc chín và những sợi chỉ đầu năm.
Thoạt đầu, những quả trứng và những sợi chỉ được đặt vào cái chậu có
gạo nếp. Người cao tuổi nhất trong nhà bưng cái chậu đó ra ngoài nhà và
cầu xin các linh hồn tổ tiên nhập vào những quả trứng và những sợi chỉ.
Sau lễ thức linh thiêng đó, chậu được bưng vào nhà, mọi người được ăn
một quả trứng và được buộc vào cổ (đối với người lớn) hoặc vào cổ tay
(đối với trẻ con và khách) một sợi chỉ. Tới khuya, ông thầy cúng cao
niên của làng nhập đồng, ngậm nước phun và dùng lửa để xua đuổi mọi
điều xấu xa của năm cũ ra khỏi nhà mình và ra khỏi làng để làm cho mọi
thứ của năm mới được sạch sẽ và tốt lành Sau đấy, khi trời đã rất
khuya, mọi người đến tập họp tại nhà ông thầy lễ. Trong khi những người
già uống rượu và hát, thì bọn trẻ là những người đầu tiên ra nhảy múa
xung quanh cây năm mới của nhà ông thầy lễ. Sau đấy, bọn trẻ kéo cả
đoàn đến từng nhà nhảy múa quanh cây năm mới của từng nhà để tống khứ
mọi thứ xấu xa ra khỏi làng. Khi gà gáy sáng, những người phụ nữ, từ
nhà ông thầy lễ đi ra nguồn nước để dâng cúng hương, bánh và thịt lợn
và để lấy nước năm mới về nhà. Nước năm mới này được dùng để rót vào
các ly nước cúng trên bàn thờ và để làm những thức ăn dâng cúng tổ
tiên. Ông thầy lễ của làng cùng vợ đến bên cây năm mới, dùng một ít
nước năm mới lau mặt để rửa đi những tội lỗi của năm cũ. Sáng hôm đó,
những người đàn ông của các gia đình cùng ông thầy lễ đến ngôi miếu của
làng dâng lễ (gồm bánh gạo, rượu và thịt lợn) cho thần làng. Trong lúc
dâng lễ, ông thầy cầu khấn: “… như dòng suối, như nước sạch, hãy ban
cho chúng tôi sức khỏe và bình an… Xin Ngài hãy đến nhận lễ của chúng
tôi”. Sau đấy, từng ông chủ hộ các gia đình mang những đồ lễ tương tự
đến nhà ông thầy lễ. Ông thầy đặt các đồ lễ xuống nền chiếc bàn thờ của
mình và cũng khấn những lời cầu mong mọi sự tốt lành. Những sợi chỉ
được buộc lên cổ những người có mặt, và mọi người lại nhảy múa, ca hát.
Cứ thế, trong ngày đầu năm mới và cả ngày hôm sau, đâu đâu cũngrộn ràng
trong tiếng nhạc, điệu múa. Mọi sự cáu giận, cãi cọ… đều là những điều
cấm kỵ trong suốt những ngày Tết. Tảng sáng ngày cuối cùng của lễ hội
năm mới, ông thầy lễ của làng thông báo là “mặt trời đã mọc” để mọi
người biết rằng, lễ thức năm mới đã hết. Và, để biểu lộ cho sự kết thúc
những lễ thức cũng như những ngày hội năm mới, mỗi gia đình đều lấy một
miếng thịt lợn và hai cái bánh gạo buộc vào cây năm mới rồi đem cây năm
mới ném vào rừng(11). Như vậy, dù có những khác biệt về thời gian diễn ra lễ hội và về hình
thức tổ chức nhưng những ngày lễ hội hay Tết năm mới của nhiều dân tộc
Đông Nam Á, về thực chất là những ngày lễ hội thực sự mang ý nghĩa
chuyển mùa (cả mùa thời tiết và mùa làm ăn). Tết của Đông Nam Á là mùa “nghỉ ngơi”
của không chỉ thiên nhiên mà còn của cả con người. Suốt mấy tháng cuối
năm là cả một khoảng thời gian thiên nhiên chuyển mình để bước từ trạng
thái cũ (mùa khô) sang một trạng thái mới (mùa mưa). Đây là khoảng thời
gian rất đẹp cho con người nghỉ ngơi, vui chơi và làm những công việc
không phải đồng áng, vì cái khô đã được làm dịu đi bằng những cơn mưa
nhỏ thưa thớt, trong khi mùa mưa tầm tã thì còn chưa tới. Vào khoảng
thời gian này, con người cũng thực sự được nhàn hạ và no đủ vì mùa màng
đã thu hoạch xong, lúa đã về đầy kho, trong khi đó thì chưa thể làm
đồng áng được vì trời còn lâu mới mưa. Thế là thiên, nhân tương hợp
trong mấy tháng chuyển mùa này. Chính hoàn cảnh thiên nhiên đã tạo ra ở
Đông Nam Á một nền văn hóa lấy gieo trồng cây lúa làm cơ bản. Và, vòng
đời của cây lúa lại trải dài ra gần như hết cả một chu trình thời tiết,
từ mùa mưa này đến mùa mưa sau. Rất hay là vòng đời của cây lúa ngắn
hơn chu trình thời tiết vài tháng. Kết quả là mấy tháng chuyển tiếp của
khí hậu trở thành quãng thời gian hay những tháng nhàn rỗi nhất trong
năm để mọi người tổ chức mọi cuộc vui, mọi lễ thức hội hè. Chính vì
thế, Tết năm mới ở Đông Nam Á thường là cả một khoảng thời gian lễ
thức, hội hè dài cả một mùa chứ không chỉ diễn ra một vài ngày. Không
phải ngẫu nhiên mà người Tây Nguyên gọi các tháng lễ hội chuyển mùa là
những tháng “quên” hay những tháng “nghỉ”.
Thế rồi, trên cái nền của những lễ hội chuyển mùa chung đó, do những
hoàn cảnh lịch sử khác nhau tác động, một số dân tộc ở Đông Nam Á đã
khoác lên phức thể lễ hội chuyển mùa truyền thống của mình cái áo
choàng của những nền văn hóa hay tôn giáo khác nhau từ bên ngoài du
nhập vào. Chính vì thế mới có Tết của Việt Nam, Tết của Lào, Tết của
Campuchia, Tết của Thái Lan, Tết của Myanmar… Dù có khoác thêm tấm áo
nào đi nữa, những cái Tết năm mới của Đông Nam Á vẫn toát lên một đặc
trưng chung thống nhất: đặc trưng chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa và
từ mùa cấy trồng này sang mùa cấy trồng sau. ___________________________________
(1) Có thể tham khảo: J.Sion, L’ Asie des moussons, V.2 Paris, 1929.
(2) G.Coedes. The lndiannized States of Southeast Asia, East-west Center Press, Honolulu, 1968, tr.3.
(3) Xem thêm: Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Công Tum, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1991.
(4) Cụ thể, có thể tham khảo: Ngô Văn Doanh. Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1999.
(5) Dân ca Tây Nguyên, Nxb. Văn hóa. Hà Nội, 1986, tr.69. (6) Chúng tôi đã giới thiệu các lễ Tết năm mới của một số dân tộc Đông
Nam Á trong các công trình: Phong tục các dân tộc Đông Nam Á, Nxb. văn
hóa dân tộc. Hà Nội, 1997; Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm, Sđd.
(7) Xem: Lê Bá Thảo, Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1998, tr.71-73.
(8) Xem: Viện Dân tộc học, Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam, Hà Nội, 1992.
(9) Theo: Hoàng Lương, Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở
miền bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002, tr.83-88.
(10) Người Lahu, một trong những dân tộc Tạng-Miến, có số lượng 450
nghìn người (theo điều tra giữa năm 1983), sống ở vùng Tam giác vàng
trên lãnh thổ của bốn nước: Trung Quốc (250 nghìn người, Myanmar (150
nghìn), Thái Lan (40 nghìn) và Lào (10 nghìn).
(11) Về người Lahu, có thể tham khảo: Paul and Elaine Lewis, Peoples of
the Golden Triangle, Thames and Hudson, Chiang Rai, Thailand, 1984.
|