|
Nguồn: http://maxreading.com
Vài nét Lịch sử
Hai tiếng "Cải lương" có nghĩa là "Sửa đổi cho tốt hơn". Từ xưa ở Việt
Nam không có lối diễn tuồng nào khác hơn là hát Chèo hay hát Tuồng (ở
Bắc Phần) và hát bội (ở Trung và Nam Phần). Ðến 1917, khi cải lương ra
đời, người mình nhận thấy điệu hát này có thể tân tiến hơn điệu hát
bội, nên cho đó là một việc cải thiện điệu hát xưa cho tốt hơn. Vì lẽ
ấy người mình dùng hai tiếng "Cải lương" để đặt tên cho điệu hát mới mẻ
này.
Trước kia ở rải rác trong các tỉnh Nam Phần (Nam bộ) có những ban tài
tử đờn ca trong các cuộc lễ tư gia, tân hôn, thăng quan, giỗ,... Nhưng
không bao giờ có đờn ca trên sân khấu hay trước công chúng. Qua năm
1910, ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, tục gọi Tư Triều
gồm bản thân Tư Triều (chơi đờn kìm), Chín Quán (đờn độc huyền), Mười
Lý (thổi tiêu), Bảy Vô (đờn cò),Cô Hai Nhiễu (đờn tranh) và Cô Ba Ðắc
(ca). Ban tài tử này đờn ca rất hay vì phần đông đã được chọn đi trình
bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp mới về.
Năm 1911, Nguyễn Tống Triều muốn đưa ca nhạc ra trước công chúng, nên
thương lượng với chủ nhà hàng "Minh Tân khách sạn" ở ngang ga xe lửa Mỹ
Tho – Sài Gòn để ban tài tử đờn ca giúp vui cho thực khách. Người đến
nghe ngày càng đông. Nhận thấy sáng kiến này có kết quả khả quan, Thầy
Hộ, chủ rạp hát bóng Casino, phía sau chợ Mỹ Tho, muốn cho rạp hát mình
đông khán giả bèn mới ban tài tử đến trình diễn mỗi tối thứ bảy và thứ
tư trên sân khấu và đã được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.
Sân khấu thời bấy giờ cũng được dàn dựng rất đơn giản. Cái màn bạc dùng
làm bối cảnh (fond), kế đó có lót một bộ ván, trước bộ ván có để một
cái bàn chưn cheo. Hai bên sân khấu có để cây kiểng. Các tài tử đều
ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem thật nghiêm trang.
Sáng kiến đưa đờn ca tài tử lên sân khấu của Tư Triều từ năm 1912 tại
Mỹ Tho đã lan tràn đến Sài Gòn và nhiều tỉnh ở Nam Phần. Năm 1913 –
1914, chủ nhà hàng ở sau chợ Mới, Sài Gòn, là "Cửu long giang" nghe
danh tiếng ban tài tử nên đã xuống tận nơi để mời về. Ông Năm Tú là
người có công nhất trong việc gây dựng lối hát Cải lương buổi ban đầu.
Ông mướn thợ vẽ tranh cảnh phỏng theo lối trang trí rạp hát Tây Sài
Gòn. Ông mua sắm y phục cho đào kép khá chu đáo và nhờ nhà văn Trương
Duy Toản soạn tuồng.
Ông cất một cái rạp hát rộng lớn và đẹp đẽ gần chợ Mỹ Tho để cho ban ca
kịch của ông trình diễn. Ðiệu hát cải lương chính thức hình thành từ đó
và ngày càng phát triển mạnh, nhiều Ban được thành lập.
Có thể nói, sân khấu cải lương là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh xã hội
Việt Nam, chính xác hơn là xã hội Nam bộ lúc bấy giờ. Chính vì vậy nó
trưởng thành rất mau. Vài ba năm đầu thập kỷ 20, nó còn đang chập chững
những bước đầu tiên. Năm 1931 nó đã chính thức được giới thiệu ở ngoài
nước với danh nghĩa một loại hình nghệ thuật hiện đại ngang hàng tuồng
chèo đã có nhiều thế kỷ lịch sử. Nó ra đời thu hút được đông đảo khán
giả và hát bội chịu phần thua kém. Từ Nam Kỳ nó Bắc tiến và tuồng, chèo
dần dần nhường bước. Trong hơn nửa thế kỷ, sân khấu cải lương vượt xa
các loại hình sân khấu khác về thế mạnh, có thời kỳ nó giữ địa vị độc
tôn, thu hút khán giả nhiều hơn các loại sân khấu khác, chỉ kém có điện
ảnh.
Tìm về nơi đầu nguồn của sân khấu cải lương, người ta gặp những sự kiện
xã hội, lịch sử sau đây: Nam Bộ, xứ Nam kỳ cũ, vốn có một phong trào ca
nhạc tài tử. Nó là sự phát triển của phong trào đàn cây.
Trong các cuộc tế lễ, ma chay, người ta mời ban nhạc tới diễn tấu,
không dùng các loại trống, kèn và các loại nhạc cụ gõ khác và chơi một
số bản của nhạc lễ có viết thêm lời ca và một số bản của nhã nhạc từ
miền Trung đi vào.
Phong trào này dần dần phát triển sâu rộng khắp toàn dân. Nhạc cụ được
bổ sung, cải tiến. Người ta thêm vào các bài ca nhạc dân gian hoặc sáng
tác thêm những bài hát mới. Các địa phương có những ban ca nhạc tài tử
nổi tiếng với các danh cầm như: Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều,
Bảy Triều... và các danh ca như Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều,
Hai Cúc... tiếng tăm đồn đại khắp nơi. Phong trào ca nhạc tài tử lôi
cuốn mọi giới đồng bào nhất là công chức, thợ thủ công, nông dân, công
nhân.
Khởi đầu, nhạc và lời ca được biểu hiện qua hình thức Ca-ra-bộ (một
trình thức diễn xuất thô sơ) với một số nghệ nhân không chuyên, được
phục vụ trong những buổi tiệc tùng, giải trí, trà dư tửu hậu ở thôn xóm
và bài ca được hâm mộ nhất thời bấy giờ là "Bùi Kiệm thi rớt trở về".
Ca-ra-bộ được đông đảo quần chúng hâm mộ, dần dần phát triển và con
đường phát triển tất yếu của nó là đi vào nghệ thuật sân khấu, biến hát
bội thành "hát bội pha cải lương" rồi tiến lên chuyển mình thành một
loại hình riêng để diễn các loại tuồng tàu, tuồng kiếm hiệp vào đầu và
cuối thập kỷ 40. Ngày càng được quần chúng hâm mộ thưởng thức, nó tiến
xa hơn trên đường nghệ thuật, với nhiều nghệ sĩ có tên tuổi tham gia và
đến đầu thập kỷ 40, nó đã mang đầy đủ tính chất khá hoàn chỉnh. Và đặc
biệt với Nghệ sĩ Nhân Dân Năm Châu, nó trưởng thành thành một loại sân
khấu có tính nghệ thuật khá cao. Năm Châu vốn có học Tây, hâm mộ sân
khấu Tây phương, nhất là kịch cổ điển Pháp, đã tâm huyết đưa số hiểu
biết phong phú, đa dạng của mình vào cải lương, tạo thành một sân khấu
riêng biệt - trường phái Năm Châu" với lực lượng nghệ sĩ lừng danh lúc
bấy giờ là Phùng Há, Ba Vân, Tư út, Tư Anh và quí giá nhất là soạn giả
Trần Hữu Trang, tác giả nhiều kịch bản nổi tiếng, trong đó có Ðời cô
Lựu và Tô ánh Nguyệt cho đến nay, vẫn còn ghi sâu trong ký ức bao người.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp cho du nhập vào
nước ta những phim ảnh, sách báo và những đĩa hát, về sau có nhiều đoàn
kịch hát Trung Quốc sang biểu diễn tại Sài Gòn.Do đó, nghệ thuật cải
lương có cơ hội thu hút thêm tinh hoa sân khấu của nước ngoài như cách
diễn xuất, sử dụng một số bài bản nước ngoài phù hợp với cách diễn tấu
của dàn nhạc cải lương, học tập cách sử dụng bộ gõ bổ sung thêm kèn mới
vào dàn nhạc cải lương. Trong giai đoạn này, âm nhạc cải lương chịu ảnh
hưởng của phương pháp diễn tấu mang tính sân khấu xuất phát từ nội dung
chủ đề của kịch bản.
Trong giai đoạn đầu của cải lương, đề tài khai thác của kịch chủ yếu
dựa vào thơ ca được lưu truyền rộng rãi trong dân gian Việt Nam như:
Kim Vân kiều, Lục Vân Tiên, Trưng Trắc Trưng Nhị v v... hoặc phóng tác
theo các vở tuồng hát bội như: Phụng Nghi Ðình, Xử án Bàng Quí Phi, Mộc
Quế Anh v v...
Âm nhạc được dùng trong các vở này bao gồm gần hết là các bài bản cải
lương, trong dàn nhạc cải lương có các nhạc cụ của dàn nhạc tài tử, có
nhạc cụ gõ và kèn hát bội. Từ năm 1930 trở đi khuynh hướng cải lương xã
hội thực thụ ra đời dưới sự chỉ đạo của nhóm Năm Châu, Tư Trang, Năm
Nở, Bảy Nhiêu, Tư Chơi v v... lúc đầu phỏng theo truyện phim và kịch
của Pháp như: Bằng hữu binh nhung, Sắc giết người, Giá trị và danh dự v
v...
Về sau nhóm này dựa vào đề tài Việt Nam như: Tội của ai, Khúc oan vô
lượng, Tứ đổ tường v v... Các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân
khấu cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella
(trong Phũ phàng), Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng). Lúc bấy giờ
trong một đoàn cải lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì
ngồi ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu.
Trong những thời gian sau cải lương bị ảnh hưởng của một số khuynh
hướng Quảng đông và kiếm hiệp nhưng những khuynh hướng này ít được
người ủng hộ, nhất là ở các vùng nông thôn. Các vở có tính chất tâm lý
xã hội đều dựa vào sự tích Việt Nam như Tô ánh Nguyệt, Ðời cô Lựu...
nhưng về âm nhạc thì lại chịu ảnh hưởng ở âm nhạc Tây Âu.
Cải lương càng ngày càng hiện đại hóa và đó là công đầu của Năm Châu vì
không có con người này, khó có một sự chuyển mình đầy tính cổ điển và
nghệ thuật của cải lương. Do đó, có thể nói Năm Châu phải được đánh giá
là vị "Tổ cải lương hiện đại", một vị tổ có thật...
Từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển
mạnh mẽ, trở thành một loại hình nghệ thuật, một bộ môn sân khấu có khả
năng thu hút hàng đêm cả vạn triệu khán thính giả say mê đến với nó tại
các nhà hát hay bên chiếc radio.
Do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một ký giả kỳ cựu, giải Thanh Tâm
được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát Huy
chương vàng và Bằng danh dự cho những nam nữ nghệ sỹ trẻ tuổi có triển
vọng nhất trong năm. Giải Thanh Tâm hiện thời được gọi là giải Trần Hữu
Trang là giải thưởng có tiếng vang lớn trong giới nghệ thuật đặc biệt
là nghệ thuật cải lương.
Nghiên cứu toàn bộ lịch sử cải lương qua những nét đại thể, ta thấy rõ
ràng loại hình nghệ thuật này mang một đặc điểm rất nổi bật. Ðó là nền
nghệ thuật mang tính giải phóng của người nông dân bị áp bức và mất
nước, phải vùng lên để chiến đấu cho sự sống còn của tầng lớp mình, dân
tộc mình. Tiếng nói của họ là tiếng ca bất khuất và đã được thể hiện
qua nhiều tác phẩm mà Ðời cô Lựu là một vở tiêu biểu. Tác giả của nó,
Trần Hữu Trang vốn là một nông dân, một nghệ sĩ trí-thức. Ðặc điểm của sân khấu cải lương
Năm 1920 đoàn hát mang tên Tân Thinh ra mắt khán giả, Tân Thinh không
dùng tên gánh mà dùng tên đoàn hát và ghi rõ đoàn hát cải lương, dưới
bảng hiệu có treo đôi liễn như sau:
Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.
Ðôi liễn ấy đã nêu lên những đặc điểm cơ bản của sân khấu cải lương.
Như trên đã nói, cải lương vốn là một động từ mang nghĩa thông thường
trở thành một danh từ riêng. Cải lương có nghĩa là thay đổi tốt hơn khi
so sánh với hát bội. Sân khấu cải lương là một loại hình sân khấu khác
hẳn với hát bội cả về nội dung vở soạn lẫn nghệ thuật trình diễn.
1- Bố cục
Các soạn giả đầu tiên của sân khấu cải lương vốn là soạn giả của sân
khấu hát bội. Nhưng các soạn giả của thuộc lớp kế tục thì nghiêng hẳn
về cách bố cục theo kịch nói: vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có
mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Vai trò của soạn
giả, đạo diễn không lộ liễu trước khán giả mà ẩn sau lưng nhân vật.
Ban đầu, các vở viết về các tích xưa (mà người ta quen gọi là tuồng
Tàu) có khi còn giữ ít nhiều kiểu bố cục phảng phất hát bội, nhưng các
vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội) thì hoàn toàn theo bố cục
của kịch nói. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương (kể cả các vở
về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói).
2- Ðề tài và cốt truyện
Các vở cải lương ngay từ đầu đều khai thác các truyện Nôm của ta như
Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên hoặc các câu truyện trong khung cảnh xã hội
Việt Nam.
Sau đó chiều theo thị hiếu của khán giả sân khấu cải lương cũng có một
số vở soạn theo các truyện, tích của Trung Quốc đã được đưa lên sân
khấu hát Bội và được khán giả rất ưa thích.
Sau này nhiều soạn giả, kể cả soạn giả xuất thân từ tân học cũng soạn
vở dựa theo truyện xưa của Trung Quốc hoặc dựng lên những cốt truyện
với nhân vật, địa danh có vẻ của Trung Quốc nhưng những cảnh ngộ, tình
tiết thì của xã hội Việt Nam
3- Ca nhạc
Các loại hình sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch
vì ở đây ca kịch giữ vai trò chủ yếu. Là ca kịch chứ không phải là nhạc
kịch vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản
nhạc cho phù hợp với các tình huống sắc thái tình cảm.
Như vậy, nói chung về ca nhạc, sân khấu cải lương sử dụng cái vốn dân
ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ. Trên bước đường phát triển nó được
bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang sau này mang tên
Vọng cổ là một dân ca nổi tiếng của sân khấu cải lương). Nó cũng gồm
một số điệu ca vốn là nhạc Trung Quốc nhưng đã được phổ biến từ lâu
trong nhân dân Việt Nam, đã Việt Nam hóa.
4-Diễn xuất
Diễn viên cải lương diễn xuất một cách tự nhiên, nhất là khi diễn về đề
tài xã hội thì diễn viên diễn xuất như kịch nói. Khác với kịch nói ở
chỗ đáng lẽ nói, diễn viên ca, cho nên cử chỉ điệu bộ cũng uyển chuyển,
mềm mại theo lời ca. Dù không giống như cử chỉ điệu bộ của diễn viên
kịch nói, mà vẫn gần với hiện thực chứ không cường điệu như hát bội.
Cải lương cũng có múa và diễn võ nhưng nhìn chung là những động tác
trong sinh hoạt để hài hoà với lời ca chứ không phải là hình thức bắt
buộc.
5-Y phục
Trong các vở về đề tài xã hội diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời.
Trong các vở diễn về đề tài lịch sử dân tộc, về các truyện cũ của Trung
Quốc, phóng tác từ những câu chuyện, hay các vở kịch từ nước ngoài thì
y phục của diễn viên cũng được chọn lựa để gợi ra xuất xứ của cốt
truyện và của nhân vật, nhưng cũng chỉ mới có tính là ước lệ thôi chứ
chưa đúng với hiện thực. Âm nhạc
Chúng ta đều biết không có một nền âm nhạc nào không mang tính kế thừa
và phát triển, hai mặt này đi song song với nhau, cùng nằm trong hiện
tượng văn hoá-nghệ thuật qua nhiều thế hệ, bắt gốc từ yếu tố tộc người
trong thời kỳ sơ khai. Nó đã ăn sâu và tác động vào điều kiện tâm-sinh
lý của con người, và mang tính di truyền. Nó là một hiện tượng mang
tính qui luật tạo thành mầm mống cho ngôn ngữ âm nhạc dân tộc. Âm nhạc
cải lương cũng không tách khỏi qui luật này.
Người ta thường nói cải lương xuất phát từ Nam Bộ, đó là cách nói rút
gọn, nhưng đứng về mặt lịch sử thì nhạc cải lương là một loại nhạc sân
khấu, được phát triển dựa trên phong trào ca nhạc tài tử (phong trào
chơi nhạc không chuyên nghiệp lan rộng khắp Nam bộ thời trước). Loại
nhạc này bắt nguồn từ nền ca nhạc dân gian lâu đời của nước ta. Nó nằm
trong kho tàng văn hóa dân tộc, và đồng thời phát triển với những cuộc
di dân về phương Nam của ông cha ta. Cũng những cây đàn ấy, càng đi
khỏi vùng đất Tổ thì càng trở nên linh động với những màu sắc mới lạ và
biến thành một loại hình nghệ thuật độc đáo dân tộc. Có thể nói đó là
đức tính của con người Việt Nam được hun đúc qua những cuộc di dân lớn,
đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, vượt qua muôn nghìn khó khăn
gian khổ để xây dựng thôn ấp, phát triển xã hội.
hinh14.jpg (4963 bytes)Âm nhạc cải lương chịu ảnh hưởng của hai nền
nhạc lớn đã có từ thời cổ và tồn tại đến bây giờ, đó là nền ca hát dân
gian và nền nhạc khí dân gian. Hai nền nhạc này tạo cho cải lương một
phong cách đặc biệt, do đó trong âm nhạc cải lương, yếu tố ca hát và
yếu tố nhạc khí cùng thúc đẩy nhau phát triển và tạo ra một hình thức
đối lập trong nhiều bè, mở đường cho sự nảy nở của tính chất sân khấu.
Tại Nam Bộ, hiện nay nhân dân chỉ còn được nghe khí nhạc thuộc loại tế
tự (nhạc lễ) còn âm hưởng của nhạc cung đình thì đã thuộc về dĩ vãng.
Từ khi chữ Nôm bắt đầu xuất hiện thì thơ ca dân gian càng phát triển,
chữ Nôm dùng để sáng tác các bản nhạc. Sau thắng lợi vẻ vang của ba lần
chống quân xâm lược Nguyên, nghệ thuật âm nhạc và hát xướng càng phát
triển mạnh và mãi cho tới thời nhà Lê, ngoài các bậc công hầu ra, trong
hàng sĩ phu phần đông đều có hiểu biết về niêm luật âm nhạc. ở Huế đã
hình thành nền nhã nhạc, yếu tố bác học làm cơ sở cho sự kế thừa và
phát triển của phong trào ca nhạc tài tử Nam bộ.
Nghệ thuật âm nhạc miền Trung dần dần phát triển ra khắp thôn xã song
song với sự phát triển của một vài yếu tố âm nhạc dân gian Trung Quốc.
Phương thức cải biến vật chất thành nhu cầu cần thiết cho con người,
ảnh hưởng khá lớn đến phương thức biểu hiện tư tưởng bằng hiện tượng
nghệ thuật. Tài khéo léo và óc sáng tạo của con người làm thay đổi rất
nhiều các loại hình nghệ thuật phù hợp với thẩm mỹ quần chúng lúc bấy
giờ.
Nhạc cải lương được hình thành từ trong lòng người Việt Nam cần cù và
gian khổ, lớn lên trong những thử thách đầy khó khăn nguy hiểm mà con
người đấu tranh để sinh tồn. Nhạc miền Trung khi phát triển vào Nam bộ
thì bị mất một phần đặc điểm, chủ yếu là bị lệ thuộc vào tiết tấu sinh
hoạt và ngôn ngữ của người dân Nam bộ.
Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, xã hội Nam Kỳ bị
phân hóa nhanh chóng, sự đổ vỡ có mức độ của ý thức hệ phong kiến trong
xã hội Nam Kỳ chủ yếu là do phương thức sản xuất mang yếu tố tư bản
xuất hiện, tư tưởng và tình cảm con người đã thoát ly dần những tục tập
cũ kỹ, lỗi thời. Sự thoái trào của nền nhạc lễ để nhường cho phong trào
của ca nhạc tài tử phát triển từ trong lòng của nó là một sự kiện rất
mới.
Phong trào dân ca được quần chúng ưa thích dần dần phát triển trong
toàn Nam bộ và trở thành phong trào ca tài tử. Số người biết đàn biết
ca ngày càng đông, nhất là ở vùng nông thôn, với hình thức nghệ thuật
đơn giản tao nhã như vậy, người nông dân nào cũng có thể học tập được.
Trong khối quần chúng to lớn, sau này đã xuất hiện nhiều nhân tài của
nghệ thuật âm nhạc và sân khấu cải lương. Nhạc tài tử dần dần phát
triển về nội dung lẫn hình thức, tiếp thu thêm những luồng nhạc khác
như dân ca địa phương, hò, lý, nói thơ...đồng thời có một sự cách tân
trong toàn bộ nhạc lễ: trước kia nhạc lễ chỉ là loại khí nhạc, sau khi
được cách tân thì trở thành những ca khúc tự sự với nội dung phản ánh
tinh thần của thơ ca truyền thống như: Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm
khúc, Kim Vân kiều, Lục Vân Tiên... Phong trào đó phát triển từ thành
thị đến nông thôn thành nhu cầu thiết yếu của các tầng lớp, kể cả giới
trí thức trong những cuộc liên hoan, hội hè, cưới hỏi và song song với
sự phát triển đời sống vật chất, nhạc tài tử đem đến cho họ một tình
cảm mới mẻ.
Phong trào tạo thành những trung tâm như Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Thơ, Bạc
Liêu... Ngoài những cố gắng sáng tạo thêm hình loại khúc thức mới, các
nhà âm nhạc còn khái quát hóa toàn bộ hệ thống điệu thức trong nhạc
truyền thống và phân chia thành các loại hơi chủ yếu như: hơi Bắc, hơi
Nam, hơi Oán, v.v..
Hơi Bắc khái quát các điệu thức mang tính chất trong sáng, vui khỏe.
Hơi Nam khái quát các điệu thức mang tính chất trang nghiêm và đồng
thời được phân chia thành một số hơi cụ thể như sau: hơi Xuân, hơi Ai,
hơi Ðảo.
Hơi Oán là hơi được sáng tạo sau này, hoàn toàn thoát ly những hình
thức cấu tạo theo kiểu nhạc lễ, đó là hơi thở của cuộc sống thời bấy
giờ.
Sự phân chia thành các loại hơi, xuất phát từ các mẫu giai điệu hoặc
điệu thức giai điệu có tác dụng lập thành các mô hình âm thanh, và xếp
loại các âm hình cơ bản (motif) được sử dụng trong quá trình nhạc khúc.
Trong thực tế đời sống hằng ngày của nhân dân ta, chúng được cấu trúc
trên nguyên tắc tập hợp và mang những ý nghĩa cụ thể đã trở thành một
tập quán trong sự sáng tạo âm nhạc qua nhiều thời đại.
Ðể minh hoạ, dưới đây sẽ giới thiệu một lớp Văn Thiên Tường nhan đề là Bá Lý Hề:
Vì tình kia thân sanh sao đắng cay
Thay thương thay đương khi gian truân
Bâng khuâng lúc chia tay
Thiếp yểm lụy ngỏ cùng chàng
Vì cảnh nhà hàn vi
Nên mới chia ly
Khi đưa nhau nắm tay dặn dò
Ðến lúc đắc lộ chàng có nghĩ
Ðến chút tình tào khang
Tay dâng chén này hôm nay
Khuyên lương nhân
Vững lòng rủi dong lần bước sang
Cách núi ải
Non cao vực thẳm ráng dò
Em lo đương khí
Qua đèo ải ngăn ghềnh đá chập chồng
Sớm thơ nhạn tả mấy hàng
Cho nhãn những điều
Ðiều ấm lạnh dường bao
Trên đây là lời ca diễn tả tâm trạng vợ Bá Lý Hề tiễn chồng lên đường
lập công danh. Hình thức cấu trúc của loại này, khác với cấu trúc chân
phương của nhạc lễ, chịu ảnh hưởng hình thức thơ liên hoàn, mỗi đoạn
gồm tám câu.
Về mặt nghệ thuật, nhạc tài tử trong giai đoạn này đã đóng góp nhiều
yếu tố mới trong đời sống âm nhạc của quần chúng, được bà con nông dân
ưa mến và bảo vệ đã tiến đến một thời kỳ rực rỡ hơn bao giờ hết, mở đầu
cho sự xuất hiện một loại hình nghệ thuật mới, đó là nghệ thuật sân
khấu cải lương. Từ một hình thức ca hát thính phòng của phong trào nhạc
tài tử, một bộ phận tách ra mang tính chất diễn xướng (nói lối, ngâm
thơ, ca hát) tức là hình thức ca ra bộ (vừa ca vừa ra bộ). Như vậy,
đứng về mặt nghiên cứu của âm nhạc, chúng ta thấy có hai phong cách,
trong phương pháp diễn tấu nhạc cụ và ca hát, đó là phong cách tài tử
và phong cách cải lương.
Phong cách tài tử: mang tính chất thính phòng, không đông người, được
tổ chức ở trong nhà, công viên, trên thuyền lúc đêm trăng đi sâu vào
chiều sâu của tình cảm, người đàn và hát chủ yếu là để phục vụ người
nghe.
Phong cách cải lương: thể hiện tính sân khấu, vì trung tâm của nghệ
thuật diễn xuất là diễn xuất, các bộ môn nghệ thuật khác như âm nhạc,
giúp nó đạt đến một hiệu quả nhất định, hợp thành toàn bộ một hình thức
nghệ thuật sân khấu.
Vấn đề ca hát hoặc diễn tấu nhạc cụ trong cải lương cũng phải mang tính
chất hành động- không như biểu diễn theo phong cách tài tử vì đặc trưng
của sân khấu cải lương là ca hát. Ca hát tài tử và ca hát sân khấu là
hai lĩnh vực khác nhau và trong mỗi lĩnh vực đều có những nghệ sĩ tiêu
biểu. Chẳng hạn, trong ca hát sân khấu cải lương, có những ngôi sao như
Phùng Há, Ba Vân, Năm Châu... và những ca sĩ tài tử nổi tiếng như cô Tư
Sang, cô Ba Bến Tre, cô Tư Bé, Năm Nghĩa...Những tác giả âm nhạc tài tử
như ông Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), ông Bảy Triều, những tác giả nhạc sân
khấu như các ông Mộng Vân, Bảy Nhiêu, Tư Chơi, Sáu Hải v v... đã đóng
góp nhiều sáng tác mới phù hợp với đà phát triển của nghệ thuật cải
lương, trong đó có bài vọng cổ cho đến bây giờ đã trở thành một chủ đề
lớn về âm nhạc, mà nhiều nghệ sĩ nhờ đấy phát huy một sức sáng tạo và
xây dựng nên sự nghiệp nghệ thuật cho bản thân mình.
Nếu như những hạt giống đó không nảy mầm từ trong lòng dân tộc và nuôi
dưỡng của nhân dân qua nhiều thế hệ, thì nghệ thuật cải lương không thể
tồn tại cho đến ngày hôm nay.
Âm nhạc cải lương hơi nhẹ nhàng vì dùng đờn dây tơ và dây kim, không có
kèn trống như hát bội. Có sáu thứ đờn thường dùng trong điệu cải lương
như sau:
1. Ðờn kìm: đờn Kìm cũng gọi là "Nguyệt cầm" có hai dây tơ và tám phím.
Tiếng kìm tuy không trong và thanh như tiếng Tranh hay Lục huyền cầm,
nhưng cũng có âm hưởng nhiều nên khi hòa với cây Tranh nghe rất hay.
Tùy hơi cao thấp của diễn viên, đờn Kìm có thể đờn năm dây Hò khác nhau.
2. Ðờn Tranh: đờn Tranh hay đờn Thập Lục có 16 dây. Tiếng đờn Tranh
được thanh tao nhờ dùng dây kim và nhấn tiếng có ngân nhiều. Cũng như
cây kìm, đờn Tranh có thể đổi bực dây Hò tùy theo hơi cao thấp của
người ca.
3. Ðờn Cò: Cây Cò, cũng gọi là đờn Nhị, có hai dây tơ, không có phím và
dùng cây cung để kéo ra tiếng. Ðờn Cò là cây đờn đắc dụng nhất của âm
nhạc Việt Nam. Nó chẳng khác nào cây Violon trong âm nhạc Âu Mỹ. Luôn
luôn có mặt torng hát Bội, Cải lương, nhạc Tài tử,...
4. Ðờn Sến: Cây Sến có hai dây tơ và có đủ bậc như cây Banjo, nên đờn
ít nhấn và có nhiều chữ lợ nghe ngộ. Có khi đờn ba dây nghe hơi như đờn
Tỳ.
5. Guitare: Cây Guitare cũng gọi Lục huyền cầm hay Tây ban cầm, có sáu
dây kim, nhưng thường đờn có năm dây. Tiếng thanh như đờn Tranh, khi
đờn bực cao.
6. Violon: Cây Violon, cũng có tên là Vĩ Cầm, có bốn dây tơ và cung kéo
như đờn Cò. đờnnày dùng phụ họa với cây Guitare hay cây Tranh để đờn
Vọng cổ nghe hay, nhưng ít dùng đờn các bản khác vì tiếng nó kêu lớn
làm lấn áp mấy cây đờn kia.
7.Cây Sáo: Cây hay ống Sáo, hoặc ống Tiêu, cũng có dùng trong điệu Cải
lương, nhưng nó có một bậc Hò, không thay đổi. Thành thử người ta phải
theo bậc Hò bất di bất dịch ấy.
8. Cây Cuỗn: Cây Cuỗn giống như cây Kèn, nhưng không có cái Loa. Âm điệu
Bài ca Cải lương đặt theo bản đờn, nên kịch sỹ phải tùy âm nhạc, không
được tự do phô diễn hết tài năng của mình như trong điệu hát Bội. Ca dư
hơi thì trễ đờn, còn thiếu hơi dứt trước đờn. Kịch sỹ bị bó buộc trong
khuôn khổ nhịp đờn, dầu có hơi hám nhiều cũng không thể vượt ra ngoài
nhịp vì sợ ca lỗi nhịp.Lúc sau này, trong điệu Cải lương có bản Vọng cổ
thêm nhiều nhịp. Bài ca vọng cổ đặt không ăn sát câu đờn, miễn vô đầu
và dứt câu đờn, ca cho trúng hơi, trúng nhịp. Nhờ vậy, có nhiều kịch sỹ
được tự do phô bày hết khả năng của mình. (Nghệ sỹ Thanh Thanh Tâm)
Một khuyết điểm thứ hai là đương nói chuyện kế bắt qua ca. Trừ một ít
danh ca biết cách "mở hơi" cho câu ca của mình có hứng thú, còn phần
đông vô ca nghe khô khan lã chã lắm, không có mùi vị chút nào. Lỗi ấy
một phần do ban âm nhạc thờ ơ, không thuộc chỗ nào sắp ca đặng giao đờn
trước hầu gợi ý cho khán giả có cảm giác vui buồn trước khi nghe ca,
như bên âm nhạc hát Bội.
Cải lương được chỗ ưu điểm là nhờ âm nhạc biết tùy hơi cao thấp của
kịch sĩ để lên dây Hò, nên kịch sỹ ca đúng hơi "thiên phú" của mình
không rán hơi quá như bên hát Bội.
Thế nào là một giọng ca cải lương hay?
Cải lương có những làn điệu bài bản cố định, từ đó nhạc sỹ thiết kế để
phù hợp với tâm trạng từng nhân vật. Trong ngần ấy mẫu gốc, làn điệu cơ
bản, hát thế nào cho hay, cho đẹp, có hơi ấm tình cảm và bản sắc riêng
hoàn toàn phụ thuộc vào tài nghệ điều khiển, thao túng nhịp điệu của
từng diễn viên hát cải lương.
Yếu tố hàng đầu cho một giọng ca cải lương hay chính là sức mạnh truyền
cảm. Một giọng ca hời hợt, chỉ thấy lời mà không thấy lòng người, không
phải là giọng ca hay. Ngay cả một giọng ca điêu luyện về kỹ thuật mà
không có linh cảm, có cái "hồn" thì cũng chỉ là một giọng ca chết,
không sinh khí.
Một giọng ca hay là giọng ca lột tả đến cùng tình cảm của câu hát, của
tâm trạng nhân vật bằng tất cả rung động của trái tim người hát và bằng
cả quá Thanh Thanh Hientrình khổ luyện, tìm ra được cách biểu hiện tốt
nhất. Khi nội dung bài hát đã thấm vào lòng diễn viên, đã biến thành
máu thịt, thì các kỹ thuật gieo câu, nhả chữ, ngừng lặng, luyến láy,
đều là kết quả sự xúc động tình cảm sâu sắc của người hát. Một người
rất ít nghe cải lương, thậm chí chưa nghe bao giờ, cũng có thể xúc động
khi nghe một giọng ca truyền đạt chính xác sắc độ tình cảm của lời bài
hát, của nhân vật như: yêu thương, nhớ nhung, buồn bã hoặc căm uất,
giận hờn...
Tùy cách chế ngự điều khiển của từng diễn viên với bài bản cải lương, sẽ quyết định từng màu sắc riêng biệt của mỗi giọng ca.
Mỗi người sẽ tạo ra một chất giọng riêng, không lẫn vào đâu được. Và
người ta dễ dàng nhận ra một Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Mỹ Châu... hay út Trà
ôn, Minh Vương, Minh Phụng, Minh Cảnh... trên sân khấu phía Nam.
Một giọng ca hay trên sân khấu chỉ có thể được coi là hoàn hảo nếu
không tách rời nghệ thuật sân khấu biểu diễn. Thanh Thanh TamVì vậy,
tiêu chuẩn thứ hai của giọng ca hay là biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa
ca và diễn. Nếu diễn viên chỉ chú ý đến lời hát mà không quan tâm đến
nhân vật thì khán giả chỉ có thể nhớ đến con người thật của anh ta chứ
hoàn toàn không gắn với một hình tượng nhân vật nào cả. Ðiều đó giống
như là nghe hát những bài vọng cổ hơn là một vai diễn ca hay. Ngược
lại, nếu diễn viên diễn xuất thật hay mà ca dở thì mọi người lại không
nghĩ mình đang xem cải lương! Cần thiết phải có sự kết hợp hài hòa, nếu
không xem như thất bại.
Trong cải lương, giọng ca là vô cùng quan trọng nhưng không phải là tất
cả. Vì thế, có được một giọng ca "trời phú" thì cần phải rèn luyện,
trau dồi để ngày càng tiến bộ hơn với những vai diễn thật sự có "hồn". Vọng cổ hoài lang
Người yêu, yêu đến si tình, nhưng người ghét thì ghét cay, ghét đắng.
Chỉ nghe tên đã muốn đào đất đổ đi, có khi vì sự ghen ghét ấy mà sân
khấu cải lương cũng bị vạ lây. Có lẽ vì thế mà sau khi ra đời bài Vọng
cổ đã phải bao lần thay tên, đổi họ "hóa thân", mới sống được tới ngày
hôm nay.
Cao Van LauDạ cổ hoài lang (Vọng cổ hoài lang) ra đời được hơn nửa thế
kỷ. Nó đã làm cho nền móng cho nhiều bài vọng cổ không ngừng phát
triển. Ðó là một hiện tượng có liên quan đế cuộc đời tác giả-nhạc sĩ
Cao Văn Lầu.
Xuất thân từ một gia đình bần nông thuộc tỉnh Long An (trước là Tân
An), lúc lên sáu tuổi, nhạc sĩ đã phải cam chịu cảnh bị áp bức bóc lột
như muôn ngàn gia đình nông dân nghèo khổ khác.
Tuy còn nhỏ nhưng cậu bé Cao Văn Lầu đã chứng kiến nhiều sự ngang trái
trong cuộc sống tha phương cầu thực, rày đây mai đó, hết làm nghề này
lại chuyển sang nghề khác và trong con tim nhỏ bé đã chớm nở dần những
xúc cảm về cuộc đời. Từ khi gia đình định cư ở một vùng đất biển Bạc
Liêu thì tính nghệ sĩ của chàng trai ngày càng được thể hiện rõ rệt.
Ðược sự dạy bảo cẩn thận về âm nhạc của lão nghệ sĩ Hai Khị, Cao Văn
Lầu bắt đầu cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp âm nhạc. Nhạc sĩ rất
thành thạo về môn nhạc lễ và nhạc tài tử khi nhạc sĩ đang độ 20 tuổi và
cũng đồng thời với phong trào "ca ra bộ" bắt đầu phát triển ra khắp lục
tỉnh Nam Kỳ lúc bấy giờ.
Chi Linh -Thanh HangBản Vọng cổ trước hết có tên là Dạ cổ được nhạc sỹ
Cao Văn Lầu sáng chế hồi năm 1920 (sau ba năm khi cải lương ra đời).
Sanh 1890, ông Sáu Lầu được 30 tuổi khi ông chế bản Vọng cổ. Lúc ấy ông
cưới vợ được 10 năm, nhưng không có con. Cha mẹ ông buộc phải cưới vợ
khác vì sợ tuyệt tự. Ông buồn rầu không còn muốn làm ăn gì nữa. Ban
ngày ra ngoài đồng, ông nghiền ngẫm những lời vợ ông nói trước khi chia
tay. Ông biết đờn cổ nhạc nên trong tâm trạng người chồng đau khổ trước
cảnh gia đình tan rã, ông cảm hứng tạo ra bản nhạc 20 câu gọi "Dạ cổ
hoài lang" (Ðêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng), có ý để kỷ niệm mối
tâm tình của vợ ông với ông. Không biết có phải ông trời vì thấu hiểu
và cảm thông cho đôi vợ chồng mà ít lâu sau, vợ ông thụ thai...
Về sau, bản nhạc ấy được đổi tên là "Vọng cổ hoài lang" cho rộng nghĩa thêm (Trông mối tình xưa mà nhớ đến chồng).
Biên bản nguyên thủy của "Dạ cổ hoài lang" của ông Sáu Lầu như sau:
Từ là từ phu tướng,
Bửu kiếm sắc phong lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng,
Ðêm năm canh mơ màng.
Em luống trông tin nhàn,
Ôi, gan vàng quặn đau.
Ðường dầu xa ong bướm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
Còn đêm luống trông tin bạn,
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.
Vọng phu vọng, luống trông tin chàng,
Lòng xin chớ phụ phàng.
Chàng hỡi chàng có hay,
Ðêm thiếp nằm luống những sầu tây.
Biết bao thuở đó đây xum vầy,
Duyên sắt cầm đừng lạt phai.
Thiếp cũng nguyện cho chàng,
Nguyện cho chàng hai chữ bình an.
Mau trở lại gia đàng,
Cho én nhạn hiệp đôi.
Bài Dạ Cổ Hoài Lang không những khái quát được tâm tư tình cảm của một
lớp người ở thời đại đó, mà còn nêu lên tính độc đáo của một loại hình
mới về nghệ thuật âm nhạc được phát triển dựa trên những đường nét cổ
truyền. Ðiều này đã nói lên bản lĩnh của tác giả do được rèn luyện và
tích lũy vốn nghệ thuật dân gian lâu đời một cách vững chắc. Nó hoàn
toàn thoát ly những đường nét định hình của nền nhạc truyền thống,
không chạm trổ hoa mỹ, không dài dòng văn tự như một số bài bản trong
nền cổ nhạc.
To Kim HongVề cấu tạo âm hưởng đó là sự phối hợp một cách khéo léo
những điệu thức khác nhau làm cho tác phẩm được tăng cường sức hấp dẫn
và sự thể hiện phong phú về mặt hình tượng nghệ thuật, khiến cho người
nghèo cảm như thấy có cuộc đời của mình ở trong đó.
Trong cái buồn man mác có chất chứa nỗi oán hờn tủi nhục. Bài Dạ Cổ
Hoài Lang không phải là bài ca tâm sự của một con người cụ thể. Nó đã
hòa đồng nỗi lòng của một con người trong nỗi lòng của hàng triệu con
người khác đang phải sống một cuộc đời cơ cực.
Dạ cổ hoài lang là một bản vọng cổ có hình thức cấu trúc âm nhạc hoàn
chỉnh cho một làn điệu bài bản, làm nền tảng cho vốn ca nhạc cải lương.
Dạ cổ hoài lang đã sống với sân khấu cải lương gần 80 năm và vẫn được
nhiều người hâm mộ.
Vì sao cải lương
được nhiều người đón nhận?
Hát Bội là lối diễn xuất cho một lớp người biết thưởng thức xem, còn
Cải lương là lối diễn cho mọi thành phần xem. Từ giới thượng lưu đến
những người bình dân đều có thể là khán giả của cải lương. Nghệ thuật
cải lương rất dễ hiểu. Lời văn giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày.
Nội dung các vở cải lương thường đi sát với quần chúng. Khi xem tuồng
xã hội, khán giả có cảm tưởng hoàn cảnh của các vai tuồng có thể xảy
đến cho mình và do đó sự cảm xúc càng thêm mạnh và in sâu vào trí não.
Ngoài ra, cải lương có đủ các thú tiêu khiển "cầm ca thi họa" để cho
khán giả thưởng thức. Trước hết có âm nhạc cổ điển, nhạc Âu và ca ngân
nhiều bản tân và cổ. Kế đó có những lời văn và câu thơ soạn theo lối dễ
hiểu... Cải lương còn cho xem những tranh cảnh hội họa và gợi khiếu
thẩm mỹ về kiến trúc và xây dựng vở kịch, từ hình thức đến nội dung.
Sau hết là cách sử dụng ánh sáng trên nhiều màu sắc tươi đẹp của y trang và tranh cảnh. |